Trang chính » Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định, Phê Bình, Thơ Email bài này

Nguyễn Xuân Thiệp: thơ như nỗi trăn trở nhân sinh

 

NguyenXuanThiep- Dinh Cuong ve
Đinh Cường vẽ Nguyễn Xuân Thiệp (Virginia, 30-09-03?)

 

Nguyễn Xuân Thiệp làm thơ năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, thơ tự do. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng nhiều nét mới. Phảng phất không khí cổ điển, nhưng lại không cũ. Thơ anh nhân hậu, đằm thắm. Ngôn ngữ nở bung, giãi bày, tâm sự, đôi lúc kín đáo, nhưng không bí hiểm, không đánh đố người đọc, lại nhẹ nhàng, nhiều suy ngẫm.

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp có nhiều dấu chấm.[1] Các dấu chấm có thể nằm ở bất cứ đâu, khi thì tách ra một câu, khi thì tách ra hai, ba, bốn, năm chữ; có khi chỉ tách ra một chữ, rất bất ngờ.

a.kìa
thôi đi
nào. leng keng

Xuất hiện liên tục và dày, chúng tạo ra một thứ nhịp địp rất riêng trong bài thơ. Và tôi, khi đọc, bị cuốn trôi vào thứ nhịp điệu đó một cách vô thức. Với cách ngắt nhịp ngẫu nhiên này, ta sẽ thấy rất nhiều nhịp chỏi. Có đoạn, thơ đang trôi thì – như vấp phải cành cây, tảng đá, tấm ván ngăn hay một cái gì đó chắn đường – những dấu chấm làm ta bỗng giựt mình, khựng lại; chúng buộc ta suy gẫm:

mưa. mưa. trên con đường núi
có ai tìm vầng trăng mọc khuya
rét.đói.sầu miên. đất.đá.gỗ
đầm sấu hoang.lau thắp.bến chờ

Trăng mọc khuya, đẹp. Thì đẹp thật, nhưng, ở đây là đói, rét, hoang vu, sầu não …. Một tương phản sắc nét giữa mơ và thực, đúng hơn, giữa cái tưởng-như-là và cái như-là! Hình như nhờ mấy cái dấu chấm.

Tôi bỗng nhớ đến văn Mai Thảo, ở một vài chỗ nào đó:

“Thật lâu. Trong tối. Rồi khóc một mình, khóc ngồi lên, khóc xuống giường, khóc chân đất đi ra […] Nàng đưa chúng trở lại bàn. Kéo ghế. Ngồi xuống. Hai bàn tay trắng muốt của nàng, ngón út cong lên, khởi sự cuốn dần những cuốn bi tròn trĩnh. Xong. Nàng nhặt từng cuốn, nhúng vào nước chấm. Và bắt đầu ăn.”

Mai Thảo dùng dấu chấm nén câu lại, để mô tả những chuyển động gọn, dứt khoát. Anh, khác hơn, dùng dấu chấm để cắt chia chúng thành những mảnh sự vật/những mảnh hình ảnh đặc, sắc cạnh, cô đúc ở nơi này và tém tủm, gói gọn chúng lại ở nơi khác. Anh không muốn chúng bị nhòe đi.

uống cạn chén rượu này
xa. kia. đồi cỏ tía
chiều
màu của cơn giông. tàn úa. trong cây
lời cuối. lúc chia xa
bay từ hốc lửa
thư viện. giờ này đã vắng. tiếng đàn im. người đi
qua cầu. một mình
(“khúc h.”)

Hồ Đình Nghiêm, dân hội họa, bằng một hướng khác, trong một bài phỏng vấn,[2] “nhìn” thấy đoạn thơ trên là một bức tranh. “Tôi vừa nhìn ra một bức tranh ít chữ khác của “họa sĩ” Nguyễn Xuân Thiệp.” Hồ Đình Nghiêm thú nhận, “Một bức tranh mà thủ pháp ấy chẳng phải ai cũng thủ đắc. Tình ngay, có khi hội họa e không đủ sức để diễn đạt, để vẽ “cỏ tía. cơn giông tàn úa trong cây.” Đúng, có những điều cây bút/bộ gõ làm được, nhưng cây cọ không làm được. Và ngược lại. Cỏ không tự mình tía. Cái “tàn úa” của cơn giông đã làm nó bị “tía” đi. Tía, danh từ/tính từ, đã đóng vai trò của một động từ. Nói “cỏ tía”, tôi còn tìm thấy một cái “tía” khác: chân trời chớp tía. Anh chơi màu bằng thơ.

Quả là, thơ anh lắm màu/sắc. Nào tím, nào tía, nào vàng, nào xanh, nào hổ phách, nào thủy mặc …. Anh không pha màu với màu mà pha màu với … cảnh. Có lẽ vì thế mà anh có nhiều màu rất lạ. Chẳng hạn màu tím:

ngọn gió mùa đông. thổi. tím/mảnh trăng còi,
mùa đông tím những nương mưa,
không gian tím sững

Chao ôi, mùa đông tím những nương mưa. Lạ!
Cũng lạ: ngày rất hồng và chim hót rất xanh!
Càng lạ hơn: đọt mưa xanh ngắt.

“Ngày rất hồng” thì có lẽ vẽ được dễ dàng; “đọt mưa xanh ngắt” hơi khó, nhưng cũng có thể, còn “chim hót rất xanh” thì e … chịu. “Tím những nương mưa”, “chim hót rất xanh” thuộc về bên trong, tâm ngữ.

Và đặc biệt anh, màu đỏ. Rất nhiều cách mô tả màu đỏ. Anh có những màu đỏ là đỏ, đỏ thiệt: (vùng bụi) đỏ, (những cây bàng) ửng đỏ (trong mưa), phượng đỏ, đèn đỏ, (con chim) màu đỏ (trở về), (chuồn chuồn) đỏ, khơi đỏ (lửa khuya), son đỏ, chín đỏ, đỏ rạn, sỏi đỏ, nấm đỏ, hài đỏ, cháy đỏ…Và màu đỏ hòa một cách ẩn dụ: oằn đỏ, (mùa vui rơi) đỏ mộng, tiếng kêu màu đỏ (giữa trời), (câu thơ) màu đỏ, ứa đỏ (trong chiều), (tiếng chim) kêu đỏ (trong mưa), cơn sốt đỏ, đỏ mộng,(màu) đỏ rạn, vân vân…

Thơ của anh còn nhiều thứ “nhiều” khác, cái gì cũng nhiều.

Mưa chẳng hạn. Ngoài “Mưa ở đây như mưa ở quê nhà” với toàn bài đầy cả mưa, hầu như nhiều bài thơ khác cũng vương vướng ít nhiều mưa: nằm dưới cơn mưa cổ lũy, hứng những giọt mưa đầu mùa, mưa mù xanh, phố mưa, mưa trong trăng, mưa nương đồi, hạt mưa thưa, mưa vèo bay, mưa thu rơi trong trăng, hàng mưa trong, nương mưa, hái những đọt mưa xanh ngắt.

Chim chẳng hạn: tiếng chim, chim chóc, có con chim nào hót, ửng đỏ tiếng chim, cánh hải âu, chim kêu, nhớ chim mùa cũ, chim hót rất xanh, của diều và quạ, chim chóc cũng về theo, chim trắng hót, con chim rừng sắc tía, cánh chim theo trăng, tiếng đàn ai trong gió thoảng, con chim hạt, vườn chim, bay chim, theo cánh chim quen, cánh chim bay khuất

Gió chẳng hạn: trong “Tôi cùng gió mùa”, gió ơi là gió. Qua hình ảnh của những cơn gió theo mùa, là một tuyên ngôn có tính chất nhân loại, hô hào đoàn kết, thông cảm, chia xẻ, bỏ qua những rào cản về tôn giáo, chủng tộc, lịch sử, quốc gia, thời gian và không gian, kết nối thánh kinh và nam hoa kinh, kết nối hiện tại và quá khứ, đông và tây, chủng tộc.

Thơ của anh còn nhiều nắng, nhiều (tiếng) đàn, nhiều buổi chiều…Pha lẫn trong đó là nhiều hình ảnh cổ: sấm ký, ngựa đá, trâu xanh, ẩn sĩ, mây tần, mùa trăng gỉả đảo, dòng thủy ngữ, cổ thi, cựu ước, kinh lăng nghiêm, gậy trúc, biển bắc, thiên thu, tượng nhân sư, thiền sư, màu nam hoa kinh, hồng thủy, hạo ca, bi ký, thánh hiền…Dường như anh muốn lấy gương người xưa để đương đầu với cái khổ hiện đại:

tóc râu. như lão tử
trùm lên bóng trâu xanh
mài bút. viết bi ký
rau dưa. khổ. thánh hiền (“
kẻ sĩ nga sơn”)

Nhiều” của anh là một tổng hợp giữa thiên nhiên, sự vật và nỗi trăn trở riêng, chung. Ngay những bài thơ thời trẻ dại, đầu đời, anh đã trộn lẫn thiên nhiên, cây cỏ và sự vật vào tâm tưởng. Những bài thơ thời trẻ của anh rất vui, rất hồn nhiên, hồn nhiên đến lạ:

đời vẫn vui. như nắng mới lên
trong chiếc bình pha lê nước mưa trong vắt
trong gối chăn vừa mới đem phơi

Để ý xem: niềm vui trong tâm hòa cùng vẻ dáng vẻ tích cực của sự vật chung quanh: nắng mới, trong vắt, gối chăn mới đem phơi. Sự vật mang hình bóng anh.

Đôi khi, trong vui, có nhú mầm buồn:

nhìn mây trời mênh mông
(…) một chút nắng vàng trong
mua bay. mù hơi thở
hai người. cũng như không
(“trong quán. nhìn ra hoa nở trắng”)

Thường thì ai cũng buồn nhiều hơn vui. Buồn là chất liệu của thơ. Thời của anh là thời của những nỗi buồn siêu hình, những ám ảnh về thân phận, của những xao xuyến hiện sinh, phi lý, của những dằn xé, khắc khoải, của “Đời sống ôi buồn như cỏ khô” (Nhã Ca) hay “Ta gắng về sâu lòng quá vãng/Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên” (Tô Thùy Yên) chẳng hạn. Thế mà, anh không chịu ảnh hưởng này. Nỗi buồn anh có khác, rất chung: sự tan vỡ của những ảo tưởng. Nó mang tính cách nhân loại. Có thể vì thế, có lúc, anh cao giọng, dữ dội:

hỡi cô bé quàng khăn đỏ
đã chết. trong hàm răng sói già
(…) thế giới chúng ta bây giờ
của diều và quạ
bay trên những xác người (“tôi muốn yêu. tôi muốn tin cuộc đời”)

Nhưng có lúc, anh hạ giọng, thoảng chút riêng mang:

nỗi vô vọng đời ta
nào anh em có hiểu
đêm từng đêm nằm mơ
đóa hải đường xanh biếc
(“thơ viết trên trực thăng. buổi chiều hoa quỳ”)

Tưởng anh mơ gì ghê gớm lắm! Hóa ra, chỉ là một đóa hải đường. Xanh biếc.

Về sau này, khi chạy loạn, và trong cơn hoảng loạn chung của những người thua cuộc, thơ của anh vẫn điềm tĩnh và sâu lắng. Điều này khiến tôi ngạc nhiên. Tháng ba cao nguyên, bỏ chạy. Thất thủ. Tan tác. Chết chóc.

băng cánh đồng. trăng chết
tháng ba. về trên thành phố xưa
(“nha trang. tháng ba 75”)

Anh tóm gọn tháng ba khốc liệt bằng những hình ảnh nhẹ nhàng, tự nhiên, nhưng ẩn chứa một trăn trở lạ thường, sắc nét, thấm thía cuộc bể dâu:

tháng ba. tháng ba. trong đời tôi
và lịch sử. hoàng hôn nghiêng mái quán
hải âu.bay xa. về đâu
thùy dương dậy. chiều tà. hung hãn

Cách ví von lạ và mới: “lịch sử” và “hoàng hôn nghiêng mái quán”.

Thơ anh không vội vã, trông như dửng dưng, thản nhiên, nhưng chợt đậm nét xuống một cách bất ngờ. Nỗi đau, nghĩ cho cùng, đôi khi cũng đến thế mà thôi! Thơ, văn, cũng như người, có cá tính. Có người bày tỏ hùng hồn, to tiếng; có người than van, trách móc; có kẻ giận hờn, phẫn uất. Nhưng cũng có người trầm ngâm suy gẫm. Lời thơ, xuất hiện một lúc nào đó, là một cách trấn an, một cách đè nén, thậm chí chỉ là một ghi nhớ, một cách hình dung. Thơ là quá khứ. Khi nằm giữa hiện thực, người ta chỉ chạm trán nó, đối phó với nó. Thơ chỉ xuất hiện về sau, khi mọi thứ đã qua đi.

tháng ba. cọp chạy. người xa người
em mang hồn hoa sứ
ngủ ngàn năm. đất xưa (“nha trang. tháng ba 75”)

Thực ra, để đọc một câu thơ, một bài thơ hay một sự nghiệp thơ, đôi khi ta phải hiểu đôi chút về nhà thơ. Hoặc phải đọc thêm những bài thơ khác. “Tôi cùng gió mùa”, tựa bài thơ mà cũng là tựa tập thơ đầu tiên của anh, cho thấy một nguyễn-xuân-thiệp-như-anh-là. Anh nhìn tất cả những hợp, tan, thành, bại đơn lẻ của mỗi chặng lịch sử đều nằm trong một chuyển động bao la hơn, y như những cơn gió mùa, đến, đi, rồi đến rồi đi, trùng trùng duyên khởi:

thổi từ lịch sử của từng chủng tộc
từ nỗi riêng của mỗi phận người
trong cơn oan khuất
thổi từ tử hải
tới bờ hiện sinh (tôi cùng gió mùa)

Trăn trở trong thơ anh lớn và rộng.

Trăn trở tình yêu, đã rồi, trăn trở tình đời, cũng đã rồi, anh còn trăn trở nhân sinh, trăn trở về những đổi thay, trăn trở những dấu tích, kỷ niệm…và có lúc, trăn trở đến cả trăn trở của chính mình. Anh ném trăn trở vào thiên nhiên và sự vật hay kéo chúng vào anh, tôi tự hỏi. Hình như chúng chan hòa vào nhau, pha trộn vào nhau. Có lẽ vì thế, thơ của anh thường dài, nhất là trong thời gian ở tù, lúc mà con người đối diện với những bất trắc sinh tử. Có gì cần nói, anh nói hết: tuyệt vọng, bế tắc, nhớ tiếc, mong ước, suy gẫm. Nói nhiều mà không “đuối” vì anh có cách của anh: cây cỏ, sự vật. Nhiều khổ thơ, ta không tìm thấy anh:

năm ngón tay gầy. tiếng thổ cầm
sư ngồi đàn. như cây trăm năm
lửa cháy. xèo xèo. mùi nhựa ngái
khói tỏa. mù khe. màu cỏ rối
dạo đàn. mưa thu rơi trong trăng
tiếng mau. chim bay qua mùa đông
đàn ánh thép xanh. gươm phạt trúc
gỗ nổi. đá lăn. trâu bứt gốc
hồn u. mả tối. đây là đây
rạng tiếng ngư dương. thơ quỷ đọc
lán sâu. bếp ảo. lửa đào lay
(“đốt lửa nghe sư đàn”)

Toàn là cảnh. Y như anh vắng mặt. Thực ra, anh vẫn ở đó, chia xẻ, hóa thân, chung cùng:

rét. đói. sầu miên. đất. đá. gỗ
đầm sấu hoang. lau thắp. bến chờ.
lửa đã cháy. cháy trên củi ướt
tù ngồi hơ tay. nghe cổ tích.

Hình như làm thơ cũng như làm người. Nếu chỉ chăm chăm truy tầm chính mình, dằn vặt, dày vò mình, thì khó tính, người khó, thơ cũng khó. Nếu mở ra với ngoài, chan hòa thì dễ tính hơn. Thơ anh mở. Anh ném mình vào bên ngoài. Thế giới, nhờ thế, đâm ra thân thuộc. Từ những mưa, trăng, núi, tuyết, nương cày, nương đồi, ven đồi, ven rừng, khói, suối, mây, nắng, cánh đồng, thảo nguyên, châu thổ, biển, đèo …cho đến những dừa, cúc, nhãn, cỏ, bạch đàn, cúc, thùy dương, tường vi, rau dưa, phù dung, dã quỳ, sứ, phượng, sen .…Từ những võng, áo, tường, ngói, hiên, bờ mía, bếp lửa, ghế xích đu… cho đến những sói, vịt trời, quạ, cua, nhái, thỏ, cọp, dế, gà, ngựa …. Người và cây cỏ, sự vật tan vào nhau, quấn quýt nhau, soi chiếu nhau. Chúng vui, buồn theo số phận anh, là thành phần của hiện sinh anh. Chả thế mà trong thơ anh, nói như Nguyễn Đức Tùng, “hơi hướng của thiên nhiên, mùa màng, hoa cỏ” (…) “thường lập đi lập lại một số hình ảnh, số chữ quen thuộc. Chúng xuất hiện với tần số cao như những ám ảnh của lòng hoài niệm hay của chấn thương.[3]

Thơ anh cảnh, tình chen nhau, chữ nối chữ, tình nối tình hào phóng. Anh chỉ có mặt rất hiếm, ở những lúc cần thật cần thiết. Chẳng hạn như phút giây anh vừa trở về sau những năm tháng tù tội:

trở về. những bảng nhà phai số
cánh cổng đong đưa. gió lọt rào
chợt tiếng người reo bên giếng nước
ai cười. như vỡ giấc chiêm bao
(“ánh trăng”)

Có mặt mà vẫn như không có. Đọc khúc bảy chữ bốn câu như thế này, không thể không nhớ đến Tô Thùy Yên của “Ta về”.

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian, kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Giống thì có giống, mà khác thì cũng khác. Thơ Tô Thùy Yên xoáy sâu vào những cảm nghĩ siêu hình. Đọc Tô Thùy Yên, ray rứt, đau đáu. Đọc anh, da diết, ngậm ngùi.

Thơ anh gần với tùy bút. Không những thế, là tùy bút. Thử một trích đoạn trong “tempe. thơ qua hoang mạc”:

trưa. ngồi ở tempe nhớ những con đường. của gió mùa. em. và đất nước xa một mai. nếu thơ anh còn được đọc. ở những hè phố xưa. anh sẽ mang về quê nhà. gió lãng du. bụi của những con đường thẳm vang. nắng trưa từng cháy trên tóc anh. ngọn ngọn. màu hoa xương rồng hung bạo. em. cây sầu đông trổ bông tím. hãy nhìn thật sâu hồn anh. bóng những ngọn núi đá hồng cổ quái. những cồn cát nhẵn mịn lượn sóng trùng khơi. (…) và tempe. những quán sách. quán tranh và tượng nhớ không. ngày thanh niên. nắng và gió. ngồi trong quán thưa. anh và em. những chùm bông giấy. tách trà hương sen ủ. chợt nghĩ tới ngày chia tay. sợi tóc rơi trên mặt gỗ sầu. xa rồi. ngày thinh không. phố của ta.

Đầy hình ảnh: bụi, nắng, tóc, hoa, em, tranh, tượng, trà, gỗ, đường, phố, quán sách, sầu đông …. Những con chữ lãng đãng rơi, đây đó, như những mảnh confetti vương nhẹ trên tóc, trên bức màn, trên bình hoa, trong không gian và thời gian.

Thơ anh còn là bút ký. “Ánh trăng” chẳng hạn.[4] Đây là bài dài nhất trong “Tôi cùng gió mùa”: 250 câu, làm theo thể bảy chữ, phân thành sáu đoạn, dài ngắn không đều nhau. Tràn trề trăng, từ đầu đến cuối: trăng lên, trăng treo, trăng soi, trăng đứng, trăng đi, trăng trôi, trăng hư, trăng bỏ neo, và…búp trăng. Trăng vừa như mẹ, như vợ, như bạn, như tình, như người chia xẻ, chăm sóc, an ủi. Bất cứ lúc nào, anh cũng có trăng. Và trăng lúc nào cũng có anh. Trăng là trăng đời, trăng người. Theo người, trăng đi suốt cuộc nhiễu nhương:

vầng trăng từ dạo rời châu thổ
cuộc lãng du qua biết mấy trời
biển bắc. con cá côn quẫy sóng
thiên thu. còn dội tiếng bồi hồi
cửa sông. thủy triều lên xuống. gọi
người cưỡi trâu xanh đi biệt khơi
xây trên đá. đền xưa. vượn hú
ánh trăng. soi. di cảo của người
sa mạc xa. tượng nhân sư rống
bão cát xô. thế kỷ đổi đời

Với anh, đau lịch sử là đau chung. Giọng thơ anh có vẻ khắng định:

hãy xét trong cơn đau lịch sử
nỗi đau nào đau của riêng ta

“Thảo nguyên” cũng dài: 221 câu. Một bài thơ dài thì đa chuyện, tràn trề tâm sự, nhiều giãi bày. Thơ ngắn bắt suy ngẫm, thơ dài tạo không khí. Đọc một bài thơ dài, ta bị chìm ngập, và bơi lội thỏa thuê trong giòng suối chữ miên man. Nhà phê bình Đặng Tiến, bàn khá kỹ bài thơ.[5] Trước hết, ông thắc mắc về hai chữ thảo nguyên: “Ngay bài Thảo nguyên trích từ đầu đã phức tạp từ cái tiêu đề: thảo nguyên (steppes/toundra), những đồng cỏ bao la ở Nga La Tư, sống về chăn nuôi. Cao nguyên Việt Nam – nơi tác giả bị đày – có đồng cỏ nhưng chưa gọi được là thảo nguyên. Do đó từ ngữ này tạo ra cảm giác lưu xứ tận miền Tây Bá Lợi Á, từ thời Nga hoàng.” Tuy nhiên, ở đoạn sau, ông cũng nhận ra, hình ảnh đi qua thảo nguyên chẳng qua là ám chỉ một cuộc hành trình “gian truân từng cá nhân hay tập thể.”

Đúng như thế, xuyên suốt bài thơ, anh sử dụng hai chữ thảo nguyên như một ẩn dụ, để chỉ “khổ nạn” của đời người. Không những anh đi qua thảo nguyên mà cha anh cũng đã từng đi qua, rồi mẹ anh, chị anh, em anh cũng sẽ phải đi qua. “Thảo nguyên” là một trải nghiệm, từ cá nhân đến gia đình và rồi, nhân loại.

ta đi năm năm qua thảo nguyên
gậy trúc mòn khua kêu đá sỏi
nắng vẫn xanh trên ngọn bạch đàn
mùa hạ đi. nhưng thu chưa vội
ta. con chim hạc. trong thời gian
một đêm. cánh sa trên đồng nội
từ đó chung quanh đời bặt tin
chuông chùa tây phương không vọng lại

Năm năm tù trên đất Bắc, trăn trở anh mà cũng là trăn trở người. Chả thế mà:

mai sau sông nối xa đời suối
chuyện của người là chuyện dòng sông

Cách nhìn, đúng hơn là cách anh chiêm nghiệm cuộc đời, mở ra như thế, nên “ta đi năm năm qua thảo nguyên” chỉ đơn thuần là một kinh nghiệm nhân sinh. Ai cũng phải kinh qua những điều bất như ý. Bởi thế, không có gì phải vội vã. Chẳng qua là một cuộc lữ hành:

những cụm mây. trôi từ hư huyễn
chờ ta đi hết cuộc lữ hành
đời ta biết mấy mùa xiêu lạc
biết mấy vầng trăng qua cỏ tranh
(“ánh trăng”)

 

*

 

Nguyễn Xuân Thiệp có rất ít thơ ngắn. Thỉnh thoảng gặp một bài. “Bếp chiều”, chẳng hạn, tám câu:

cháy. trong vườn lãng quên
chiều nghiêng. đốm lửa
người tù xa lâu năm. trở về
bên mái nhà. và bờ ao
mùa thu. tàn ố
khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên
nấm mộ đá ong
dế khóc

Vườn, đốm lửa, buổi chiều, bát cháo, con dế … khóc. Bài thơ như bản phác thảo, một ký họa ghi nhanh những nét đơn giản, sống động ngày trở về của một người tù trong cô độc.

Thỉnh thoảng, tôi cũng tìm thấy vài bài thơ ngắn khác, ở đâu đó. Chẳng hạn, “Buổi sáng”:

buổi sáng
trong khu vườn của người
bông siêu ly nở
ngát thơm
mặt trời. trên ngọn cây
thiếu nữ. cũng vừa thức dậy. sau cơn mơ
đứng chải tóc
trẻ con thả thuyền giấy. bên bờ sông
tôi gởi thêm tiếng chim
vào bức tranh
của một ngày. hạnh phúc

Khu vườn, bông hoa, mặt trời, thiếu nữ, trẻ con, thuyền giấy, tiếng chim…Lại một bản phác thảo khác. Có bóng thiếu nữ, khiến tôi nghĩ đến tranh Đinh Cường, bạn thân của nhà thơ.

thieu nu trong thanh noi - 1984
Đinh Cường, Thiếu nữ trong thành nội (1984)

“Bếp chiều”, vừa trả xong khổ nạn, thương tích còn đầy, buồn thấm thía.

“Buổi sáng”, giải xong nghiệp, tươi mươi, hân hoan. Như nắng mới lên, nước mưa trong vắt, gối chăn vừa mới đem phơi thời trẻ.

Lúc buồn, lúc vui, Nguyễn Xuân Thiệp đều chia sớt những trăn trở của mình cho bầy bạn ở chung quanh: thiên nhiên và sự vật.


THT

(4/2019)

_________________

Tham khảo:

– NXT, Tôi cùng gió mùa, tập thơ, nxb Văn Học, California (1998); nxb Phố Văn tái bản (2012)

– Đặng Tiến, “Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp,” tạp chí Văn Học (California) số 149, 9/1998

– Hồ Đình Nghiêm, Phỏng vấn Nguyễn Xuân Thiệp

– Trần Doãn Nho, Ánh trăng” của Nguyễn Xuân Thiệp: bài thơ như bút ký đời người, Người Việt online

– Nguyễn Đức Tùng, Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, Văn Việt và Người Việt Books  (Hoa Kỳ: 2017)


Chú thích:

[1] Khi đăng trên tạp chí Văn Học và sau đó, khi in trong tập “Tôi cùng gió mùa”, không biết vì lý do nào, các dấu chấm xuất hiện rất ít, thậm chí có bài, không có dấu chấm nào. Sau này, khi Phố Văn tái bản, ta thấy bài thơ nào, kể cả vài bài rất ngắn, cũng có nhiều dấm chấm. Điều đó cho thấy, Nguyễn Xuân Thiệp xem những dấu chấm là một thành phần không tách rời của thơ anh. Rất nhiều bài thơ cua anh, khi đưa trên các trang mạng, cũng rất ít dấu chấm; điều này, theo tôi, không đúng ý tác giả.

[2] Hồ Đình Nghiêm, thực hiện bằng điện thư, tháng 7, 2017.

Xem ở: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2017/09/05/toi-cung-nha-tho-nguyen-xuan-thiep/

[3] Nguyễn Đức Tùng, Bốn Mươi Năm Thơ Việt Hải Ngoại, Văn Việt và Người Việt Books xuất bản, Hoa Kỳ 2017, tr. 512

[4] Trần Doãn Nho, Ánh trăng” của Nguyễn Xuân Thiệp: bài thơ như bút ký đời người

Xem ở: https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/anh-trang-cua-nguyen-xuan-thiep-bai-tho-nhu-but-ky-doi-nguoi/

[5] Đặng Tiến, “Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp”, tạp chí Văn Học (California) số 149, tháng 9/1998

Xem: https://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=16872&catid=6

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)