Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề Trần Thị NgH., Phê Bình, Tiểu luận Email bài này

Đi tìm vài góc khuất trong văn chương Trần Thị NgH – Phần 1: Gỏi Chữ- Lăng Ba Vi Bộ

 

 

 

 

 

 

 

GỎI CHỮ

 

Nguyễn Thị Hoàng gây “sốc” văn giới (và xã hội) bằng câu chuyện (Vòng tay học trò), NgH gây “sốc” văn giới bằng cách viết.

Người ta gọi (văn) NgH là ngổ ngáo.

Ngổ ngáo?

Ngổ ngáo: có thái độ, hành động ngang ngược, liều lĩnh. Tiếng Anh, ngổ ngáo được dịch là rash/reckless: thiếu suy nghĩ, ẩu, không sợ hậu quả. NgH có viết ẩu không? Không. Thiếu suy nghĩ? Không. Còn hậu quả? Là, theo tôi, ta có một nhà văn chỉ giống một người duy nhất: Trần Thị NgH.

NgH bảo, “Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ…xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngỗ ngáo.”[1]

Tóm lại, với NgH, viết đơn giản chỉ là có sao nói vậy (người ơi!), không dùng thủ pháp tu từ học để bôi trơn, chà láng[2] hiện thực. NgH thể hiện “quan điểm” này trong hầu như tất cả tác phẩm của mình, phăng phăng, dứt khoát.

Cần nói thêm cho rõ. Ngổ ngáo mới chỉ là một trong nhiều tính cách mà người ta quy cho (văn) NgH. Với Du Tử Lê thì: mạnh mẽ, lạnh lùng, khô khốc, giễu cợt, gây gỗ, thiếu bóng cây; với Thụy Khuê thì: tỉnh táo, vô cảm, châm biếm, đớn đau, tự trào, hiện sinh, rất mới, rất trẻ. Với Thanh Tâm Tuyền, khác hẳn. Ông nói về cấu trúc câu, chữ: “về sự rời rạc, sự tuôn tràn, những nhịp thở, những lỗ trống, nói về dấu phẩy, dấu chấm; phẩy là đòi đoạn, chấm là chưng hửng lôi tuột luốt như rớt đến trống không đến sợ. Và câu khác trồi lên, kéo lên như một ân huệ, như một phép mầu để lại dìm trong đòi đoạn.”[3]

Thì thế, mỗi người một cách nhìn. Vả, NgH viết nhiều, mỗi giai đoạn một cách, mỗi truyện một cách. Nói gì xa, hai truyện viết trong giai đoạn đầu, “Nhà có cửa khóa trái” và “Chủ nhật”, cũng đã khác hẳn nhau về cốt truyện lẫn văn phong và tính cách. Sau này cũng thế, có truyện mang phong cách truyền thống, có truyện hoàn toàn cách tân, cách tân theo lối riêng của NgH, không thể xếp vào một xu hướng nào rõ rệt, “hiện sinh”, “hậu hiện đại” hay “tiểu thuyết mới”, có truyện lại pha pha kiểu này kiểu khác, chẳng ra truyện chút nào. Viết, ở NgH, là viết chữ, viết văn, trước khi viết truyện. Văn không chỉ là phương tiện của truyện, mà là thành phần của truyện, thậm chí, ở nhiều chỗ, chính là truyện. NgH tạo được một hơi văn riêng, rất riêng. Đọc NgH, với tôi, là một lặng lẽ tỏa đầy hơi. Đọc, là “lắng nghe” NgH sử dụng và điều động chữ. Khi thì đùa nghịch, vọc giỡn, khi thì quanh co, ví von, khi thì quái ác, thâm trầm, khi thì rạch ròi, huỵch toẹt, đôi lúc…tàn nhẫn. Hơi văn NgH nghe đã khác lạ ngay từ những truyện đầu tay:

“Chàng ngồi cạnh mép giường nhìn tôi đi tới đi lui thu dọn những thứ lặt vặt (bàn chải đánh răng, khăn mặt, kính soi, kẹp tóc, thuốc gội đầu, thuốc ho…). Tôi mang đi hết, không để sót một món. Tôi ghét di tích, kỷ niệm. Chàng ngồi tằn mằn mớ quần lót tôi còn để bừa ở ngoài, hỏi xin; (…) Những sợi tóc còn sót trong chăn gối chàng, chiếc khăn ướt vắt cẩu thả trên sợi dây thép, ly sữa uống giữa khuya còn một chút cặn dưới đáy, tờ báo tơi tả nhàu nhượi, mùi xà phòng chàng tắm buổi sáng, mùi Parazol quen thuộc trong nhà cầu, ống kem đánh răng vặn vẹo…” (Nhà có cửa khóa trái)

Có một cái gì rất không bình thường ở đây. Sau những mặn nồng ân ái, lại ân ái đầu đời, thế mà chia ly chỉ bịn rịn, không rưng rưng, sụt sùi, không níu kéo, toàn thấy mô tả mấy thứ lặt vặt không đâu vào đâu: mớ quần lót, chiếc khăn ướt, tờ báo tơi tả, ống kem đánh răng vặn vẹo…Nghe sao bình thường, nhạt nhẽo!

Ở một truyện khác:

“Tôi co người như con tép thụt sát góc giường ngó trân trân người đàn ông lạ mặt nằm ngủ. Tôi đập muỗi chan chát, nôn ruột ụa mửa những búng nước tanh lỏng le, tôi lò dò đi tiểu, rửa ráy, cầm nhín cái thau nhôm vàng khè nhớt nhợt.” (Nghỉ mát ở bãi biển)

Trông ghê: tanh lỏng le, lò dò đi tiểu, vàng khè nhớt nhợt!

Điểm chung là: ở cả hai trích đoạn, NgH quay “cận cảnh” những chi tiết có vẻ như không cần thiết, lại tầm thường, dung tục. Nhưng không có gì là “không bình thường” cả. Quá bình thường là khác. Rõ ràng, NgH tìm cách soi rọi thật gần, thật sát vào những ngóc ngách (bình thường) ít có người để ý; hoặc không dám, không cần để ý. Soi rọi và cách soi rọi các chi tiết đó khiến văn NgH, một mặt, trông dửng dưng, lạnh và mặt khác, mang vẻ khiêu khích/giễu cợt/châm biếm/thách đố hoặc, tất cả những điều đó cùng một lúc. Một cách vượt rào, vượt khỏi cái thường tình. Cũng là vượt khỏi chính mình.

Thử so sánh với một đoạn văn của Võ Phiến:

Dưới đường, những chiếc xe hơi, xe ba gác, xích lô đạp và xích lô máy xếp dọc bên lề. Những thùng rác, trụ điện. Hai con chó trửng giỡn đuổi nhau, vờn nhau. Con chó nằm bên chàng nhìn xuống thèm thuồng. Thỉnh thoảng nó không cầm lòng được, cuống quýt, cào chân trên ván gác và hực lên một tiếng. Ngoại trừ sự rạo rực của con chó, tất cả không gian rỗng tuếch, không một tình cảm. Trăng vằng vặc mà vô tình.” (Một ngày để tùy nghi).

Võ Phiến đã khá chi li, nhưng vẫn còn lảng vảng ở vòng ngoài, chưa áp sát. Võ Phiến sử dụng kính lúp, NgH sử dụng kính hiển vi:

“Vài năm trước khi qua đời ba tôi hay ở trần mặc xà-lỏn ngồi bó gối kiểu đó ở góc phản, thở khò khè, lâu lâu khạc đờm vô cái lon sữa bò để gần đấy. (…) Đờm đặc queo, có khi không chịu nhúc nhích, phải pha thêm nước hoặc dùng que khều khều cho nó trôi xuống đánh tọt.” (Seretide)

Nếu là Võ Phiến hay ai khác, thì có lẽ sẽ ngừng ngang chỗ “thở khò khè” hoặc quá lắm là “lâu lâu khạc đờm vô cái lon sữa bò”. NgH đi xa, “đờm đặc queo”; không những thế, còn đi sâu hơn, “có khi [cục đờm] không chịu nhúc nhích”; vẫn chưa đủ, NgH còn thêm “phải pha thêm nước hoặc dùng que khều khều cho nó trôi xuống đánh tọt.”

Chi li đến thế là cùng! Đúng là NgH “xịt” chữ, tham dự trò chơi với chữ một cách tích cực, lại hồn nhiên và thoải mái. Không mã hóa, không bóng bẩy. Vả lại, NgH đã soi rọi đến chỗ không thể mã hóa hay bóng bẩy được nữa. Nếu các sự vật mà nói được, chắc chúng phải cám ơn NgH đã tìm cách đưa “thân phận” hèn mọn của chúng vào ánh sáng…văn chương.

Viết, để cho ra văn, thường những chi tiết “không được đẹp” bị bỏ qua, hoặc nếu cần thiết, chỉ quanh co gợi ý, “tu-từ hóa” chúng, biến chúng thành “uyển ngữ”. NgH, ngược lại, đi sâu, đi sát, thản nhiên bóc chúng ra, lật chúng lên y như ta lật một cục đá nằm lâu năm ngoài vườn, tìm thấy đủ thứ côn trùng nhúc nhích bên dưới. Nhìn thì cảm thấy rợn da gà, nhưng hiện thực vốn sẵn ở đó, luôn luôn như thế, là thế, tĩnh tại, chẳng hề “nói lên” cái gì cả. Các chi tiết của chúng thường dễ bị khuất lấp bởi cái vẻ bên ngoài nhũn nhặn, phẳng phiu, bởi cái tổng thể gọn gàng của chúng. Mà cũng bị che khuất bởi chính rào cản ngôn ngữ (như cục đá ngoài vườn) và qua đó, bởi chính chúng ta. Thay vì nhìn thấy một cơ thể, ta nhìn thấy một nhan sắc; thay vì nhìn thấy những cái thô nhám, xù xì, ta nhìn thấy một hình dáng gọn gàng; thay vì thấy cái cụ thể, ta nhìn thấy cái trừu tượng. Nhất là khi xuất hiện qua thứ ngôn ngữ văn chương hoa hòe bóng bẩy, chúng còn bị khúc xạ thành nhiều lớp khác nhau, làm thay đổi hẳn diện mạo của hiện thực. Nhưng có cách gì thoát khỏi ngôn ngữ đâu!

(Dường như) biết thế, NgH chơi cách khác, không sử dụng ngôn ngữ bóng bẩy, không nói quanh nói co cốt làm vừa lòng ai, mà lột truồng, bóc hết những lớp võ mỹ miều bao quanh bộ mặt của hiện thực, diễn tả chúng y-như-chúng-là, trần trụi. Thử nghe NgH phác thảo chân dung người tình đầu đời (lưu ý: những chữ in nghiêng trong các trích đoạn sau là tôi muốn nhấn mạnh):

“Trung là người quen của một bạn trong nhóm. Tay này đẹp ớn! Tóc bồng má đỏ mắt to môi ướt mi rậm, hơi điều điệu vì biết mình đẹp, hơi đểu đểu với nụ cười nhếch một bên khóe giống Alain-Jean, tên tội phạm đang bị cảnh sát truy lùng trong La Veuve Couderc. Sau kỳ hè, tôi trở về Sài Gòn vẽ lại chân dung mỹ nhân bằng chì than. Bức vẽ gửi tặng qua đường bưu điện khiến anh chàng đùng một cái tót về thành phố. Chúng tôi bắt đầu ngồi quán, ẹo qua ẹo lại bóng gió, lâu lâu tợp một ngụm cà-phê loãng ra cái điều điềm đạm có chiều sâu.” (Phục chế ảnh cũ)

Đặng Thơ Thơ cho rằng cách nhìn nam giới của NgH “thường là khắt khe, nhiều lúc tàn nhẫn, ngay cả trong tình yêu.”[4] Không đâu! NgH bình đẳng với mọi người, mọi thứ, mọi vật. Trên kia, NgH tả “ba tôi” khạc đờm, sau đây, tả một bà già 70 tuổi đi vệ sinh:

“Từ phòng ngủ, để 6 bước vào nhà vệ sinh phải dùng cả hai tay nâng chân phải lên cao vài mi-li-mét đặt nhích 10 phân về phía trước, xong lập lại thao tác đó với chân trái, lưng khòm khòm, đầu lắc lắc theo nhịp khắc khoải của Khúc Định Mệnh số 5. (…) Có hôm cái-tồn-tại-trong-bụng đã không thể chờ. Trong điều kiện di dịch nhiêu khê, tự dọn sạch xú uế trên sàn gỗ đòi hỏi một nỗ lực chết người.” (tựa đề truyện: 218)

Cảnh một người phụ nữ già gặp khó khăn khi đi tiêu đi tiểu, “lê 6 bước”, “nhích 10 phân”, “cái tồn tại trong bụng” (tức là phân) bỗng dưng trộn với một bản nhạc cao cấp: bản giao hưởng Beethoven số 5.

Tả đám tang bà mẹ:

“Về tới đầu hẻm đã thấy lô nhô màn trướng cờ quạt. (…) Hẳn đã có người sụt sùi lúc liệm, một giờ trước khi [chuyến bay] SQ333 hạ cánh. Phần tôi thì làm rồi, sau lúc được người quen cho biết tin. Một tí thôi, một mình trong nhà tắm ớ cái nhà thuê cách chỗ đám tang 17 phút đi bộ. Tôi tưởng tôi sẽ thê lương vật vã, bởi bấy lâu nay mỗi khi muốn khóc thường tự nhắc nhở để dành mai mốt má chết làm một trận tổng kết. Vậy mà nó không chảy, nó rỉ, giống vải lau nhà vắt chưa ráo đã đem hong. “ (Mataco, Ltd)

Tả một cô gái học đàn:

“Dạo ấy cô gái nhỏ nhắn gần như gầy gò còm nhom với mái tóc thả dài hai bên ngực che khuất đôi vú lép thường ngồi sau lưng thầy chờ đúng lúc để lật trang cho những trường đoạn thầy độc tấu. Đã có lúc Thị vừa dõi mắt theo những dòng nhạc trên giá đàn, vừa bị phân tâm bởi mùi mồ hôi dầm dề từ lưng và nách áo thầy (…) Mỗi nốt nhạc bung lên đến một lúc bỗng xộc mùi tanh như máu bầm để khô.” (Trổ đồi mồi)

Tả cảnh:

“Phòng ngủ 15 mét vuông có cả lò sưởi, một giường đôi, một bàn viết to như bàn ăn dành cho 8 người. Nhà bếp lúng túng tủ lạnh, máy giặt, lò điện, bàn ăn, rốt cuộc chỉ còn vài ô gạch vừa đủ đứng xoay qua xoay lại. Nhà tắm như được thiết kế cho một người dẹp lép ốm nhom; chen chúc trong 3 mét vuông là bàn cầu, lavabo, chỗ đứng tắm vòi sen có tấm màn nhựa kéo ngang.” (Đường vòng)

Những trích đoạn trên mô tả người, vật, sự vật, khung cảnh…chọn một cách tình cờ từ các truyện của NgH. Những chữ do tôi nhấn mạnh (in nghiêng) là cách ăn nói dân dã diễn ra thường ngày trong cuộc sống bên ngoài: khẩu ngữ. Văn NgH đầy những khẩu ngữ, cả ở các đối thoại lẫn trong mạch văn, như thế. Viết như nói. Đó là một trong những nét khá tiêu biểu trong văn phong NgH. NgH nói văn. Chính xác hơn: vừa viết văn vừa nói văn. Về người tình đầu đời: tay này, đẹp ớn, hơi đểu đểu, tót về, ẹo qua ẹo lại, tợp; về đám tang mẹ: lô nhô, thê lương vật vã, làm một trận tổng kết, vải lau nhà vắt chưa ráo; về nhân vật ‘tôi”: còm nhom, Thị (Y Thị), vú dẹp lép, máu bầm để khô; về phòng ngủ: lúng túng, dẹp lép ốm nhom.

Thử liệt kê thêm một số nói văn nhặt nhạnh đâu đó từ nhiều truyện của NgH: nằm chèo queo, mò mẫm, rị mọ, yếu xìu, quơ cả bụm, khôn tổ cha, xí bùm bum, xụi lơ, xẹp lép xanh rờn, trái cây chín dú, bờ chờ bợt chợt, ngoi ngóp bò ra, thở dài ứ hự, đâu đít nhau, trụi lủi, tỏng tòng tong, nằm chình ình, chạy tới chạy lui như gà mắc tóc, ầu ơ ví dầu, gái gú lăng nhăng, đập cho lòi phèo, tiếc hùi hụi, lóng rày, ngồi tùm hum, bí xị, nợ lút đầu, mướt rượt, gần xịt, trần ai khoai củ, vẹo cổ trật be sườn, ầu ơ ví dầu, ngồi thu lu, lạnh té đái, ốm nhom ốm nhách, đá cá lăn dưa, vân vân.

Khẩu ngữ, do tính cách tượng hình, cụ thể nên khi dùng để diễn tả, sự vật trông có vẻ trần trụi, thô, xấu, và do đó, dường như sát với hiện thực hơn; nhưng đồng thời, lại cũng làm cho chúng trông có vẻ tiêu cực. Thực ra, tích cực hay tiêu cực chỉ là cách chúng ta “đánh giá” theo một quy ước áp đặt. Con cóc thì xấu vì da nó “sần sùi” trong lúc đó, con chim thì đẹp vì lông “mướt”, vì màu sắc “sặc sỡ”. Sần sùi, mướt, sặc sỡ…chỉ là tính cách, vốn không xấu cũng chẳng tốt, không tiêu cực cũng chẳng tích cực. Ấy thế mà “nằm chình ình” hay “nằm chèo queo” nghe tiêu cực hơn “nằm ngay đó”, “ngồi thu lu” nghe tiêu cực hơn “ngồi thu mình”, “tót về” tiêu cực hơn “đi về”, “vú dẹp lép” tiêu cực hơn “vú nhỏ”…NgH tiêu-cực-hóa hiện thực bằng cách sử dụng khẩu ngữ hay sử dụng khẩu ngữ để đưa ngôn ngữ tiệm cận với hiện thực, điều mà ngôn ngữ bóng bẩy không làm được? Hay, phải chăng, sự thật bao giờ cũng tiêu cực? Với NgH, hình như cả hai.

Ngoài khẩu ngữ, tôi tìm thấy một số đặc điểm nổi bật khác trong văn phong NgH:

· Liên tưởng và ví von: so sánh sự vật/hiện tượng/cử chỉ này với những sự vật/hiện tượng/cử chỉ khác tương tự nhau bằng cách liên tưởng. Liên tưởng và ví von là thủ pháp ẩn dụ, so sánh ngầm giữa những sự vật tương tự nhau ở một điểm nào. Khi nhìn thấy ngay sự tương tự, ẩn dụ trông có vẻ nhẹ nhàng như khi so sánh người đẹp với đóa hoa hay nụ cười buồn với một bông hoa héo. Nhưng khi đẩy sự liên tưởng đi xa, rất xa, hay sử dụng những hình ảnh, sự vật chỏi nhau, ẩn dụ trở thành một hình thức phê phán hay giễu cợt. Với một đầu óc tưởng tượng phong phú, NgH đã nhìn thấy sự tương tự ở những chỗ trông chẳng tương tự tí nào. Nhưng chính ở điểm này khiến văn NgH mang một vóc dáng khác, lạ, có lúc đầy tính sáng tạo. Chẳng hạn: ví von nụ cười nhếch môi của người tình đầu với nụ cười của tên tội phạm đang bị cảnh sát truy lùng; ví von “nốt nhạc” vang lên “tanh như máu bầm để khô”; ví von nước mắt rỉ với “vải lau nhà vắt chưa ráo đã đem hong”; ví nhà tắm tồi tàn với một người “dẹp lép ốm nhom”.

Thử kể thêm vài cách ví von ở những nơi khác:

– Nụ hôn: nụ hôn không vượt quá răng, ngửi ngửi nhau như hai con chó tìm hơi quen (ví nụ hôn với hai con chó ngửi nhau);

– Cô Kiều Nguyễn Du: cô Kiều đi ra đi vô lầu xanh như người ta đi Walmart (ví lầu xanh với chợ Walmart);

– Xã hội Việt Nam thời đổi mới: Sau hơn một thập kỷ đói và dốt, từ những lỗ châu mai người ta thập thò ngoi đầu lên dáo dác ngó qua ngó lại. (ví xã hội miền Nam sau khi Cộng Sản chiếm với một trại tù);

– Loa phóng thanh trên đường phố: Ở các cột đèn ngã tư, máy phóng thanh thôi gào thét lúc 5 giờ sáng những bài hát gấu ó như chó cắn. (ví các loa phóng thanh Cộng Sản với tiếng chó sủa).

– Thủ dâm: thủ dâm rần rần như trình diễn văn nghệ quần chúng (ví hành vi “thủ dâm” với ca hát)

Ví von xuất hiện rất nhiều không những trong văn mà còn cả trong các câu trả lời phỏng vấn của NgH. Chẳng hạn:

Lý Đợi: Chị quan niệm thế nào về việc cầm bút? Nhà văn có nghĩa vụ hay sứ mệnh nào không?

NgH: Cầm bút thì cũng như thợ may cầm kéo, đồ tể cầm dao, thợ mộc cầm búa đinh, tiều phu cầm rìu, ca sĩ cầm máy vi âm…(…) Nghĩa vụ của họ là cắt cho khéo, chặt cho đẹp, đóng cho chắc, bổ cho chính xác, hát cho hay – ít nhất là trong đánh giá chủ quan của chính họ. Còn sứ mệnh thì…tính sau đi.”

Hay:

Nhà báo: Có khi nào Trần Thị NgH dự định về sống hẳn ở Việt Nam để sáng tác?

NgH: Văn chương nói riêng và các loại hình nghệ thuật nói chung không cần đến giấy thông hành vì không có ranh giới địa lý.”[5]

Hình thức ví von, trong nhiều trường hợp, tuy gián tiếp, nhưng có khả năng biến một diễn tả bình thường thành sâu, độc và đa nghĩa.

· Nhiều đoạn văn, có khi khá dài, qua đó, NgH diễn tả mọi vật, mọi sự một cách khơi khơi, lang bang từ điều này đến điều khác, nói trổng, không cần chủ từ, không cần liên từ, không cần chuyển mạch. “Bay vào phòng tắm tôi bắt đầu chùi tẩy cái bồn đóng cáu đen sì, chắc đã lưu niên để vậy. Coi như cuộc chiến tranh trong lòng người Việt nam hoà bình chưa bắt đầu được chữ nào. Ngày đầu tiên đi chợ nấu ăn, ngày thứ nhì làm vệ sinh nhà cửa. Buổi chiều đọc bậy bạ một tí rồi xem phim tài liệu về Frida Kahlo. Lẽ ra thì không nên ngồi thu lu trong phòng. Mùa hè bên ngoài coi bộ vui. (…) Đổi bối cảnh cũng thú, nhưng tưng tửng ở nhà đi dạy kèm cũng khoẻ. Lâu rồi chẳng đẻ đái được gì, cũng bởi nhà nước quản lý nhân dân làm chủ. Hiến pháp điều 2 khẳng định: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, điều 4 xác quyết: Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Hiểu chết liền! Cánh tay văn học miền Nam trước 1975 bị đoạn chi, sau được nối dài ở hải ngoại, hơi lặt lìa vụng vết chỉ khâu.”

Chỉ có một chữ ‘tôi” trong câu đầu. Cách nói trổng tạo nên chất “khô khô” trong văn NgH. Đã thế, lại nhảy cóc: từ chuyện nhà bỗng nhảy sang “nhà nước quản lý nhân dân làm chủ” cộng thêm khẩu ngữ “hiểu chết liền”, bất ngờ, lạ, chẳng giống ai! Cách viết “nhảy cóc” này tạo nên tính chất lang bang, đa chuyện, đa đề tài và đa ý trong văn NgH.

Trong các câu trả lời phỏng vấn, NgH cũng nói trổng, nói ví von, rất ít khi sử dụng chủ từ “tôi”.

· NgH cố tình mô tả một cách rất chi tiết những điều có thể không cần phải chi tiết. “Lên đến tầng 5 đếm đúng 90 nấc. Mở khóa trên 2 vòng, khóa dưới 2 vòng, khóa giữa 2 vòng, ghìm chìa khóa ở ổ giữa, túm lấy tay nắm, rịt cửa vào người để nẩy cái khấc.”

Chi tiết quá, trông rườm rà, nhưng tạo ra một hiệu ứng riêng trong trí tưởng người đọc. Trích đoạn này diễn tả nỗi khổ của người già khi leo lên lầu trong truyện “218”

· NgH còn sử dụng những cụm từ phổ thông xuất phát từ nhạc, truyện hay các khẩu hiệu tuyên truyền: “chính diện trông rất xung đột nội tâm”, ra cái điều “chiến sĩ tiền tuyến bảo vệ hòa bình hậu phương, “mười năm tình cũ”, “có chiều sâu tâm hồn”, “làm vệ sinh tư tưởng”, vân vân. “Người đàn bà hai con” kể chuyện một mối tình thuộc loại “vòng tay học trò”, sử dụng tựa đề của một số tác phẩm văn chương và âm nhạc làm các tiểu tựa, trông rất sát với nội dung truyện, lại hàm ý giễu cợt: ngày xưa hoàng thị, mê lộ, động hoa vàng, ru em từng ngón, vũng lầy của chúng ta…

· Mặt khác, do thích đàn và thích vẽ, lại đàn hay vẽ giỏi, nên văn NgH thường pha trộn với âm nhạc và nhất là với hội họa. Có truyện, NgH đưa cả tranh do chính NgH vẽ vào truyện, như một hình thức minh họa. Ở nhiều chỗ, NgH chơi nhạc hoặc vẽ tranh bằng chữ, có khi là cả hai cùng một lúc:

“Vili vẫn đầm đìa đắm đuối uốn lượn hai cánh tay mật ong, mười ngón thon bay phấp phới trên dàn phím Steinway & Sons, đầu niễng, mắt nhắm, mày cau, hai môi mím kín màu son Rouge de Rose của Lancôme, tóc nâu hạt dẻ quăn quíu quật tứ tung theo động tác cổ. Mặt sau chiếc áo long lanh những sợi pha lê là một vạt lưng trần trôi miên man về tận hạ nguồn, hai dây áo mảnh vắt vẻo trên xương đòn gánh nhấp nhô theo động tác tay, đường cong từ gáy lượn mềm xuống gò mông tròn, bẻ cua thật ngọt lòn qua xương cụt, men theo đường nối giữa đít và đùi, gập góc chín mươi độ ở hai gối, ôm sát mép gẫy của đôn ghế rồi buông tuột theo cẳng chân dài lấp ló ở đường xẻ áo.” (Trổ đồi mồi)

Không có một đầu óc quan sát tinh, nhạy kết hợp với con mắt của một người biết vẽ, tưởng không cách chi có thể mô tả cảnh cô gái ngồi đánh đàn piano như thế, sống động, tượng hình, đẹp.

Nhưng “hội họa” hơn cả là “Tuyệt tác- chín biến khúc”. Đây là một trong những truyện ngắn đặc sắc của NgH. NgH vẽ chữ và viết tranh. Chữ nghĩa chọn lọc, sắc sảo, khít khao với tranh vẽ. Tranh trong chữ, chữ trong tranh. Thực trong ảo, ảo trong thực. Nhân vật “nó” là một hiện hữu lưỡng tính: một tay tình nhân trẻ hơn 18 tuổi và đồng thời cũng chính là bức tranh:

“Tôi thấy trong đầu một màu trắng của đêm mất ngủ còn nó màu tím. Thứ tím lợ của mực Quế Lâm nếu có pha một tí nước, hoặc ngả sâm sẫm nếu thả vô vài giọt Parker xanh đen. Nó đang chổi dậy, vẫn không có đầu, ngực trần, tay phải chống ngược, tay trái với chồm về phía trước khều một khối tròn tím rịm, chăn xanh đen phủ ngang bụng, lõm giữa hai đùi kéo nhăn nhíu ra cái phông trắng rồi mất tăm. Lại dựng đứng. Mực chảy ra ngoài khối tròn dẹt màu tím, vùng ngực nó tối hút mắt làm tôi ngộp như bị chặn họng. Tím Mai, tôi định gọi vậy, nhưng sau lại ngần ngừ đổi thành Trăng Chảy.”

“Tuyệt tác- chín biến khúc” là một tổng hợp mới lạ trong cấu trúc, đẹp trong tranh, đa ý trong nội dung, tài hoa trong cách diễn đạt.

Tóm lại, NgH trộn chữ và qua chữ, trộn ý. Như trộn gỏi. Hãy gọi là gỏi chữ. Đọc NgH là một hình thức ăn gỏi. Làm gỏi, món ăn dân dã nhất Việt Nam này, dù gỏi gà gỏi vịt hay gỏi cá gỏi tôm, vân vân, đều là “ép” nhiều thứ – có khi rất chỏi nhau – vào nằm chung: cái chua, cái ngọt, cái mặn, cái chát, cái sống, cái chín, cái cay, cái bùi. Chả thế mà ăn gỏi là ăn một tổng hợp, là thưởng thức được nhiều mùi vị cùng một lúc. NgH đã trộn chữ theo một công thức rất riêng nên hơi chữ cho ta một vị riêng. NgH thay đổi cách trộn trong từng truyện, từng hồi, từng phân đoạn và thậm chí …từng câu. NgH trộn nhiều thứ khác nhau: cũ và mới, thời sự và văn chương, thanh và tục, dí dỏm, tinh nghịch và nghiêm túc, chua chát, cay đắng và ngọt ngào, khẩu ngữ và chuyên ngữ, đen và bóng, vân vân.

Nếm thử lúc đầu, nhăn mặt. Thử nhiều lần, đâm ghiền.

LĂNG BA VI BỘ

Gỏi chữ đưa đến gỏi chuyện. Truyện NgH thường là một tập hợp của nhiều chuyện, chúng có thể dính líu, đan xen nhau, có khi chẳng quan hệ gì nhau. NgH nói chuyện nọ xọ qua chuyện kia, linh tinh, lỉnh kỉnh. Bất cứ cái gì cũng có thể trở thành đề tài và bất cứ đề tài nào cũng mở ra những đề tài khác, đa dạng, luôn luôn thay đổi. Vừa đang nói chuyện bên đông bỗng nhảy sang chuyện bên tây, vừa đang ở đề tài này, chợt phóc sang đề tài khác. NgH quanh qua quẹo về, thêm thắt, ráp nối, liệt kê, kể lể. Các sự kiện bập bềnh trôi nổi giữa chủ điểm và ngoại vi, kéo độc giả chạy ra xa, rồi đột ngột níu trở lại gần, tung, hứng, cắt dứt hay đào sâu các chi tiết. Thỉnh thoảng, NgH để lửng lơ, rời rạc từng mảnh, từng mảng để độc giả tự mình ráp nối.

NgH lăng ba vi bộ.

Truyện NgH mở, ít keo trong cấu trúc. NgH thả lỏng để cho những mảnh vụn cuộc sống lừng lững đi vào trong truyện. Nói chung, truyện thường đơn giản, không hay ít khi đưa ra một đề tài nặng ký nào. Có truyện đơn giản một cách rất bất ngờ: 218 kể chuyện dự tính nhảy lầu tự tử của một nhà văn nữ 70 tuổi sống độc thân ở tầng lầu số 5 của một chung cư cũ, leo lên leo xuống rất khó khăn; “Seretide” kể chuyện một người đàn ông bị lên cơn suyễn đột ngột khi đi trong tháng máy, phải sử dụng ống bơm thuốc khiến người đồng hành tưởng là kẻ cướp; “Người đàn bà nằm” kể chuyện một phụ nữ có con so, bị ghẻ lở ở chỗ kín vì rận cắn. Đề tài NgH thường không cứng nhắc, không cô lập vào một chủ điểm nào đó định sẵn mà, trái lại, tự phát triển. Vài truyện sáng tác trong thời gian đầu (mà NgH gọi là thời kỳ quá độ, thí mạng cùi), còn tập trung hay xoay quanh một chủ điểm nào đó, nhưng càng về sau, trong các thời kỳ “biên độ”, “ế độ” và “cá độ”,[6] theo cách xếp đặt của NgH, truyện càng đa-tuyến, đa-đề-tài, tỏa ra, lan rộng. Nhiều đề tài pha trộn vào nhau. Chọn một đề tài nào đó đôi khi chỉ là cái cớ chỉ để nói về những đề tài khác. Kể một chuyện nhưng là cái cớ để kéo ra những chuyện khác. Có thể nói, đề tài không chi phối, mà lắm khi lại là hậu quả của (những) câu chuyện.

Trong “Lệch một khấc”, tưởng NgH đang nói về hội họa, hay về tính tham lam tình dục của đàn ông thì hóa ra cũng là nói về đồng tính. Trong “Mataco, Ltd”, nội dung chính là đám tang của bà mẹ, lại tỏa ra năm, bảy chuyện khác nhau, từ lòng hiếu thảo cho đến các thủ tục khai tử nhiêu khê, rắc rối trong cơ chế Cộng Sản, từ việc chôn cất cho đến việc tranh chấp tài sản thừa kế, vân vân và vân vân. “Cinema Paradiso” kể chuyện về cuộc đời của một cô gái ở gần rạp chiếu phim, lại mở ra một lô chuyện linh tinh lỉnh kỉnh khác, từ lai lịch một rạp xi nê ở ngoại ô, cho đến ông đạo diễn phim, từ các tài tử phim ảnh nổi tiếng Pháp, Mỹ cho đến các bộ phim tình cảm Quỳnh Dao, phim Hồng Kông, Ấn Độ, phim Việt Nam trước 1975 rồi đến phim Nga, phim Tiệp sau 1975; kèm theo đó là những nét phác họa khung cảnh xã hội Việt Nam sau 1975. Trong “Phục chế ảnh cũ”, nội dung chính là tìm lại nhân dáng của một người tình đầu đời, thực ra, là phác họa ra hình ảnh, mà đồng thời cũng là kinh nghiệm sâu sắc của NgH với nhiều người đàn ông đi qua đời NgH, cả tưởng tượng lẫn thực tế, mà NgH gọi là một “tập đoàn đàn ông về mặt sinh học.”[7] “Chuông gió” đề cập đến một phụ nữ tính tình quá chu đáo, quá tỉnh táo, quá cặn kẽ đâm ra so đo tính toán trong quan hệ với mọi người, được ví von với chứng tự kỷ (autism) dẫn đến sự đổ vỡ một cuộc tình; và lang bang nhảy qua chuyện dạy con, chuyện số phận nàng Kiều của Nguyễn Du, hay chuyện nhũng lạm trong cơ chế nhà nước, vân vân.

Võ Phiến kể chuyện này qua chuyện nọ, nhẩn nha, lai rai trong lúc vẫn nhắm đến chủ đích xoay quanh đề tài đã chọn. NgH cũng kể chuyện này qua chuyện nọ, nhưng nhảy cóc, nhảy băng, đôi khi vượt rào. Vì thế, ở một số truyện, nếu độc giả muốn tìm đề tài chính, rất khó. Mở đầu truyện đôi khi là một chi tiết đột ngột từ trên trời rơi xuống, dẫn đến một nội dung nhập nhằng, lang bang, rồi kết truyện thì lại tưng tửng như dưới đất trồi lên. NgH bảo, “Người viết nào cũng ăn ngủ đi đứng sinh sống bình thường như người không viết, có điều họ hái hoa bắt bướm nhiều hơn, nhặt nhạnh nhiều hơn, dừng chân thường xuyên hơn thành ra có kẻ đi mãi mà không tới nhà là vì vậy.Trong những gì nhặt được dọc đường, bỗng có thứ chi đó đùng một cái nở bung ra, thế là thành chuyện. Nó có thể là là cát, đá, sạn, hoa dập, gai nhọn. Nhưng nó nở.”[8]

Đúng là “nhặt nhạnh và nở bung”. Viết, với NgH, đơn giản như thế. Nhặt nhạnh bất cứ thứ gì và “có thứ chi đó” nở bung ra trong ngôn ngữ: nguyên xi, trần trụi và nóng hôi hổi. Các sự vật, sự kiện, chi tiết hiện thực trong văn NgH dường như đều có chỗ đứng bình đẳng, đàng hoàng, cụ thể. NgH mang cả cái không khí ngồn ngộn của cuộc sống chung quanh vào văn.

“Nhăn rúm”, theo tôi, là một truyện điển hình cho phong cách sáng tác “nhặt nhạnh và nở bung” thành đa-chuyện, đa-đề-tài của NgH. Bằng một giọng văn tường thuật từ chuyện này đến chuyện khác, chi li, có gì “xịt” đó, không điệu đàng, uốn éo, không tráng men, nhân vật cô gái kể lại cuộc đời mình xuyên qua những quan hệ chồng chéo từ cha, mẹ, cha ghẻ, chị, anh rể kéo dài từ trước 1975 cho đến giai đoạn sau này với hàng chục câu chuyện đan xen nhau đầy hỉ, nộ, ái, ố, ai, bi, lạc dục trong một xã hội đảo điên, điên đảo, nhiễu nhương. Truyện thì có mà “cốt” thì dường như không, đề tài chính cũng không. NgH lăng ba vi bộ hàng trăm bước, xàng xê từ mối tình đầu của người mẹ lúc vào truyện, đến mối tình thứ hai của mẹ, đẻ ra “tôi”, nhân vật chính; rồi chuyện hai chị em người chị cùng mẹ khác cha ở chung, chuyện mẹ mua nhà, chuyện ‘tôi” lớn lên mê văn chương của Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Xuân Hoàng…; chuyện chồng con người chị, chuyện Cộng Sản vào chiếm Sài Gòn, chuyện anh rể tự tử chết, chuyện chị vượt biên rồi về sau bảo lãnh mẹ, vân vân và vân vân. Mỗi một chuyện đẻ ra nhiều “tiểu chuyện” khác, dằng dai, dai dẳng để đi đến một phần cuối thật bất ngờ, tưởng chừng như chẳng dính dáng gì đến toàn truyện:

“Vói tay nhặt lên mân mê. Từ chỗ nó chui ra không có cảm giác gì đặc biệt, giống phụ nữ có tháng thỉnh thoảng nhợn ra một cục huyết bầm bằng nửa miếng gan gà. Lạ là thoạt nhìn nó giống miếng tóp mỡ hay thẻo vỏ quýt phơi khô đã trỗ màu sậm sì. Phải chăng cái trinh tiết, do bị hãm bởi con ma men và con ma tôi, đã nằm chờ từng ấy năm đến quắt queo nhăn rúm? Chắc cú không phải thai chết lưu, bởi cái nghìn vàng vẫn còn đó nỗi buồn nên nó đành tự sản tự tiêu? Rõ ràng nó là một phần trong cơ thể rụng ra, như cuốn rún của trẻ sơ sinh bị héo do đứt dinh dưỡng từ nhau của người mẹ. Nó là cái gì thì cũng là điều thầm kín, phải được cất ở hốc bí mật dưới tủ thờ cùng với tiền để dành, của hồi môn và những bài thơ tình.”

Cái “đáng giá ngàn vàng” của nền luân lý cổ xưa, cái “đóa trà mi” đẹp đẽ, xinh xắn, tươi tắn của Nguyễn Du, cái mà mọi cô gái nâng niu, nhọc lòng gìn giữ (đôi khi suốt cả đời) chỉ là “một miếng tóp mỡ hay thẻo vỏ quýt phơi khô đã trổ màu sậm sì” quắt queo nhăn rúm! Rẻ hơn bèo. Bình thường và tầm thường như cục đất ngoài vườn. Nhưng đó lại là một khám phá độc đáo của NgH: cụ-thể-hóa hay sự-vật-hóa một cái bị đàn ông đẩy đến chỗ vô cùng trừu tượng. Nó lật ngược hàng ngàn năm luân lý Khổng-Mạnh vốn đã biến cái vỏ quýt phơi khô thành sợi thòng lọng treo trên đầu, chực chờ siết cổ số phận người phụ nữ, deuxième sexe!

Ôi, tiết trinh!

 

 

(còn tiếp)

 


[1] Nói chuyện cùng nhà văn Trần Thị NgH, Minh Thùy phỏng vấn Trần Thị NgH, đài Á Châu Tự Do.

Xem: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/TalkWithWriterTranThiNgh_MThuy-20070812.html

[2] Chà láng = chà cho láng. Chữ thường được dùng trong quân trường để chỉ việc các tân binh dùng gà-men chà các mô đất cho phẳng phiu, đẹp.

[3] Cổ Ngư trò chuyện với Trần Thị NgH, trang nhà Du Tử Lê.

Xem: https://www.dutule.com/a4650/co-ngu-tro-chuyen-voi-tran-thi-ngh-

[4] Đặng Thơ Thơ phỏng vấn Trần Thị NgH, Da Màu.

[5] Lý Đợi phỏng vấn NgH nhân buổi ra mắt tập truyện “Ác tính” tại Café Phượng Các, Sài Gòn ngày 27/4/2019.

[6] Đặng Thơ Thơ phỏng vấn Trần Thị NgH, Da Màu.

[7] Đặng Thơ Thơ phỏng vấn (như trên)

[8] Đặng Thơ Thơ phỏng vấn Trần Thị NgH.

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)