Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 2 (chương 4 & 5)

0 bình luận ♦ 3.08.2023

Chương 4

Hải phận Phú Yên
Thứ bảy 5/8/1967 03:45G

Tôi cố dỗ lại giấc ngủ nhưng đầu óc cứ lởn vởn giấc chiêm bao lạ kỳ. Vì sao trở lại Quy Nhơn? Có phải là điềm báo chuyến công tác không thành công? Hay sứ mệnh hoàn tất, tôi an toàn về nhà? Nhưng Quy Nhơn là quê nhà của Hưng, đâu phải quê nhà Vĩnh Long của tôi? Hay đó là lời khuyên nên rút lui, hủy bỏ công tác? Mà có muốn rút lui cũng đã quá muộn. Nhảy xuống biển thì dễ dàng nhưng sức đâu lội vào bờ?

Ba má tôi sau mỗi giấc mơ còn nhớ được, đều kể cho nhau và cùng đoán điềm giải mộng. Tôi ước phải chi có Hưng. Anh là người thường nhìn sự việc một cách lạc quan, chắc chắn có lời giải đáp giúp tôi bớt bi quan. Anh có đang nhớ em không? Anh đã lên xe về Sài Gòn chưa? Em vừa chiêm bao thấy trở về nhà ba má anh nhưng tỉnh giấc trước khi thấy anh…

Có tiếng mở tủ lạnh ở phòng ăn và tiếng cười đùa. Tôi nhìn đồng hồ. Gần 4 giờ sáng. Đúng là Võ Bằng vừa mãn phiên hải hành. Nhớ tới lời hứa tặng tô mì của anh chàng, tôi tự dưng thấy đói cồn cào. Buổi chiều, ba má Hưng cho tôi ăn sớm để chuẩn bị xuống tàu. Các món ăn chỉ là rau cải mà Anh Đào cho là nhẹ bụng, ói mửa đỡ mệt hơn. Nhưng giờ này mà mò qua phòng ăn, liệu Bằng có cho là tôi đã thức chờ gặp lại anh chàng? Hoặc giả tôi quá tham ăn? Tôi quyết định không ăn và vờ ngủ say.

Tôi nhắm mắt mà đầu óc cứ mơ màng chờ nghe tiếng gõ lắc cắc, lốc cốc của chiếc xe mì đêm khuya đẩy qua căn nhà trọ học. Tôi thật sự thèm tô mì thay cho bún sứa, bún cá, mực rim, nem nướng suốt nửa tháng ở nhà ba má Hưng. Tô mì cùng hương vị đặc thù của nó cứ nhảy múa chờn vờn trong đầu.

Có tiếng gõ nhẹ ở cửa. Tôi vờ không nghe. Tiếng gõ lớn hơn một chút. Tôi nghĩ tội gì mà không ăn! Nên ăn quá đi chứ! Vừa được đã thèm vừa được Hạm Phó một chiến hạm phục dịch. Không chừng còn thấy ngon hơn bao giờ. Tôi nói:

– “Xin chờ một chút, tôi có mặt ngay.”

Tôi rời giường, mở túi đeo vai trên bàn lấy bọc trang điểm mang vào phòng vệ sinh. Mười lăm phút sau, tôi vào phòng ăn. Võ Bằng và Thiếu úy Hoàng Văn cười chào và tôi tươi cười đáp lễ. Hoàng Văn ngồi ở chiếc ghế trong cùng. Võ Bằng ngồi cạnh chiếc ghế anh chàng nhường cho tôi. Hai tô mì đang tỏa khói…

Bằng kéo ghế cho tôi. Tôi ngồi mà thấy vui vui. Lời chúc của tôi có hiệu quả. Bằng còn sống và đang phục dịch tôi ăn uống…

– “Ngủ ngon chứ, cô Phượng?”

– “Ngon mà không ngon!” Tôi trả lời Võ Bằng.

– “Tôi biết cô không quen tiếng còi đổi phiên. Nó phải ré to để đánh thức cho bằng được bất kể ngủ say đến thế nào! Nhưng chúng tôi quen rồi. Ai đi phiên thì bật dậy, ai không đi phiên thì ngủ tiếp dễ dàng. Tiếng còi trở thành một lời ru…”

– “Tôi sợ kiểu ru này lắm. Chắc không bao giờ dám quá giang lần nữa.” Tôi cầm đũa và nói tiếp. “Tôi mà ngủ lại được thì Đại úy ăn luôn tô mì này rồi! Cám ơn nha, Đại úy. Mà mì hiệu gì vậy? Trông thật ngon.”

– “Mì của Thiếu úy Văn, nấu cũng Thiếu úy Văn. Tôi chỉ là người… được ăn như cô.”

Tôi nghiêng mặt nói với Thiếu úy Hoàng Văn:

– “Cám ơn Thiếu úy.”

– “Không có chi. Hiệu mì là Nissin của Nhật!”

Tôi xới đều vắt mì rồi gắp một ít đưa vào miệng. Xem ra hương vị còn hơn cả mì gõ tôi ưa thích. Chắc vì ăn lần đầu và đang đói chăng?

– “Cô Phượng ở Sài Gòn mà ở đâu?” Thiếu úy Văn hỏi.

Tôi chủ trương nói thật nhưng với câu hỏi này thì buộc phải trả lời dối. Mà đã thú nhận học Đại học Sư phạm thì phải chọn nhà ở gần đó cho hợp lý. Tôi nói:

– “Chợ Quán”.

– “Đường nào?”

– “Cộng Hòa.”

– “Ba năm trước tôi học Đại học Khoa học, trên cùng đường.”

Võ Bằng chen lời:

– “Cô Phượng học Đại học Sư phạm, coi như chúng ta là láng giềng.”

Tôi cúi ăn tô mì, bụng thấy lo lo. Nếu cả hai lần lượt hỏi tiếp, nhà số mấy, thỉnh thoảng ghé thăm được không, biết trả lời sao! Tôi tự khuyên phải nắm thế chủ động, phải là người hỏi, chớ làm người trả lời xem ra dễ giấu đầu lòi đuôi! Mà hỏi gì đây?

– “Nói như vậy, hẳn Đại úy cũng học Đại học Khoa học?”

– “Hầu hết Sĩ quan Hải Quân đều tốt nghiệp hay qua vài năm ở đó.”

– “Tại sao?”

– “Vì một số môn học hải nghiệp đòi hỏi Toán và hình học Giải tích.”

– “Thí dụ như môn học gì?”

– “Như Hàng hải thiên văn, Cơ học, Điện kỹ nghệ.”

– “Còn những môn không cần Giải tích?”

– “Nhiều lắm!” Bằng tủm tỉm cười. “Cô định làm người yêu thủy thủ chắc? Hỏi kỹ thế!”

Tôi tiếp tục tấn công:

– “Đại úy học Khoa học mà môn gì?”

– “Toán Đại cương.”

– “Môn học?”

– “Tùm lum về toán. Như Vi phân, Tích phân.”

– “Có học ‘đoán điềm giải mộng’ không?”

– “Cô giỡn với tôi chắc? Hai thứ là khắc tinh của nhau mà!”

– “Tôi vừa nằm chiêm bao, có phần lạ lùng. Tưởng Đại úy có học Phân tâm, thử giải giùm!”

Võ Bằng sửa thế ngồi, đổi giọng quan tâm:

– “Chiêm bao thấy gì? Dù gì tôi cũng là đệ tử đời thứ 10 của Sigmund Freud!”

– “Tôi chiêm bao thấy chiến hạm quay lại Quy Nhơn!”

Bằng cười:

– “Kiểu chiêm bao này tôi rành sáu câu.”

– “Ý nghĩa thế nào? Tôi cứ lo lo…”

Võ Bằng ngẩng mặt, chăm chú ngắm tôi:

– “Sao lại lo lo? Chẳng phải cô từng cam kết với ông Hạm Trưởng là ‘có chết cũng ngậm cười’?”

– “Chết được thì nói gì, sợ ngất ngư, ngáp ngáp! Đã có khi nào tàu rời bến rồi quay trở lại không, Đại úy?”

– “Có thể có với lý do chính đáng. Còn quay lại chỉ vì một giấc chiêm bao thì không!”

– “Nhưng ông Hạm Trưởng có nói trên đường về Sài Gòn, tàu có thể bị địch phục kích, hoặc bị tham dự hành quân dài ngày.”

– “Sau các bất thường đó, tàu vẫn tiếp tục về bến, không quay trở lại.”

– “Vậy, giấc mơ của tôi có ý nghĩa gì?”

– “Ý nghĩa là… vớ vẩn! Chẳng qua cô bị ám ảnh bởi lời hù dọa …”

– “Hù dọa? Ai hù dọa?” Tôi nóng nảy hỏi.

Võ Bằng uống vài ngụm lemonade, nhởn nhơ trả lời:

– “Cô quên là tôi đã dọa sẽ tống cô lên bờ nếu cô không chịu ngủ ở buồng của tôi? Lời hù dọa đó đã nhập vào tiềm thức của cô.”

– “Cứ cho là vậy đi, nhưng phải có ý nghĩa gì chứ? Ba má tôi, mỗi lần nằm chiêm bao, ông bà đều bàn tán cho tới khi họ thấy thỏa mãn về một ý nghĩa.”

– “Tôi đã nói rồi. Chiêm bao của cô phát xuất từ lời dọa đùa, chả có ý nghĩa gì hết!”

– “Nhưng ông Hạm Trưởng có nói là tôi cố tình đâm vào cửa tử, phải chăng giấc mơ muốn khuyên là đừng đi nữa, hãy quay trở lại, đi là chết?”

Võ Bằng trợn mắt:

– “Cô nhất định trở lại Quy Nhơn chỉ vì nằm mơ? Tôi đã ‘nói giúp’ cho cô đi, nay nếu muốn quay về, cô hãy tự mình nói với Hạm Trưởng!”

Thấy Bằng đổ quạu, tôi vội phân trần:

– “Đại úy! Tôi chỉ muốn nói ra để xả mối lo chớ có đòi quay tàu lại đâu!”

– “Nhân danh đệ tử của Freud, tôi xác nhận giấc mơ của cô là vớ vẩn. Vậy hãy quẳng gánh lo đi và vui sống!”

Võ Bằng cười, phô bày hàm răng nhuộm ít nhiều khói thuốc. Hàm răng của Hưng còn hơn thế, dù tôi luôn nhắc anh đánh răng thật kỹ. Giờ này hẳn Hưng đang gật gà gật gưỡng trên xe đò. Xe dù đậu nhiều bến, vẫn nhanh hơn tàu, vẫn về Sài Gòn trước tôi. Anh hứa cùng tôi ngồi ở bến Bạch Đằng chờ xem tàu nổ! Bây giờ mới năm giờ sáng, chỉ mới 10 tiếng trôi qua. Phải cần lênh đênh thêm 30 tiếng nữa. 30 tiếng nữa mới được gặp lại Hưng. Thôi đành gặp lại trong tâm tưởng…

Tôi nhìn tô mì chỉ còn nước cặn của Võ Bằng, gợi ý:

– “Đại úy mới hết phiên hải hành, lại thêm no bụng, hẳn là buồn ngủ lắm rồi!”

Thiếu úy Văn lên tiếng:

– “Để tôi đi ngủ thay cho Hạm Phó!”

Tôi bật cười nhìn theo anh chàng biến sau màn cửa. Võ Bằng đẩy ghế đứng lên. Tôi mừng hụt. Anh chàng cầm tô mì đến bỏ vào bồn rửa rồi mở tủ lạnh lấy chai lemonade đổ chia hai ly.

– “Chai cuối.” Võ Bằng đưa tôi một ly. “Chúng ta cưa đôi. Ăn đồng chia đủ. Sống chết có nhau. Mời cô.”

– “Cám ơn Đại úy.” Tôi nâng ly, tiếp lời.” Nhưng tôi chỉ uống nếu Đại úy rút lại câu chót. Câu đó làm mất mùi vị của nước lemonade tôi ưa thích!”

– “Đồng ý!” Võ Bằng vui vẻ nhượng bộ.

Tôi cụng ly, rồi hớp từng hớp, mắt nhìn quanh. Mãi lúc này tôi mới để ý lối trang trí của phòng ăn. Trên bức vách, nơi đặt bộ salon, là ba phù hiệu treo cách đều từ cao xuống thấp. Hai huy hiệu cao nhất có hình tròn, huy hiệu thấp nhất mang hình cái thuẫn. Sợ Võ Bằng đặt câu hỏi, tôi vội hỏi trước:

– “Ba phù hiệu đó là gì, Đại úy?”

– “Phù hiệu ở cao nhất có chữ Quân Lực trên đỉnh, chữ Việt Nam Cộng Hòa bên dưới, ở giữa có hình chim ó mang cờ vàng ba sọc đỏ là phù hiệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phù hiệu giữa là phù hiệu Hải Quân với hai chữ Tổ Quốc Đại Dương trên vành ngoài có nền vàng với ba vòng chỉ đỏ. Phần còn lại màu xanh với bản đồ Việt Nam, hình mỏ neo và ngôi sao năm góc. Phù hiệu cuối, ở giữa là ngôi sao năm cánh trên nền chiếc mỏ neo. Bên trái là chữ HTH Đống Đa. Bên phải là chữ số HQ 007, là huy hiệu của chiến hạm này.”

– “Các chữ tắt nghĩa là gì?”

– “HTH là Hộ Tống Hạm. HQ là Hải Quân.”

– “Còn số 007? Nghe như mã số của điệp viên James Bond.”

– “007 là mã số của chiến hạm. Hai số 00 chỉ loại tàu Hộ tống. Số 7 chỉ số thứ tự. Nói rõ hơn, chiến hạm mà cô Phượng đang đi là loại Hộ Tống, chiếc thứ 7. Còn vụ điệp viên 007 tôi cũng mê 007 lắm. Theo tin tình báo thì rạp Rex đang chiếu Dr. No. Thành thử, khi về Sài Gòn thế nào tôi cũng mời cô cùng đi xem.”

– “Đại úy ở trên tàu này bao lâu rồi?” Tôi đặt câu hỏi, phớt lờ lời Võ Bằng.

– “Từ lúc đi Mỹ lãnh tàu đến giờ là gần hai năm.”

– “Tên Mỹ cùng đi với Đại úy?”

– “Không. Hắn mới đổi xuống chừng ba tháng. Tôi đã nói với cô là thời ông Diệm không có quân Mỹ hiện diện. Cứ cho là cô hiện giờ ở tuổi 20 đi, thì vào năm ông Diệm bị giết cô cũng đã 16 tuổi, đã đủ nhận thấy không có bóng dáng quân Mỹ. Chỉ sau trận Vũng Rô và hai năm kế tiếp Hải Quân bắn chìm và bắt giữ thêm 6 tàu chở vũ khí của Bắc Cộng, chiến trận vượt khả năng Quân Đội Miền Nam, Mỹ mới nhảy vào!”

– “Thế nào là vượt khả năng?”

– “Một quân đội trang bị vũ khí với súng garant bắn phát một đấu với một quân đội có vũ khí tối tân AK 47 bắn liên thanh.”

– “Sao không làm như Bắc Cộng, là Mỹ chỉ gửi giúp súng đạn tối tân, đâu cần phải nhảy vào!”

– “Cô tưởng Bắc Cộng không nhảy vào Miền Nam? Vậy họ làm đường mòn Hồ Chí Minh để làm gì? Ông Diệm tin rằng Khu Trù Mật và Ấp Chiến Lược đủ loại bỏ cộng sản. Nhưng Ông Minh giết ông Diệm xong, bỏ ngay hai chiến tuyến hữu hiệu đó. Và Việt Cộng lan tràn, trở tay không kịp…”

– “Tại sao không …?”

– “Hãy ngưng! Chúng ta lại đi vào chính trị. Nói qua chuyện khác vui hơn.”

Tôi ấm ức nhìn Võ Bằng:

– “Một câu hỏi cuối: Tên Mỹ làm gì trên tàu?”

– “Làm biếng!” Bằng cười, tiếp. “Hắn xuống tàu với tư cách là Sĩ quan Liên lạc, tức liaison officer. Nhiệm vụ giữ liên lạc giữa chiến hạm Việt Nam và chiến hạm Hoa Kỳ để hỗ tương yểm trợ. Thí dụ như Đệ thất hạm đội khám phá tàu địch xâm nhập, họ báo cho sĩ quan liên lạc để chúng tôi theo dõi và đuổi bắt. Còn khi chúng tôi đụng độ với tàu địch có hỏa lực mạnh hơn, sĩ quan liên lạc xin phi pháo yểm trợ. Bình thường thì hầu hết thời gian hắn chỉ ngủ và đọc sách.”

– “Chớ không phải hắn chỉ huy tàu này?”

– “Tôi không nghĩ là cô thiếu óc suy xét.” Võ Bằng cười tiếp. “Cô đã hỏi hơn câu hỏi cuối. Nếu cô hứa sẽ làm người yêu thủy thủ, tôi cũng hứa sẽ trả lời đầy đủ mọi câu hỏi tiếp theo!”

Burt Lancaster lúc nào cũng vui vẻ dễ thương có đâu như Võ Bằng ưa nói móc họng. Thần tượng bị ghét lây! Tôi nhìn hàng kệ trên vách đối diện chứa những quyển sách to và dày, bìa cứng, gáy in chữ Mỹ: Technical Manual, Mechanic Textbook, Radar & Sonar… Tôi quay nhìn bức vách sau lưng. Ba chiếc tủ ngăn cao ngang ngực, bên trên là dãy kẹp giấy tờ. Nếu vắng bóng người, tôi dám đọc lén lắm, biết đâu lấy được tin quan trọng cho Hưng.

– “Vậy là cô không muốn làm người yêu thủy thủ!” Võ Bằng nâng ly. “Nào, chúng ta cạn ly rồi… đường ai nấy đi!”

Miệng thì nói hùng hổ nhưng anh chàng đưa tôi tới cửa buồng, chúc ngủ ngon, hẹn gặp lại, rồi đi thẳng tới trước. Đến tấm màn cuối cùng, anh chàng quay lại, thấy tôi còn chưa chịu vào buồng, đưa tay vẫy vẫy bắt chước kiểu vẫy của Hưng. Tôi cười, lắc đầu rồi bước vào buồng. Theo Anh Đào, 5 giờ sáng là giờ đi thám sát chiến hạm tiện nhất vì mọi người còn say ngủ. Nhưng đó là lời căn dặn của một người ở khu quá giang, có thể lấy cớ đi tìm phòng vệ sinh. Còn tôi, ở khu sĩ quan, mọi thứ có sẵn, đi lang thang giờ này chỉ tổ gây nghi ngờ.

Đứng tần ngần một lúc, tôi kéo ghế ngồi, hai tay ôm lấy mặt. Da mặt tôi rít chịt, kéo theo cảm giác toàn thân ngứa ngáy, hôi hám. Tôi thèm đi tắm mà ngại ngùng. Gian buồng không cửa khóa, nhà tắm che qua loa bằng tấm nhựa đục mờ. Đang tắm, nếu có người đột nhập, tôi sẽ làm gì? La hét ư? Không chừng trở thành lời mời gọi. Tôi có bi quan quá lắm không? Liệu 10 tiếng bình yên vừa qua có đủ bảo đảm tôi được an toàn? Tôi hồi tưởng những cử chỉ lời nói của Hạm Trưởng, Võ Bằng, các sĩ quan, và cả tên Mỹ. Lúc nào họ cũng nhã nhặn, lịch sự. Nhất là với tên tôi thù ghét nhất. Hắn to xác nhưng trông hiền hậu, chân chất, thân tình. Xét thực lòng, nỗi âu lo giờ chỉ còn như hơi gió lạnh thoảng qua.

Tôi quyết định đi tắm. Giờ này đã quá trễ để mặc đồ ngủ. Tôi mở túi xách, mò quanh quả bom tìm bộ đồ mới và đồ lót. Tôi tháo đồng hồ và nữ trang để gần khung ảnh gia đình. Tôi chỉnh màn cửa cho kín đáo rồi mở đèn ở bàn, tắt đèn trên trần. Độ sáng đã giảm đi bảy phần. Tôi đi vào phòng tắm trong tâm trạng nửa buồn nửa vui. Vui vì quả bom còn đó, kế hoạch cho đến lúc này rất trơn tru. Buồn vì tôi quá cô đơn, không có Hưng để tâm sự, chia sẻ niềm vui như mọi lần. Tôi cởi quần tây. Tháo các nút áo chemise ngắn tay. Lần lượt các đồ lót. Tôi lấy đồ sạch khỏi bọc và nhét đồ dơ vào.

Theo chỉ dẫn của Bằng, tôi chỉnh độ ấm cho vòi búp sen. Nước âm ấm tỏa khắp người nghe sảng khoái lạ thường. Chả bù với xối từng gáo nước lạnh. Bằng cũng để sẵn cục xà bông Dove, chai thuốc gội đầu…

Tôi lau khô người, mặc bộ đồ mới, đeo chiếc đồng hồ tay đang chỉ giờ 6:05. Tôi bước ra ngồi ở bàn viết, cân nhắc xem có nên đi thám sát. Không có lý do nào hợp lý để bào chữa cho hành động đi lang thang quanh tàu. Ngủ lại thì có thể ngủ quên, bỏ qua buổi bình minh là mục đích chính của việc quá giang ngắm biển như đã nói với Hạm Trưởng. Mọi nhất cử nhất động của tôi ắt hẳn là ông phải biết.

Ánh huỳnh quang ôm trọn mặt bàn khá rộng so với gian buồng. Khung ảnh cô thiếu nữ bồng đứa bé lại gây tôi tò mò. Tôi vói tay kéo gần khung hình. Mẹ bồng con? Cô nàng này không là một trong hai cô ở bức ảnh gia đình. Phải thân thuộc lắm mới được Bằng để trên bàn. Tôi nhớ Bằng có nói về vợ con: yêu cô nào thì cô đó đi lấy chồng, con thì không biết có không. Hẳn đây là một trong những người yêu của anh chàng. Nàng còn trẻ quá. Chừng mới trên hai mươi mà chú bé chừng lên ba. Tôi lẩm bẩm hát: “Mối tình đầu, trót bọt bèo, Vì người ta đã chạy theo bạc tiền.” Tôi bụm miệng, lẩm bẩm mấy lần tiếng ‘xin lỗi’. Hưng cấm tôi hát nhạc vàng nhưng như Bằng nói, những bản nhạc đồi trụy đã vào tiềm thức mất rồi.

Tôi đẩy khung hình về vị trí cũ và chợt thấy một cái gạt tàn thuốc nằm ở góc sát vách, phía sau cái bị đeo vai của tôi. Nó long lanh màu nghệ, lớn bằng cái dĩa đựng thức ăn. Tôi vói tay kéo gần. Nó không nhúc nhích cục cựa mà dính chặt mặt bàn. Tôi tức mình dùng cả hai tay nhấc lên. Độ nặng nhiều hơn tôi tưởng. Hẳn người ta cố tình chế tạo cho nặng để không bị chạy trợt khi tàu tròng trành. Nó làm bằng thủy tinh, rất dày, quanh vành có bốn khe vừa vặn cho điếu thuốc. Nếu tôi có được một cái để tặng Hưng chắc anh thích mê tơi.

Tôi chợt nhớ tới quả bom. Khi tôi cài đặt nó nơi nào đó, nhất thiết phải có cái gì cùng độ nặng tương đương thay thế để vào túi xách chứ? Đã có vài người xách giùm khi lên tàu, thì khi giúp xách xuống thế nào cũng thấy sự khác biệt. Tôi quyết định ăn cắp cái gạt tàn này, một công hai việc. Nhưng xem ra vẫn còn nhẹ hơn quả bom rất nhiều. Tôi đứng lên. Một dãy kệ chất đầy sách. Sách thì quá nhẹ. Tôi quyết định để giải quyết sau. Tôi tò mò muốn biết Võ Bằng đọc những quyển sách gì. Tôi mở đèn trên trần. Kệ sách được xếp theo thứ tự:

– Nautical Navigation – Dutton
– Handbook of Damage Control
– The Cruel Sea – Nicholas Monsarrat
– The Old Man And The Sea – Ernest Hemingway
– Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Đại – Bùi Giáng
– Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống – Nguyễn Hiến Lê
– Hoàng Tử Bé – Antoine de Saint-Exupéry
– Điệu Ru Nước Mắt – Duyên Anh
– Thất Sơn Mầu Nhiệm – Dật sĩ & Nguyễn Văn Hầu

Trong 9 quyển này, tôi chỉ từng đọc mỗi một quyển: Điệu Ru Nước Mắt. Quyển sách quả là đã ru tôi rơi nhiều nước mắt. Riêng quyển Thất Sơn Mầu Nhiệm đặc biệt cuốn hút tôi. Nó không chỉ thuộc về sở thích Sử Địa mà còn vì tò mò về sự mầu nhiệm của vùng bảy núi thuộc quê quán của Võ Bằng. Thất Sơn là những ngọn núi nào? Sự mầu nhiệm đó là gì? Tôi rút quyển sách khỏi kệ, đẩy ngọn đèn ở bàn về đầu giường. Tôi xếp chồng hai chiếc gối tựa sát vào bàn rồi ngả người xuống. Tôi trân trọng đọc lời tựa…. “Thất Sơn Mầu Nhiệm! Thất Sơn Mầu Nhiệm! Quả thật như thế. Và cũng vì thế nên bốn chữ Thất Sơn Mầu Nhiệm mới được dùng để đặt tên cho quyển sách này…

Từ nguồn gốc Địa lý đến lịch sử chinh phục, từ bản kê danh hiệu đến sự quan trọng về mọi phương diện của Thất Sơn, từ tiểu sử Đức Phật Thầy Tây An đến tiểu sử các vị Giáo Chủ và các vị Đại Đệ Tử của Đức Phật Thầy, từ tiểu sử các Tu Sĩ đời sau đến lược sử của Đức Huỳnh Giáo Chủ, từ quan niệm của các vị trong phái Bửu Sơn Kỳ Hương đến những sự nhiệm mầu mà mọi người có thể nhận xét về Thất Sơn… mục nào chúng tôi cũng cố gắng viết cho đúng sự thật và làm cho bạn đọc được sảng khoái tinh thần.”

Danh nhân, giáo phái tôi nghe nói nhưng chưa biết tận tường. Sự nhiệm mầu về Thất Sơn thì coi như mù tịt. Tôi mê mẩn đọc, mải mê lật từng trang. Chừng mỏi mắt, hạ quyển sách lên ngực, tôi mới thấy chiếc đồng hồ chỉ 6:35.

Tôi vội ngồi dậy, mang vào đôi bata. Giờ này hẳn đã sáng. Hy vọng kịp thấy cảnh tượng mặt trời ngoi từ từ lên mặt biển. Tôi bước qua phòng ăn vắng vẻ, bước lần lên boong tàu…

Chương 5

Hải phận Khánh Hòa
Thứ bảy 5/8/1967 06:30G

Khi tôi lên đến boong tàu, một lớp sương mỏng phủ lên mặt đại dương mênh mông còn lờ mờ sáng. Một vòm trời xanh lam điểm những mảng mây không cùng sắc màu. Có mảng da cam vàng tươi, có mảng hồng nhạt, tim tím. Vì sao mãi đến nay tôi mới được thưởng thức lần đầu một bình minh tuyệt đẹp? Nhờ một mình đứng giữa mênh mông của biển trời? Ở trên tàu mà gặp mưa hẳn buồn lắm, suốt ngày phải tự giam hãm trong lòng tàu, còn hơn ở tù.

Chợt nhớ đến câu tục ngữ tiên đoán thời tiết, tôi mừng thầm. Đông không thâm tức là trời không mưa. Rồi tôi chợt nghe mặt nóng bừng khi nhớ đoạn cuối. Hưng đôi khi mạnh bạo đòi hỏi nhưng tôi dứt khoát chối từ. Nếu không, không chừng vú tôi cũng đang thâm.

Tôi tựa lưng vào vách, ngắm vùng sáng rỡ của đường chân trời. Không gian tỏ rạng dần, mặt biển chỉ còn lớp sương mong manh. Mảng mây da cam chuyển dần sang màu đỏ nhạt.

Mặt trời ló dạng. Ban đầu như là mảnh trăng non, rồi nửa vầng trăng, rồi nhanh chóng hóa thành mặt trời đỏ ửng. Một dải lụa bạc long lanh chia hai vùng biển còn nghi ngút khói. Giữa dải lụa, không xa chiến hạm, hai ghe đánh cá im lìm cạnh kề bên nhau như đôi uyên ương còn say hạnh phúc. Xa hơn, về bên trái, lờ mờ bóng dáng một thương thuyền.

Tôi đã quen và hài lòng với hợp âm lạ: tiếng vi vu của gió, tiếng xạc xào của sóng, tiếng rầm rì của máy tàu. Tôi càng thích thú với hình ảnh vài con hải âu lượn lờ săn đuổi những con cá chim tung mình lên cao.

Tôi tưởng chừng mọi lo âu tan biến theo không gian êm ả, theo gió nhẹ mơn man. Tôi hít vào đầy lồng ngực khí trời tươi mát trong lành, lắng nghe da thịt giãn nở sảng khoái. Và cũng lần đầu tôi thưởng thức mùi hương thật ngọt ngào của đại dương bao la. Biển của Tổ quốc mênh mông và đẹp quá. Tôi vui sướng được dự phần đánh đuổi bọn Mỹ xâm lược.

Nhớ tới công tác, tôi nhìn quanh. Chỗ nào là chỗ đặt quả bom gây hiệu quả tối đa? Giữa boong tàu chỉ là một khối sắt khổng lồ lạnh lẽo vô tri, phân chia sân mũi chễm chệ một ổ súng to đùng và sân lái lỉnh kỉnh các thùng sắt đặt quanh. Xem ra quả bom có được đặt ở bất cứ nơi nào cũng đều quá lộ liễu. Đài Chỉ Huy hẳn là phần trên của khối sắt, dĩ nhiên luôn luôn có người trực phiên hải hành. Làm thế nào ôm quả bom lên đó mà không bị bắt hoặc ít nhất không bị nghi ngờ?

Tôi chợt để ý một dáng người đứng cạnh mũi tàu đang chồm ra ngoài như tìm kiếm cái gì. Rồi anh đứng thẳng, nhìn quanh sân mũi. Tôi cảm thấy vui vui khi nhận ra khuôn mặt của anh Hạ sĩ quan khám xét hành lý. Tôi quên tên anh nhưng vẫn nhớ anh xuề xòa, vui tính. Tôi nghĩ anh Hạ sĩ quan này có thể sẵn lòng đưa tôi quan sát khắp chốn, kể cả hầm máy là nơi quả bom nếu không đánh chìm thì cũng biến chiến hạm thành đống ve chai!

Tôi bước vội đến gần anh. Anh lên tiếng trước:

– “Chào cô Phượng. Cô thức sớm đấy!”

Tôi nhìn bảng tên:

– “Chào anh Tùng. Sớm mà vẫn thua anh! Anh nhìn gì dưới nước vậy?

Bắt chước anh, tôi bám chặt dây an toàn, chồm người nhìn xuống mặt biển. Khi quay lại, tôi bắt gặp ánh mắt kinh ngạc của Tùng. Tôi nói:

– “Tôi thấy một vạt bọt biển bám sát hông tàu. Còn anh, anh thấy gì?”

– “Thấy mũi tàu cán chết mấy con cá.” Trung sĩ Tùng cười.

– “Có con nào bị thương không?” Tôi bật cười lớn.

Tùng nhoẻn miệng:

– “Thật ra tôi quan sát xem chiếc neo có còn trong ổ không.”

– “Tôi không hiểu…”

– “Chiếc neo rất nặng, dây có thể bị chùng khiến neo nằm ngoài ổ. Khi tàu lắc, nó đong đưa, các mũi nhọn có thể làm thủng vỏ tàu. Cũng có khi dây neo bị đứt, neo rơi xuống biển!”

– “À! Thì ra là vậy! Mà anh phải xem xét ngày mấy lần?”

– “Chỉ vào ngày trực, ít nhất bốn lần, sáng chiều tối khuya. Không chỉ xem neo mà đủ thứ. Mục đích là để bảo đảm mọi thứ vẫn ở đúng vị trí, không có gì bất thường.”

– “Bất thường là sao?”

– “Là không bình thường! Là thấy có vật lạ hoặc vật không nằm đúng chỗ. Thí dụ như thấy có cái gì đó nằm lang thang hoặc ở chỗ đáng ngờ. Như các phao cá nhân và xuồng cấp cứu không còn gắn trên vách. Như việc cô đứng đây vào giờ này cũng coi như là bất thường. Bởi vì sáng sớm sàn tàu thường rất trơn trợt với hỗn hợp sương trời, nước biển do sóng tạt và dầu cặn từ khói tàu mà đêm chưa chịu sáng, cô có thể vô ý té bất tỉnh, thậm chí rơi xuống biển.”

Tôi giật mình nhìn mặt sàn, kêu lên:

– “Quả là tôi đã gặp may, không bị té!”

– “Sáng mai có thức sớm, mong cô cẩn thận!”

– “Cám ơn anh. Mà đã có ai trợt té chưa?”

– “Tàu chưa từng cho quá giang nên không biết. Còn chúng tôi, khi sóng to gió lớn, bị té lia chia. Nhưng rớt xuống biển thì không.”

– “Khi sóng to gió lớn, đi ra ngoài làm chi cho bị té!”

– “Khi sóng to gió lớn lại chính là lúc cần đi tuần nhất!”

– “Không đi tuần thì cũng đâu ai biết, phải hôn?”

– “Phải đi chứ, vì an toàn chung mà! Quan trọng nhất là phải chắc chắn vỏ tàu không bị rỉ nước. Chiến hạm này hoạt động từ đệ nhị thế chiến, ít nhất cũng đã trên 20 năm tuổi đời. Nếu nó bị rỉ nước mà không sớm khám phá, dễ dẫn đến chìm tàu. Hơn nữa, sau mỗi lần đi tuần phải ghi nhận xét vào sổ Tuần Phòng, phải ký tên. Người duyệt xét là Hạm Phó.”

Thấy tôi lặng thinh nghĩ tới Võ Bằng, Tùng nói:

– “Đừng lo! Có cô trên tàu, mọi sự đều tốt đẹp. Thôi, gặp lại dịp khác!”

Tôi thấy cần biết thêm về giờ giấc đi tuần, nên lên tiếng giữ anh lại:

– “Anh Tùng, tôi rất thích nghe anh kể chuyện mà cũng rất tò mò. Nếu anh không bận, nán thêm chút nữa.”

Tùng trở lại đứng bên tôi. Tôi hỏi:

– “Sĩ quan trực không đi tuần sao?”

– “Có chứ, cũng như chúng tôi.”

– “Anh trực tới chừng nào?”

– “Đây là tour chót để bàn giao lúc 8 giờ.”

Tùng nhìn đồng hồ rồi mặt hướng ra khơi. Cả một vùng biển lấp loáng long lanh chập chùng. Con tàu chỉ đôi chút tròng trành, không đủ sức hành hạ tôi như chiều hôm qua. Tôi lại thăm dò:

– “Đi tuần khắp tàu chắc mất cả tiếng?”

– “Thường thì độ nửa tiếng.”

Như vậy, với hai người đi tuần tổng cộng bốn lần trong đêm, tôi cũng còn khá thì giờ hành động. Thấy tạm đủ, tôi chuyển qua câu hỏi về hải nghiệp để tránh nghi ngờ:

– “Giả thử thấy có người rơi xuống biển, anh làm gì để cứu?”

– “Dễ lắm. Tôi nhận còi ‘Nhiệm sở vớt người’. Nghĩa là báo cho thủy thủ đoàn sẵn sàng các phương tiện vớt người. Hạm Trưởng cho tàu quay lại, Hạm Phó điều động cứu cấp như sẵn sàng ném phao, sẵn sàng xuồng cứu cấp, quần áo ấm, thuốc men, vân vân… Nhưng nhân tố quan trọng nhất là tài nghệ của Hạm Trưởng.”

– “Anh nói rõ hơn.”

– “Ông phải nắm vững quán tính con tàu, cân nhắc chính xác độ giạt do tác động giữa sóng gió và vận tốc để quay lại đúng đường cũ. Cô thấy rồi đó, biển thì mênh mông, con người thì nhỏ bé, sai một li đi một dặm…”

– “Có ai từng bị té xuống biển không? Được cứu sống?”

– “Theo tôi biết thì có một người từng bị té và được báo cáo là… mất tích!”

Không rõ Tùng nói thật hay chơi, chỉ thấy anh cười. Tuy vậy tôi vẫn nghe sờ sợ. Công việc của tôi chỉ thuận tiện vào sớm tinh mơ, tay ôm quả bom mà bị té thì còn tệ hơn là mất tích. Tôi lại nhìn kỹ sàn tàu, cân nhắc đường đi nước bước. Tôi chợt để ý sàn tàu không cùng một màu xám đậm. Nó loang lổ với nhiều đốm sơn đỏ sơn trắng trông nham nhở, lở loét. Tôi hỏi:

– “Sao không sơn cùng màu mà lại tô màu lốm đốm thế kia? Trông thấy ghê!”

– “Chẳng qua lỗi tại… nước biển. Cô thừa biết nước biển là vua ăn sét. Loại sơn chủ chốt sét không sợ, nó len lỏi ăn sắt như chơi. Vì vậy, vỏ tàu ít nhất phải được phết hai lớp sơn kỵ sét trước khi tô điểm bằng lớp sơn chủ chốt. Lớp sơn lót đầu tiên có màu đỏ. Lớp thứ nhì màu trắng.”

– “Sơn lót có vẻ ít trơn trợt hơn sơn chính.”

– “Đúng, sơn lót thô ráp, còn sơn chính thì bóng láng!”

– “Nhưng làm sao biết chỗ nào bị sét ăn?”

– “Dễ thấy lắm: chỗ đó sơn bị dộp hay bị tróc, nghĩa là đang bị sét ăn!”

Tôi lại nhìn vô số các đốm đỏ xanh trên sàn tàu, lắc đầu:

– “Chắc các anh cạo sét mệt nghỉ!”

– “Chúng tôi không gọi là cạo mà là gõ. Đã có câu cảm khái: “Năm năm gõ sét đau lòng lính. Sét gõ năm năm sét vẫn còn!”

– “Chua xót thật chứ hả?” Tôi cười, hỏi tiếp. “Mà gõ sét là gõ làm sao? Gõ bằng búa?”

– “Gõ sét bằng búa thì phải sửa câu thơ lại thành ‘trăm năm’ chớ không thể ‘năm năm’: ‘Trăm năm gõ sét đau lòng lính. Sét gõ trăm năm sét vẫn còn!’ Nói là gõ chứ đúng ra phải gọi là cào. Đó là một dụng cụ cầm tay dùng điện, giông giống chiếc hủ lô làm đường, được gọi nôm na là con rùa. Cái trục hủ lô có gai, nó nhanh chóng cào sạch mọi bụi sét. Vì công suất mạnh, người sử dụng nó phải đeo mặt nạ bảo vệ mắt và mặt. Mỗi ngày, thường có ba con rùa chạy sáng chiều. Một ở mũi tàu, một ở giữa và một ở lái.”

Tùng nhìn tôi ngụ ý có còn muốn hỏi gì thêm. Dĩ nhiên biết thêm thì cũng thú vị khi những câu hỏi cần cho công tác không chịu xuất hiện. Tôi câu giờ:

– “Anh Tùng, tại sao sàn tàu có chỗ sét chỗ không? Tại sao không chờ cho sét khắp tàu rồi sơn một lượt?”

– “Câu hỏi của cô giống như câu hỏi tại sao chỗ này có ghẻ chỗ kia không; sao không chờ ghẻ mọc khắp người rồi chữa trị một lần! Với ghẻ, tôi không biết tại sao nhưng với sàn tàu là chốn qua lại thường xuyên của người và vật liệu nên dễ bị trầy sướt. Mà bị trầy sướt thì bị sét! Bị sét thì phải gõ sét, phải sơn. Cái vòng lẩn quẩn!”

Như bị hụt hơi, Tùng vươn vai hít vào một hơi dài. Rồi thở ra. Rồi hít vào. Thấy tôi không hỏi gì, lại tiếp:

– “Nói về sơn lót, có hai màu đỏ và trắng như cô thấy, mỗi màu có các đặc tính riêng. Loại màu đỏ được dùng trước hết, gọi là lớp sơn lót chống rỉ sét. Như tên gọi, nó có hai đặc tính: độ bám sắt mạnh và độ chống ăn mòn cao. Khi lớp sơn lót màu đỏ khô, sơn tiếp lớp lót màu trắng. Nó có đặc tính là chống nước biển thẩm thấu và giúp tăng độ bám cho lớp sơn chủ chốt tiếp sau. Màu sắc và độ bóng của lớp chủ chốt tùy nhu cầu thẩm mỹ của từng khu vực, phòng ốc. Như ở phần lộ thiên của tàu thì phải theo quy định chung là dùng màu xám sậm. Như bên trong tàu thì màu trắng ngà. Riêng phòng Hạm Trưởng và Phòng hội sĩ quan thì tùy sở thích của Hạm Trưởng. Như ông Hạm Trưởng này thì thích màu đọt chuối huê tình.”

Thấy đã đến lúc nên ướm lời nhờ anh hướng dẫn thăm chiến hạm thì anh lại tiếp:

– “Như cô thấy, công phu bỏ ra cho việc sơn phết bảo trì chống sét không phải là nhỏ. ‘Con sét’ đáng sợ quá phải không? Nó ‘ăn’ lia chia, chỗ nào cũng ăn cho bằng được. Cứ bình thường mà xét thì khi phần lộ thiên bị sét ăn như vậy, lẽ đương nhiên phần chìm dưới mặt nước lại càng bị sét ăn ác liệt hơn nữa!”

Thấy anh chờ tôi đưa ý kiến, tôi miễn cưỡng nói:

– “Hẳn là vậy!”

– “Không là vậy!” Tùng lắc đầu. “Thật tức cười là phần dưới nước sét không ăn mà lại bị một thứ con khác ăn còn dã man hơn! Cô Phượng có nghe nói đến con hà?”

– “Con hà?”

– “Cô có biết câu ca dao: ‘Một lần cho tởn tới già. Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân?’”

– “Tôi có biết nhưng không mấy hiểu ý nghĩa.”

– “Tôi cũng không hiểu con hà nó ăn chân người ta như thế nào nhưng với sắt đá nó ăn lủng hết!”

Tôi trố mắt nhìn anh tỏ ý không tin. Trung sĩ Tùng tiếp:

– “Nói là sét ăn, nhưng thực tế chỉ là một phản ứng hóa học. Con hà mới ăn thực sự vì nó đúng là một sinh vật, có hình thù như miệng núi lửa, có vỏ cứng như cua và trông như con hàu.”

– “Tôi nhớ ra rồi, tôi có thấy. Nó bám vào đáy ghe…”

– “Với tàu thuyền, nó bám vào lườn, gồm cả hai bên hông, phần chìm dưới nước. Bất cứ tàu nào, sau một thời gian hoạt động cũng đều bị con quỷ sống này bám. Và khi chúng bám vào thì… trời gầm không nhả! Chúng bám thiệt chặt, sinh sôi nẩy nở, hằng hà sa số. Chất bám của chúng rất độc, đủ ăn mòn các lớp sơn và có thể làm thủng lườn tàu. Thêm vào đó chúng còn làm giảm tốc độ chiến hạm. Có khi nó bám quá dày, tốc độ giảm còn một nửa! Vì vậy mà sau thời gian hoạt động vài ba năm, chiếc tàu phải lên ụ để cạo hà.”

Tùng lại vươn vai hít thở trước khi tiếp:

– “Cạo hà so với gõ sét thì đáng bậc đại sư phụ. Nó luôn luôn đi đôi với máu và nước mắt! Bởi vì con hà bám quá chặt, quá bon chen, mà vỏ của nó thì vô cùng sắc bén nên hễ sơ sẩy là đổ máu. Vì thế việc cạo hà cần những người có kinh nghiệm và kiên trì. Rất mừng là chiến hạm được miễn. Hải Quân Công Xưởng đảm trách mướn người.”

– “Con hà nguy hiểm như vây, hẳn việc gõ sét và sơn phết cũng đặc biệt hơn?”

– “Đúng! Sau khi hà được cạo sạch, việc gõ sét coi như toàn bộ. Sau đó phải sơn nhiều lớp sơn lót, nhiều lớp sơn chính và cuối cùng là thêm lớp sơn đặc biệt: sơn kỵ hà.”

– “Chuyện thú vị lắm!” Tôi kêu lên. “Theo lối anh kể rành mạch, tôi đoán anh hành nghề… gõ sét?”

– “Không! Trăm lần không, vạn lần không!” Tùng cười lớn. “Chẳng qua có thời gian đi tàu vào đại kỳ Hải Quân Công Xưởng, tôi để ý thôi! Tôi hành nghề gõ sét chỉ vì bị… tạp dịch. Nói rộng ra, ai trên tàu cũng bị tạp dịch. Người trách nhiệm gõ sét mang chuyên nghiệp Vận Chuyển kiêm nhiệm nhiều việc như lái tàu, bảo trì vỏ tàu, xuồng, phao, neo, xích thả neo và dây cột tàu. Việc thì nhiều, nhân viên chỉ vài người nhất là việc ‘sét gõ năm năm sét vẫn còn’ nên chúng tôi… tạp dịch!”

– “Vậy chuyên nghiệp của anh là gì?”

– “Chuyên nghiệp của tôi là Thám Xuất.”

– “Thám Xuất! Mới nghe lần đầu! Vắn tắt, nghiệp… làm gì?”

Anh nghiêng vai trái cho thấy phù hiệu thêu trên cánh tay áo ngay dưới lon trung sĩ. Đó là một hình tròn có đoạn lượn sóng nằm ngang và có mũi tên xuyên nghiêng hướng thượng. Tôi tưởng Tùng nói ý nghĩa của nó nhưng anh chỉ giải thích về ‘nghiệp’ của anh:

– “Tôi và hai nhân viên Thám Xuất phụ trách việc sử dụng, bảo trì, sửa chữa các máy điện thám như Radar, Sonar, Loran, Fathometer.”

– “Xin nói rõ hơn!”

– “Radar là loại máy điện tử thám sát trên mặt biển, Sonar thám sát tàu ngầm, Loran định vị trí chiến hạm, Fathometer đo chiều sâu…”

– “Còn những chuyên nghiệp khác?”

– “Rất tùm lum. Nào là Giám Lộ, Phòng Tai, Vận Chuyển, Cơ Điện Khí, Trọng Pháo. Nào là Vô Tuyến, Điện Tử, Y Tế, Kế Toán, Tiếp Vụ, v.v…!”

– “Nhiều chuyên nghiệp dữ vậy?” Tôi ngạc nhiên kêu lên.

– “Hải Quân… ngon lành mà!” Tùng cười đùa. “Một chiến hạm mà không có đủ các chuyên viên đó thì không làm ăn gì được.”

– “Thật vậy sao?”

– “Thí dụ nếu không có mấy tay cơ khí lo máy tàu, mấy tay điện khí lo máy điện, thì coi như … dậm chân tại chỗ!”

Tôi hỏi dò:

– “Máy tàu hẳn phải bự lắm. Có thể nào tôi được xem cho biết?”

– “Chỉ được xem khi có lễ lộc.”

– “Như lễ gì?”

– “Như ngày Quốc Khánh, ngày Quân Lực, ngày Hải Quân.”

Tôi nhớ ra năm nào Văn phòng Đại học Sư Phạm cũng thông báo ghi tên thăm viếng chiến hạm nhưng tôi không hề quan tâm. Bây giờ ngơ ngơ ngác ngác, thấy tiếc.

– “Ngoài máy tàu, có được đi coi các nơi khác?”

– “Dĩ nhiên. Gần như là được coi khắp chiến hạm.”

– “Gần như, có nghĩa là còn những chỗ không được tới?”

– “Những nơi đó cấm… vãng lai! Vấn đề bảo mật.”

– “Ngày thường không được xem tàu sao?”

– “Được chứ, nhưng phải xin phép sĩ quan trực nhật..”

Tôi ‘À’ ra vẻ hiểu biết rồi lặng lẽ đắn đo xem có nên nhờ Tùng đưa đi thăm tàu lúc này hay chờ thân mật thêm hơn. Tôi thấy nên chờ bằng cách tạo cơ hội cho Tùng phô trương kiến thức hải nghiệp. Khi chiếm được cảm tình, biết đâu anh dám liều đưa tôi đến những nơi tôi muốn đến. Tôi hỏi:

– “Ở giữa biển thế này làm sao biết mình ở đâu?”

– “Việc này thuộc trách vụ của Giám Lộ. Công việc của chuyên nghiệp Giám Lộ gồm truyền tin bằng cờ hiệu, đèn hiệu, định vị trí, tu bổ bảo trì các dụng cụ hải hành. Tùy vào hải trình cận duyên hay viễn dương, phương pháp định vị trí khác nhau. Nếu đi gần bờ thì dùng radar, tức là đo hướng độ của ba đối vật trên bờ lần lượt kẻ lên hải đồ, điểm hội tụ là vị trí chiến hạm. Còn lúc ngoài xa khơi thì định vị trí bằng cách dùng kính lục phân đo phương vị độ các thiên thể.”

Tùng nín lặng nhìn lên bầu trời đầy sao. Tôi sốt ruột:

– “Kính lục phân là kính gì vậy? Làm sao mà định được vị trí chỉ với một chiếc kính?”

Tùng thở ra như đã quá mệt với việc phải trả lời:

– “Nếu cô muốn biết rõ hơn, hãy hỏi Trung sĩ Giám lộ Lê Tín hoặc các vị sĩ quan.”

– “Đừng làm khó tôi, anh Tùng. Tôi đang nôn nóng muốn biết đây!”

– “Tôi có làm khó gì đâu. Không biết, nói bậy bạ sao được!”

– “Chuyện hải hành nghe hay ho mà còn bổ ích nữa. Thế nào tôi cũng hỏi Trung sĩ Tín để lỡ sau này có đi lạc đường, tôi biết đo thiên thể mà tìm đường về!”

Trung sĩ Tùng lắc đầu cười:

– “Nhớ là chỉ nhờ Trung sĩ Tín dạy cách dùng la bàn chớ đừng nhờ dạy dùng kính lục phân. Cô chỉ cần ngỏ ý thôi, cũng đủ Trung sĩ Tín chết vì cười!”

– “Sao dữ vậy?”

– “Là vì kính lục phân chỉ dùng… trên biển!”

Tôi mỉm cười, tiến thêm bước mới:

– “Nghe giọng nói, anh là người miền Tây?”

– “Gốc Rạch Giá.”

– “Vợ con ra sao?”

– “Một trai.”

Một cảm giác xao xuyến lạ lùng gờn gợn khắp châu thân. Nỗi buồn trĩu nặng cũng lan nhanh. Một người hiền hậu, vui tính, dễ thương, vợ con đề huề thế này mà phải chết dưới tay tôi. Làm sao rủ rê anh cùng tôi rời khỏi tàu?

– “Còn cô? Nghe cũng giọng miền Tây.”

– “Quê Vĩnh Long.”

– “Năm ngoái chiếc Giang Pháo Hạm tôi phục vụ hoạt động tại sông Cổ Chiên – Mang Thít thường ghé nghỉ bến Vĩnh Long. Tôi thích ngồi nhà hàng Ba Vị ngắm cảnh Long Hồ.”

Tôi e ngại, làm thinh. Mặt biển long lanh, hiền hòa. Trên bề mặt xanh biếc, rải rác vài vùng xanh thẫm. Một chiến hạm lạc lõng giữa hàng chục ghe đánh cá. Tôi nhớ tuần rồi Hưng thuê ghe đưa tôi viếng Ghềnh Ráng Tiên Sa và đổ bộ thăm mộ Hàn Mặc Tử. Tôi quay ngang, nhìn Tùng:

– “Chắc anh đang nhớ vợ con lắm?”

– “Đúng, đang nhớ lắm! Trước đó thì không. Thường thường, mỗi lần công tác lâu vài ba tháng, tuần đầu tuần cuối thì nhớ lắm, khoảng giữa quen dần.”

– “Còn cô, đi thế này hẳn… hết nhớ?”

– “Hết nhớ? Nghĩa là sao?”

– “Nghĩa là cô được sống bên người yêu.”

– “Người yêu của tôi là ai?” Tôi ngạc nhiên.

– “Hải Quân có tai và mắt tinh tường mà! Nói là thân nhân mà hai người cư xử với nhau như là mới quen nhau. Người thì kêu cô, người thì kêu Đại úy. Tôi suy ra hai cô cậu chắc mới quen nhau và chuyến đi này là để tiến đến… yêu nhau!”

– “Anh nghĩ trật lất! Tôi và Đại úy Bằng là ‘thân nhân’ kiểu này: Anh tôi cùng khóa Hải Quân với Đại úy Bằng. Tôi chỉ lợi dụng tình đồng khóa để đi tàu một chuyến cho biết, thế thôi! Đây là lần đầu tôi và Đại úy Bằng gặp nhau.”

– “Xin lỗi đã hiểu lầm.”

Tôi thấy vui vui và nhân cơ hội giải tỏa một thắc mắc:

– “Tôi thấy ở phòng của Đại úy Bằng hình một thiếu nữ bồng con, có phải là vợ con của ổng?”

– “Tôi không biết. Ổng kín tiếng lắm! Chỉ thấy đa số thời giờ ông ấy ở trên tàu.”

– “Phải thân thiết lắm mới để ảnh trên bàn, phải hôn, anh Tùng?”

– “Đúng như vậy!” Tùng cười mỉm tiếp. “Xem chừng cô đã có phần để mắt tới ông Hạm Phó!”

Tôi phật ý, định đốp chát nhưng thấy tiếp tục gây cảm tình là tốt hơn. Mà cũng chả cần gì phải đính chính. Chỉ hơn một ngày nữa tôi đâu còn gặp lại Tùng. Tuy nhiên tôi cũng phải xỉa xói nhẹ nhàng:

– “Nếu tôi để mắt tới ông Hạm Phó của anh, anh thấy ổng có xứng đáng với tôi không?”

Tùng đăm đăm nhìn tôi như không ngờ tôi nói ra câu đó. Tôi tiếp tục tấn công:

– “Anh Tùng, nghe đồn Hải Quân hay có con rơi con rớt, có thể chú bé trong hình là con Võ Bằng?”

– “Bây giờ thì biết chắc cô đã yêu Hạm Phó!”

Như để biểu lộ sự cả quyết, Tùng đẩy sợi dây an toàn ra vẻ đắc chí. Bụng tôi đang tựa vào sợi dây bị bật mạnh khiến nửa phần trên của thân nghiêng ra ngoài. Tùng chụp cánh tay tôi, miệng rối rít:

– “Tôi vô ý quá, xin lỗi cô Phượng.”

Hai tay ôm lấy ngực, tôi gọi ba hồn bảy vía. Tùng rút tay về, đứng ngẩn ngơ, bối rối. Tôi trêu chọc:

– “Suýt nữa cả tàu khốn khổ vì… nhiệm sở vớt người, phải hôn anh Tùng?”

Tùng cười cười, đáp:

– “Rất mừng cô đã không rơi xuống biển để còn dịp trả cô về với Hạm Phó. Chúc gặp người yêu nhiều hạnh phúc.”

Nói xong anh bước dọc theo hành lang mạn hữu về phía lái. Khi tôi hướng mắt qua mạn tả, Võ Bằng đang đi tới…

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)