Chương 8
Hải phận Khánh Hòa
Thứ bảy 5/8/1967 11:40G
Bước vào phòng ăn, việc đầu tiên là tôi hướng mắt về chiếc ghế dành cho tên Mỹ. Thật dễ chịu khi không thấy mặt hắn. Vài sĩ quan đã hiện diện. Nơi Võ Bằng ngồi, phần cơm đã được dọn sẵn.
– “Tôi cần về buồng…”
Miệng nói, chân bước vội về khung cửa. Tiếng Võ Bằng đuổi theo:
– “Nhớ có mặt trước 10 phút.”
Tôi kéo kín màn cửa rồi đi thẳng vào buồng vệ sinh. Tôi thấm nước một góc khăn, lau mặt, lau cổ, lau tay. Nước thật mát giúp da tôi trở lại mịn màng và thấy tỉnh người. Khi tôi đang o bế mái tóc, tiếng còi vang lên ba hồi te tít. Tôi nhìn đồng hồ: 11:45. Như vậy còi báo đổi phiên hải hành trước 15 phút. Tôi cũng còn 15 phút mới tới phiên… cơm trưa với Hạm Trưởng. Đó là cả một miễn cưỡng, hoàn toàn ngoài mong muốn. Nhưng tự do thì vẫn còn 5 phút nữa.
Tôi ngả lưng lên giường, hít thở dài hơi. Đó là cách tôi lấy lại sức sau một ngày học hành mệt mỏi. Nhưng ở trên tàu này, mệt mỏi đã là may mắn. Suốt đêm qua tôi đã ngất ngư. Rồi sáng nay, mới qua vài giờ mà sức đã đuối thì lấy đâu sáng suốt mà dối trá như một trước sau! Tôi không hiểu sao lại cứ lo lo khi bữa cơm vắng mặt Võ Bằng. Bắt chước anh chàng, tôi tự hỏi ‘vì sao’ nhưng không tìm thấy câu trả lời. Đúng ra, việc Võ Bằng không hiện diện tôi mừng mới phải vì sẽ khỏi bị tấn công mặt tình cảm trong nhiều mặt khác sắp bị tấn công tập thể.
Tôi ôn lại những gì tôi đã tiết lộ từ khi xuống tàu. Tôi nghĩ là tôi đã quyết định đúng khi không nghe lời Hưng nói dối về lý lịch. Thân thế ra sao cứ nói đúng vậy, không sợ gì sơ hở. Khi quả bom nổ, tôi đã cao bay xa chạy. Tên tuổi địa chỉ đều giả lấy gì truy tầm!
Nhắm chừng 5 phút đã trôi qua, tôi ngồi bật dậy, bước ra phòng ăn. Võ Bằng còn đó hẳn muốn yên trí là tôi không vắng mặt. Anh chàng lịch sự kéo ghế mời tôi ngồi. Không thể làm khác hơn tôi ‘cám ơn’ rồi nhìn quanh nói ‘xin chào’. Mọi người đáp trả vui vẻ. Võ Bằng quay sang nói nhỏ với tôi:
– “Chịu khó ăn cơm… bình dân vài buổi. Về Sài Gòn, tôi sẽ đền bù ‘trừ hao’ ở các nhà hàng ngon lành.”
Phớt lờ cái liếc sắc bén của tôi, anh chàng uống cạn ly trà đá rồi rời bàn. Phút chốc, tôi thấy lúng túng, ngượng ngùng. Tôi nhìn anh chiêu đãi dọn dẹp phần ăn của Võ Bằng và bày biện các phần ăn mới. Tôi thích thú theo dõi cử động nhanh nhẹn khéo léo của anh. Tôi đâm mê cái chén trên cái dĩa màu trắng in hình mỏ neo màu xanh, kèm một bên là chiếc muỗng bạc và đôi đũa ngà, một bên là khăn ăn vải trắng. Lối trình bày gợi tôi nhớ cách nay nửa năm, Hưng đưa tôi đi ăn ở nhà hàng nổi, nơi một năm trước đó đặc công nội thành đã đánh bom làm chết và bị thương hàng chục tên Mỹ. Cũng chén dĩa trắng, cũng khăn ăn trắng. Chỉ có chút khác biệt là hình chiếc mỏ neo được thay bằng chữ Mỹ Cảnh. Bộ dạng anh bước khệnh khạng, cái cách anh bưng hai tô canh, hai dĩa món ăn tôi thấy không có gì bất thường để bị chọc quê là phi hành gia…
Tên Mỹ vừa ngồi lên ghế đối diện mỉm cười chào. Dù tia nhìn của hắn tỏ vẻ thân ái, dù đêm qua hắn không giở trò nhưng tôi vẫn mím môi đáp lễ. Tôi còn phải sống qua đêm nay nữa. Liệu đêm nay hắn có giở trò? Các sĩ quan cùng dòng máu Việt sẽ cứu tôi hay sẽ hùa theo để tận hưởng? Tôi rùng mình và thấy giận Hưng. Một mặt anh nói Mỹ Ngụy tàn ác, một mặt anh đẩy tôi vào tay Mỹ Ngụy! Tôi nhắm mắt xua đi ý nghĩ đen tối. Chợt tôi nghe tên Mỹ gọi thẳng tên tôi:
– “Miss Phượng, cô mạnh giỏi?”
Giọng của hắn cứng, thô nhưng phát rõ tiếng Việt. Tôi sượng sùng không biết xưng hô ra sao! Phải chi hắn hỏi bằng tiếng Anh thì khỏe biết mấy. Địch hay bạn cũng cứ là ‘you and I’. Trả lời bằng tiếng Việt sẽ phải gọi bằng ‘anh hay ông’ thì đều tỏ ra thân mật hoặc tôn kính. Tôi chợt có ý nghĩ chọc ghẹo hắn. Tôi đáp:
– “Mạnh nhưng không giỏi. Còn mi?”
– “Còn ‘me’? Tôi không hiểu!” Tên Mỹ ngẩn ngơ.
Trung úy Lê Giáp Thân ngồi cạnh hắn, bật cười:
– “Không phải ‘M and E’ tiếng Mỹ mà là ‘M and I’ tiếng Việt, có nghĩa là … mày!”
– “Mày?” Tên Mỹ tỏ vẻ ngơ ngác.
– “‘Mày’ có nghĩa là ‘you’. ‘Còn mi’ tức là ‘And you?’”
Tên Mỹ gục gặc đầu, khoái chí đáp trả:
– “Cám ơn cô Phượng, me good.”
Tôi cười, nói với Trung úy Thân:
– “Cám ơn Trung úy giải thích.”
Tiếng hô ‘nghiêm’ từ cuối bàn. Tất cả đồng loạt đứng lên. Tôi miễn cưỡng làm theo. Hạm Trưởng tiến đến chiếc ghế dành cho ông, chiếc ghế cùng mẫu có tay tựa, cùng màu xám nhạt nhưng có phần rộng lớn hơn. Ông nhìn qua một lượt, vui vẻ nói:
– “Mời ngồi!”
Câu đầu tiên sau khi ông an vị dành cho tôi:
– “Ông Hạm Phó lo cho cô đàng hoàng chứ? Có gì khiếu nại không?”
Giọng nói thân tình, thái độ tích cực, tư thế quyền uy khiến tôi lễ độ đáp:
– “Thưa Thiếu tá, hơn cả mong đợi.”
Tôi nói mà kêu khổ thầm. Khi nhận lời Hưng mang bom xuống tàu tôi không mảy may nghĩ mình sẽ lâm vào tình cảnh hôm nay. Theo dự trù, tôi ở khu tạm trú, ăn uống tự túc. Thế mà tôi lại đang được đối đãi như một thượng khách, được xếp ngồi ở vị trí quan trọng thứ nhì sau hạm trưởng. Tên Mỹ cũng xếp hạng sau tôi. Tôi đã nhẹ dạ nghe Hưng để bây giờ ngỡ ngàng, không biết ứng xử sao cho phải. Nội cách xưng hô cũng đầy phiền toái. Theo những gì được học tập, đây là những kẻ xâm lược, bán nước. Nhưng theo lễ nghĩa, tôi phải dạ thưa với chủ nhà, phải nhã nhặn với những người đáng tuổi làm anh. Bằng đang đi phiên nên ngồi sát bên mặt tôi là Trung úy Trần Văn Bạch. Tôi cúi gầm mặt tránh hàng chục cặp mắt đang hướng vào. Tiếng trầm ấm của Hạm Trưởng:
– “Cô là khách đầu tiên của chiến hạm, lẽ ra được thết đãi linh đình nhưng nhằm cuối công tác nên… có gì ăn nấy. Hy vọng cô có cùng chủ trương như tôi: Sống không phải để ăn!”
– “Cùng chủ trương, thưa Thiếu tá!”
– “Sĩ quan Ẩm thực đọc thực đơn hôm nay.”
Thiếu úy Hoàng Văn đứng lên:
– “Thưa Hạm Trưởng và quý vị, thực đơn hôm nay gồm các món sau: Cơm trắng, cá chiên, thịt bò xào cải, tôm rim, canh rau muống. Hết.”
Hạm Trưởng lại nhìn tôi như chờ tôi cho ý kiến. Tôi thấy thiếu món tráng miệng không thể thiếu đối với tôi:
– “Tôi xin đóng góp món tráng miệng. Xin phép Thiếu tá.”
Tôi đứng lên đi vào buồng lấy hộp bánh LU đưa cho anh chiêu đãi rồi trở về ghế. Hạm Trưởng quét mắt quanh bàn, nói:
– “Nào! Mời cầm đũa.”
Tiếng nói từ quanh bàn:
– “Xin mời Hạm Trưởng.”
Ông dùng muỗng và đũa tách cá chiên thành từng miếng nhỏ. Tôi vừa cầm đũa vừa lén nhìn tên Mỹ. Cái cách hắn cầm tỏ ra hắn đã được huấn luyện trước khi sang Việt Nam tuy nhiên chỉ đủ để các ngón tay sồ sề cầm vững được đôi đũa ốm yếu. Khi tôi nâng chén và cơm vào miệng hắn còn lọng cọng dùng đũa ‘múc’ cơm.
Hạm Trưởng đang chậm rãi nhai hỗn hợp cải xào thịt bò, thấy tôi ngạc nhiên nhìn tên Mỹ gắp miếng cá chiên chấm nước mắm, ông nói:
– “Ban đầu Mister Ward chê nước mắm hôi nhưng giờ thì chịu là thơm ngon. Bữa nào không có nước mắm là hỏi!”
Tên Mỹ mỉm cười gật đầu tỏ ra hiểu câu nói. Tôi thì lại không hiểu chính tôi. Chống Mỹ nhưng lại thích thức ăn Mỹ. Nói cho đúng thì chắc vì lạ miệng. Lần duy nhất tôi ăn ration C cách nay vài tháng khi tôi về nhà nghỉ hè. Ba má tôi thấy bán ở chợ trời, tò mò mua ăn thử và tôi nhất định chọn ration C mang theo tàu thay cho cơm chiên ba má Hưng gợi ý. Ration C bán rất rẻ ở chợ trời Quy Nhơn.
– “Cô Phượng vẫn thường đi quá giang?”
– “Thưa, đây là lần đầu!”
– “Cảm thấy ra sao?”
Tôi vừa nhai vừa ngẫm nghĩ. Cảm thấy ra sao ư? Thì còn ra sao nữa! Một mình tôi giữa sóng nước mông mênh. Quanh tôi toàn là sắt thép, súng to súng nhỏ và hàng trăm lính nổi danh gian ác. Nhưng nếu thú nhận rằng đang lo sợ thì có khác gì thú nhận đang làm chuyện bất chính! Tôi uống ngụm nước rồi trả lời:
– “Tôi… tôi thấy thật thích thú. Tôi yêu bài Hoa Biển của Anh Thy nên từng mơ ước một chuyến ra khơi. Nay ước mơ đã đạt.”
Trung úy Bạch lên tiếng:
– “Cô Phượng yêu Hoa Biển thì hẳn cũng yêu… lính biển?”
Tôi thấy cần bịa chuyện cho xuôi chuyện:
– “Trước đây thì có…”
– “Còn bây giờ?”
Tôi nghiêng mặt trả lời Thiếu úy Tiến:
– “Bây giờ tôi đang ở trên chiến hạm.”
Thiếu úy Tiến phản đối:
– “Cô Phượng trả lời huề vốn!”
Tôi cười, giả lả:
– “Chuyện thì dài mà tôi cũng không muốn gợi lại.”
Thiếu úy Hoàng Văn chen lời:
– “Đồng ý là không nên gợi lại. Chỉ cần biết hiện tại cô đang… độc thân là đủ vui rồi!”
Hạm Trưởng vừa cười vừa gắp con tôm rim bỏ vào chén tôi:
– “Con tôm này xuất xứ từ miền Tây. Vùng quê hương của cô phải không?”
– “Dạ phải.”
– “Cô ra Quy Nhơn hai tuần, đã đi những đâu?”
– “Ưu tiên là thăm viếng quê nhà của vua Quang Trung.”
– “Cô đã đến chưa? Tôi nghe nói người dân Bình Định chung sức xây Tây Sơn Điện để thờ ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Tôi từng muốn đến nhưng đường đi khá xa mà cũng không được an ninh.”
– “Tôi có đến viếng Tây Sơn Điện. Điện thờ có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung Hoàng Đế. Gian bên phải thờ Thái Đức Hoàng Đế tức Nguyễn Nhạc. Gian bên trái thờ Đông Định Vương tức Nguyễn Lữ. Dọc theo hai vách điện là án thờ tổ tiên nhà Tây Sơn và các quan văn thần võ tướng. Trong cùng có Đông phòng, Tây phòng là nơi gác trống chiêng. Càng nhìn càng thấy uy nghi xúc động. Ngoài khuôn viên điện thờ có cây me trên 300 tuổi và giếng nước cùng thời.”
– “Cô có nghe tin tức gì về Lăng mộ Quang Trung? Nghe đồn thì có nhưng chưa tìm thấy.”
– “Đúng vậy. Các hậu duệ vẫn đang khảo sát truy tầm.”
Chúng tôi tiếp tục ăn uống. Tôi vừa nhai vừa e sợ bị hỏi mà nghĩ mãi không tìm được câu hỏi tương xứng với chức vụ Hạm Trưởng. Ông lại lên tiếng:
– “Cô còn thăm viếng những nơi nào?”
– “Tháp Đôi của Chiêm Thành, Bán đảo Phương Mai, Mộ Hàn Mặc Tử.”
Thiếu úy Nguyễn Ấn ngâm nga:
– “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.”
Hạm Trưởng gõ đũa lạch cạch vào chén:
– “Các sĩ quan nghe cho rõ câu trả lời của cô Phượng. Ngày mai là ngày nào?”
Tôi lúng túng tuôn ra lời thật:
– “Chúng tôi định sau khi tôi ra trường.”
Thiếu úy Hoàng Văn nóng nảy kêu lên:
– “Hóa ra cô Phượng không hẳn còn… độc thân! Vậy chừng nào ra trường?”
– “Hai năm nữa!”
– “Còn độc thân những hai năm nữa.” Hoàng Văn cất tiếng ca. “Đời còn nhiều bâng khuâng.”
– “Nghe giọng nói của cô, tôi đoán cô cùng miền với Hạm Phó. Nhưng chắc không cùng dân Châu Đốc?”
Tôi mừng nghe Hạm Trưởng đổi đề tài. Tôi đáp nhanh:
– “Vĩnh Long.”
– “Học trường Tống Phước Hiệp?”
– “Dạ phải”
– “Nơi sinh?”
Tôi khoái lối hỏi của Hạm Trưởng. Không phải mất công đắn đo tìm lời đáp ứng. Tôi đáp không do dự:
– “Nha Mân.”
Hạm Trưởng đập nắm tay xuống bàn một cách hứng thú:
– “Tôi đoán đúng! Cô phải sinh ra ở Nha Mân chớ không nơi nào khác!”
Tôi nhìn mọi người cũng ngẩn ngơ như tôi. Thiếu úy Hoàng Văn lại lên tiếng:
– “Tôi đồng ý với Hạm Trưởng.”
Các sĩ quan ngưng ăn, lao nhao. Thiếu úy Nguyễn Ấn nêu thắc mắc:
– “Thưa Hạm Trưởng, dựa vào đâu Hạm Trưởng cho rằng cô Phượng sinh ở Nha Mân? Mà Nha Mân là nơi nào tôi chưa từng nghe danh!”
– “Nha Mân có một thời thuộc tỉnh Vĩnh Long. Các cô lớn lên ở Nha Mân thường theo học Trung học Tống Phước Hiệp. Năm 1960, tôi đổi về Giang Đoàn 23 Xung Phong đồn trú Vĩnh Long. Suốt hai năm, tôi đeo đuổi một nữ sinh tuyệt đẹp. Cô bảo quê cô ở Nha Mân. Nha Mân thì Giang đoàn chẳng xa lạ gì. Thỉnh thoảng tôi chỉ huy năm ba giang đỉnh vào kinh Nha Mân yểm trợ đồn bót, nên khi biết sinh quán của ‘người yêu’, tôi cho giang đỉnh ghé chợ vừa để mua lương thực vừa dò la hỏi han. Ối chao, các cô ở đó đẹp sao là đẹp. Thành ra khi cô Phượng nói học Tống Phước Hiệp, tôi nghĩ ngay cô hẳn có gốc Nha Mân!”
– “Nhưng đâu phải người nào đẹp cũng đều sinh ra ở Nha Mân!” Trung úy Thạch phản đối.
– “Đồng ý. Nhưng phải là người từng đeo đuổi người đẹp Tống Phước Hiệp mới có linh cảm như tôi.”
– “Vẫn chưa ăn nhậu vào đâu, thưa Hạm Trưởng.”
– “Ăn nhậu là thế này! Có một lần ghé chợ Nha Mân ăn nhậu cùng các thẩm quyền xã ấp, tôi tỏ ý ngạc nhiên sao các cô gái Nha Mân đều có nhan sắc khuynh nước khuynh thành. Một chức sắc kể chuyện, khi chúa Nguyễn Ánh thua quân Tây Sơn ở trận Rạch Gầm, ông đưa cung tần mỹ nữ đến ẩn trú ở Nha Mân. Không lâu sau đó, Nguyễn Huệ tìm ra và truy đuổi. Tình thế khẩn cấp, Nguyễn Ánh một mình chạy thoát thân, bỏ lại dàn mỹ nữ hoa nhường nguyệt thẹn. Và dần dần họ trở thành là vợ là mẹ dân Nha Mân. Điều lạ lùng là các cô gái sinh ra đều giữ nguyên nhan sắc đến độ đã thành câu ca dao ‘Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân’. Thế thì, trước nhan sắc của cô Phượng, sinh quán Nha Mân, các quan ta kết luận thế nào?
Trung úy Thạch to tiếng nhất:
– “Cô Phượng hẳn là hậu duệ của vua Gia Long.”
Tôi thầm phục tài luận xét của Hạm Trưởng. Có lần mẹ tôi kể về gia thế của mình. Bà cố của mẹ tôi là một cung tần của vua Gia Long. Tuy vậy, tôi nửa nhận nửa chối:
– “Nghe như thiệt!”
Hạm trưởng quét mắt hỏi:
– “Có ai có ý kiến gì khác chăng?”
Tên Mỹ lắc đầu trước tiên. Tội nghiệp, mãi đến giờ hắn mới có dịp phát biểu bằng cử chỉ! Trung úy Bạch, đẹp trai nhất đám, gật gù nói:
– “Căn cứ câu ca dao, cô Phượng khó chối cãi mình chính là bằng chứng… lịch sử!”
Tất cả cười rộ. Thiếu úy Văn bồi thêm:
– “Thưa công chúa điện hạ!” Anh chàng nói xong đứng lên chắp tay cúi đầu.
Tôi nghe máu chạy lên mặt nóng bừng. Giọng Hạm Trưởng đều đều, thân tình:
– “Phải nói tâm tính cô thật thuần lương. Là hậu duệ của Gia Long mà vẫn ngưỡng mộ Quang Trung. Có thể nhờ tấm lòng thuần lương đó mà Nguyễn Huệ cho cô cơ hội quá giang chiến hạm này.”
Thấy tôi tỏ ra không hiểu, ông xoay người chỉ vào chiếc huy hiệu treo trên vách:
– “Đây là huy hiệu của chiến hạm, mang tên trận Đống Đa lẫy lừng của Quang Trung.”
Tôi dở khóc dở cười trước nhận xét của Hạm Trưởng. Việc tôi đi quá giang gần như là một bắt buộc chớ có ‘ăn nhậu’ gì với mối thù giữa hai vị vua. Cũng chẳng là sứ giả hòa giải gì hết! Còn tâm tính thuần lương, chỉ đúng trước khi tôi gặp Hưng. Tôi đã từng cực lực phản đối khi ba tôi mua vịt sống về tự cắt cổ lấy máu làm tiết canh. Nhưng giờ đây, thuần lương gì mà đem bom cho nổ giết người. Tôi chua xót tự hỏi vì sao mà bỗng dưng quay đầu 180 độ. Vì đâu nên nỗi!
Tiếng của Trung úy Bạch:
– “Thưa Hạm Trưởng, chuyện tình Tống Phước Hiệp, rốt cuộc giai nhân trở thành Hạm Trưởng phu nhân?”
– “Trung úy đã yêu ai chưa?”
– “Thưa, đang yêu.”
– “Đeo đuổi mấy năm rồi?”
– “Mấy tháng nay.”
– “Cố gắng kiên trì đeo đuổi hai năm như tôi thì cô ta sẽ thành Bạch phu nhân!”
Chúng tôi cười phá lên. Nhìn nụ cười hả hê của Hạm Trưởng mà lòng tôi chùng xuống. Vợ của ông không chừng có dây mơ rễ má với tôi. Tôi cúi nhìn mặt bàn trắng tinh tưởng như mọi toan tính đen tối trong đầu đã xóa sạch. Giọng Hạm Trưởng thật hiền hòa:
– “Kỳ này về kể chuyện gặp cô Phượng, hẳn nhà tôi mừng lắm! Thế nào bà ấy cũng tìm tận nhà để hàn huyên.”
Gặp người cùng hoàng tộc, còn gì vui hơn nhưng địa chỉ trong giấy phép quá giang là giả, tìm sao được mà tìm. Nghẹn ngào, tôi chỉ biết giương mắt nhìn ông. Bất chợt mắt tôi dừng ở một huy hiệu màu vàng gắn bên trên bảng tên Bùi Việt Quang ở ngực áo. Đó là một vành tròn bằng kim loại ôm lấy ngôi sao năm cánh với mấy chữ không trông rõ. Tôi chộp cơ hội đổi đề tài:
– “Ồ, chiếc huy hiệu trông đẹp quá!”
Theo tia mắt tôi, Hạm Trưởng cúi nhìn rồi ngẩng lên mỉm cười:
– “Cô đã từng uống nước mía ở đường Pasteur?”
Ngạc nhiên trước câu hỏi lạc đề nhưng tôi vẫn thật lòng trả lời:
– “Đó là địa điểm ưu tiên khi đi phố.”
– “Cái huy hiệu tôi đang đeo, Hải Quân gọi là… bánh xe nước mía! Cô nhìn kỹ xem có giống không?”
Tôi chồm người nhìn chăm chăm rồi tưởng tượng hình ảnh bánh xe quay ép cây mía. Tôi nói:
– “Chỉ giông giống thôi. Huy hiệu thật thẩm mỹ và trông như vàng thiệt. Nhất là ngôi sao năm cánh thật nổi!”
– “Chính danh, đó là huy hiệu Hạm trưởng. Ngôi sao tượng trưng cho sao Bắc Đẩu mang ý nghĩa chỉ dẫn hướng đi. Còn tay lái tượng trưng cho chiến hạm. Nói rõ hơn đó là biểu tượng uy quyền của người chỉ huy chiến hạm.”
– “Thưa Thiếu tá, nửa phần dưới vành tròn khắc những chữ gì?”
– “À, đó là Danh Dự, Kỷ Luật, Tài Đức. Một nhắc nhở, một lời thề. Người mang huy hiệu này phải luôn luôn tôn trọng danh dự, gìn giữ kỷ luật và phát huy tài đức.”
– “Một huy hiệu thật ý nghĩa.” Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu biết.
– “Huy hiệu của Hải Quân Việt Nam dựa trên nền tảng đạo đức.” Hạm Trưởng tiếp. “Huy hiệu của Mỹ dựa trên uy quyền. Thay chỗ Danh Dự Kỷ Luật Tài Đức là hàng chữ Latin “Magister Post Deum”, có nghĩa “Chúa tể sau Thượng Đế”. Dịch nôm na là trên có Trời, dưới có Hạm trưởng.”
– “Như vậy có nghĩa là trên thế gian này uy quyền của Hạm Trưởng là trùm thiên hạ!” Thiếu úy Vương Văn Tiến nói.
– “Không hẳn thế!”, Hạm Trưởng lắc đầu. “Chỉ trùm ngoài biển thôi!”
Tôi đang hài lòng với sự khiêm tốn của ông thì lại nghe ông tự đính chính:
– “Tôi nói thế cũng còn quá tự tôn. Đúng ra là chỉ riêng trên một chiến hạm. Còn uy quyền ngoài biển, thì phải dành cho Ngài Đại Hải Long Vương. Cô Phượng có nghe danh Ngài Đại Hải Long Vương?”
– “Có biết qua khi đọc Tây Du Ký!”
– “Chắc cô khó mà tin, chiến hạm này đặc biệt có duyên được Ngài để mắt tới.”
Mọi người gật đầu tỏ vẻ tán thành làm tôi càng nôn nóng muốn nghe tự sự nhưng ông thản nhiên bỏ dở:
– “Trở lại huy hiệu Hạm Trưởng, cần nói rõ thêm để trường hợp cô Phượng muốn làm tài công… lái hạm trưởng thì biết phân biệt. Ông Hải Quân nào đang làm hạm trưởng – thường là xa nhà – thì huy hiệu này đeo bên ngực áo phải. Còn ông nào từng là hạm trưởng – thường như công chức – thì đeo bên ngực áo trái.”
Thấy sự việc chẳng ăn nhậu gì đến mình, tôi nhắc:
– “Thiếu tá chưa nói rõ trường hợp đặc biệt nào chiến hạm được Ngài Đại Hải Long Vương để mắt tới…”
– “Muốn rõ chuyện thì cô buộc phải rời bàn, là điều tôi muốn tránh lúc đang ăn. Hẹn đến trước cơm tối.”
Tôi cụt hứng, lặng lẽ và cơm. Một lúc, Hạm Trưởng buông đũa, nói với tên Mỹ:
– “Hê Rick. Tàu chạy chậm quá. Có phim gì xem cho qua thì giờ?”
– “Có movie Mission Impossible, phim mới, coi hay lắm.”
– “Cái tựa nghe hấp dẫn đấy. Vui lòng chiếu cho mọi người cùng xem, được chứ Rick?”
– “Aye aye, Sir.”
Tên Mỹ lanh lẹ đứng lên bước vào buồng. Tôi hỏi Trung úy Bạch:
– “Aye aye nghĩa là gì vậy?”
– “À, đó là đặc ngữ của Hải Quân Mỹ, dành cho cấp dưới trả lời cấp trên. Có nghĩa ‘Tuân lệnh, thưa ngài’. Trường hợp này, có thể hiểu: ‘Có ngay, thưa Hạm Trưởng.’”
Tôi ngạc nhiên thốt lên:
– “Có thật ‘Aye aye’ mang ý tuân lệnh không đó? Hắn là Mỹ mà!”
– “Mỹ thì mặc xác Mỹ, bộ cô không thấy hắn răm rắp tuân lệnh Hạm Trưởng đó sao! ‘Magister Post Deum’ mà!”
Tuy đã tận mắt chứng kiến, tôi vẫn bán tính bán nghi, nên hỏi:
– “Trung úy xưng hô với hắn thế nào?”
– “Thì lịch sự gọi Mister Ward, rồi dùng ‘you’ mang nghĩa tiếng ‘mi’ của cô!”
– “Chí lý!”
Tôi thấy nhẹ người với cách xưng hô mới mẻ này. Tôi sẽ trực diện với tên Mỹ, muốn đích thân hỏi hắn mang xác đến miền Nam để làm gì!
Anh chiêu đãi nhanh nhẹn dọn dẹp bàn ăn. Tên Mỹ đặt máy ở góc bàn nơi Hạm Trưởng ngồi chiếu thẳng vào vách. Các sĩ quan cuối bàn nhấc ghế sang hai bên.
Phim kể về một điệp vụ của Mỹ gồm một nữ bốn nam có nhiệm vụ đến Santa Costa để tịch thu hai đầu đạn nguyên tử do kẻ thù của Mỹ cung cấp. Hai đầu đạn đó có thể dùng để cho nổ trên đất Mỹ. Cuộc đột nhập rất nguy hiểm hồi hộp. Cô điệp viên rất bạo dạn trong nhiệm vụ giao phó, được sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng của bốn đồng nghiệp. Còn tôi, một tay mơ nhập nghề, nhiệm vụ tôi cũng thật hồi hộp hiểm nguy nhưng lại hoạt động đơn độc, xoay sở một mình. Vừa xem phim vừa thấy mình quá liều mạng…
Được chừng nửa phim, đang lúc nữ điệp viên Barbara Bain dùng mỹ nhân kế che mắt tên tướng địch để đồng nghiệp đột nhập kho chứa hai quả bom thì tiếng chuông nội thoại chợt reo vang làm tôi giật nẩy mình.
Thiếu úy Văn nhấc máy gắn trên vách:
– “Thiếu úy Văn tôi nghe.”
Một thoáng, anh hướng về Hạm trưởng:
– “Thưa Hạm Trưởng, Hạm Phó xin gặp Hạm Trưởng.”
Ông bước đến tiếp nhận ống nghe. Chỉ vài giây sau ông reo to:
– “Tốt quá! Hạm Phó cho lái vào Cam Ranh. Khoảng bao lâu nữa tới cửa vịnh?”
Hạm Trưởng lắng nghe rồi gác máy, trở về bàn nói với tên Mỹ:
– “Cơ phận của máy bơm giảm nhiệt ‘you’ đặt hàng, đã có sẵn ở kho tiếp liệu. Chúng ta ghé vào lấy. Thay cái mới, chiến hạm sẽ… bay về Sài Gòn. Cám ơn đã trợ giúp.”
– “Không có chi.” Tên Mỹ nói tiếng Việt ngọt xớt.
– “Còn một giờ nữa mới tới cửa vịnh, chúng ta có thể xem đến hết tuồng.” Hạm Trưởng quay sang tôi. “Cô Phượng đã đến Cam Ranh bao giờ chưa?”
– “Thưa chưa!”
– “Đến viếng Cam Ranh thường là bằng đường bộ. Còn bằng đường biển thì nghìn năm một thuở. Chính vì vậy tôi đành cho phép cô lên Đài Chỉ Huy chiêm ngưỡng quang cảnh từ biển vào vịnh để chuyến đi của cô thêm thi vị!”
Mấy từ ‘lên đài chỉ huy’ không hiểu sao khiến toàn thân tôi gần như run rẩy. Tôi lắp bắp, suýt nữa xưng tên thật:
– “Phượng chân thành cảm tạ Hạm Trưởng!”
Tôi cũng nhận ra mình quýnh quáng gọi ông bằng chức vụ nhưng ông chỉ mỉm cười cảm thông. Tôi tiếp tục nhìn lên màn ảnh mà không hiểu gì nữa. Đầu óc tôi cứ mường tượng chiếc cầu thang dẫn lên thượng tầng kiến trúc và lẩn quẩn nghĩ cách đưa quả bom lên đó. Tôi chợt hiểu ra nguồn cơn xúc động. Điều tôi thầm ao ước bất ngờ ập đến. Thiếu tá Bùi Việt Quang, Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Đống Đa 007 đâu biết rằng việc cho phép tôi lên đài chỉ huy là ông tự đào mồ chôn chính ông và bộ chỉ huy của mình…
Chương 9
Vịnh Cam Ranh
Thứ bảy 5/8/1967 15:00G
Trên đường lên Đài Chỉ Huy, khi đi ngang cửa buồng ngủ của Hạm Trưởng, bất chợt ông nói:
– “Sẵn ghé qua thăm ‘giang sơn’ của tôi cho biết.”
Không cần tôi đồng ý, ông bước đến xoay cần rồi kéo mở cánh cửa sắt nặng nề. Tôi điếng hồn nghĩ là mình đã bị sập bẫy. Giang sơn của ông hẳn là nơi dành cho ông ngủ nghỉ, nếu tôi bước vào chẳng khác tự chọn tử địa. Và thê thảm hơn, chỉ có tôi với ông và chiếc giường. Tôi có la làng, dù tiếng la vượt ra ngoài, người làng cũng toàn là người của ông. Nhưng phải liều thì mới biết gian buồng có đúng là nơi đặt bom hiệu quả nhất. Nếu không, ít nhất cũng thấy tận mắt cấu trúc phòng Hạm Trưởng để lập báo cáo khi tổ chức cần đến.
Tôi cân nhắc tình thế thật nhanh. Ông cao hơn tôi chút đỉnh nhưng có vóc dáng như tài tử hơn là võ sư. Trường hợp ông sàm sỡ, nếu ông coi thường cảnh cáo, tôi thừa sức đối phó. Cùng lắm thì hạ sát, kéo ông ném xuống biển, coi như tai nạn.
Hạm Trưởng bật đèn. Gian phòng tăm tối đột ngột sáng choang, bày ra một không gian rộng gấp ba căn buồng của Hạm Phó. Sự hòa hợp giữa đèn huỳnh quang và màu đọt chuối các vách phát ra độ sáng mát mắt. Tôi mạnh dạn bước vào. Độ lạnh dường như có phần thấp hơn các nơi khác trong lòng tàu. Tôi hít một hơi dài để thêm dũng khí. Mùi khói thuốc thơm dịu. Tôi thấy cần nhớ tên hiệu thuốc hút này để yêu cầu Hưng thay đổi. Tôi quá sợ mùi Bastos khét nghẹt. Ngay bên phải cửa buồng là một cầu thang thẳng đứng dẫn lên một cửa ô có nắp đậy với vòng tròn vặn đóng mở. Ở góc bên trái là một bệ để đèn đọc sách. Liền với bệ đèn là chiếc ghế bành trông thật êm ái. Bên trên là kệ sách dài, đa số là sách khảo cứu, triết học. Một số tiểu thuyết Việt, Anh, Pháp. Tiếp đến là một bàn viết như của Võ Bằng với ba khung hình. Khung ở giữa là hình ông bà Hạm Trưởng với hai con một gái một trai ba bốn tuổi. Bên phải có lẽ là hình đại gia đình. Và bên trái là hình “tân lang tân gia nhân” phía dưới có ghi ngày 17/11/1962. Tôi tính ngỏ lời khen xã giao thì lại phân vân không biết xưng hô thế nào. Gọi là ‘vợ của Thiếu tá’, ‘bà nhà’, ‘phu nhân’? Tôi chọn từ bình dị:
– “Chị quả là đẹp. Không uổng công hai năm đeo đuổi!”
Hạm Trưởng mỉm cười, bước đến đứng cạnh tôi:
– “Vất vả lắm, cô Phượng ơi! Chỉ mong Hạm Phó của tôi không phải cần đến hai năm!”
Để tránh trả lời, tôi nhấc khung hình giữa ngắm nghía rồi kêu lên:
– “Cháu gái giống mẹ quá!”
– “Có ‘gen’ Nha Mân mà!” Hạm Trưởng cười hể hả.
Nhìn nét bụ bẫm của bé gái tôi nghĩ đến tấm hình tương tự của tôi. Ba mẹ tôi cho rọi lớn, treo ở vị trí dễ thấy nhất. Cho tới bây giờ khung hình vẫn ở nguyên vị trí đó. Ba mẹ tôi nói, ngày nào cũng xem hình cho đỡ nhớ. Tất nhiên ông Hạm Trưởng cũng nhớ con mình không kém. Hẳn mỗi ngày ông đều ngồi đây ngắm vợ con. Những khuôn mặt tươi vui của mọi người trong gia đình ông làm tôi rủn chí. Theo Hưng, lính “Ngụy” rất tàn ác, đáng giết từng người. Chứng cớ tàn ác đâu không thấy chỉ thấy tay mình sắp nhuộm đầy máu, chỉ thấy chính mình phá nát ít nhất vài gia đình. Tôi chợt nghĩ đến một phép thử. Tôi đi qua bộ bàn bốn ghế đặt giữa phòng và đứng lại trước chiếc giường. Nếu ông ôm vật tôi để cưỡng bức, tôi sẽ ra tay không tiếc thương. Tôi nhìn ông cười nói:
– “Chiếc giường của Thiếu tá trông ngon lành hơn giường của Hạm Phó!”
Mi mắt ông chớp nhanh, ánh mắt vui tươi, giọng chân tình:
– “Chỉ là bù đắp nhỏ so với trách nhiệm lớn.”
Thấy hai điện thoại trên chiếc bàn thấp bé cạnh đầu giường, tôi gợi ý:
– “Hạm Trưởng đúng là ‘Magister Post Deum’, một mình có đến hai điện thoại. Hẳn ngày nào Hạm Trưởng cũng ‘thả lời ong bướm’ với… phu nhân?”
Ông lắc đầu, cười:
– “Được thế thì còn gì bằng! Nhưng tiếc là cả hai đều dành cho công vụ. Một để liên lạc nội bộ trên tàu. Còn một mang chữ HOTLINE để liên lạc với các bộ tư lệnh Hạm Đội và các vùng. Từ ngữ ‘HOTLINE’ hẳn đủ cho cô hiểu ý nghĩa của nó!”
Thấy ông vẫn lịch sự coi tôi như một ‘khách quý’, tôi xúc động bước qua khu vệ sinh mà tưởng rằng đang bước từ ác cảm qua thiện cảm. Dãy tủ thấp tủ cao không còn hấp dẫn để cất giấu quả bom, trái lại, khung ảnh tràn đầy hạnh phúc bắt đầu ám ảnh. Gian buồng thật tiện nghi, ấm cúng, gọn gàng này hẳn nhiều lần tiếp đón gia đình Hạm Trưởng. Tôi đành lòng nào cho nổ tan tành…
Khi đến cửa ra, tôi chân thành nói:
– “Phòng của Hạm Trưởng trông thấy mà mê! Chừng nào Hải Quân thu nhận nữ giới, tôi xin gia nhập tức khắc…”
Nói xong, tôi mới thấy mình ngớ ngẩn. Vừa muốn chống Mỹ cứu nước, vừa muốn làm lính Ngụy. Tôi lại vừa khám phá mình cũng chẳng còn có chút gì cảnh giác.
– “Cứ cái đà đánh đấm mãi thế này thì chắc cũng đến lúc các cô phải nhập ngũ thôi! Hải Quân một số nước, hiện tại đã có vài nữ Hạm Trưởng rồi.”
– “Thật sao?” Tôi ngạc nhiên kêu lên.
– “Có ra ngoại quốc mới thấy Hải Quân nước mình còn lạc hậu lắm! Hy vọng đời con cháu sẽ làm rạng rỡ Hải Quân Việt Nam.”
Không nghĩ ra lời đối đáp, tôi chỉ chiếc thang thẳng đứng, gợi ý muốn rời buồng:
– “Chiếc thang này dẫn đi đâu, thưa Thiếu tá?”
– “À! Nó đưa lên thẳng Trung tâm Chiến báo và Phòng Truyền tin. Hạm Phó đã đưa cô đến đó?”
– “Thưa rồi.”
– “Vậy thì mình lên thẳng Đài Chỉ Huy, không qua các nơi này.”
Hạm Trưởng đưa tay quay cần ngang và đẩy cửa mở. Tôi bước theo ông ra ngoài, người lâng lâng nhẹ nhõm. Tình huống xấu tôi chờ đợi đã không xảy ra. Những gì tôi đã nghe, trái ngược những gì tôi đang trải nghiệm. Kèm với cảm giác an toàn là niềm cảm kích trước thân tình và tư cách của Hạm Trưởng. Ông có đủ uy quyền và cơ hội áp đặt dục vọng vào tôi nhưng trái lại toàn là những cử chỉ lời lẽ thân ái, ân cần. Tôi vẫn nôn nao theo ông lên Đài Chỉ Huy nhưng không vì tìm nơi đặt bom mà vì muốn nhìn cái vịnh nổi tiếng lịch sử, là nơi trú ẩn tránh bão của đoàn chiến thuyền Nguyễn Ánh trên đường ra Quy Nhơn tử chiến với quân Tây Sơn…
Tiếng hô ‘nghiêm’ nhỏ mà sắc khi Hạm Trưởng đặt chân lên thềm Đài Chỉ Huy. Tên Mỹ và toán đương phiên đồng loạt đưa tay chào. Hạm Trường chào đáp. Đó là hình ảnh lạ và đẹp mắt lần đầu tôi thấy trên đời. Toán trực phiên chào xong, quay lui, nghiêm chỉnh đứng quan sát hướng mũi. Hạm Trưởng thư thả ngồi vào chiếc ghế nệm độc nhất màu nước biển, đưa mắt nhìn bao quát rồi nói với tôi:
– “Cô Phượng có thể đứng ở cánh trái.”
Đó là nơi Võ Bằng đang vẫy tay với tôi. Tôi vui mừng bước đến khoảng trống ngay sau anh chàng. Ở vị trí này tôi có thể quan sát toàn cảnh ngoài biển lẫn sinh hoạt trong Đài Chỉ Huy.
Đài Chỉ Huy có hình chữ nhật nằm ngang bên trên Trung tâm Chiến Báo, bốn bề là vách cao ngang thắt lưng. Các cột quanh bệ, chống đỡ cái nóc che bằng vải bố cùng màu xám đậm có độ cao vừa quá tên Mỹ. Phần trước hình cánh cung với tấm kính trong suốt chắn mưa gió.
Lần đầu đứng trên Đài Chỉ Huy của một chiến hạm, tôi rộn ràng ngây ngất như đang bay trên biển trời mênh mông. Một cảm giác bềnh bồng, lênh đênh theo cơn gió hâm hấp, thơm lành. Vẫn biển xanh bát ngát, vẫn trời xanh lồng lộng mà bỗng dưng vời vợi bao la. Tôi hít thở, hít thở rồi hít thở. Tôi đặt các ngón tay vào môi rồi ‘gửi gió cho mây ngàn bay’. Tình yêu của tôi bung ra ôm lấy mọi người chung quanh, ôm cả chiến hạm…
Mọi hình ảnh trước mắt đều dễ thương. Ở hai đầu kính chắn gió, hai thủy thủ mang ống dòm nghiêm chỉnh quan sát hải trình. Một thủy thủ đứng trước một vòng quay có những trục tủa từ tâm điểm trông y như bánh xe nước mía. Ngay trước mắt anh thủy thủ này là một khối tròn có mặt phẳng kẻ số 0 ở đáy, mỗi bên có vạch cách 5 độ đến độ 35. Một đầu kim hình mũi tên chỉ vào các con số này cho biết độ lệch của bánh lái theo lệnh ban hành. Thiếu úy Văn đứng tựa tay trên thành đài, bên phải ghế Hạm Trưởng. Tên Mỹ khoanh tay đứng bên trái, trông như Hạm Trưởng được hữu bật tả phù. Rải rác đây đó toàn là máy móc, dụng cụ lớn nhỏ tôi mới thấy lần đầu.
Thấy tôi chăm chú ngắm, Võ Bằng giải thích từng món. Trên một bàn trước ghế Hạm Trưởng là tấm hải đồ ven biển kẻ sẵn các hướng đi từ cửa vịnh Quy Nhơn đến cửa sông Lòng Tào. Giữa Đài Chỉ Huy là hai cột trụ, một thấp một cao, trên chóp của cả hai có một bộ phận như cái tô lớn khắc 360 độ quanh vành. Cái thấp là la bàn từ, cái cao là la bàn điện. Mặt tròn của la bàn từ thì đong đưa để tự tìm hướng Bắc địa từ, còn la bàn điện thì cố định, luôn luôn chỉ đúng hướng Bắc địa cực.
Tiếng Hạm Trưởng đột ngột vang lên:
– “Hạm Trưởng nhận quyền chỉ huy!”
Người mà tôi vừa cùng dùng cơm nói cười vui vẻ, vừa thân mật đưa thăm ‘giang sơn’ riêng, giờ đây là kẻ lạnh lùng đưa ra các mệnh lệnh sắc gọn. Mỗi lệnh Hạm Trưởng đưa ra, nhân viên thi hành ‘đáp nhận’ và sau đó xác nhận đã thi hành. Cây kim trước người lái đang chỉ số 0 qua số 5 đến số 10 bên phải. Chiến hạm từ từ quay mũi thẳng góc với bờ. Cây kim quay dần về số 0. Anh thủy thủ lái tàu nói to:
– “Đường 280.”
Võ Bằng nói nhỏ với tôi:
– “Không giống như vịnh Quy Nhơn chỉ một cửa với nửa vòng bên trái của vịnh là bãi cát, làng mạc, nửa kia là dãy núi liền với biển, vịnh Cam Ranh được bao bọc bằng vòng cung núi cao, án ngữ bởi đảo Bình Ba chia thành hai cửa ra vào. Chiến hạm đang hướng vào cửa lớn. Tiếng Hạm Trưởng:
– “Thiếu úy Văn nói phòng Truyền tin liên lạc Duyên Đoàn 26 cho ghe đón Hạm Trưởng vào bờ.”
Thiếu úy Văn bước đến một miệng loa có ống dẫn xuống bên dưới. Anh lặp lại lệnh Hạm Trưởng. Tôi nghe tiếng đáp cũng phát từ miệng loa:
– “Phòng Truyền tin đáp nhận hành.”
Phải mất gần nửa giờ chiến hạm mới đến ngang cửa vịnh. Từ cửa nhìn vào, vịnh có dạng một thảm xanh hình tròn long lanh phản chiếu nắng chiều. Vô số ghe không mui, không người dọc mé bờ bên trái. Hai ghe ngoài cùng có cặp chèo gác xuôi. Trên bãi là những chiếc thuyền thúng trơ trọi phơi mình. Cao hơn, sườn núi hình cánh cung hoang vu xám xịt, lem luốc. Bầu trời như xanh hơn trên các đỉnh chập chùng. Một cụm mây có đường viền rực sáng vắt ngang. Rải rác giữa vịnh, một số thương thuyền bề thế im lìm như say ngủ. Dọc theo bờ phải là bãi cát vàng trải dài nối liền vùng cây xanh cuối vịnh ẩn hiện xóm làng.
Con tàu chậm chạp hướng về bờ phải, hiện rõ dần nhiều tàu quân sự đang ủi bãi và bốn thương thuyền khổng lồ chiếm bốn chiếc cầu dài thẳng góc với bờ. Trên mỗi thương thuyền, vô số thùng chứa cồng kềnh chồng chất suốt mũi đến tận lái. Chạy dọc trên khu bãi là con đường nhựa bận rộn đủ loại xe. Bên kia đường, từng cặp ba dãy nhà tiền chế nằm cạnh nhau lúc theo chiều dọc, lúc chiều ngang. Trên các lối đi hẹp, thỉnh thoảng có những dáng người di chuyển. Xa hơn, một chiếc trực thăng vừa đáp tung bụi trắng trời, một chiếc còn vần vũ. Xa hơn nữa, một phi cơ màu nâu loang lổ đang phóng mũi lên vùng trời nhiều mây. Ông Hạm Trưởng đưa tay chỉ cho Hạm Phó:
– “Hai ngôi nhà ngói đỏ là khu Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Một để đào tạo Người Nhái, một cho Hạ sĩ quan và Thủy thủ chuyên nghiệp. Chúng ta nhân tiện ghé viếng thăm, biết đâu tôi và Hạm Phó sau này mỗi người điều hành một trường!”
Tôi cố nhướng mắt theo tay chỉ của ông. Xa bên trên các mái ngói đỏ là một trụ ăng-ten cao lêu nghêu, đơn độc. Lệnh Hạm Trưởng vang lên:
– “Nhận còi nhiệm sở neo.”
Anh Hạ sĩ đưa ngón tay nhấn một nút trên vách. Nhiều tiếng còi te tít vang lên. Hạm Trưởng quay sang nói với Võ Bằng:
– “Hạm Phó xuống kiểm soát neo và chờ tôi ở sân giữa.”
Tôi nhìn theo dáng Bằng thấp dần trên cầu thang. Mãi đến lúc này tôi mới thấy chiếc chiến thuyền có dạng ghe đánh cá, mui màu xám đậm với hai gạch chéo màu vàng đang chạy song hành cùng tàu. Một thủy thủ đứng cùng với khẩu súng bắn dây ở mũi, hai người đứng phía sau cùng hai khẩu bên hông. Các nòng súng được bọc kín và chĩa thẳng lên trời. Thấy tôi từ Đài Chỉ Huy nhìn xuống, tất cả nồng nhiệt vẫy tay với vẻ ngạc nhiên. Tôi cũng nồng nhiệt vẫy tay đáp lễ.
Khi chiến hạm tiến ngang dãy cầu tàu, Hạm Trưởng ra lệnh ngừng máy. Con tàu tiếp tục lướt tới nhưng chậm dần. Hạm Trưởng ra lệnh ‘máy lùi’ rồi ‘máy ngưng’. Mãi khi con tàu còn trớn lùi thật chậm, ông mới ban lệnh thả neo. Tôi nhìn dây neo tuôn khỏi trục quấn và chạy luồn qua một ô tròn ở gần mũi, nơi Trung sĩ Hoàng kiểm soát sáng nay. Tôi nghe nhân viên âm thoại báo cáo dây neo xuống nước từng đoạn 30 feet. Khi nghe đến số 210, ông cho lệnh ngừng thả. Tôi chợt có cảm giác người bị giật nhẹ, cùng lúc tôi cũng nhận ra lái tàu tạt dần qua trái rồi hướng cố định vào đám ghe câu. Sợi dây neo nghiêng dài trên mặt nước. Khi được báo cáo neo đã cắn, Hạm Trưởng nói ‘giải tán’ rồi bảo Thiếu úy Văn:
– “Hãy canh gác cẩn thận, không cho ghe xuồng gần tàu. Báo Phòng Truyền Tin cho một nhân viên mang PRC-25 theo tôi vào bờ. Nghi ngờ neo trốc, gọi Trung úy Cang và báo tôi ngay.” Ông quay sang tôi, tiếp lời: “Cô Phượng có thể ở trên đây ngắm cảnh, nếu muốn. Gặp lại cô sau.”
Ông hất mặt nói với tên Mỹ còn đứng xớ rớ ôm chiếc la bàn từ:
– “Go with me, Rick.”
– “Aye aye, Sir.”
Tiếng “sir” rõ ràng được phát ra mạnh, dứt khoát, biểu lộ sự tôn kính. Hạm Trưởng rời ghế, bước về phía cầu thang. Thiếu úy Văn hô “Nghiêm”. Các nhân viên và tên Mỹ đứng thẳng người đưa tay chào tiễn Hạm trưởng rời đài chỉ huy. Tôi phát giác mình cũng đang đứng thế nghiêm như mọi người. Khi Hạm Trưởng đặt bước chân lên nấc thang đầu tiên, Thiếu úy Văn hô “Nghỉ”. Đến lúc đó tên Mỹ mới bước theo Hạm Trưởng. Cả hai hướng về mũi tàu nơi Bằng đứng đợi. Bên hông phải, một chiếc chiến thuyền đang nhẹ nhàng cập vào. Bằng nhảy phóc từ tàu lên mui ghe. Tên Mỹ nhảy nối tiếp. Khi Hạm Trưởng ở tư thế sẵn sàng rời tàu, tiếng còi te-tí-tí-te vang lên từ anh Giám lộ đứng trước tôi. Khi ghe tách khỏi tàu, anh ngưng thổi và vói tay kéo lá cờ tam giác trắng có lằn đen nằm giữa, nhỏ cỡ một phần tư.
Một lần nữa tôi thấy hụt hẫng. Tôi có cảm tưởng Võ Bằng rời tàu mang theo cả “điểm tựa” của tôi. Tôi tự hỏi vì sao mình không xin đi theo. Rồi tự trả lời, nếu đi được, Hạm Trưởng đã cho phép…
Tôi nhìn theo chiếc chiến thuyền chở Bằng mỗi lúc một rời xa, bỏ lại tôi với năm người chỉ quen một. Cũng may Thiếu úy Hoàng Văn là người năng nổ và vui tính.
Tôi quyết định gọi là ‘anh’ thay vì ‘Thiếu úy’ cho thân mật, hy vọng anh bộc bạch nội tình.
– “Chào anh Hoàng Văn, tiếng còi và lá cờ vừa kéo lên có ý nghĩa gì vậy?”
– “Đó là hiệu còi tiễn Hạm trưởng rời tàu; còn lá cờ là hiệu kỳ của Hạm Trưởng, khi nó được treo lên, có nghĩa là vị chỉ huy của nó không có mặt trên chiến hạm.”
– “A, hay ho đấy!”
– “Nhưng ngược lại,” Hoàng Văn tiếp, “khi cô thấy hiệu kỳ của Đô Đốc thì có nghĩa vị này đang hiện diện trên tàu!”.
– “Ngộ quá hả! Mà hiệu kỳ Đô Đốc ra sao?”
– “Nó có hình chữ nhật nền xanh điểm các ngôi sao trắng, nhiều ít tùy cấp bậc. Nó cũng là hiệu kỳ của Thuyền Trưởng tàu buôn. Cô thử nhìn quanh các thương thuyền xem có chiếc nào treo loại cờ đuôi nheo này không?”
Thiếu úy Văn đưa tôi chiếc ống dòm. Tôi bước sang thành đài bên phải, ngắm chiếc neo chếch mũi chiến hạm:
– “Chiếc đầu tiên, không thấy treo hiệu kỳ Thuyền Trưởng; chỉ thấy quốc kỳ Việt Nam và lá cờ ba sọc vàng xen kẽ ba sọc xanh. Đó là cờ nước nào vậy?”
– “Nó dạng hình vuông và nhỏ chừng một phần tư cờ Việt Nam, đúng không?”
– “Đúng!”
– “Đó không phải là cờ quốc gia. Đó là hiệu kỳ chữ G, phát âm Golf, mang ý nghĩa là cần hoa tiêu. Tức là thương thuyền đó đã dỡ hàng xong, muốn có hoa tiêu hướng dẫn ra khỏi hải cảng. Khi đến, cũng vậy, thương thuyền phải neo ngoài vịnh, phải treo hiệu kỳ này và chờ hoa tiêu đưa vào. Khi đã có hoa tiêu trên tàu thì phải treo cờ chữ H, đọc Hotel. Khi tàu trong hải cảng, cờ quốc gia treo sau lái. Ngắm xem cờ sau lái là cờ nước nào?”
– “Tôi dốt về cờ các xứ lắm!”
Hoàng Văn nâng ống dòm:
– “Cờ Trung Hoa Dân Quốc, nói gọn là Đài Loan. Còn chiếc tàu kế treo cờ ra sao?”
Tôi quét ống dòm qua bên tay mặt:
– “Chiếc này, ngoài cờ Việt Nam, nó treo cờ đỏ sẫm.”
– “Đó là cờ hiệu chữ B, đọc Bravo, cùng cỡ với cờ chữ Golf, nhưng cạnh ngoài bị gãy vào trong. Nó mang ý nghĩa là tàu đang chở hàng nguy hiểm, như đạn dược, xăng dầu. Khi thấy cờ này, không nên đến gần. Tiếp tục với các chiếc còn lại.”
– “Hai chiếc kế tiếp đều treo hiệu kỳ Thuyền Trưởng cạnh cờ vàng ba sọc đỏ. Chiếc gần chiến hạm nhất, thay chỗ hiệu kỳ Thuyền Trưởng là lá cờ vuông, mỗi cạnh kết hợp với hai đường chéo thành bốn tam giác có đỉnh chụm vào nhau. Mỗi tam giác một màu: đen, vàng, xanh, đỏ.”
Thấy Hoàng Văn im lặng hơi lâu, tôi nhắc:
– “Cờ tứ sắc đó có nghĩa là gì?”
– “Nhìn từ mọi góc cạnh, không một lý do hợp lý nào cho thấy cô cần biết ý nghĩa những hiệu kỳ rắc rối này.”
– “Tôi thấy nó hay hay.” Tôi chống chế:
– “Chắc tại vì… Hạm Phó?” Hoàng Văn soi mói nhìn.
– “Hạm Phó thì có dính dáng gì đến cờ xí!” Tôi bực bội.
– “Nếu quả thật cô thấy hay hay thì tôi tiếp tục! Lá cờ gồm bốn tam giác bốn màu chụm đầu là cờ chữ Z, đọc Zulu, mang ý nghĩa là ‘cần tàu kéo’. Tức là chiếc thương thuyền này vận chuyển khó khăn, cần một tàu kéo giúp sức.”
– “Trời ơi! Cờ quạt gì mà ý nghĩa tùm lum quá, làm sao nhớ hết!”
Hoàng Văn nhìn tôi cười tủm tỉm:
– “Chúng tôi có cách để nhớ. Thí dụ như với cờ màu đỏ Bravo. Chắc cô còn nhớ ý nghĩa của nó phải không?”
Tôi muốn khoe mình cũng là tay nhớ dai, đáp nhanh:
– “Nhớ chứ! Ý nghĩa là tàu chở hàng hóa nguy hiểm, chớ lại gần.”
– “Cách tôi nhớ ý nghĩa cờ Bravo là liên tưởng đến các cô… treo cờ đỏ!”
– “Cái anh này!” Mặt tôi nóng bừng.
– “Có một cờ hiệu mà tôi nghĩ là cô nhớ dễ dàng. Đó là cờ chữ O, đọc Oscar, mang ý nghĩa “có người rơi xuống biển.” Người ta chọn mẫu tự O là từ chữ Overboard. Cờ này có màu nửa vàng nửa đỏ theo đường chéo xuôi.”
Nhớ lời dặn buổi sáng sàn tàu trơn trợt, tôi tò mò:
– “Ví dụ tôi bị rơi thật thì làm sao các anh biết?”
– “Làm sao biết? Cũng dễ, chỉ sớm hay muộn thôi! Sớm thì như cô thấy, chúng tôi luôn luôn có nhiều người quan sát trên đài chỉ huy và người đi tuần phòng quanh chiến hạm. Trễ thì khi không thấy cô ở bữa ăn, không thấy cô trong phòng ngủ và khi cho gọi máy, cho người đi tìm cũng không thấy.” Hoàng Văn hạ giọng như sợ có ai nghe. “Mà cô việc gì phải lo. Trường hợp cô bị rơi thật, bất cứ giá nào Hạm Phó cũng đích thân tìm cứu cô cho bằng được.”
Tôi nghiêm giọng:
– “Sao ai trên tàu cũng gán tôi với Hạm Phó. Chúng tôi chỉ mới biết nhau, cũng như tôi quen anh”.
Hoàng Văn cười, ánh mắt tinh quái:
– “Vậy thì tôi rất vui để tiếp tục. Chuyện ‘người rơi xuống biển’ là chuyện sinh mạng con người, không chỉ trách nhiệm riêng nội bộ chiến hạm mà còn là một nghĩa vụ quốc tế. Tàu có nạn nhân buộc phải thông báo cho quốc gia lân cận để họ điều động phi cơ, tàu bè đến tiếp cứu.”
– “Rắc rối thật!”
– “Không chỉ rắc rối mà còn… tức cười nữa! Thí dụ có một thương thuyền nào đó treo lá cờ chữ W, đọc là Whiskey. Nghe chữ whiskey hẳn cô nghĩ ngay đến rượu nhưng cờ Whiskey không có nghĩa là họ cần tiếp tế rượu mà lại có nghĩa là ‘Cần thuốc men, y tế’. Lại thí dụ có một tàu khác treo cờ chữ T đọc là Tango. Treo cờ này, không có nghĩa tàu đó đang mở dạ vũ Tango, mà là muốn cảnh báo ‘Tôi đang cào cá, xin đừng qua mặt’.”
– “Hay ho thật đấy! Nhưng… sao phải treo cờ làm gì cho rắc rối. Cứ nói chuyện trực tiếp có phải nhanh chóng, tiện lợi hơn không?”
– “Cho dù các nước đồng ý thống nhất dùng tiếng Anh làm tiếng quốc tế thì vẫn không như cô tưởng. Mỗi người một cách phát âm, lại qua máy truyền tin thì khó nghe cho rõ. Cứ phải hỏi tới hỏi lui có khi… quá muộn! Cho nên, dùng cờ hiệu là ăn chắc. Trông thấy cờ là biết đối phương muốn nói gì.”
– “Nhưng hiểu ý nghĩa trọn 26 cờ mẫu tự thì chắc … khùng luôn!”
– “Nếu chỉ có 26 cờ mẫu tự thì dễ như… ăn cơm. Chúng tôi còn phải học ý nghĩa của sự kết hợp hai, hoặc ba, hoặc bốn mẫu tự với nhau. Thí dụ như kết hợp chữ N và chữ C – N treo trên C – để báo rằng ‘tàu tôi đang lâm nạn, xin tiếp cứu’. Lại có cờ mang ý nghĩa qua sự kết hợp các màu. Có cờ toàn màu trắng, có cờ nửa đỏ nửa trắng. Có cờ toàn màu vàng, có cờ nửa vàng nửa đen. Có cờ gồm ba màu như cờ Pháp. Có cờ ba màu theo thứ tự ngược cờ Pháp. Có cờ có tới bốn màu. Rồi mỗi màu lại có dạng hình tròn, hình vuông, tam giác, lằn ngang, lằn dọc, gạch chéo…”
– “Trời! Làm sao các anh nhớ hết!”
– “Không nhớ thì không là… Hải Quân!”
Thấy tôi lè lưỡi, Hoàng Văn cười to:
– “Đó chỉ mới một nửa rắc rối thôi cô Phượng ạ! Bởi vì hiển nhiên cờ xí thì chỉ dùng ban ngày, khi trời quang mây tạnh, đến đêm hay gặp thời tiết xấu, coi như vô ích! Lúc đó, phải dùng đèn hiệu và còi hiệu. Ý nghĩa muốn truyền đạt là sự kết hợp của ánh đèn chớp tắt, hoặc của tiếng còi ngắn dài. Như trường hợp có người té xuống biển ban đêm: tàu phải phát thường xuyên những tiếng còi S.O.S và trên cột đèn phải bật một đèn xanh giữa hai đèn đỏ cách nhau một mét.”
– “Ôi trời! Có cho vàng tôi cũng không đi Hải Quân!” Tôi ta thán.
Hoàng Văn tươi cười:
– “Tôi hù cô Phượng cho vui thôi chớ đến Thánh cũng không nhớ hết! Yêu nghề lắm thì cũng chỉ nhớ những lá cờ mang ý nghĩa thường gặp. Còn thì tàu nào cũng có quyển ‘hải thư’ the International Code of Signals. Chỉ cần nhớ mục lục tổng quát để tìm ý nghĩa cho lẹ.”
Hoàng Văn bước đến bàn hải đồ, kéo hộc tủ lấy ra một quyển sách tương đối mỏng. Anh lật nhanh cho tôi xem trang nào trang nấy toàn cờ là cờ, màu là màu. Tôi nói:
– “Có một lần tôi đi dạo bến Bạch Đằng vào dịp lễ húy nhật Thánh Tổ Hưng Đạo Đại Vương, tôi thấy cờ đủ kiểu đủ màu treo rợp trời. Ý nghĩa ra sao?”
– “Chỉ nêu ý nghĩa đây là lễ của Hải Quân, cũng như thêm phần long trọng, đẹp mắt!”
Không biết hỏi gì hơn, tôi tò mò lấy ống dòm ngắm các lá cờ treo trên mỗi con tàu trong vịnh. Chỉ ba chiếc là treo cờ ‘cần hoa tiêu’. Đặc biệt tất cả đều treo cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi ngạc nhiên hỏi:
– “Anh Hoàng Văn, không thấy có tàu Mỹ ở đây. Chỉ thấy toàn là tàu Việt Nam. Tôi nghe nói Mỹ đã mua đứt Cam Ranh rồi mà!”
– “Hơi đâu mà nghe Cộng Sản tuyên truyền! Cô hiện ở ngay trong vịnh, hãy tự quan sát. Cô thấy có gì chứng tỏ Cam Ranh thuộc về Mỹ?”
– “Tôi không thấy dấu vết chủ quyền của Mỹ.”
– “Còn dựa vào đâu cô bảo đều là tàu Việt Nam?”
– “Tàu nào cũng treo cờ Việt Nam Cộng Hòa.”
– “Tàu treo cờ Việt Nam Cộng Hòa không hẳn là tàu của Việt Nam Cộng Hòa. Luật Hàng Hải quy định rằng tàu ngoại quốc nào hoạt động trong các hải cảng Việt Nam Cộng Hòa đều phải treo cờ Việt Nam Cộng Hòa và phải có hoa tiêu Việt Nam hướng dẫn vào cảng. Hầu hết thương thuyền đều có hai cột cờ. Cột cờ thấp ở lái, cột cờ cao ở giữa. Khi tàu ngoại quốc vào hải cảng, quốc kỳ của tàu đó phải hạ xuống treo ở cột lái, còn quốc kỳ của nước sở tại được kéo lên ở cột cờ giữa. Đó là lý do cô thấy tất cả các thương thuyền đều treo cờ Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó chứng minh Cam Ranh vẫn là Cam Ranh của Việt Nam. Ngay với chiến hạm này, nếu Cam Ranh thuộc chủ quyền của Mỹ, chúng ta phải neo ở ngoài chờ hoa tiêu dẫn vào. Cờ Việt Nam phải treo sau lái và cờ Hoa Kỳ phải treo giữa. Nhưng thực tế cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn treo cao và chiến hạm nghênh ngang ra vào, đâu cần hoa tiêu.”
Tôi đặt ống dòm nhìn vào các cột cờ sau lái của các tàu hiện diện trong vịnh. Đa số là cờ sao sọc. Có một chiếc cờ Nhật. Một số khác, không rõ cờ nước nào. Đúng là tất cả đều treo cờ vàng ba sọc đỏ ở vị trí cao nhất. Tôi hết nhìn Thiếu úy Hoàng Văn, lại nhìn các thủy thủ đương phiên. Nhìn rộng hơn, rõ ràng người đang chỉ huy chiến hạm này là một Thiếu tá người Việt, thủy thủ đoàn đều là người Việt. Một thực tế hiển nhiên. Cũng hiển nhiên như suốt thời gian xuống tàu đến giờ, tôi chưa từng nghe một mệnh lệnh nào của tên Mỹ, chỉ nghe hắn ‘aye aye, sir.’
Nhưng… biết đâu chừng thấy vậy mà không phải vậy! Tôi vẫn còn ít nhất 24 tiếng nữa để quan sát và xem xét tận tường. Chế tạo được một quả bom không phải là chuyện dễ dàng. Mang được quả bom xuống tàu lại là cả một gian nan. Hưng có thể chủ trương ‘Thà giết lầm còn hơn bỏ sót!’. Tôi chỉ muốn giết đúng người đáng chết.
(Còn nữa)