Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 3 (kỳ 3)

0 bình luận ♦ 13.04.2026

Đời Thủy Thủ 3  kỳ 3_EDITED

Chương 11

ĐƯỜNG VỀ HÒN TRE

Cơn mưa đã bớt hạt nhưng lá cờ còn phần phật gió. Võ Bằng đăm chiêu nhìn chiếc ngư thuyền dập dềnh như một bóng ma giữa biển đêm. Trên sân trước, mấy thân người lờ mờ khi ánh chớp lóe lên. Anh nhìn quanh tìm chiếc không khám xét được. Nó đã mất dạng.

Anh hít một hơi dài. Điều hẳn nhiên: bằng mọi giá phải cứu họ. Nhưng cách nào? Nhờ cố vấn gửi trực thăng thì chiến hạm không sân đáp. Trời đang mưa, hẳn nhiên họ không cần nước. Chỉ cần thức ăn. Giải pháp tạm thời là tiếp tế thức ăn và dòng tàu họ vào bờ.

Anh hỏi Hạm phó:
– Anh Tiến, tàu mình còn bánh mì không?
– Thưa Hạm trưởng, tôi tin là còn.
– Vậy chuẩn bị bốn ổ, mỗi ổ rắc vài muỗng đường, bọc kín bằng bao nylon. Đồng thời bảo nhà bếp nấu nồi cháo thịt.
– Nhận rõ.
– Tàu mình có súng bắn dây?
– Thưa có.
– Sẵn sàng súng rồi soạn công điện: “Một tàu đánh cá hư máy, trôi giạt mười ngày. Ba ngư dân bất tỉnh, một kiệt sức, cần cứu cấp. Xin chỉ thị.”
– Rõ.

Hạm phó rời đài chỉ huy. Võ Bằng nhìn đồng hồ, 23:05. Còn ít nhất sáu tiếng nữa trời mới sáng. Anh nói lớn với giám lộ giữ đèn pha đặt cao bên ngoài đài chỉ huy:
– Đạt, em đi thay quần áo, mặc áo mưa rồi trở lên đây.
– Cám ơn Hạm trưởng.

Võ Bằng đứng khoanh tay, nghe tiếng sóng vỗ mạn tàu mà nhớ tiếng sóng vỗ bờ An Thới. Như Oanh về Sài Gòn gặp lại Vinh, chắc đã quên anh, quên duyên hải. Nhưng sao giờ chót nàng xưng “em”?
Anh vô tuyến trao Võ Bằng công điện Vùng 4: “Quý chiến hạm cứu cấp và đưa tàu đánh cá về Hòn Tre bàn giao cho Duyên Đoàn. Xong, trực chỉ Bà Lụa. Báo cáo nhận hành.”

Tiếng còi nhiệm sở vận chuyển nổi lên. Các nhân viên túa lên boong. Giám lộ viên bật đèn pha, luồng sáng đâm thủng màn mưa, soi rõ chiếc ngư thuyền vẫn với bốn người bất động. Võ Bằng nói với hạ sĩ quan đương phiên:
– Anh Vạn thủ khẩu đại liên, phản pháo tức khắc khi bị bắn.
– Nhận rõ.

Võ Bằng cho lệnh vận chuyển chiến hạm tiến gần tàu đánh cá. Anh cầm loa:
– Tàu đánh cá. Chúng tôi tiếp tế thức ăn. Sẵn sàng tiếp nhận.

Một người lồm cồm ngồi dậy. Võ Bằng ra lệnh:
– Hạm phó cho bắn dây.
Sau tiếng nổ nhỏ, đầu dây và bọc bánh mì vụt qua ngư thuyền. Võ Bằng nói vào loa:
– Tàu đánh cá. Sau khi nhận thức ăn, hãy kéo dây nylon buộc chặt vào trụ. Chúng tôi sẽ dòng tàu các anh về Rạch Giá.
– Đội ơn các ông.
– Cố gắng ăn để lấy sức. Sáng mai tới Hòn Tre sẽ có thêm.

Khi được báo dây đã buộc chắc chắn và ngư thuyền lềnh bềnh sau lái chiến hạm, Võ Bằng cho tiến về hướng Đông. Anh thảo công điện: “Trân trọng báo cáo. Bắt đầu kéo ngư thuyền về Hòn Tre.”
Anh trở lại ghế ngồi. Từng cơn gió tạt qua, mang theo sương khuya và mùi biển. Anh nhắm mắt, hít thở thật sâu. Cơn mỏi mệt dịu đi phần nào. Anh nhìn quanh. Cố vấn Mỹ vẫn âm thầm đứng bên anh, mà vì bận rộn anh quên phứt. Cố vấn nói tiếng Việt pha Mỹ:
Sir, tôi có tin thêm về fishing boat ngoài Hòn Thổ Châu.

Võ Bằng nghiêng đầu:
– Tôi đang nghe.
Cố vấn xổ một tràng tiếng Mỹ:
– Không tuần cho biết suốt tuần qua nó lẩn quẩn ngoài khơi lãnh hải quốc tế. Nghi ngờ nó chờ dịp thuận tiện để xâm nhập vùng Cà Mau, như chiếc vừa bị tiêu diệt ở Vàm Kim Quy. Đệ thất Hạm đội đã thông báo Vùng 4 Duyên hải. Được biết chiếc tuần dương hạm HQ 004 đang trên đường đến Thổ Châu. Hạm trưởng có nhận lệnh gì không?
Võ Bằng đáp chầm chậm tiếng Việt:
– Không. Theo tôi đoán, Bộ Tư Lệnh không muốn tôi bỏ trống vùng trách nhiệm. Họ tin một mình HQ 004 cũng đủ sức đối phó.

Cố vấn Mỹ gật đầu, không nói gì thêm. Võ Bằng dựa lưng vào ghế, nhắm mắt định thần. Anh cần một giấc ngủ ngắn nhưng giấc ngủ không đến. Ba ngư dân nằm sóng soải chập chờn trong tâm não. Anh hy vọng họ còn đủ sức về đến bờ, vào bệnh viện. Anh cũng hy vọng biển sớm lặng êm để có thể chuyển họ sang chiến hạm, đưa vào lòng tàu cho y tá săn sóc.

Ước vọng của anh dường như thấu đến Ngọc Hoàng, trời đột ngột ngưng mưa. Sóng gió dịu dần. Không gian sáng đủ trông thấy nửa vầng trăng. Nhưng mãi hai tiếng sau gió mới lặn và biển mới êm hẳn.
Nhiệm sở vớt người ban hành. Võ Bằng ra lệnh tháo dây kéo và các lệnh cần thiết đưa chiến hạm cặp vào ngư thuyền. Giám lộ viên rọi đèn pha. Cả bốn ngư dân đều nằm trên sàn. Võ Bằng không hiểu vì sao họ phải nằm dưới mưa mà không ở trong lòng tàu. Tàu chìm, ở đâu, đằng nào cũng chết. Anh đoán chừng họ ở ngoài để kêu cứu đến kiệt sức. Không biết bên trong có còn ai khác?

Toán vớt người thả các trái độn dọc theo hữu hạm để giảm sức va chạm. Bốn nhân viên mang băng ca nhảy qua ngư thuyền chuyển ba ngư dân về chiến hạm. Xong xuôi, chiến hạm tách ra và tiếp tục kéo ngư thuyền. Võ Bằng ghi tóm tắt sự việc vào Nhật ký Hải hành rồi giao quyền chỉ huy cho sĩ quan đương phiên.

Anh rời đài chỉ huy cùng cố vấn xuống thăm hỏi ngư dân. Họ còn quá yếu để trả lời các câu hỏi. Một người cố nắm tay Võ Bằng, thì thào không thành lời. Anh thông báo là họ đang được đưa về đất liền. Cháo thịt sẽ cung cấp nếu họ có thể ăn. Ánh mắt họ lấp lánh như tỏ niềm biết ơn.
Anh về buồng riêng, tắm rửa, thay bộ quân phục rồi… ngả lên giường. Từ khi đảm nhận chức vụ Hạm trưởng, Võ Bằng không dám thay đồ ngủ. Khi bị đánh thức, có nghĩa là anh không đủ thì giờ mặc lại quân phục. Bắn chậm thì chết mà! Quá mỏi mệt, anh thiếp đi cùng hình bóng Huỳnh Như Oanh…

***

Cửa đổ bộ hải vận hạm mở ra. Trung đội địa phương quân túa lên đảo Hòn Lớn – Nam Du mở cuộc lục soát du kích Việt cộng. Anh và nàng tiếp bước. Rừng dừa xanh ngút ẩn hiện vài chục mái tranh. Nối với rừng dừa là rừng xanh phủ kín như ở An Thới. Hai đứa trẻ chơi cát đứng lên, khoanh tay cúi chào. Như Oanh xoa đầu, khen ngợi.
Hai người dừng trước gian nhà tỏa mùi nước mắm thơm lừng. Cụ già râu dài bạc phơ niềm nở mời vào. Nhà ba gian rộng rãi. Bàn thờ Phật trang nghiêm ở gian giữa. Họ được thết đãi nước dừa. Cũng lạ, dừa ven biển mà ngọt lịm.

Như Oanh nói:
– Thưa cụ, cụ ở đây chắc lâu lắm rồi?
– Từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ.
– Thưa cụ, cháu thắc mắc về tên đảo Nam Du, do đâu mà có?
– Ông nội tôi kể, xưa Nguyễn Ánh bôn tẩu, từng ghé đây và khen: “Nam du sơn thủy tuyệt mỹ”. Từ đó đảo mang tên Nam Du. Có một truyền thuyết kể một nàng tiên từ trên thiên đình du hành trần gian rồi đem lòng yêu một chàng chài lưới đảo này. Họ hạnh phúc sống bên nhau…
Không hẹn, Võ Bằng và Như Oanh nhìn nhau, mỉm cười. Anh nói:
– Hay là chúng ta ở lại đây luôn. Không về tàu nữa?
Nàng nguýt anh rồi quay lại cụ già:
– Thưa cụ, có phải sau một thời gian, nàng tiên đưa chàng trai về thiên đình trình diện Ngọc Hoàng?
– Được vậy còn nói gì! Một ngày nọ một con rồng biển nổi lên quấy phá dân đảo. Nàng tiên hóa thành rồng đánh lại. Hai con rồng đánh nhau mấy ngày đêm, cuối cùng nàng tiên thua, hóa thành đá. Đến nay vẫn còn tảng đá mặt người nhìn ra biển.
Như Oanh thích thú uống cạn nửa ly nước dừa rồi hỏi thêm:
– Thưa cụ, ngoài Hòn Lớn, các đảo khác đều có tên kèm theo truyền thuyết hay huyền thoại như Hòn Lớn?
Cụ già vuốt râu cười vang:
– Lâu lắm mới gặp một người tò mò giống tôi thuở nhỏ. Đúng! Các đảo đều có tên. Dân gian có bài vè về tên các quần đảo Nam Du.
Rồi cụ cất giọng ngâm nga:

Hòn Mấu đâm thấu Đô Nai
Đô Nai quay sang Bờ Đập
Bờ Đập tấp lại Hòn Lò
Hòn Lò mò đến Hòn Ngang
Hòn Ngang tạt sang Hòn Đụng
Hòn Đụng cụng vào Hòn Dầu

Cụ dừng lại hớp trà. Như Oanh khen giọng cụ ấm. Cụ thích chí ngâm tiếp:

Hòn Dầu nằm chầu Bỏ Áo
Bỏ Áo tháo ngược Hòn Ông
Hòn Ông dông đến Hòn Dâm
Hòn Dâm đâm thẳng Hòn Tre
Hòn Tre te đến Hòn Mốc
Hòn Mốc xốc lại Hòn Nhàn
Hòn Nhàn tràn thẳng hòn Hàn
Hòn Hàn quàng cổ Hòn Nồm
Hòn Nồm chồm lên Hòn Khô
Hòn Khô nhào vô bãi Chệt
Bãi Chệt lết lên Hòn Lớn..
.

Cụ dừng lại vấn thuốc hút, uống ngụm trà. Như Oanh mắt long lanh:
– Xin cụ vui lòng ghi lại cho cháu bài vè này.
Cụ già nói “được” rồi từ tốn tiếp:
– Còn về giai thoại các đảo, nhiều quá nên tôi nhớ không hết. Cho nên biết gì nói nấy. Ngày xưa có một ông già nghèo dắt bốn đứa con ra Hòn Mấu lập nghiệp. Lớn lên các con lần lượt ra riêng ở trên bốn đảo vây quanh Hòn Mấu, như là con cháu quây quần. Vì vậy nhóm đảo có tên Đảo Con Cháu.

Võ Bằng lên tiếng:
– Tên nghe thật ý nghĩa.
– Truyện kể có một bà ôm con xuống ghe ra đảo trốn bọn cướp. Bọn cướp đuổi theo. Ghe bà đến Hòn Ngang thì va vào đá bị chìm. Ngư dân vớt được hai mẹ con nhưng đứa bé sống, bà thì chết. Dân chài lập miếu thờ cầu an, nhang khói không dứt.
Cụ rót trà vào tách, hớp vài hớp rồi tiếp:
– Hòn Lớn còn một tên khác là Hòn Củ Tròn đặt tên theo hình dạng. Đảo có huyền thoại Cổng Trời, nơi giao tiếp giữa người và tiên. Vào những đêm trăng sáng, ngư dân thấy những bóng dáng bước ra từ một vách đá nứt đôi đi thăm dân đảo. Tôi chỉ nhớ bao nhiêu đó. Tuy nhiên nếu cô cậu muốn nghe chuyện ma…

Như Oanh nhanh nhẩu:
– Cháu rất thích.
Võ Bằng gật đầu:
– Mời cụ kể
– Hòn Mấu là đảo hoang, không người ở, dân đánh cá vẫn đồn đại rằng đêm đêm vẫn thấy ánh đèn lập lòe. Họ tin rằng đó là hồn những thuyền viên bị đắm tàu về thắp đèn dẫn đường cho tàu thuyền. Ngư dân còn kể chuyện, có những chiếc “ghe âm phủ” sơn đen không số thường xuất hiện khi có sương mù chở linh hồn ngư dân mất tích…

Như Oanh kêu lên:
– Xin ngưng. Nghe ghê quá.
Cụ già lại vuốt râu:
– Sợ chuyện ma thì kể chuyện thần biển. Truyện Kiều có câu: “Mụ nghe nàng nói hay tình. Bấy giờ mới nổi tam bành mụ lên”. “Tam Bành” của dân gian là Hỷ Bành: vui quá mức, Nộ Bành: giận mất lý trí, Ai Bành: u sầu mê muội. “Tam Bành” của ngư dân Nam Du là ba vị thần biển. Bành Cấm: nguyền rủa những ai đánh bắt cá vào mùa sinh sản; Bành Hại: trừng trị kẻ giết cá voi, rùa biển, phá rạn san hô; Bành Tận: ám hại người đánh bắt cá bằng mìn, thuốc độc. Nhờ ai nấy đều tin tưởng nên hải sản vùng này dồi dào.

Võ Bằng chắp tay:
– Cụ chắc đã trên 70 mà còn nhớ được vậy là đáng nể lắm. Sau này, cháu chỉ mong được như cụ.

Hai người từ giã nhưng ông cụ mời sang khu làm nước mắm. Gian nhà khá rộng, chứa bốn thùng gỗ thật lớn có dây thừng ràng chung quanh để ủ cá. Ngoài sân, cá cơm phơi khô trên các nong tre. Cụ kể tiến trình thực hiện gồm nhiều giai đoạn xem ra tốn quá nhiều công sức. Cụ còn vui vẻ tặng mỗi người một chai nước mắm nhỉ mang nhãn hãng sản xuất Nam Du của gia đình cụ.

Hai người cám ơn, hẹn trở lại lấy luôn bài vè. Họ bước dọc theo bãi. Cát ở đây không trắng bằng cát An Thới nhưng có nhiều mảnh vỏ ốc lóng lánh hơn. Vô số viên sỏi lạ và đẹp. Như Oanh chọn hai vỏ sò và hai viên sỏi đẹp nhất. Nàng thì thầm: “Em sẽ lộng kính để đầu giường.” Võ Bằng định thưởng nàng nụ hôn lên má thì tiếng chuông reo vang.

Mãi đến đợt reo thứ ba, Võ Bằng mới nhận ra là từ điện thoại nội bộ. Anh bật dậy, chụp máy, tỉnh hẳn giấc mơ:
– Tôi nghe đây.
– Trình Hạm trưởng, phòng radar báo cáo chiếc tàu đánh cá đang xa dần chiến hạm.
– Tôi lên ngay…

Anh lao vào phòng tắm, mở nước xoa lên mặt cho tỉnh hẳn. Trên cầu thang dẫn lên đài chỉ huy, óc anh vụt sáng một ý nghĩ: không chừng đây là đòn nghi binh. Hai tàu đánh cá cùng xuất hiện. Một tàu giả vờ trôi giạt xin cứu giúp, trong khi tàu kia chạy thoát mang vũ khí vào bờ. Bây giờ lại “tuột dây” để chiến hạm bận rộn, không thể đuổi theo…
Võ Bằng nghe trái tim đập thình thịch, vừa tức giận, vừa lo âu…

Chương 12

ĐƯỜNG VỀ HÒN TRE (Tiếp theo)

Vừa lên đến đài chỉ huy, Võ Bằng ra lệnh dứt khoát:
– Hai máy ngưng.
Tiếng leng keng truyền lệnh vừa vang lên, tiếng rầm rì quen thuộc của máy tắt ngang. Chiến hạm khựng lại, thả trôi theo trớn.
Võ Bằng bước đến miệng loa dẫn xuống phòng chiến báo:
– Radar, khoảng cách với tàu đánh cá bao xa?
– Thưa, nửa hải lý.
– Có đối vật gì gần không?
– Hoàn toàn không, thưa Hạm trưởng.
– Báo cáo ngay khi có đối vật xuất hiện.
– Đáp nhận.
Anh dặn sĩ quan trực phiên:
– Cứ thả trôi. Quan sát kỹ. Giám lộ, rọi đèn sau lái.
Võ Bằng cùng hai nhân viên xuống sân lái. Họ thu hồi dây kéo về tàu. Anh cúi xem: dây không bị đứt, chỉ có thể là bị tháo hay bị tuột. Nếu bị tháo? Tại sao? Anh thoáng rùng mình.
Anh bước nhanh về phòng y tế. Ba người nằm im, mền len xám phủ kín, mắt nhắm nghiền, mặt trắng bệt như xác chết. Hai người tuổi trung niên, một thanh niên – trẻ nhất nhưng hôn mê nặng nhất. Cả ba đang được truyền nước biển.
Trung sĩ Y tá Lê Văn Ngọc trình báo:
– Thưa Hạm trưởng, lúc đưa qua, họ đã trong tình trạng hấp hối. Hạm phó cho phép truyền nước biển. Xin lỗi đã không kịp xin phép Hạm trưởng.
Võ Bằng cau mày:
– Có đúng là họ đói khát thực sự chớ không phải… đóng kịch?
Y tá Ngọc ngẩn ngơ:
– Ý của Hạm trưởng là…
Nhận ra mình nghi ngờ quá mức, Võ Bằng dịu giọng:
– Theo anh, nếu không cứu, họ chắc chắn không qua khỏi?
– Thưa chắc chắn, họ đã đến lằn ranh sinh tử. Ngay lúc này, tôi vẫn e họ khó thoát!
Võ Bằng gật đầu, nhưng lòng còn lởn vởn hồ nghi. Liệu đây có phải là một kịch bản dàn dựng tinh vi đến mức không để lại sơ hở?
Anh lại nhìn ba ngư dân. Họ vẫn thiêm thiếp, lớp mền trên ngực lên xuống ngắn, không đều, thỉnh thoảng rên hừ hừ. Anh lắc đầu: không thể là đòn nghi binh. Từ mười ngày trước, làm sao họ biết được là sẽ gặp Rạch Gầm để bắt đầu nhịn đói? Rồi làm sao mà biết thời tiết lúc gặp Rạch Gầm trời sẽ mưa to sóng lớn cản trở việc bị khám xét? Không thể nào! Chỉ là một hội ngộ tình cờ!
– Khi họ khá hơn, xin Hạm trưởng cho phép truyền thêm dinh dưỡng.
– Chấp thuận. Bằng mọi cách, anh cứu sống họ.
– Xin hứa, thưa Hạm trưởng.
Võ Bằng thở phào nhẹ nhõm nhưng quyết chắc ăn: đích thân khám xét ngư thuyền. Anh phóng nhanh trở lên đài chỉ huy, cho chiến hạm cập vào ngư thuyền. Rồi cùng hai thủy thủ nhảy qua, mang theo tô cháo thịt. Chủ ngư thuyền chắp tay cám ơn, vừa run vừa húp lấy húp để.
Võ Bằng nhìn quanh. Lưới cá bung rộng rối ren, nhiều xác cá thối rữa. Sàn la liệt xương cá. Anh và thủy thủ hộ tống bước đến phòng lái. Chưa đến cửa mà mùi dầu mỡ, mùi ươn thối nồng nặc. Không ai có thể sống lâu trong đó. Anh đã hiểu lý do bốn ngư dân nằm ngoài mưa.
Võ Bằng đi về sân mũi. Thủy thủ đang trổ tài chuyên nghiệp, thắt nút “clove hitch” đầu dây nylon vào trụ, chắc chắn không tuột lần nữa.
Anh dặn chủ ngư thuyền:
– Ba người của anh đã tỉnh lại. Đừng lo. Chúng tôi kéo tàu anh vào Rạch Giá. Có đèn pin chứ?
– Dạ có.
– Vậy cần gì thì chớp đèn.
– Cám ơn mấy anh.
Võ Bằng trở về chiến hạm, khen Hạm phó đã tích cực rồi lên đài chỉ huy. Lệnh tiến máy. Chiếc ngư thuyền ngoan ngoãn theo sau. Nửa vầng trăng soi một vệt sáng bạc trên mặt biển âm u. Chỉ một ít vì sao bơ vơ trên bầu trời thăm thẳm. Anh nhắm mắt, tự trấn an: không, chắc chắn không thể là trò đánh lừa.

***

Ba giờ sáng. Trừ tiếng máy tàu, đài chỉ huy thật tĩnh lặng. Mỗi người một vị trí, bất động như các pho tượng. Anh lên tiếng:
– Thiếu úy Đức, cho biết vị trí chiến hạm mới nhất.
– Thưa Hạm trưởng, tàu sắp ngang qua đảo Tamassu, cách ba hải lý.
Tamassu! Cái tên gợi anh nhớ chuyện tình người bạn cùng khóa. Chuyện tình đó có đăng trên nguyệt san Lướt Sóng hai năm trước: Hạm trưởng một tuần duyên hạm, trong lần ghé đảo, được chúa đảo mời rượu. Người mang mồi nhậu là tiểu thư của chúa đảo. Sau năm tuần rượu, chàng đứng dõng dạc thưa: “Cháu muốn cưới con gái bác.” Chúa đảo cười: “Đây là rượu nói hay đại úy nói?” Chàng lại dõng dạc: “Cháu nói bằng danh dự một Hải Quân”. Ông hỏi ý con. Nàng e thẹn đáp: “Ai khác thì con từ chối, nhưng với hải quân thì con ưng!” Và đám cưới rực rỡ ba tháng sau đã làm sáng bừng cả đảo. Đàng trai đến bằng đường biển gồm chiến hạm, chiến đỉnh lẫn chiến thuyền. Người chủ hôn là Tư lệnh Vùng 4 Duyên hải!
Võ Bằng khẽ thở dài: bạn thiệt có phước. Cũng ông Tư lệnh đó, cũng tiệc nhậu tới bến, cũng gặp gỡ người nhà mà đời anh cứ nổi trôi. Phải chăng vì thiếu… rượu nói!
Anh siết chặt tay trên bệ sắt, nhìn khung trời mông lung. Lại hiện bóng hình Như Oanh với giọng nói nghịch ngợm, nụ cười cướp mất hồn. Từng đêm anh dỗ giấc ngủ, đếm đến số mười ngàn mà hình bóng nàng vẫn đeo đẳng.
Ngả lưng trên ghế tựa, mặc cho mùi khói tàu, mùi muối biển quyện sương đêm ngai ngái. Mỗi cơn gió mát lại như mang đến nhớ thương…

***

Sáu giờ, núi đảo Hòn Tre hiện ra cùng ánh bình minh. Đảo mang tên Hòn Tre vì có nhiều tre mọc nhưng hình dạng thì trông như con rùa. Những cánh hải âu chao lượn, hót vang như chào đón Rạch Gầm. Võ Bằng rời ghế chỉ huy, bước sang đứng tỳ tay lên bệ cánh hữu đón gió mát lành cuối thu. Cuộc hành trình qua đêm suôn sẻ, lòng anh cũng êm ả theo.
Bảy giờ, chiến hạm neo sát Hòn Tre. Chiếc ngư thuyền được kéo cập bên hông chiến hạm. Hạm phó cho nhân viên trực nhật xịt nước rửa sạch khắp sàn ngư thuyền. Ba nạn nhân đã tươi tỉnh, nhưng sức chưa hồi phục, được các nhân viên dìu trở về ngư thuyền. Võ Bằng chỉ thị cung cấp thêm cháo thịt.
Chỉ huy trưởng Duyên Đoàn 43 đích thân đến nhận bàn giao, tay bắt mặt mừng. Anh mời Võ Bằng cơm trưa Rạch Giá. Trung úy Tuấn nhắc lại lời mời đến nhà.
Võ Bằng chỉ thị Hạm phó trông coi tàu. Ban ẩm thực tháp tùng đi chợ, nhân viên không trực được phép đi bờ. Chiếc chiến thuyền Thiên Nga tuy nhỏ mà mã lực cao dư sức dòng ngư thuyền. Nhưng với số người đi bờ khá đông, Duyên đoàn trưởng cho tăng cường thêm hai ghe chủ lực.

***

Bến sông Cái Lớn nhộn nhịp. Chợ còn rộn rã dù đã trưa. Võ Bằng thuê xe lôi. Y tá và hai nhân viên đưa ba ngư dân vào bệnh viện. Anh chúc từng người chóng phục hồi. Những bàn tay chai sạn run run nắm tay Võ Bằng. Anh nghe lòng ấm áp.
Nhà ba má Tuấn tường vôi trắng, khang trang, nhìn ra cửa sông Cái Lớn. Giàn hoa giấy đỏ rực bên hiên. Ông cụ tóc bạc vồn vã chào đón. Tuấn giới thiệu. Ông hết nắm tay Duyên đoàn trưởng lại đến Võ Bằng:
– Quý hóa quá! Từ ngày thằng con tôi đi Hải Quân, nay mới được hân hạnh đón tiếp nhị vị chỉ huy!
Gian nhà rộng rãi, bày biện gọn gàng. Hương trà xanh thoảng nhẹ. Một bên vách, treo các bức ảnh gia đình. Trên vách đối diện là các bức tranh quê thật đẹp.
Mẹ và em gái Tuấn ra chào. Vừa thấy nàng, tim Võ Bằng bỗng xao xuyến lạc nhịp, không khác gì phút đầu gặp Như Oanh. Anh thông cảm cho con tim hai năm cô đơn, bây giờ gặp người đẹp là rung động đền bù. Ba Tuấn hối làm cơm thết đãi. Duyên đoàn trưởng cáo lỗi, nhưng ông nhất quyết không cho từ chối.
Ba Tuấn hút vài hơi thuốc vấn, khoan thai nói:
– Nhị vị chỉ huy thấy đó, ghe thương hồ đậu đầy bến sông. Mùa gió chướng, ghe bầu từ miền Trung ghé vô, chở đường, chở muối. Mùa gió nồm, ghe cá từ Hà Tiên, Nam Du đổ về cá tôm. Bến sông lúc nào cũng đông vui như hội. Nhờ vậy mà mắm cá lóc, mắm thái của nhà tôi sản xuất cũng đắt hàng…
Mắt mẹ Tuấn vui vẻ tiếp lời:
– Xin mời hai vị ở lại nếm thử. Con gái tôi làm đó.
Một niềm vui nhẹ nhàng chiếm hồn Võ Bằng. Ba mẹ anh cũng có sự vồn vã tương tự với khách tới nhà. Lời của ba mẹ anh bỗng đâu chợt đến: “Cưới vợ đi con, để ba má còn thấy mặt cháu chắt!” Anh nghĩ thầm: “Hay mình cưới cô này? Như Oanh đã xa rời duyên hải!”
Anh lại nhớ câu chuyện người bạn cùng khóa cưới vợ Tamassu. Không lẽ trời cũng run rủi mình đến đây gặp nàng? Chỉ sợ hôm nay rượu không vào lời không ra!
Ba Tuấn hỏi về công tác tuần tiễu vùng vịnh Thái Lan. Võ Bằng nói mới đến khu vực Nam Du, chưa chận xét tàu nào thì gặp ngư thuyền trôi giạt…
Em gái Tuấn rụt rè mà giọng ngọt ngào:
– Tụi em nghe bạn bè kể nhiều chuyện ma ở các đảo Nam Du, Bà Lụa. Hai anh có gặp ma không?
Câu hỏi bất ngờ làm cả bàn lặng đi. Võ Bằng mỉm cười nhìn Duyên đoàn trưởng:
– Đại diện vùng trả lời đi!
Duyên đoàn trưởng cười nói:
– Chúng tôi cũng có nghe. Nào là chuyện chiếc ghe câu không người mà có tiếng cô gái hát hò. Nào là có bóng người áo trắng hiện trong sương mù trên đỉnh Nam Du. Ngay trên chiến hạm, có một thủy thủ kể, một đêm anh đi tuần, thấy ở lái tàu có người đứng hút thuốc, anh lại gần người đó biến mất…
Em gái Tuấn la lên:
– Anh đừng kể nữa, sởn gai ốc rồi!
Tất cả bật cười. Võ Bằng không cười, lòng bâng khuâng: “Sao cô nàng sợ ma giống Như Oanh quá!”
Bữa cơm được dọn ra. Vài món đơn giản. Võ Bằng gắp mắm thái và với cơm. Anh khen:
– Xem chừng ngon hơn mắm thái Châu Đốc.
Mẹ Tuấn mỉm cười:
– Không dám! Được bằng đã là niềm vui lớn rồi! Đại úy quê Châu Đốc?
Anh gật. Bà cười:
– Thôi rồi! Múa rìu qua mắt thợ!
Tiếng cười rôm rả. Võ Bằng hỏi sao có địa danh Rạch Giá. Ba Tuấn cho biết ngày xưa vùng này có nhiều cây giá mọc ven bờ các con rạch. Anh định hỏi thêm về lịch sử nhưng thấy đã đến giờ hẹn trở về, nên đành cùng Duyên đoàn trưởng cảm tạ và giã từ. Ba Tuấn tiễn ra cửa, giọng ân cần:
– Cám ơn các cháu giữ biển, nhờ đó mà Rạch Giá được bình an.
Em gái Tuấn mang ra hai bọc trao cho Võ Bằng và Duyên đoàn trưởng. Cô e ấp, ngọt ngào:
– Mẹ em gửi, nói hai anh… cẩn thận…

Võ Bằng buột miệng:
– Còn cô, nói sao?
Em gái Tuấn khẽ đáp:
– Nếu có dịp… xin ghé lại.
Võ Bằng bước ra đường. Gió sông mát nhưng tâm hồn đong đưa sóng gió…

Chương 13

AI NHỚ CHĂNG AI?

Chiếc váy màu kem ôm lấy dáng người thanh mảnh, điểm bằng chiếc sơ-mi xanh nhạt ngắn tay. Mái tóc đen búi cao để lộ đôi gò má thanh tú; vài lọn tóc mai rơi nhẹ bên đuôi mắt. Một chút phấn hồng, chút son nhạt. Như Oanh soi mình trong gương lần cuối, sẵn sàng ra Khai Trí mua ít sách cần cho việc giảng dạy tuần tới bắt đầu.
Tiếng chuông cửa vang lên đúng lúc nàng vừa xuống bậc cuối cùng. Mở cửa, nàng ngỡ ngàng. Vinh đứng đó, tay ôm chậu lan hồ điệp trắng tinh khôi, áo thể thao trắng ngà phẳng phiu, mùi nước hoa dìu dịu. Nàng theo thói quen, mở vòng tay. Lần này vẫn thân mật mà bỗng dưng thêm chút ngượng ngùng.
Nàng mỉm cười:
— Sao sáng nay anh không tới? Làm em chờ mãi…
Vinh trao nàng chậu lan, ánh mắt lấp lánh:
— Em đẹp quá! Anh phải mất cả buổi sáng để chọn cho được loài lan đẹp nhất mà vẫn thua em xa.

Trong phòng khách, nàng đặt chậu lan lên bàn ngay trước sofa Vinh vừa ngồi, lấy cho anh lon Budweiser và ly nước lọc cho mình. Quạt trần quay lặng lẽ chứng kiến cử chỉ nàng thiếu nhiệt tình. Tuy vậy nàng vẫn ngồi cạnh anh.
Vinh xoa tay, vui vẻ:
— Đi dạy thế nào, người đẹp?
Nàng cười, giọng hào hứng:
— Em phụ trách ba lớp đệ tứ, hai lớp đệ tam. Giảng văn, văn học sử…
— Trông em như học trò. Có cậu đệ tam nào tán tỉnh không?
Nàng khẽ gắt:
— Đứng đắn chút, anh Vinh.
Vinh bật cười:
— Ờ thì… xin lỗi.
Nàng chậm rãi:
— Khi đứng trên bảng, em nhớ thuở đi học. Ngày ấy, mỗi lần bị kêu lên bảng là run. Giờ đâm ra thương học trò.
— Cho anh xin làm học trò của em.
Như Oanh háy mắt:
— Anh thăng bậc… yêu rồi còn gì nữa!
— Vậy thì để anh thưởng cô giáo một chầu ăn uống, rồi nghe ca nhạc tối nay. Phòng trà mới, rất hay.
— Cám ơn anh, để dịp khác. Em cần ra Khai Trí, rồi còn phải nghỉ ngơi, chuẩn bị cho tuần tới…
Vinh sầm mặt:
— Tuần rồi em nói mệt, tuần này cũng kiếm cách từ chối. Trước đâu có thế.
— Em nói thật mà.
— Anh lỡ đến đây rồi, về không thì quê một cục! Để anh đưa em đi mua sách, rồi mình đi ăn, đi phòng trà Đêm Màu Hồng.
Đêm Màu Hồng, nghe như tựa bản nhạc của Phạm Đình Chương.
— Thì chính nhạc sĩ ta làm chủ, lấy tựa bản nhạc đặt tên cho phòng trà.
Như Oanh soi mói nhìn Vinh:
— Chà, anh rành quá hén!
Anh cười, giả lả:
— Báo nào chẳng đăng tin. Em đi nghen?
Nàng nhớ tuần rồi nghe nhạc sống ban Huỳnh Anh quá hấp dẫn. Giờ được thưởng thức nhạc sống ban Thăng Long hẳn tuyệt vời hơn. Thì đi. Ta còn… trọn đêm soạn bài mà. Hơn nữa, đền bù cho Vinh tuần rồi… từ chối.

Chiếc Peugeot 404 lướt khỏi cổng biệt thự, quẹo vào đường Đoàn Thị Điểm. Xe đi chậm trong dòng phố đông chiều Chủ Nhật. Như Oanh ngả lưng ghế, nhắm mắt, nhớ ngày quen Vinh…

***

Bốn năm trước, một đêm Giáng Sinh. Gia đình nàng bày tiệc thiết đãi vợ chồng Thứ trưởng Bộ Thương Mại. Ông bà là đối tác làm ăn thân tín. Lần đó, tháp tùng họ là một chàng trai trẻ trung, đẹp người, lịch lãm.
Ngay cái nhìn đầu tiên, ánh mắt anh đã dành cho nàng sự chú ý. Lời chào càng làm nàng thêm cảm tình:
— Hân hạnh được gặp cô Như Oanh. Mẹ tôi bảo cô rất thông minh, mà lại quên thêm… rất xinh đẹp.
Trong bữa ăn, ba nàng hỏi chuyện: Vinh tốt nghiệp đại học Hoa Kỳ, đang giữ chức Chánh sự vụ Sở Thuế Quan, một vị trí đáng ngưỡng mộ. Sau bữa tiệc, anh ở lại rất khuya. Tiếp đó, những cuộc gặp cuối tuần, buổi chiều xem phim đi ăn, buổi tối phòng trà, khiêu vũ. Cứ thế kéo dài bốn năm. Tình yêu đôi khi sóng gió vì quan điểm trái chiều nhưng Vinh lần nào cũng xin lỗi, làm lành nên vẫn êm đềm. Ba tháng trước, tốt nghiệp đại học sư phạm, nàng đã nôn nao chờ ngày nhận được sự vụ lệnh đi dạy. Rồi càng háo hức hơn khi được Vinh hứa lo cho nàng dạy gần nhà. Họ đã đồng ý rằng, ngay sau khi nàng đi dạy là lúc tính chuyện hôn nhân.
Thế rồi… chuyến đi nghỉ ngơi ở An Thới. Và sự xuất hiện của Võ Bằng. Chỉ một thời gian ngắn, không khí vùng biển và con người hải quân ấy đã khiến nàng nhìn lại cuộc sống đời mình, nhìn lại cuộc tình nàng và Vinh…

***

Vinh thả Như Oanh trước nhà sách Khai Trí và vì không chỗ đậu, anh hẹn nửa giờ quay lại. Khi ôm bọc sách bước ra, nàng gặp lại anh đúng hẹn. Xe men qua Pasteur, dọc Bạch Đằng, rồi dừng ở nhà hàng Mỹ Cảnh.
Vinh chọn chỗ ngồi nhìn ra dòng sông lấp lánh ánh đèn. Bàn ăn phủ khăn trắng muốt, muỗng nĩa bạc và ly pha lê trong vắt. Họ ngồi đối diện. Vinh nắm nhẹ bàn tay Như Oanh:
— Sài Gòn đêm trên sông… khó ai chê được. Hy vọng em thích.
— Em thích những quán ven ngoại ô hơn. Ở đó, có gió đồng nội và thanh tịnh.
— Anh biết, nhưng hôm nay còn đi nghe nhạc, sợ trở về trễ, hết chỗ.
Vinh mở bản thực đơn đưa cho nàng. Như Oanh lắc đầu:
– Anh chọn cho em đi. Em không quen ăn nhà hàng.
– Khó tin quá. Ba má em giàu quá mà!
Như Oanh lắc đầu:
– Em có đi ăn với ông bà vài lần nhưng không thích. Thường ngày, em là thân chủ của các hàng ăn lề đường khu nước mía Viễn Đông, Pasteur. Còn đi với anh, có bao giờ em không đòi về vùng quê.
Vinh vẫy tay gọi cô hầu bàn:
– Cho chúng tôi một chai Château Margaux 1961. Khai vị chạo tôm. Hai phần striploin và khoai tây nướng.
Người hầu bàn hân hoan ghi nhanh. Như Oanh lơ đãng nhìn xuôi về khu vực Hải Quân. Một chiếc thương thuyền cập cầu án ngữ tầm nhìn. “Chừng nào anh về Sài Gòn? Có nên gặp lại không?” Nàng nhớ trước khi rời Phú Quốc đã viết vội mấy dòng cho Võ Bằng. Nghĩ lại nàng thấy mình quá lãng mạn. Mới quen vài ngày đã vội hứa hẹn sẽ nhắn tin. Nàng quả có nhớ anh nhưng yêu thì chưa rõ. Nàng cũng thấy tình yêu vốn dành cho Vinh dường như vơi dần, không còn nhớ nhiều, không mong đợi gặp…
Giọng Vinh nhiệt thành:
– Tuần tới anh sẽ rất bận. Tổng Nha Thuế Vụ mở đại hội để duyệt lại các sắc thuế. Anh sẽ phải trình bày lý do cần tăng thuế, phải nghiên cứu sâu…
Bất kể hương vị thịt bò và rượu đắt tiền, Vinh say sưa khoe khoang nhiệm vụ quan trọng của mình, sự rành rẽ về thuế má. Nàng chầm chậm nhai, mắt nhìn Vinh, làm như đang lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu lấy lệ trước khi hớp rượu. Mỗi lời nói của Vinh nàng thấy sao nhạt nhẽo, rỗng tuếch. Nàng cứ mong chấm dứt bữa ăn, một bữa ăn xa hoa mà không ngon bằng tô hủ tiếu Thanh Xuân với ly cà phê đá.

***

Chín giờ, trước Đêm Màu Hồng đã đầy xe đậu. Vinh phải đậu khá xa. Hai người sánh bước dưới các đèn đủ màu dọc lề Tự Do như đôi nhân tình hạnh phúc nhất.
Ngay bậc thang đầu, mùi thuốc lá nồng nặc hòa mùi nước hoa đắt tiền. Gian phòng mờ ảo ánh đèn hồng: lãng mạn, nhưng ngột ngạt. Trên sân khấu, Phương Hoài Tâm đang hát Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc.
Họ chọn bàn nhỏ gần sân khấu. Vinh gọi champagne Blanc de Blancs cho nàng, Budweiser cho anh. Đậu phộng, khô mực bày ra. Nàng hỏi
— Anh đến đây thường à?
— Chỉ đôi lần, khi không thể từ chối. Cuối tuần luôn dành cho em mà.
Như Oanh nhìn dàn nhạc. Bốn nhạc công: tay trống, guitar lead, guitar bass, saxophone. Và nhạc sĩ thủ piano: Phạm Đình Chương. So với ban Huỳnh Anh nàng thưởng thức tuần rồi thì chỉ bằng nửa.
Giọng Phương Hoài Tâm thật ngọt mà cũng lắm ngậm ngùi: “Chiều nao anh đi, anh về đất. Chiều nao anh đi, anh về nước.” Lời ca gợi nàng nhớ hai lần cùng anh rể và chị đi ủy lạo thương binh. Bệnh xá An Thới đơn sơ, còn nhiều thiếu thốn. Bác sĩ chỉ một. Y tá chỉ ba. Thân nhân thì xa xôi, phương tiện di chuyển hạn chế, hiếm khi đến thăm. Khi đến được thì chỉ còn viếng mộ.
Sự tương phản giữa Vinh và Bằng hiện lên rõ rệt: Một bên ồn ào, phô trương; một bên trầm lặng, chân thành. Một bên vũ trường, ca nhạc; một bên đầu sóng ngọn gió.
Nàng cố xét lại lòng mình. Tình yêu dành cho Vinh suốt bốn năm có thật là tình yêu hay chỉ là một thỏa mãn tình cảm của tuổi khát khao? Nàng đã từng hãnh diện với bạn bè có được một người yêu đẹp trai học giỏi, có chức quyền. Nhưng An Thới đã lột trần Vinh: một kẻ ba hoa, thích ăn chơi, không lý tưởng. Làm vợ Vinh chẳng khác nào sống trong biệt thự sang trọng mà không có cửa sổ. Nàng đã nghĩ cách rút lui nhưng xem ra chẳng dễ dàng gì!
Nàng nhấp một ngụm Champagne. Ánh mắt dừng lại nơi Phương Dung đang hát Ai Nhớ Chăng Ai. Cái tựa lại gợi nhớ Võ Bằng. Giọng ca da diết như nói hộ lòng nàng: “Những gì tha thiết nhất trong đời. Những gì không nói nên bằng lời. Mà tim ta thì chơi vơi. Ai nhớ chăng ai…”
Vinh nghiêng người thì thầm:
— Em biết không, bên em, anh thấy thiên hạ đều thiếu may mắn!
Nàng im lặng. Chàng tiếp:
— Anh nghĩ, đời anh không em, chắc không sống nổi.
Nàng ngăn lại:
— Hãy để em thưởng thức. Toàn bản nhạc em thích.
Vinh nhìn lên sân khấu nhưng cử chỉ bực bội. Anh uống cạn bia, gọi thêm.
Ngọc Minh xuất hiện, giọng tươi vui mà xoáy vào nỗi niềm của Như Oanh: “Nếu anh về bên em, những năm sầu thương sẽ không còn…”
Hoài Bắc giới thiệu tiếng hát Thái Thanh. Như Oanh nắm bàn tay Vinh:
— Thần tượng của anh. Vui hén!
Giọng Thái Thanh vút cao: “Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người…” Vinh bóp tay nàng, giọng run run:
— Đó cũng là điều anh muốn nói.
— Em hiểu mà. Nghe đi.
Vinh miễn cưỡng nhìn sân khấu, miệng lại khe khẽ hát: “Em đi qua đời anh, không nhớ gì sao em?”
Anh khui lon mới, uống chầm chậm, rồi đặt lon xuống bàn. Anh lấy một hôp nhỏ từ túi quần, mở nắp đưa trước Như Oanh, giọng trịnh trọng:
— Như Oanh thương yêu. Em làm vợ anh nghen.
Chiếc nhẫn hột xoàn lấp lánh gọi mời. Nàng giật nẩy, sượng sùng cứng cả người. Nàng ôm mặt, lắp bắp:
— Bất ngờ quá, em không biết nói sao?
Vinh mỉm cười, khuyến khích:
— Chỉ cần nói “Ừ”.
— Cho em thêm thời gian suy nghĩ.
— Em đã hứa sau ngày đi dạy.
— Nhưng… em cần thêm thời gian.
— Thời gian gì nữa? Em đã đi dạy một tuần rồi.
Giọng Vinh cao dần, vài người khách ngoái nhìn:
— Em có nghe anh nói không?
Như Oanh đứng dậy, nói khẽ:
— Ra ban công đi.

***

Ngoài trời, gió đêm Sài Gòn ùa tới, mát lạnh. Thành phố lấp lánh như tranh sơn dầu. Vinh khoanh tay, sốt ruột:
— Chuyện gì? Anh đang nghe.
Nàng hít sâu, tay bấu lan can, mắt nhìn thẳng vào mắt anh, giọng bình thản mà cương quyết:
— Hãy cho em thêm thời gian. Còn anh bắt em trả lời ngay…
— Rất dễ. Chỉ cần một tiếng: “Ừ”.
Nàng lặng thinh ngỡ ngàng. Từ chối thì không nỡ mà ừ càng khó khăn. Nàng chợt nhớ lời của chị: “Làm vợ lính biển lúc xa lúc gần, chia tay rồi tái hợp, tình yêu lúc nào cũng mới.” Nàng cũng đã chứng kiến hạnh phúc tuyệt vời của anh chị.
Nàng buột miệng:
— Anh Vinh, em trân trọng tất cả những gì anh đã dành cho em bốn năm qua. Bốn năm hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng… giờ nghĩ lại, em thấy rõ không thể làm vợ anh. Em thành thật xin lỗi.
Mặt Vinh biến sắc, giọng lạc đi:
— Em nói giỡn chăng?
— Em lặp lại. Em không thể làm vợ anh.
— Không thể? Vì sao? Chúng ta đã đồng ý…
— Em từng đồng ý, nhưng em nhận ra mình không thuộc về thế giới xô bồ này. Em khao khát cuộc sống bình yên, chân thành hơn. Em sẽ xin đi dạy ở vùng biển nào đó…
Vinh nhìn nàng, lắc đầu:
— Anh nghĩ là em quá nông nổi. Chỉ là một ý nghĩ nhất thời!
Nước mắt nàng ứa ra:
— Không! Không phải nhất thời. Nó là tiếng gọi sâu thẳm từ trái tim. Em xin lỗi.
Vinh gằn giọng, lớn tiếng:
— Có phải vì ai khác không? Một tên hải quân nào đó ở An Thới? Sau bốn năm, em vứt bỏ chỉ vì một kẻ không danh phận? Sao không nghĩ, một ngày nào đó, người ta gọi em “Bà Bộ trưởng”?
Nàng quay đi, nước mắt tuôn dài nhưng lòng nhẹ dần. Ba nàng chưa từng lớn tiếng với nàng. Câu nói của Vinh đủ cho thấy con người thật của anh.
Nàng bước nhanh đến cầu thang. Lời ca tiếng nhạc rộn rã vui tươi của bản Tiếng Dân Chài đưa nàng bước từng bậc chua xót xuống dần. Từng ô gạch vuông trên lề đường Tự Do lùi dưới chân nàng. Tiếng Vinh gọi với theo:
— Như Oanh! Như Oanh! Dừng lại!
Những ô vuông tiếp tục lùi, nhanh hơn.

Chương 14

BÀ LỤA LÀ AI?

Ba giờ chiều. Hạm phó báo cáo thủy thủ đoàn đã về tàu đông đủ. Võ Bằng gật đầu, cho lệnh tập họp ở phòng ăn đoàn viên.
Năm phút sau, anh và Cố vấn bước vào. Căn phòng hình hộp chữ nhật, những bóng đèn huỳnh quang trắng sáng hắt xuống bảy dãy bàn ghế bọc formica màu nước biển. Mùi cà phê và thuốc lá còn phảng phất. Hạm phó hô dõng dạc, “Nghiêm!”. Tất cả quân nhân đứng thẳng dậy. Võ Bằng ra hiệu ngồi.
Anh đưa mắt nhìn khắp lượt. Sáu hàng ghế hạ sĩ quan và đoàn viên đối diện hàng ghế sĩ quan. Không khí có phần nghiêm trang, nhưng trong ánh mắt nhiều người vẫn thấp thoáng sự tò mò và hứng khởi.
Võ Bằng cất cao giọng, rõ ràng và ấm áp:
– Chào anh em. Sau ngày nhận quyền chỉ huy, mãi đến hôm nay tôi mới có dịp gặp lại đông đủ. Điều rất vui là buổi sáng đi bờ Rạch Giá, tôi cứ đinh ninh sẽ có vài anh em… quên giờ về, nhưng tôi đã nghĩ sai.
Vài tiếng cười rộ phá tan bầu không khí khép kín. Võ Bằng tiếp lời:
– Cảm nghĩ của tôi sau hai tuần nhận Rạch Gầm là rất hài lòng. Hài lòng vì anh em giữ nghiêm kỷ luật. Hài lòng vì anh em chuyên nghiệp trong công việc. Và hơn hết, hài lòng vì thấy anh em thương yêu nhau như ruột thịt. Tôi xin ngợi khen và cảm ơn tất cả. Điều tôi mong là thành tích này phải được duy trì, không chỉ hôm nay mà trong suốt hải trình dài. Các anh em hứa với tôi chứ?
Nhiều tiếng đáp vang:
– Xin hứa. Xin hứa, thưa Hạm trưởng.
Võ Bằng mỉm cười, gật gù:
– Cám ơn anh em. Bây giờ là lúc… xả xú bắp. Anh em có điều gì buồn phiền, thắc mắc, cứ nói thẳng, nói hết cho nhẹ lòng.
Gian phòng bỗng lặng im. Chỉ nghe tiếng vù vù của hơi máy lạnh thoát ra. Võ Bằng khuyến khích:
– Đừng ngại gì cả. Tôi và các sĩ quan sẵn sàng giải quyết thỏa đáng.
Thượng sĩ Quản nội trưởng mở đầu:
– Thưa Hạm trưởng, tôi đại diện tất cả anh em đạo đạt lên Hạm trưởng nguyện vọng sau đây: Hiện tại cuộc sống chúng tôi, nhất là những người có gia đình rất chật vật vì vật giá leo thang. Nên xin được tăng lương.
– Nguyện vọng chính đáng. Ngay khi về Sài Gòn, tôi sẽ trình lên Bộ Tư Lệnh nguyện vọng của các anh, không chỉ một mà là hai: xin tăng lương và xin tăng phụ trội ẩm thực khi đi biển.
Nhiều tiếng ồ vui vẻ vang lên. Võ Bằng lại hỏi:
– Ai còn thắc mắc?
Không thấy ai giơ tay, Trung úy Tiến lên tiếng:
– Thưa Hạm trưởng, thời cựu Hạm trưởng, mỗi chuyến công tác đều có thực hiện công tác dân sự vụ. Công việc giản dị, là đến một lớp tiểu học dạy ca hát, kể chuyện cổ tích. Tôi đề nghị kỳ nghỉ bến tới, Hạm trưởng cho phép Ban Chiến tranh Chính trị đến trường tiểu học An Thới…
– Chấp thuận. Tôi sẽ tham gia cùng các anh. Thắc mắc kế tiếp?
Không ai lên tiếng. Võ Bằng quay sang Cố vấn tóm lược lại sự việc bằng tiếng Anh. Anh chàng lắng nghe, vẻ mặt nghiêm trang, rồi hỏi:
– Tôi có máy chiếu và nhiều phim hoạt họa. Nếu chiến hạm cần cho công tác dân sự vụ, tôi sẵn sàng cung cấp.
Trung úy Tiến nồng nhiệt:
– Rất cần. Cám ơn đại úy.
Võ Bằng hân hoan:
– Chuyến sau nhớ mang theo… Ai còn gì trình bày không?
Cả phòng lặng thinh, Võ Bằng chậm rãi tiếp:
– Trường hợp có gì không tiện nói ở đây, thì anh em gặp riêng tôi…
Anh quét ánh mắt lên mọi người lần nữa, trầm giọng:
– Bây giờ ta bàn công tác sắp tới. Sau buổi họp này, chúng ta sẽ nhổ neo rời Hòn Tre, trực chỉ quần đảo Bà Lụa. Đây là quần đảo có nhiều đảo hơn mọi quần đảo quanh vịnh Thái Lan: An Thới, Hải Tặc, Nam Du, Thổ Châu. Và cũng là quần đảo gần bờ nhất – chỉ cách Kiên Lương 20 cây số. Ngoại trừ Hòn Heo – đảo lớn nhất lập thành xã và vài đảo khác lập ấp. Còn lại đều là đảo hoang. Chính vì vậy, Bà Lụa trở thành nơi tàng trữ vũ khí đạn dược từ miền Bắc đưa vào. Nhiệm vụ chúng ta là chận đứng nguồn tiếp tế.
Cả gian phòng im phăng phắc. Anh lược dịch cho Cố vấn rồi nhìn từng người, nghiêm giọng tiếp:
– Để tiếp tế, địch sử dụng hai phương tiện: một là tàu đánh cá có vận tốc nhanh, có trang bị radar lẫn vũ khí, đi từ miền Bắc. Chúng đổ hàng nhanh chóng ở nơi thuận tiện rồi rút nhanh ra hải phận quốc tế. Hai là các ghe nhỏ tại địa phương chuyển tiếp vào bờ. Ghe nhỏ vì dễ lẩn trốn radar, ít bị nghi ngờ và dễ phi tang.
Anh dừng lại hớp vài ngụm cà phê, như để lời anh thấm vào mọi người:
– Mặc dù chúng ta đã thiết lập bốn hàng rào ngăn chận: sát bờ biển có các chiến thuyền, gần bờ ba hải lý có các duyên tốc đỉnh, xa đến 12 hải lý có các chiến hạm, và xa hơn có Đệ Thất Hạm Đội, vậy mà địch vẫn liều mạng, bất chấp. Cho nên mỗi anh em phải hết sức cảnh giác từng phiên trực. Mọi nghi ngờ thấy được, mọi đối vật trên radar, cho tôi biết ngay để phản ứng kịp thời. Hãy tâm nguyện câu chúng ta từng học: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.
Võ Bằng ngưng lại, hít sâu, rồi chuyển giọng nhẹ nhàng:
– Về phương diện hải hành, phải hết sức quan tâm đến các vùng nước cạn. Hãy sử dụng fathometer khi tuần tra quanh Bà Lụa, đặc biệt giữa hai đảo, có nơi, khi nước ròng có thể đi bộ được. Ghe địch khi bị phát giác thường chạy trốn qua các ngả này. Hãy nhớ: anh em mắc cạn, hạm trưởng bay chức!
Cả phòng bật cười, không khí dịu xuống. Anh tiếp:
– Nhưng ngoài các hiểm nguy, quần đảo Bà Lụa cũng nổi tiếng về thắng cảnh. Người ta gọi đó là Vịnh Hạ Long của miền Nam. Tôi chưa từng đến Vịnh Hạ Long nhưng đã mê cảnh đẹp Bà Lụa. Mỗi đảo có cảnh trí mang nét đẹp riêng. Có đảo thì rừng xanh phủ tận bờ. Có đảo viền quanh bằng đá trắng như cẩm thạch. Có đảo là hai khối đá dựng đứng mang tên Hòn Phụ Tử… Rồi anh em sẽ thấy nay mai.
Nhiều khuôn mặt đoàn viên bỗng sáng lên, Võ Bằng vui vẻ tiếp:
– Bà Lụa có 40 đảo, mỗi đảo đều có tên gắn với giai thoại. Tôi từng phục vụ trên hải vận hạm, từng đặt chân lên Hòn Heo, nghe nhiều chuyện thú vị. Hôm nay, sau năm năm, nhân dịp trở lại, tôi muốn nghe thêm. Ai biết gì thì kể cho mọi người cùng nghe. Biết chuyện lạ về vùng mình công tác cũng lý thú.
Nhiều cánh tay giơ lên. Võ Bằng chỉ Trung sĩ An. An đứng dậy. Võ Bằng khoát tay:
– Cứ ngồi kể chuyện.
Giọng An trầm và ấm, nghe như giọng ca sĩ Chế Linh:
– Thưa Hạm trưởng, quý vị sĩ quan và các bạn. Tôi xin kể chuyện vì sao gọi là Bà Lụa. Ngày xưa, có một người đàn bà buôn lụa từ Hà Tiên về Rạch Giá. Ghe chở đầy cuộn lụa, vải màu. Gặp bão, bà cho thả bớt hàng mà vẫn không thoát. Ghe ập vào rạn san hô. Bão tan, dân chài thấy từng cuộn lụa trôi giạt, mắc trên vách đá, trải dài trên bãi. Bà và người chèo ghe mất tăm. Từ đó, dân gọi vùng đảo ấy là Bà Lụa. Ngư dân còn truyền rằng, trong những đêm trăng, đôi khi vẫn thấy bóng người đàn bà áo dài trắng đi dọc bãi cát…
Không khí lắng xuống. Hạm phó mỉm cười, lắc đầu:
– Cũng có giai thoại khác. Rằng một bà tên Nguyễn Thị Lụa, vợ một quan người Pháp, hiền lành, không ưa chốn quan trường, bỏ ra quần đảo này nuôi tằm dệt lụa phát cho dân nghèo. Bà mất, dân nhớ ơn, đặt tên cả vùng là Bà Lụa, lập miếu thờ trên Hòn Heo.
Võ Bằng hỏi:
– Do đâu có tên Hòn Heo?
Hạ sĩ Duyệt giơ tay:
– Tôi nghe nói, cũng Bà Lụa này lập thêm trại nuôi heo ở hòn đảo lớn nhất. Sau khi bà mất, dân gọi đảo ấy là Hòn Heo. Cảnh trí đảo rất khác: Rừng sát biển, bãi nhỏ nhưng cát thô, lẫn nhiều sỏi đá, khó đi chân trần.
Hạ sĩ Thương – gốc Rạch Giá, nước da đen bóng, đôi mắt hẹp vì từng chịu sóng gió – góp thêm:
– Tôi cũng nghe, dân đảo chừng trăm người, rất hiếu khách. Ai đến đảo, vị đại diện mời nhậu cho bằng được. Món nhậu chỉ là mực, cá, cua nhưng ngon hết biết! Tôi mong chuyến này được lên đảo. Xin Hạm trưởng cho neo vài giờ…
Võ Bằng cười:
– Vị chúa đảo đó có con gái không?
Cả phòng cười rộ. Hạ sĩ Duyệt lắc đầu:
– Đâu biết!
Võ Bằng gật đầu:
– Vậy bữa nào tiện, tôi cho neo. Chúng ta lên đảo tìm hiểu. Còn sự tích nào khác? 40 đảo kia mà!
Trung úy Tuấn lên tiếng:
– Tôi có dịp đọc trong thư viện Rạch Giá một tài liệu nói về một cụm đảo trong quần đảo này. Đó là câu chuyện buồn. Ngày xưa có gia đình ông Nhum sống trên một hòn đảo. Một hôm, ông bà Nhum cùng hai chàng rể đi đám cưới trong đất liền, chẳng may lúc trở về, biển nổi sóng to, gió lớn, thuyền đắm, tất cả bị chết đuối, thi thể mỗi người trôi giạt vào mỗi đảo. Người ta tìm được và sẵn đó đặt thành tên: Hòn Nhum Ông, Hòn Nhum Bà, Hòn Rể Lớn, Hòn Rể Nhỏ.
Anh ngừng lại như để mọi người thương cảm, rồi tiếp:
– Lại còn một cụm đảo khác là Ba Hòn Đầm. Điểm đặc biệt là ba hòn đảo chụm với nhau thành hình tam giác, tạo một khu vực nước cạn như cái đầm ở giữa. Tuy nhiên mỗi đảo đều có tên riêng như Hòn Đầm Đước – có nhiều cây đước, Hòn Đầm Dương – có nhiều cây dương, và Hòn Đầm Giếng, không rõ sự tích, có thể vì có giếng nước ngọt.
Võ Bằng gật gù:
– Còn Hòn Trẹm, nghe đồn có kho châu báu của bọn hải tặc mà đến nay chưa ai tìm ra. Một ngày đẹp trời nào đó, biết đâu chúng ta chẳng tìm ra kho châu báu đó…
Tiếng cười rộ lên. Trung úy Tuấn nghiêm nét mặt:
– Tôi cũng có nghe lời đồn. Sở dĩ không ai tìm thấy là vì kho châu báu được canh giữ bởi những bóng ma thủy thủ chết chìm. Đêm khuya, ngư dân vẫn thấy các bóng trắng ẩn hiện trên đỉnh đảo. Thành ra không ai dám lên đảo.
Nhiều người rùng mình, le lưỡi. Võ Bằng nhìn đồng hồ:
– Thôi, kể hết 40 đảo chắc đến sáng. Cần nhổ neo ngay để kịp đến Bà Lụa lúc nửa đêm. Đó chính là thời điểm bọn vẹm tặc lộng hành.
Trong khi cùng đi lên đài chỉ huy, Võ Bằng tóm lược nội dung buổi họp cho Cố vấn.

***

Trời đã xế chiều. Biển xanh thẫm như tấm lụa nhung bị vuốt ngược. Võ Bằng đưa ống dòm chậm rãi quét một vòng chân trời. Biển êm, ghe thuyền đánh cá xuất hiện dày đặc. Lẽ ra thì nên bớt máy nhưng anh vẫn cho tiến nhanh. Lệnh của Bộ Tư lệnh Vùng là sau khi bàn giao, Rạch Gầm phải đi ngay đến Bà Lụa nhưng anh đã “ăn gian” cho đi chợ và đi bờ. Trong lòng, anh biết là sẽ phải viết tờ trình nhưng hy vọng mọi sự xuôi chèo mát mái.
Gió chướng chếch ngược nên khá mạnh và lành lạnh. Từ trên nóc đài chỉ huy, tiếng gió tuôn qua các dây cờ nghe như ai huýt gió. Một đàn chim bay thành hàng chéo, chấm chấm đen như những dấu mũ của một bản nhạc. Cố vấn không bỏ lỡ cơ hội, chụp lấy chụp để mấy tấm hình làm kỷ niệm.
Hai chiếc ghe câu vừa tách rời khi thấy chiến hạm chạy đến. Nếu không, sóng dập có thể làm bể mạn ghe. Khi tàu đến gần, Võ Bằng hốt hoảng giảm máy. Trên một ghe, có cả đàn bà con nít. Hai chủ ghe vẫy tay chào. Võ Bằng vẫy đáp, nói to:
– Xin lỗi chúng tôi có chuyện gấp, phải chạy nhanh.
Một ông đối đáp:
– Không sao đâu. Việc binh là trọng. Tội nghiệp, mấy anh cực khổ cho chúng tôi yên ổn làm ăn.
Khi tàu chạy ngang, đứa bé bỗng khóc thét. Người đàn bà vội vạch vú cho con bú. Cố vấn lại chụp lia lịa, nét mặt hớn hở. Ở Mỹ, dễ gì có cơ hội ngắm hình ảnh nghệ thuật thế này. Võ Bằng chợt thoáng bồi hồi. Hình ảnh giản dị ấy làm anh thèm một mái gia đình.
Hình bóng Như Oanh hiện lên, rồi mơ hồ pha lẫn dáng em gái Trung úy Tuấn. Anh cân nhắc: “Như Oanh vẫn là ưu tiên. Nhưng nàng sắp lấy chồng, còn hy vọng gì!” Anh thở dài não nuột: “Giả sử nàng đồng ý làm vợ mình thì lại đụng hàng rào sắt của ba nàng.” Nhớ đến người bạn cùng khóa cưới con gái chúa đảo, anh lại nuôi hy vọng: “Phải đánh nhanh đánh mạnh. Phải thuyết phục Như Oanh mở tiệc rượu để mình nhậu với ba nàng. Rồi nhờ… rượu nói!” Anh mỉm cười hài lòng: “Có lý lắm!”
Máy truyền tin của Cố vấn lên tiếng. Anh chàng bốc nghe và trao đổi. Rồi hỏi Võ Bằng, xin vị trí chiến hạm. Võ Bằng bước sang bật đèn bàn chỉ vòng tròn gạch chéo trên hải trình. Anh chàng lẩm nhẩm đọc trên hải đồ: ‘Ba Lua Islands’, “Hon Doi Moi Island”, “Hon De Island”, “Hon Duoc Island”, “Hon Dua Island”, “Hon Trem Island”. Võ Bằng bỗng tức cười với những cái tên xa lạ, vô hồn. Càng cười hơn, đã là Hòn rồi còn Island gì nữa!
Còi đổi phiên vang lên: 5 giờ 45. Võ Bằng đã thấy đói nhưng đành chờ thêm một tiếng nữa mới đúng bữa. Vả lại, ghe câu còn đông, anh không an tâm rời đài chỉ huy nên bước sang cánh tả nhìn biển mênh mông. Nắng chiều in dáng chiến hạm trên vùng nước xanh sẫm. Cái dáng đó lướt tới, rung rinh theo lượn sóng từ mũi tàu chẻ nước. Anh lại cho tăng máy.
Sĩ quan sắp mãn phiên đang định vị trí chiến hạm chuẩn bị bàn giao với động tác nhanh nhẹn, thành thạo. Các đoàn viên lần lượt thay thế. Trung úy Đặng Thành Tài, người nhận phiên sau, là sĩ quan hải hành. Với trung úy Tài, Võ Bằng thấy an tâm thưởng thức bữa cơm tối ngon lành, nhất là bữa cơm sau khi đi chợ nhiều thịt cá tươi.
Tiếng phát từ miệng loa:
– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 1 giờ, khoảng cách 9 hải lý.
Xa, mà radar bắt được, có nghĩa đối vật khá lớn. Anh cùng Cố vấn xuống phòng chiến báo. Màn hình hiện rõ, vết sáng di chuyển cho thấy hướng vào bờ. Anh ghi tọa độ. Mười phút sau, ghi lần nữa. Lấy khoảng cách chia thời gian, đối vật có tốc độ 19 gút – nhanh hơn tàu anh, khó thể đuổi kịp. Anh lập tức liên lạc với các khinh tốc đỉnh và chiến thuyền để nghinh đón. Cố vấn chưa thấy cần sự trợ giúp của Đệ thất Hạm đội.
Cả hai trở lên đài chỉ huy. Võ Bằng ngồi lên ghế. Cố vấn ôm la bàn đứng cạnh. Sương khói lan trên mặt biển nuốt dần ánh nắng cuối ngày. Một nửa mặt trời còn lơ lửng chân mây. Không gian như đặc lại, tối dần…
Bỗng tiếng loa dội lên lần nữa, dồn dập:
– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 10 giờ. Khoảng cách 2 hải lý.
Tim Võ Bằng thót lại. Hai hải lý – quá gần! Một đối vật nhỏ, nhưng chắc chở đầy vũ khí. Võ Bằng thấy cần phải bắt giữ hoặc tiêu diệt. Anh hối hả:
– Trung úy Tài. Hỏi radar hướng di chuyển của đối vật.
Một khoảng im lặng căng thẳng. Rồi tiếng đáp từ loa:
– Xin chờ…

Chương 15

ĐÊM HAI LẦN HẢI PHÁO

Hoàng hôn phủ xuống biển, mặt nước nhuộm tím góc trời. Gió nhẹ như hơi thở dài của đại dương. Đài chỉ huy chăm chú theo từng nhịp báo khô khốc từ radar:
– Đối vật di chuyển hướng 070, vận tốc 8 gút, cách một hải lý rưỡi.
Võ Bằng cau mày, tính nhanh trên bàn hải đồ. Theo vị trí và hướng đi, có thể chiếc ghe từ Hòn Nghệ vào Lình Huỳnh. Ghe câu không ai về bến giờ này. Chỉ có thể đây là chuyến chuyển hàng lén lút. Phải chận xét.
Anh khẽ ra lệnh:
– Lái hướng bắc. Cho gọi pháo thủ đại liên và pháo đội 40 ly mũi vào vị trí.
Trung úy Tài bấm máy phóng thanh lặp lại lệnh trên. Ba phút sau, hai khẩu súng báo cáo sẵn sàng khai hỏa. Võ Bằng mặc áo giáp, đội nón sắt và ra dấu mọi người làm theo.
Mặt trời đã chìm hẳn, mặt biển như trải tấm lụa đen ngòm. Anh cho lệnh tắt hết đèn.
Tiếng từ phòng chiến báo dội lên:
– Đối vật cách một hải lý. Hướng 11 giờ.
Võ Bằng xem lại vị trí chiến hạm, vị trí đối vật, tính thời gian gặp nhau rồi ra lệnh:
– Hai máy tiến 2. Lái hướng 010. Giám lộ sẵn sàng rọi đèn pha.
Tiếng báo máy giảm. Một quan sát viên rời vị trí leo lên tháp đèn. Không khí như đông đặc khiến nhịp thở mọi người ngắn đi.
Radar đếm lùi khoảng cách: 1000 yards, 700 yards, 500 yards. Một quan sát viên la lên:
– Báo cáo, thấy đối vật hướng 10 giờ.
Võ Bằng giương ống dòm. Trong mịt mùng không gian, một bóng dài lướt tới. Anh gằn giọng:
– Hai máy ngưng.
Mọi hơi thở như ngưng theo. Đài chỉ huy chìm vào lặng thinh.
Chợt tiếng Hạm trưởng khẽ mà như rền vang:
– Chiếu đèn pha.

Một luồng sáng trắng xé ngang bóng tối. Chiếc ghe câu hiện rõ không xa mạn tả. Hai bóng người đang hối hả ném các kiện hàng xuống biển.
Giọng Võ Bằng vang lên đanh thép:
– Dừng tay lại. Ngưng ném. Tuân lệnh hay bị bắn.
Hai người tiếp tục hì hục. Rồi bất ngờ một tràng đạn nổ giòn. Những vệt lửa vụt sang chiến hạm, lốp bốp vào thành thép đài chỉ huy. Võ Bằng gầm lên:
– Tất cả phản pháo.
Đại liên 50 nổ rền. Đại bác 40 ly chát chúa. Trung sĩ Linh chụp đại liên trên đài chỉ huy nhả nguyên thùng đạn. Mùi khét xộc vào phổi khiến tim ai nấy đập thình thịch. Võ Bằng định thần nhìn theo lửa đạn. Hai bóng người ngã gục. Nước bắn tung tóe. Chiếc ghe vỡ tung. Ván bay tứ tán.
Giọng Võ Bằng dứt khoát:
– Ngưng bắn. Các nơi báo cáo thiệt hại.
Điện thoại viên lặp lời từ các ổ súng:
– Đại bác vô sự. Đại liên vô sự.

Đèn pha quét qua mặt biển. Nước đỏ loang loáng. Các mảnh ván trôi lềnh bềnh. Ba sinh mạng mất hút vào lòng biển sâu. Võ Bằng lẩm bẩm: “Khó hiểu! Chỉ với một tiểu liên, họ dám chống lại cả chiến hạm! Sao lại chọn cái chết?” Một vị chua chát dâng lên cổ họng. Anh nghĩ, một ngày nào đó, dòng máu đỏ thẫm kia có thể là của chính mình.
Võ Bằng nghe Cố vấn gọi máy về Toán Cố vấn Vùng. Anh ghi diễn tiến vào Nhật Ký Hải Hành rồi xuống phòng truyền tin gửi công điện về An Thới: “TTBC. Chiến hạm chận xét ghe. Địch nổ tiểu liên. Ta phản pháo. Kết quả: địch 3 chết chìm theo ghe. Tiếp tục tuần tiễu.”

***

Võ Bằng về phòng, cơn mệt ập đến như sóng ngầm. Anh chỉ kịp ngả lên giường, ngủ thiếp. Khi tỉnh dậy, đã quá nửa đêm. Anh mừng không ai gọi, tức là mọi sự bình yên. Nhưng lo âu vẫn thôi thúc, anh hối hả lên đài chỉ huy.
Bầu trời sao giăng dày đặc. Vài cụm mây lặng lờ. Nửa mảnh trăng chếch sáng, ánh bạc trải lên biển phẳng lặng. Anh đứng im, thở một hơi dài. Âm vang tiếng súng như còn vọng trong tai. Anh nghĩ đến cha mẹ, vợ con của những kẻ chết chìm. Nỗi đau của họ bao giờ mới nguôi? Vì đâu mà phải vào Nam để chết?
Súng đạn đã chìm theo họ, đúng là phe ta bớt đổ máu. Nhưng trong anh vẫn dấy lên mặc cảm giết người. Và trớ trêu thay, chính “thành tích” ấy sẽ được ghi vào quân bạ, tính điểm thăng cấp. Võ Bằng thở dài. Giờ đây, anh thấm thía thế nào là gánh nặng của một cấp chỉ huy: một mất một còn, giết hay bị giết!
Anh lặng lẽ ngồi lên ghế. Vẫn tiếng sóng rì rào nhưng giờ nghe như tiếng thì thầm nhắc nhở: “Không có lựa chọn nào khác đâu, Hạm trưởng Võ Bằng ơi!”

***

Tiếng loa vang lên xé tan suy tưởng:
– Đài chỉ huy. Có đối vật hướng 10 giờ, khoảng cách 20 hải lý.
Hai mươi hải lý, xa thế mà radar bắt được? Chắc chắn phải là một con tàu lớn.
Võ Bằng hỏi lại cho chắc:
– Radar. Xác nhận đó là đảo hay đối vật di chuyển?
– Thưa, đối vật di chuyển, hướng đông, vận tốc 18 gút.
Một luồng rờn rợn chạy dọc sống lưng anh. Hướng đông chính là tiến đến Hòn Ngang, một đảo hoang. Thương thuyền nào lại đi hướng này? Không, đây chỉ có thể là tàu xâm nhập. Và vận tốc của nó lại nhanh hơn tàu mình!

Võ Bằng nhìn hải đồ. Chiến hạm cách Hòn Ngang về phía Bắc hai hải lý. Tàu xâm nhập cách 20 hải lý về phía Đông. Rút kinh nghiệm lần trước, chận đường nó, nó bỏ chạy, lại đuổi không kịp. Anh quyết định chạy nhanh đến Hòn Ngang rồi tắt máy thả trôi. Biết đâu radar địch lầm tưởng tàu ta là đảo.
Anh nói vào ống loa:
– Phòng chiến báo. Có Hạm phó ở đó?
– Có tôi, thưa Hạm trưởng.
– Tốt. Hãy quan sát kỹ. Thường xuyên cho khoảng cách, hướng và tốc độ đối vât.
– Nhận rõ.
– Liên tục báo độ sâu.
– Nhận rõ.
Khi Hòn Ngang đã hiện lờ mờ, độ sâu 5 fathom, Võ Bằng cho tắt máy tàu. Điều anh lo là dù gió nhẹ nhưng chiều thổi vào Hòn Ngang. Anh hỏi:
– Radar. Cách bờ đảo bao xa?
– Thưa, 110 yards.
– Báo tôi biết khi còn 100 yards.
Võ Bằng quay sang sĩ quan đương phiên:
– Tắt hết đèn. Darken ship! Giám lộ, sẵn sàng đèn hiệu.
Rạch Gầm hòa mình vào bóng tối. Chỉ còn ánh đèn đỏ từ các bảng điều khiển trên đài chỉ huy hắt lên gương mặt các quan sát viên trông như ma biển.

***

Một giờ nặng nề trôi qua. Nửa vầng trăng chênh chếch. Biển tỏa màu bạc lóng lánh lân tinh. Một nhân viên la lên:
– Trình Hạm trưởng. Đã thấy đối vật mờ mờ hướng 9 giờ.
Võ Bằng nâng ống dòm. Rõ ràng là tàu lớn, có thượng tầng và phòng lái nhưng không đèn hải hành. Anh hít một hơi thật sâu, giọng dõng dạc, rành rọt, quyết đoán:
– Cho nhiệm sở tác chiến!
Tiếng còi kêu rền, tiếng chân rầm rập và tiếng nạp đạn, mở khóa an toàn. Điện thoại viên truyền lệnh Hạm trưởng đến các khẩu pháo:
– Nếu bị bắn, phản pháo tức khắc. Khẩu 76 ly ưu tiên triệt hạ đài chỉ huy và khẩu pháo trước mũi.
Tiếng từ phòng chiến báo:
– Đài chỉ huy. Khoảng cách đối vật: một hải lý.
Võ Bằng nói lớn:
–  Giám lộ, đánh đèn hỏi nó là ai!

Ánh đèn mới chớp vài lần, lửa từ tàu địch lóe lên, rồi tiếng pháo gầm, đạn ào ào bay tới. Mọi loại súng đồng loạt phản pháo. Mặt biển rực lửa. Hai quả pháo địch rơi sát mạn trái Rạch Gầm, nước bắn túa lên sàn. Võ Bằng hét:
– Giám lộ. Leo xuống!
Nhiều đốm lửa vụt qua đài chỉ huy. Sĩ quan đương phiên kêu to:
– Ối, tôi trúng đạn…
Võ Bằng bước nhanh tới Thiếu úy Đức, thấy lờ mờ anh ôm bả vai, máu ướt áo, rên rỉ. Anh bảo một quan sát viên dìu Thiếu úy Đức xuống phòng y tế. Thủy thủ Đạt nhanh nhẹn thi hành.
Đúng lúc đó, một quả nổ ngay sau lái, hất tung sóng lên cao như mái vòm trắng. Một cầu lửa nổ bùng ở mũi. Lửa bắn tứ tung. Những tiếng la hét, hốt hoảng nhưng không ai bỏ chạy. Tiếng điện thoại viên run run:
– Trình Hạm trưởng, khẩu 76: 1 bị thương nặng, hai nhẹ. Đại liên 50 tả hạm: một nhẹ.
Đài chỉ huy rung rinh dữ dội. Tiếng súng phản pháo vẫn rền vang. Võ Bằng hét:
– Toán cứu thương đến ngay khẩu 76.

Ánh lửa bùng lên phía tàu địch. Một lỗ thủng toang hoác trên vách đài chỉ huy. Một ánh lửa khác ở mũi mang theo thân người tung cao. Những hình dáng ngã quỵ. Tàu địch đang quay đầu, trình diện nguyên hông phải. Một quả đạn 76 ly bay tới nổ banh mạn giữa, kế tiếp một quả ngay sau lái. Trong ánh sáng bập bùng, thân tàu địch chao nghiêng. Nhiều bóng đen chạy loạn xạ. Lái tàu chúc xuống rồi chìm dần…
Võ Bằng hét:
– Ngưng bắn!
Khói mù mịt phả vào mặt, mùi thuốc súng hăng hắc xộc vào lồng ngực khiến anh choáng váng. Anh nắm chặt thành đài, ra lệnh đổi hướng, tiến đến nơi tàu địch chìm.
Một sự im lặng lạ thường ập xuống, chỉ còn tiếng rên rỉ vẳng lại từ phía xa và tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực. Lại thêm một đối vật chìm sâu. Lại thêm những sinh mạng ra đi vĩnh viễn.

Võ Bằng gọi Phòng truyền tin gửi ngay công điện thượng khẩn về Vùng: “TTBC*. Bị tấn công tại Hòn Ngang. Bị thương 2 nặng (1 sĩ quan, 1 nhân viên), 3 nhẹ. Tàu địch đang chìm. Xin chỉ thị.” (* TTBC = Trân trọng báo cáo)
Anh nói vào miệng loa:
– Hạm phó lên ngay đài chỉ huy.
Giọng Hạm phó vang lên:
– Nhận hành, thưa Hạm trưởng.
Cố vấn có mặt trên đài chỉ huy từ nhiệm sở tác chiến, e dè hỏi:
– Xin lỗi, thương binh được đưa về An Thới hay Rạch Giá? Nếu là Rạch Giá tôi sẽ cho xe cứu thương chờ sẵn tại bến đò.
– Tôi đã báo Vùng, đang chờ. Cảm ơn nhiều.
Đèn pha quét sáng, Võ Bằng bắt gặp hàng chục phao dầu loang và bốn người còn sống sót bám lấy phao, yếu ớt vẫy tay. Anh ra lệnh:
–  Nhận còi nhiệm sở vớt người!
Nhân viên thả thang dây cho họ leo lên. Chỉ một người ì ạch lên tới sàn tàu. Ba người còn lại, tiếp tục bám phao. Người được cứu thì thào:
– Họ bị thương, không leo được.
Hạm trưởng cho lệnh thả ca nô. Ba người được kéo lên. Cả bốn được đưa đến sân mũi. Một thủy thủ cầm súng canh gác.

Võ Bằng giao đài chỉ huy cho Hạm phó. Anh và Cố vấn đến phòng y tá thăm Thiếu úy Đức và bốn nhân viên bị thương. Tất cả đã được băng bó và săn sóc cẩn thận. Anh nói lời trấn an từng người rồi cả hai tiến về mũi tàu. Chóp mũi bị bắn vỡ nát, bay mất trụ cờ. Vẫn còn may, quả đạn chỉ cần chệch một chút là cả pháo đội 76 ly đi đong.
Anh vô tuyến đến trao công điện thượng khẩn: “Ngợi khen quý chiến hạm đánh chìm tàu địch. Đưa 3 nhân viên bị thương nhẹ về An Thới. HQ 3803 tiếp nhận đưa hai nhân viên nặng về bến đò Rạch Giá. Xe cứu thương Mỹ chờ sẵn. Điểm hẹn: Hòn Sơn Tế 1. Giờ gặp 5:00 AM.”
Anh thảo công điện đưa vô tuyến viên: “TTBC. Nhận hành. Tin thêm: Mũi hư hại khá nặng. Vớt 4 địch trong đó 3 bị thương. Kính đề nghị giao chính quyền Rạch Giá.”
Võ Bằng và Cố vấn trở lên đài chỉ huy lúc 4 giờ 15, đủ thì giờ xuôi nam đến điểm hẹn, nếu không gặp biến cố mới…

Vũ Thất

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)