Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 2 (chương 6 & 7)

0 bình luận ♦ 5.08.2023

Chương 6

Hải phận Khánh Hòa
Thứ bảy 5/8/1967 08:30G

Từ sân lái, Võ Bằng bước thong dong như người dạo mát, miệng cười duyên trông dễ ghét. Tôi ôn lại xem mình đã nói những gì khiến Trung sĩ Tùng đề quyết tôi đang yêu Võ Bằng? Thắc mắc về tấm ảnh mẹ bồng con là triệu chứng của bệnh ghen? Mà tôi cũng kỳ, sao thắc mắc làm chi chuyện chẳng dính dáng gì để phải bị nghi oan. Trăm sự cũng tại Võ Bằng, lấy danh nghĩa bạn cùng khóa, anh chàng săn sóc em gái bạn hơi kỹ! Nghĩ đến phải giao tiếp thêm một ngày một đêm nữa mà ngao ngán…

Bằng đứng thay chỗ của Tùng, vui vẻ giãi bày:

– “Không thấy cô ở phòng ăn lẫn phòng ngủ nên tôi có phần lo. Tôi quên dặn cô là sáng sớm đừng lên boong tàu.”

– “Tôi vừa được dặn dò.”

– “Cô quen Trung sĩ Tùng?”

– “Mới vừa quen.”

– “Hy vọng cảnh biển buổi sáng không quá đẹp khiến cô bỏ cữ cà phê. Sinh viên nào mà không nghiện cà phê, phải không?”

– “Tôi có quên đâu.” Tôi nâng cổ tay xem giờ. “Còn một tiếng rưỡi nữa mới hết giờ điểm tâm mà! Vả lại Đại úy nói ăn sáng tự do, thì việc tôi không ăn cũng đâu có phạm… quân lệnh!”

– “Nào ai ép uổng chi đâu!” Bằng cười nụ, nhún vai. “Chỉ đoán rằng cô mất ngủ, hẳn cần nhâm nhi tí cà phê cho tươi tỉnh, vậy mà!”

– “Bây giờ tôi bắt đầu thấy mệt hơn.” Tôi bóng gió.

– “Tôi đề nghị thế này: trước là cà phê cà pháo, sau là thăm một vòng chiến hạm. Cô từ chối một, coi như từ chối cả hai!”

Tôi thích chí cười thầm. Cả hai tôi đang tối cần, từ chối sao được. Nhưng việc thăm chiến hạm, ưu tiên hơn. Tôi nói:

– “Tôi nhận lời với điều kiện đảo ngược.”

– “Đồng ý!”

Võ Bằng chỉ khối sắt chễm chệ giữa tàu:

– “Khối sắt đó phân chia boong tàu hai phần: sân mũi và sân lái. Bên trong khối sắt là phòng Hạm Trưởng, cao hơn là Trung tâm Chiến Báo và Phòng Truyền Tin. Trên hết là Đài Chỉ Huy. Chúng ta đang đứng ở sân mũi. Ngay trước mắt cô là khẩu súng to nhất của chiến hạm, có tầm bắn xa 18 cây số. Quanh nó là các thùng đạn. Cạnh đó là máy kéo và thả neo.”

Tôi nhìn hai thùng đạn khá lớn đặt sát vách khối sắt, và hai đặt hai bên khẩu pháo. Các nắp thùng đạn chỉ được cài bằng các chốt vặn, dễ dàng mở nắp đặt vào quả bom. Tôi cân nhắc địa hình. Thật là một địa điểm lý tưởng. Ngay phía dưới là Khu Sĩ Quan, bên trong là Phòng Hạm Trưởng, trên cao là Đài Chỉ Huy. Chỉ cần đặt quả bom vào bất cứ thùng đạn nào, quả bom sẽ kích nổ dây chuyền cả bốn thùng, chắc chắn chiến hạm cùng toàn bộ sĩ quan sẽ bị banh xác. Việc mang quả bom lên chỗ này không đến đỗi nguy hiểm vì đây là lối đi dành riêng cho sĩ quan. Chỉ cần né tránh giờ đổi phiên trực. Việc đặt bom thực hiện sau 5 giờ sáng là lý tưởng nhất. Trường hợp bị bắt gặp, sẽ viện cớ vừa khám phá mua lầm thùng margarine hết hạn sử dụng nên đem ném bỏ. Tôi thở ra sảng khoái với địa điểm tìm được và lý do hợp lý. Tuy nhiên, biết đâu còn nơi khác lý tưởng hơn.

Tôi bước theo Võ Bằng dọc hành lang mạn trái đến sân sau. Đây là khu vực tôi ói mửa đêm qua. Sân tương đối rộng là nơi tập họp toàn thể thủy thủ đoàn để điểm danh và phân chia công tác. Mỗi bên mạn tàu có một dàn thả thủy lôi chống tàu ngầm, một khẩu súng trung liên và một đại liên. Chỉ là các thùng đạn nhỏ để quanh các khẩu súng. Không địa điểm nào hấp dẫn để đặt bom ở khu vực này.
Võ Bằng đi ngược về phía mũi dọc mạn phải và dừng lại trước khung cửa dẫn vào lòng tàu. Anh chàng nói lớn:

– “Bây giờ chúng ta đi thăm nhà bếp và khu ăn ngủ của hạ sĩ quan và thủy thủ.”

‘Chà! Nơi này mà cho nổ thì hốt trọn cả trăm người.’ Tôi nghĩ thầm khi bước đến bên Võ Bằng. Ngay trước khi bước qua khung cửa, tôi chợt nhìn thấy một bờ biển cát trắng chạy dài nối liền một thành phố. Phía sau là dãy núi đen thẫm, chập chùng. Tôi hỏi:

– “Thành phố nào vậy, Đại úy?”

– “Mình đang đi ngang Nha Trang.” Bằng chỉ tay về một khu nhà cô lập. “Kia là quân trường Hải Quân, nơi tôi từng thụ huấn.”

– “Đại úy học ở đó bao lâu?”

– “Hai năm.”

– “Cực khổ lắm hả, Đại úy?

– “Thử tưởng tượng cô học đại học bốn năm mà bị dồn ép phải học trong hai năm. Đó là chưa kể huấn luyện quân sự.”

– “Huấn luyện viên người Mỹ?”

– “Đại học Sư phạm của cô có giáo sư Mỹ?”

Tôi lắc đầu. Võ Bằng gật gù:

– “Trường Sinh viên Sĩ Quan Hải Quân cũng vậy. Ngay cả lớp học tiếng Anh cũng do giáo sư Việt.”

– “Cô bạn tôi có bồ là Sinh viên Sĩ Quan Thủ Đức, cuối tuần là cùng nhau dung dăng dung dẻ. Suốt hai năm, chắc Đại úy… cũng vậy, phải hôn?”

– “Chúng tôi không dung dăng dung dẻ vì tôi đóng đô ở nhà nàng.”

– “Bây giờ cô ấy là phu nhân Đại úy Võ Bằng?”

Bằng quay sang tôi cười:

– “Không, bây giờ cô ấy là phu nhân một vị giáo sư. Tôi đã nói với cô rồi mà…”

Bằng lại nhìn về phía thành phố mà tôi đoán là chàng ta đang tìm ngôi nhà đóng đô xưa. Chợt nhớ là đã tự hứa không thắc mắc về đời tư của Võ Bằng, ấy vậy mà giờ tái phạm, tôi chuyển đề tài:

– “Cái đảo đó là đảo gì, Đại úy?”

Võ Bằng nhìn theo hướng tay tôi chỉ:

– “Hòn đảo lớn đó tên là Hòn Lớn. Khóa chúng tôi có một kỷ niệm không bao giờ quên với hòn đảo này. Buổi chiều của tháng đầu tiên huấn luyện thể lực, chúng tôi được một tàu đổ bộ thả lên bãi bên này đảo và đón nhận ở bãi bên kia. Trời cũng góp phần huấn luyện nên mưa xối xả suốt trọn đêm chúng tôi mò mẫm lần qua đỉnh núi. Sau đêm đó chúng tôi thấy mọi huấn luyện khác đều… nhẹ nhàng!”

Nhìn bộ mặt tươi tắn trẻ trung của Bằng tôi không thể không nghĩ anh chàng nói xạo. Rồi bỗng nhớ tới lời cô bạn kể về anh bồ than thở chuyện bò hỏa lực sống chết như chơi, tôi muốn đưa ra một nhận xét mang chút cảm thông nhưng tự nhủ mắc mớ gì… thông cảm!

Võ Bằng lại lên tiếng:

– “Chuyện hòn lớn nhạt nhẽo quá phải không? Thì kể chuyện mấy hòn nhỏ nghe thú vị hơn. Cô hãy nhìn hai hòn đảo có dạng hình parabol kia!”

Tôi nhìn theo hướng tay chỉ của Bằng. Quả thật có hai hòn đảo, một cao lớn, một thấp nhỏ nhưng đồng dạng như hai anh em đang ngồi đùa cùng sóng biển. Màu nước trở thành xanh thẫm trước hai khối đá loang lở rong rêu. Tôi xoay nghiêng và bắt gặp tia mắt đam mê của Bằng. Tôi hỏi:

– “Hai hòn đảo đó tên gì, Đại úy?”

– Một mang tên Hòn Nội và một là Hòn Ngoại. Do những yếu tố đặc biệt nào đó chưa ai rõ, chim Yến các nơi đua nhau về đây làm tổ và từ đó hai đảo mang chung tên Hòn Yến. Tổ yến nổi tiếng khắp nơi vì được đồn đại là thuốc tiên dành cho giới nhà giàu!”

– “Sao gọi là dành cho giới nhà giàu? Bộ người nghèo là chịu chết sao? Mà tổ yến là thần dược cho bệnh gì?”

– “Suy nhược. Nó đắt như vàng, nghèo đừng mong rớ tới!”

– “Tôi chưa từng nghe. Thật khó tin!”

– “Đặc tính này của loài chim yến càng khó tin hơn. Đó là lòng chung thủy.”

Võ Bằng lặng thinh đăm đăm nhìn tôi. Tôi sốt ruột:

– “Đại úy kể tiếp đi chứ, lòng chung thủy thế nào đến nỗi khó tin?”

– “Kể chuyện mà cứ nghe cô gọi Đại úy ơi Đại úy hỡi, làm mất hứng! Gọi bằng anh đi, cho thân mật.”

– “Quen Đại úy chưa đầy một ngày mà! Cần thêm thời gian.”

– “Đồng ý. Hạn chót là trước khi rời tàu.”

Tôi lờ điều kiện của Võ Bằng, nhắc lại câu hỏi;

– “Lòng chung thủy của loài yến ra sao?”

– “Mấy năm trước, tôi được nghe một ông thượng sĩ già kể chuyện về loài chim Yến. Chúng bé nhỏ, yếu đuối vì thế tìm sống nơi các vách núi để tránh các loài hiểm ác. Một khi đã thành chồng vợ là thủy chung một đời. Tổ ấm xây ở đâu là suốt đời ở đó. Hàng ngàn tổ yến trên cùng một vách đá mà luôn luôn về đúng tổ của mình. Tổ yến được cả vợ lẫn chồng tạo thành bằng nước miếng kết với cỏ cây và với chính những chiếc lông của chúng.

Loài chim yến hiền hòa tránh được ác thú nhưng rất không may gặp phải loài người. Họ cho rằng tổ yến là thần dược trị suy nhược nên tổ yến trở thành nguồn sống của người nghèo và là thuốc trường sinh cho người giàu. Do đó loài chim yến nhận lấy thảm kịch. Có người lấy trọn tổ, ném yến con xuống biển. Khi bị lấy mất con hay mất tổ, chim mẹ đau buồn bay đâm đầu vào vách núi tự sát đúng ngay nơi cái tổ của mình. Chim cha sau khi bay vài vòng kêu gào thảm thiết rồi cũng một lòng tự sát theo vợ. Lại còn có tiếng đồn tổ yến hồng mắc hơn tổ yến thường. Do đó có người khi lấy tổ yến đã cố tình chừa lại một ít, Yến phải xây lại tổ thật gấp cho kịp ngày sinh nên không đủ nước miếng đến phải khạc ra máu.”

– “Nghe thảm thương quá! Có thật vậy sao?”

– “Tôi nghe vậy hay vậy chớ chưa có dịp nhìn tận mắt. Nếu cô muốn kiểm chứng, hôm nào tôi và cô cùng đi Nha Trang, ra Hòn Yến…”

– “Hiện tại Đại úy nên tiếp tục đưa tôi đi xem tàu.” Tôi ngắt ngang.

Võ Bằng nở nụ cười miễn chấp, bước qua khung cửa. Khi đến ô vuông trên sàn có thang đứng dẫn xuống phòng ăn sĩ quan, Võ Bằng nói:

– “Thay vì xem tàu rồi ăn sáng, tôi e hết giờ ăn sáng. Vì vậy đề nghị chúng ta cà phê cà pháo rồi hãy tiếp tục.”

Tôi nhìn đồng hồ: 8 giờ 30. Tôi gật đầu đồng ý. Bàn ăn trống trơn. Phòng ăn chỉ có mỗi tên Mỹ ngồi ở sofa chơi với bộ bài. Võ Bằng đưa tay nhấn chuông rồi kéo ghế cho cả hai. Chúng tôi cùng ngồi.

Anh thủy thủ hôm qua xuất hiện, vui vẻ hỏi:

– “Chị uống cà phê?”

Tôi đứng lên muốn tự làm lấy nhưng anh thủy thủ lên tiếng:

– “Cà phê pha sẵn, để tôi mang đến.”

Anh trở lại với một cái khay gồm hai ly cà phê, hũ đường và hộp sữa ông Thọ.

– “Hạm Phó và chị dùng gì? Có trứng chiên và bánh mì hoặc cháo hột vịt muối.”

Võ Bằng chờ tôi chọn trước. Tôi nói với anh thủy thủ:

– “Nhờ anh chỉ chỗ cho tôi tự làm lấy!”

– “Trên chiến hạm. mỗi người mỗi việc mà cô thì không được chia việc. Hãy cho biết cô thích ăn gì!” Võ Bằng nói nhỏ.

Nếu đang ngồi với Hưng thì tôi đã làm mặt giận không ăn. Nên đành nói:

– “Anh cho bánh mì trứng chiên.”

– “Tôi cũng vậy.” Võ Bằng lên tiếng.

Anh thủy thủ ‘đáp nhận’ rồi hối hả rời phòng. Tôi nhăn nhó:

– “Tôi đã quen tự lo cho mình, Đại úy làm tôi vô cùng áy náy!”

– “Hãy dành sự áy náy cho việc cô từ chối lời mời đi xem Dr. No. Còn ở đây, đó là nhiệm vụ của Hạ sĩ Tốt mà chuyên nghiệp gọi là Chiêu Đãi Viên.

Tôi mỉm cười với cái chuyên nghiệp trong quân đội mới nghe lần đầu. Võ Bằng như hiểu nụ cười của tôi, nói:

– “Chưa lạ đâu. Các Chiêu Đãi Viên còn bị bè bạn đặt biệt danh là Phi Hành Gia.”

– “Sao mà từ cái nghề tầm thường lại vọt lên cao quý đến thế?”

– “Cô thử tưởng tượng hai tay bưng hai dĩa thức ăn chạy như bay xuống cầu thang.”

– “Còn biệt danh của Đại úy?”

Anh Phi Hành Gia đặt thức ăn lên bàn. Võ Bằng nhấc hũ muối tiêu rải lên trứng, xé mảnh bánh mì chấm vào trứng rồi đưa lên miệng lặng lẽ nhai. Được vài miếng, anh chàng nghiêng mặt nhìn tôi:

– “Biệt danh của tôi hả? Nói không được!”

Tôi nhấc chai xì dầu xịt lên trứng. Trứng chiên thật khéo. Tròng trắng và tròng đỏ tạo thành hai vòng tròn đồng tâm. Tôi dùng dao cắt trứng và dùng nĩa đặt trứng lên bánh mì. Tôi nói trước khi đưa vào miệng:

– “Nói không được, tức là có biệt danh không được thơm tho.”

Võ Bằng lặng thinh, không phản đối. Tôi ăn tiếp miếng thứ nhì, vừa nhai vừa tự trách mình ăn nói sỗ sàng. Dù có ghét, cũng phải lịch sự cho qua chuyến đi, huống hồ Bằng đã tận tình giúp đỡ. Tôi tự trách rồi dịu giọng như một biểu hiện xin lỗi:

– “Chừng nào mình mới về tới Sài Gòn hở Đại úy?”

– “Bình thường từ Nha Trang về đến Sài Gòn là mất 24 tiếng, nghĩa là nếu không có gì trở ngại, cô có thể rời tàu sáng mai. Thử chiêm nghiệm xem, lúc đó cô vui hay buồn!”

Tôi thầm trả lời ‘tất nhiên là rất vui’ nhưng miệng nói khác:

– “Còn tới 24 tiếng nữa mà! Đến lúc đó mới biết!”

– “Tôi thì bắt đầu buồn rồi! Cứ mỗi giây phút trôi qua là càng buồn thêm. Tới lúc đó hẳn là rơi nước mắt!”

Dù với cái giọng nửa đùa nửa thật, và dù tôi đang yêu Hưng, những lời của Võ Bằng cũng gây trong tôi ít nhiều xao xuyến. Tôi lại phải chuyển đề tài:

– “Đại úy nói gia nhập Hải Quân là do bạn bè rủ rê, vậy có khi nào Đại úy hối hận?”

– “Hối hận? Ý cô là sao? Tôi nhớ đã có nói tôi gia nhập Hải Quân là đúng thời điểm quân đội cần thêm người.”

– “Thí dụ như Đại úy thấy quân đội… không như ý mình!”

– “Tôi chỉ tự hỏi mình có làm đúng ý quân đội!”

Tôi thất vọng với câu trả lời của Bằng: ‘Thế thì có chết cũng đáng kiếp!’ Đúng lúc tôi tìm lại được sự thanh thản, Bằng lại gây dao động:

– “Bây giờ tôi còn khám phá một điều hay ho. Nhờ nhập ngũ mà tôi nghiệm ra trên đời có lắm điều kỳ bí, thú vị. Như nhờ đi Hải Quân mà hôm nay tôi mới được hân hạnh đi chung tàu với người đẹp Phan Kim Phượng.”

– “Đang nói chuyện đứng đắn, Đại úy cứ nói chuyện đâu đâu.” Tôi càu nhàu.

– “Chuyện thật đứng đắn đấy! Thì cô cứ đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Ai xếp đặt cho tôi và Đính học cùng khóa? Ai xui cô quá giang tàu này? Và như vậy, trăm năm biết có duyên gì hay không?”

Tôi nâng ly cà phê. Mùi thơm hơn mùi cà phê tôi uống hàng ngày. Tôi nhìn về bàn cà phê nhưng không tìm thấy thương hiệu. Tôi nhấp vài ngụm, vị đắng nghét. Tôi chưa để đường. Võ Bằng thấy tôi nhăn mặt, mỉm cười đẩy sang chiếc đĩa đựng hộp sữa đặc. Tôi lắc đầu. Bằng đưa sang hũ đường. Tôi múc đầy muỗng như thường lệ. Vừa nhâm nhi cà phê tôi vừa ngẫm nghĩ cái ‘duyên’ gặp gỡ Võ Bằng. Không, chả có cái duyên nào hết. Chẳng qua anh chàng chỉ mượn ‘Kiều’ để tán tỉnh lăng nhăng. Vấn đề là tôi phải làm sao ngăn chận. Võ Bằng đột ngột hỏi:

– “Có thật là cô chưa yêu ai? Đẹp như cô dĩ nhiên có hàng tá người đeo đuổi.”

Tôi nhìn đồng hồ và đề nghị:

– “Kém 5 là 9 giờ. Anh Tốt đang chờ dọn dẹp. Chúng ta tiếp tục xem tàu.”

Võ Bằng mỉm cười đứng lên, kéo ghế cho tôi dễ rời bàn.

Chúng tôi bước qua khung cửa, đi về phía lái trên một hành lang đầy mùi gia vị.

Cuối hành lang, một khu vực mở rộng, sáng choang, với nhiều dãy bàn và một số thủy thủ. Có tiếng hô “nghiêm” từ đâu đó, tất cả đứng lên và sau tiếng “nghỉ” của Bằng, tất cả ngồi xuống. Nhân viên chào Hạm Phó của họ mà tôi thấy ái ngại như mình đang được chào. Phải biết thế thì đã không đòi đi.

Tôi cố giữ bình thản, quan sát. Tổng cộng bảy dãy bàn bọc formica xanh, ba nằm ngang và bốn nằm dọc theo tàu. Hai bên mỗi dãy bàn là băng ghế bọc nệm, đủ chỗ cho năm người ngồi. Tính theo chỗ ngồi, tổng cộng bảy bàn, là 70 chục người. Hiện diện ở một bàn nằm ngang có năm hạ sĩ quan đang nhậu với bia quân tiếp vụ, trong đó tôi nhận ra Trung sĩ Tùng. Ở hai bàn nằm dọc mỗi bàn có một nhóm người chơi cờ tướng, domino tôi chưa từng gặp mặt. Một tấm lưới sắt thay cho bức vách của khu vực nấu nướng nằm trên khe hở của một quầy dài, một phần là các ngăn đựng đũa muỗng nĩa. Ở một vách treo đủ cỡ nồi niêu xoong chảo. Ở một vách khác là các hộc trống vừa cho quả bom. Có bốn lò điện, mỗi lò là một tấm phản đen tròn, khác cỡ, có núm điều chỉnh độ nóng. Nối tiếp bốn lò điện là hai chậu lớn đựng chén dĩa dụng cụ đã dùng, chờ rửa. Cửa vào nằm sát mạn tàu, dễ vô ra nhưng có vào đặt được quả bom thì cũng chỉ uổng công. Theo ước lượng, nhà bếp ở trên phần nổi, quả bom chỉ làm hư sơ sài con tàu và sát hại vài ba người nhà bếp. Còn đặt bom khu bàn ăn, có thể giết gần cả tàu nhưng chỉ toàn là lính. Mục tiêu chính là Hạm Trưởng, tên Mỹ, sĩ quan, và chiến hạm.

– “Đây là nhà bếp,” Võ Bằng nói, “là nơi cung cấp ba bữa ăn cho cho Hạ sĩ quan và thủy thủ. Mỗi người tự lấy thức ăn đựng trong khay để dọc theo quầy dài. Theo tổ chức nhà bếp, đi chợ và nấu ăn thì có chuyên nghề tiếp vụ. Trông coi bảo quản thực phẩm là quản kho. Tính toán tiền nong lương bổng thì là kế toán. Trách nhiệm tổng quát là Thiếu úy Hoàng Văn. Giờ này các nhân viên nhà bếp được nghỉ ngơi trước khi lo bữa ăn trưa.”

– “Họ không có Phi Hành Gia như sĩ quan?” Tôi hỏi móc.

– “Theo cấp số thì không! Nhưng hạ sĩ quan du di hay lắm.”

– “Du di thế nào?”

– “Tôi không muốn biết vì biết thì phải cấm!”

– “Còn chỗ ngủ, có khác biệt không?”

– “Có chút khác biệt. Họ đều nằm giường treo nhưng với hạ sĩ quan thì có thêm tấm nệm cá nhân.”

– “Tôi muốn xem tận mắt!”

– “Xem tận mắt thì không được.” Võ Bằng tủm tỉm cười.

– “Sao lại không được?” Tôi thắc mắc.

– “Tôi nói không được là không được.”

Lại ‘nói không được’. Cho là anh chàng cố tình chọc giận, tôi nằn nì:

– “Nhưng tôi muốn xem!”

– “Bình thường, trước khi tiếp đón quan khách, chiến hạm cần sẵn sàng ở tình trạng hoàn hảo nhất. Hiện tại chưa sẵn sàng!”

– “Chưa sẵn sàng thì xem theo chưa sẵn sàng. Tôi chỉ là kẻ quá giang chớ có là quan khách gì đâu!”

– “Với riêng cô thì còn hơn cả quan khách!”

– “Tại sao?”

– “Cô nhất định muốn biết?”

Tôi gật đầu. Võ Bằng ghé miệng sát tai tôi nói nhỏ:

– “Tại vì không chuẩn bị sợ e có nhân viên ngủ… ở truồng!”

Tôi nghe nóng ở mặt và tự mắng mình: “Cứ ham đòi hỏi. Cho đáng đời!” Tôi vờ không nghe, bước đến bàn của Trung sĩ Tùng. Tùng và bốn người gật đầu chào. Tôi đáp bằng nụ cười. Võ Bằng giới thiệu bốn người tôi chưa quen: Trung sĩ Trọng pháo Hà Quang Lâm, Trung sĩ Giám lộ Lê Tín, Thượng sĩ Cơ khí Đoàn Văn Thức và Thượng sĩ Quản Nội Trưởng Trịnh Minh Hoàng. Hoàng rót bia vào hai ly giấy mời:

– “Xin mời Hạm Phó và cô đây chung vui với chúng tôi vài ly!

Tôi lắc đầu:

– “Xin cám ơn, Phượng không biết uống rượu.”

Võ Bằng không khách sáo, đi liền một hơi tới đáy. Anh chàng cầm luôn ly của tôi:

– “Tôi uống thay cho cô Phượng.” Nói xong là nốc sạch.

Tất cả vỗ tay hoan hô. Trung sĩ Lâm lên tiếng:

– “Hạm Phó uống ngọt lắm, đại diện cô Phượng lần nữa, Hạm Phó?”

– “Hai ly liền tù tì là quá đủ ngất ngư rồi! Hai ly nữa là dám đưa cô Phượng xem phòng ngủ của các anh lắm!”

Tôi quắc mắt nhìn Võ Bằng. Anh chàng cười nham nhở. Quản Nội Trưởng Hoàng cười nói:

– “Bộ Hạm Phó sợ Hạm Trưởng ghi vào Nhật ký Hải hành: ‘Hôm nay Hạm phó say rượu’?”

Trung sĩ Tín họa theo:

– “Cứ uống đi, Hạm Phó. Có bị Hạm Trưởng ghi thì ghi lại ‘Hôm nay Hạm trưởng không say rượu’!”

Tôi hòa tiếng cười vang cùng mọi người. Người thứ tư lớn tuổi nhất, Thượng sĩ Thức rót đầy ly rượu của Bằng và của ông, hai tay nâng hai ly, nụ cười hiền hòa không làm giảm các nếp nhăn ở đuôi mắt:

– “Uống ngọt như Hạm Phó, phải liệt vào hàng cao thủ! Ly này để mừng cao thủ!”

– “Cao thủ về rượu thì không có tôi. Hôm nay đặc biệt chỉ vì muốn ‘cứu bồ’!”

– “’Cứu bồ’. Tôi nổi nóng. “Tôi đâu cần cứu bồ! Tôi xin uống trả ly ‘cứu bồ’.

Tôi cầm ly rượu mời Võ Bằng đưa lên miệng nhắm mắt uống cạn. Tiếng vỗ tay của tất cả hiện diện đồng loạt vang lên. Người tôi bắt đầu rạo rực, nóng bừng. Hơi thở gấp gáp. Bằng lên tiếng:

– “Cám ơn các anh. Tiếp tục cuộc vui nhưng đừng say xỉn. Cô Phượng còn cần đi xem vài nơi nữa.”

Chúng tôi từ giã, đi ngược về khu sĩ quan, dùng cầu thang nghiêng lên tầng trên. Bằng nói:

– “Cô sắp được viếng hai nơi đặc biệt quan trọng, coi như là linh hồn của chiến hạm. Đó là Trung tâm Chiến Báo và Phòng Truyền Tin. Trung tâm Chiến Báo là nơi thu thập tin tức địch còn Phòng Truyền Tin là nơi trao đổi tin tức giữa ta và bạn. Tổng hợp tin tức hai nơi, sĩ quan hành quân sẽ nghiên cứu, phân tích và đề ra các đường lối hành động hiệu quả nhất trình Hạm Trưởng.

Lòng tôi rộn vui. Cơn chếnh choáng say như tan biến. Hưng mà có được tin tức này thì mừng phải biết! Vừa dợm bước thì một nhân viên quần áo ướt đẫm mồ hôi đi vội đến trước Võ Bằng. Anh hổn hển nói:

– “Thưa Hạm Phó, máy chánh tả đang tăng nhiệt độ. Chưa biết lý do.”

Võ Bằng trầm tĩnh nói:

– “Anh trở lại hầm máy, tiếp tục theo dõi. Tôi sẽ báo ngay cho Hạm Trưởng. Nếu thấy nhiệt độ tăng nhanh, cho giảm hoặc ngưng máy.” Võ Bằng quay sang tôi. “Cô Phượng đi với tôi.”

Khi đứng trước buồng Hạm Trưởng, Võ Bằng nói:

– “Xin lỗi tôi phải gặp Hạm Trưởng. Cô Phượng hoặc ra boong chính hoặc về buồng ngủ. Tùy nghi. Sẽ gặp lại sau.”

Võ Bằng gõ vào chữ Hạm Trưởng. Tôi nghe tiếng vọng ‘cứ vào’. Anh chàng đẩy cánh cửa và khuất sau đó. Tôi đứng ngẩn ngơ không biết về hướng nào? Có đi hướng nào thì cũng không thoát khỏi con tàu đang gặp rắc rối!

Chương 7
Hải phận Khánh Hòa
Thứ bảy 5/8/1967 09:25G

Đứng tần ngần một lúc, tôi quyết định bước ra ngoài. Gió từng cơn hâm hấp tạt vào người. Nắng chói chang lấp loáng trên các cuộn sóng lan xa. Những cụm mây trắng bềnh bồng. Vài con hải âu nhởn nhơ. Cả một vùng trời thanh bình, thênh thang. Vậy mà tôi lại đang tìm chỗ thật ngon để đặt bom giết người thật ngọt!

Sàn tàu dưới chân tôi run nhẹ và con tàu hơi sựng lại. Tôi đoán máy tàu vừa giảm như Võ Bằng căn dặn nhân viên. Tôi bước đến cột cờ cuối lái, tò mò nhìn hai cuộn nước thi đua ra sức đẩy khối sắt khổng lồ. Khó mà ngờ lái tàu lại thấp đến thế, chừng không quá một sải tay là đụng mặt biển. Tiếng rầm rập của chân vịt, tiếng xạc xào của nước xoáy tạo thành một thứ âm thanh hỗn độn vui tai. Vùng nước cuồng xoay càng xa đuôi tàu càng dịu dần, cuối cùng hình thành một vệt dài như dòng sông bạc giữa đại dương xanh.

Sảng khoái trước cảnh tượng lần đầu được thưởng thức, tôi ngẩng mặt hít thật sâu. Vừa thở ra tôi vừa xoay người nhìn về hướng mũi. Nói cho đúng, tôi nhìn về phía cửa hông, với hy vọng Võ Bằng xuất hiện. Tôi tìm bóng dáng anh chàng ở tầng cao hơn. Lá Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ bay phất phới ở đỉnh cột giữa tàu. Tôi thực sự ngạc nhiên trước hình ảnh sống động hiện tại so với hình ảnh lặng lờ của lá cờ treo ở cột sau lái tôi thường thấy khi cùng Hưng quan sát sinh hoạt của chiến hạm cập bến Bạch Đằng. Tôi đoán rằng với chiến hạm, lá Quốc Kỳ được treo ở một trong hai vị trí, tùy khi cập bến hay hải hành. Tôi say sưa ngắm hình ảnh mới mẻ vừa khám phá. Nắng vàng và trời xanh tô điểm lá cờ thêm lộng lẫy, uy nghi. Dù Hưng nói gì thì nói, tôi vẫn yêu lá cờ vàng ba sọc đỏ. Còn ý nghĩa nào đẹp hơn ba miền chung dòng máu đỏ da vàng. Tôi chào kính lá cờ đó từ lớp mẫu giáo cho đến ngày nay và chắc chắn tôi còn tiếp tục chào kính cho đến hết đời. Lá cờ đó không chỉ là biểu hiện của dân tộc trường tồn mà còn là biểu hiện quãng đời trưởng thành tươi đẹp của tôi và cuộc sống đầy trọng vọng của ba má tôi. Khi nghe lời Hưng chống Mỹ cứu nước, tôi mụ mị quên mất là lá cờ này ngày ngày vẫn ngạo nghễ phất phới khắp Miền Nam. Bọn Mỹ mang quân đến xâm lược chẳng lẽ quên một việc ưu tiên sơ đẳng là thay thế cờ vàng bằng cờ sao sọc? Con đường tôi chọn hiện tại có đúng là lý tưởng?

Tôi nghe mệt mỏi, chán ngán chừng như sắp quỵ ngã. Hai cột trụ quấn dây hình số 8 cách tôi dăm ba bước xem ra là chỗ ngồi hấp dẫn. Khi tôi vừa ngồi xuống thì chợt thấy trên khoảng sơn đỏ dưới chân có những vệt trắng tinh anh. Tôi khom người đưa tay xoa nhẹ. Thì ra là những hạt muối từ nước biển tạt lên bốc hơi. Tôi nhớ đã bị nước bắn tóe khi đứng ở giữa tàu và đưa tay xoa hai má. Cả hai rin rít các hạt li ti. Trán và cổ tôi đã bắt đầu rịn mồ hôi. Khi đứng lên tìm chỗ tránh nắng, hình ảnh đầu tiên tôi bắt gặp là tên Mỹ ngồi sẵn từ bao giờ ở hai trụ bên mạn đối diện. Hắn mỉm cười, tay vẫy chào. Tôi không cách nào hơn là huơ tay đáp lễ.

Sự hiện diện của tên Mỹ khiến tôi bước về phía mũi tàu dù chưa biết tránh nắng nơi nào. Khi đến bên dưới chiếc ca nô treo kề hông khối sắt, đúng nơi tôi gặp Trung sĩ Tùng vào sáng sớm, tôi đứng nhìn ra biển khơi, nắm dây an toàn bằng cả hai nắm tay. Chân trời gập ghềnh theo dãy Trường Sơn. Hòn Lớn, Hòn Yến không còn bóng dáng. Vẫn biển xanh lao xao, óng ánh, chập chùng. Vẫn trời xanh vời vợi mây trắng lang thang …

Tôi còn phải ngắm những hình ảnh nhàm chán này đến bao lâu nữa? Tàu đã giảm máy nghĩa là chuyến đi kéo dài. Dự trù về đến Sài Gòn sáng mai hóa thành chiều tối? Hưng sẽ chờ… mệt nghỉ! Anh đã quá lạc quan cho rằng sau khi chọn xong nơi đặt quả bom, tôi chỉ việc nằm khểnh nghe ca nhạc kịch. Tổ chức đã cấp cho tôi một cassette nhỏ với hai cuộn băng nhạc Trịnh Công Sơn, một cuộn kịch Kim Cương, một cuộn cải lương Sân Khấu Về Khuya nhưng đêm qua khi về tới buồng là đã ngất ngư, là ngủ thiếp. Rồi khi thức dậy thì bị Võ Bằng bám riết!

– “Mới ra nắng mà đôi má đã ửng hồng. Chắc tôi phải nuốt lời đã thề là không bao giờ còn dám yêu ai nữa…”

Tôi nghiêng mặt về tiếng nói của Võ Bằng. Anh chàng từ sân mũi bước vội đến đứng bên tôi.

– “Gặp Đại úy là nghe Đại úy nói… ‘dớ dẩn’!” Tôi cằn nhằn.

– “Chuyện yêu đương mà chê ‘dớ dẩn’ thì chuyện gì không ‘dớ dẩn’?”

– “Tàu hư gì, Đại úy? Tôi đã cảm thấy tàu chạy chậm lại.”

– “Hệ thống làm nguội máy gặp trở ngại. Cơ khí đang sửa chữa. Hy vọng vài tiếng là xong.”

– “Bớt máy thì chừng nào mới tới Sài Gòn?”

– “Cô khoe là chưa yêu ai mà sao nôn về quá vậy? Tưởng đâu tàu chạy chậm, thì giờ ngắm biển dài hơn, cô mừng mới phải!”

– “Đại úy nói bầu trời chỉ đẹp lúc hoàng hôn và bình minh. Thời gian còn lại chỉ thấy dài lê thê, chán ngắt!”

– “Với tôi thì ngày nào cũng đẹp, cũng ngắn nếu ta biết sử dụng nó.”

– “Đại úy sử dụng thế nào?”

– “Thí dụ như khi ngắm bình minh và hoàng hôn, tôi không chỉ ngắm bằng đôi mắt mà bằng cả tâm trí. Tôi vừa thưởng thức vừa đặt câu hỏi vì sao bình minh và hoàng hôn lại đầy sắc màu như thế! Tương tự, tôi cũng tự hỏi vì sao bầu trời và đại dương lại màu xanh và tại sao màu xanh đại dương lại đậm hơn màu xanh bầu trời. Rồi lại hỏi vì sao có mây và vì sao mây có nhiều loại, lắm màu. Lại hỏi vì sao có bão, gặp bão làm sao tránh? Ngắm lơi khơi, thời giờ không tốn bao nhiêu nhưng để giải tỏa các thắc mắc, có khi phải mất nhiều ngày. Phải đến thư viện. Phải tìm đúng sách. Phải đọc. Phải nghiên cứu!”

– “A! Một gợi ý rất hữu ích, thiết thực, đáng thực hành.” Tôi thích thú kêu lên. “Lâu nay tôi vô tâm quá! Từ nay phải học hỏi theo lối của Đại úy. Bắt đầu, Đại úy làm ơn cho tôi mượn sách giải đáp các câu hỏi Đại úy vừa nêu.”

– “Tàu có thư viện, nhưng rất tiếc không có sách cô cần!”

– “Vậy Đại úy có sẵn lòng thay thế… thư viện?”

– “Với ai khác thì tôi sẽ nói không huởn, nhưng với cô thì tôi sẵn lòng bất cứ lúc nào!” Võ Bằng mỉm cười với vẻ âu yếm. “Vì sao biển và trời có màu xanh? Hẳn cô còn nhớ, thời trung học, chúng ta đã biết ánh sáng là tổng hợp của bảy màu: đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím. Khi ánh sáng chiếu vào bầu khí quyển trong đó có các phân tử, các hạt bụi, hạt nước, mỗi màu của ánh sáng có độ dài sóng, tần số và năng lượng khác nhau sẽ bị hấp thụ hoặc phản xạ hoặc khuếch tán khác nhau. Màu có độ dài sóng lớn như đỏ, cam, vàng sẽ bị hấp thụ nhiều; có độ dài sóng ngắn như xanh, lam, chàm, tím sẽ bị khuếch tán và phản xạ. Do mắt người nhạy cảm với màu xanh nên nhìn bầu trời chỉ thấy màu xanh. Môi trường của biển tương tự môi trường khí quyển. Nhưng màu xanh của nước biển đậm hơn màu xanh của bầu trời là vì ngoài khuếch tán màu xanh của ánh sáng còn phản chiếu thêm màu xanh bầu trời.”

Tôi hân hoan tương đắc với hiểu biết mới. Chỉ cần hai chữ ‘vì sao’ để thêm kiến thức mà lâu nay quá vô tình! Để bày tỏ chút lòng biết ơn Võ Bằng, tôi nồng nhiệt hỏi:

– “Đại úy, vì sao lại có sóng bạc đầu? Có phải vì phần trên đỉnh sóng tan vỡ thành bong bóng, đủ mỏng để ánh sáng xuyên qua, không khuếch tán, không khúc xạ, nghĩa là giữ nguyên màu trắng?”

Võ Bằng kêu lên như khoa học gia Archimedes khám phá chân lý:

– “Eureka! Eureka! Cô phải là tri kỷ của tôi mới được.”

– “Đại úy nói, khi ánh sáng chiếu vào bầu khí quyển, bảy màu của ánh sáng bị khúc xạ, khuếch tán tùm lum, nhưng ta chỉ thấy màu xanh vì màu xanh nhạy cảm với thị giác. Xin hỏi, vậy thì vì sao khi mặt trời mới mọc và sắp lặn, ta lại thấy màu đỏ?”

– “Vì sao ư?” Võ Bằng tươi cười đáp. “Vì vào thời điểm đó lớp khí quyển của trái đất dày nhất nên các màu đều bị khuếch tán, trừ màu đỏ. Màu này có độ dài sóng lớn nhất nên dễ dàng xuyên qua. Khi mặt trời lên cao dần, bầu khí quyển mỏng dần, màu đỏ bị khuếch tán dần. Cho đến thiên đỉnh, tức giữa trưa, lượng khí quyển mỏng nhất nên mặt trời trở thành trắng lóa.”

Thấy Võ Bằng nhìn đồng hồ, tôi vội hỏi:

– “Còn về mây? Đại úy nói mây có lắm loại, có nhiều màu.”

Võ Bằng mỉm cười, cặp mắt không rời khuôn mặt tôi:

– “Cô thật sự muốn biết? Có ăn nhằm gì môn Sử-Địa đâu?”

Thay vì thú nhận rất muốn biết, tôi trêu chọc:

– “Để giết thì giờ mà!”

– “Đại khái mây là khối tập họp hơi nước. Một đám mây nhỏ có thể nặng tới 500 tấn. Nhưng tại sao chúng không bị rơi xuống đất mà lại trôi lang thang? Là vì hơi nước nhẹ hơn không khí nên có khuynh hướng bốc lên cao nhưng lại đủ nặng để chịu lực hút của trái đất. Khi mức độ tích tụ tăng cao, tùy nhiệt độ của khí quyển mà ngưng tụ thành giọt nước hay tinh thể nước đá và rơi xuống thành mưa, thành tuyết hay mưa đá.”

Võ Bằng ngưng nói, mắt vẫn đăm đăm nhìn tôi. Tôi hơi ngượng, nhắc:

– “Còn loại mây, màu mây?”

Võ Bằng chớp mắt làm như sực tỉnh:

– “À, mây được ghi nhận có 10 loại mang tên bằng tiếng Latin rất khó nhớ. Dù chỉ phải nhớ một tên thôi, tôi thà nhớ tên Phan Kim Phượng.” Võ Bằng nhăn nhở cười duyên. “Mười loại mây này được đặt tên theo độ cao của nó và được xếp vào ba tầng: tầng thấp, tầng trung và tầng thượng. Tầng thấp từ mặt đất lên 2 ngàn mét gồm 4 loại: Cumulus, Stratus, Stratocumulus và Nimbostratus. Tầng giữa từ 2 ngàn mét đến 7 ngàn mét gồm 2 loại: Altocumulus và Altostratus. Tầng thượng từ 7 ngàn mét tới 18 ngàn mét gồm 4 loại: Cirrus, Cirrocumulus, Cirrostratus và Cumulonimbus. Còn màu của mây thì tùy thành phần cấu tạo, tùy độ dày mỏng… mà có mây trắng, mây đen, mây ngũ sắc, v.v.”

Võ Bằng chỉ một cụm mây gần chân trời:

– “Đó là loại mây Cirrus, có dạng tơ trắng mong manh, giăng lơ thơ rất cao trên nền trời khiến không thể không nghĩ tới câu thơ Đỗ Phủ: ‘Thiên thượng phù vân như bạch y’.”

Anh chàng nhìn quanh, tìm kiếm, lại tiếp:

– “Cụm mây như cục bông gòn kia là loại mây Cumulus tôi thích nhất. Nó báo hiệu một ngày trời rất đẹp. Gặp gió, loại mây này biến hóa thiên hình vạn trạng trong đó có bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương. Nhưng tôi lại rất ghét một loại mây tương tự cumulus mang tên cumulonimbus. Loại mây này rộng hơn, dày hơn, cao hơn, có màu xám đậm gây những trận mưa rất lớn. Có thể đây là loại mây được người xưa mô tả là… thâm đông, chúng ta đề cập hôm qua!’

Tôi tặng Võ Bằng một cái liếc xéo trước khi nghe tiếp:

– “Người xưa cũng hay nói ‘sau cơn mưa trời lại sáng’ nhưng ít khi nói về một hiện tượng đặc biệt là sau cơn mưa còn có thể có ‘mống chuồn’.”

Tôi phì cười lớn. Võ Bằng có cái tài là không để tôi giữ được vẻ mặt bình thản hay trang nghiêm. Anh chàng phát âm ‘mống chuồn” thay vì ‘móng chuồn’, gợi tôi nhớ thời mới lớn bạn bè hay dùng để chọc ghẹo nhau. Hưng rất hiếm khi nói đùa hoặc anh có nói mà vì ngôn ngữ bất đồng, tôi không hiểu đủ để bật tiếng cười. Lắm khi tôi phải yêu cầu anh nói lại. Nhưng với Võ Bằng, cùng miệt vườn, cùng ngôn từ dân dã, thật dễ cảm thông và gần gụi. Tôi vui vẻ khuyên can:

– “Đại úy nên dùng danh từ ‘cầu vồng’ cho nó đúng sách vở, chớ dùng ‘móng chuồn’ tôi nghe… nhột quá!”

Võ Bằng cười thiệt tươi:

– “Tiếng Việt mình thật tuyệt vời. Móng chuồn là một cách ám chỉ, mây mưa là một cách ám chỉ khác. Nhưng… vì sao có móng chuồn? Giải thích hiện tượng này thì dông dài, chỉ cần biết đại khái là do mặt trời chiếu qua triệu triệu giọt mưa, bị phản xạ và khúc xạ liên miên nên hiện nguyên hình bảy màu: đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím.”

Võ Bằng lại nhìn đồng hồ, tôi vội hỏi:

– “Như vậy Hải Quân học về mây để tiên đoán thời tiết?”

– “Chỉ phần nào thôi, như phong vũ biểu Barometer, là một cảnh giác trong khi chờ xác nhận từ bản tin chính thức do các đài khí tượng chuyển đến. Bản tin khí tượng đặc biệt hữu ích khi có bão. Nó cho biết tâm bão đang ở tọa độ nào, hướng di chuyển, vận tốc, sức gió ra sao, nhờ đó chiến hạm tìm vùng an toàn để tránh.”

Tôi nghiêng mặt, định hỏi tiếp thì đã nghe giọng cợt đùa:

– “Bây giờ là 11 giờ 15 phút. 15 phút nữa tôi phải chuẩn bị để nhận phiên hải hành. 15 phút đó đủ để tôi trả lời các câu cô hỏi về tôi, như tôi đã yêu ai và đang yêu ai!”

– “Đại úy có hứa sẽ đưa tôi viếng Trung Tâm Chiến Báo!” Tôi thản nhiên nhắc nhở.

– “Tôi luôn luôn giữ lời hứa. Thì viếng Trung Tâm Chiến Báo!”

Chúng tôi leo lên sân thượng bằng chiếc thang thẳng đứng tựa vách khối sắt. Sân thượng là một khoảnh sân vuông vức mỗi cạnh năm thước. Giữa sân có một cầu thang bắc lên tầng cao hơn, tôi đoán là Đài Chỉ Huy. Một cạnh là vách của tầng giữa. Ở mỗi cạnh dọc hông tàu là một ổ súng máy. Cạnh cuối cùng nhìn thẳng hướng lái tàu. Lên cao hơn, phối cảnh đổi thay, tôi mải mê ngắm biển và trời. Xem chừng biển bao la hơn, trời vời vợi hơn, sắc màu tươi sáng hơn, tàu thuyền rõ nét hơn.

Võ Bằng mở cánh cửa nặng nề phía sau cầu thang phô bày một buồng nhỏ chất chồng nhiều khối máy móc đang hoạt động. Có khối với những ô chữ số, có khối nổi sóng tín hiệu. Có khối mang dãy gạch đỏ đen. Một nhân viên tháo gỡ ống nghe đứng lên chào. Võ Bằng giới thiệu chúng tôi rồi theo một lối đi hẹp vào sâu hơn. Một chiếc bàn vuông lớn đặt giữa gian phòng rộng mát, quanh bốn vách gắn lỉnh kỉnh các dụng cụ tôi chưa từng thấy bao giờ. Võ Bằng nói:

– “Trung Tâm Chiến Báo là đây. Mỹ gọi là CIC, viết tắt chữ Combat Information Center. Hai khí cụ có màn ảnh tròn đặt ở hai góc là máy Radar và Sonar. Như tôi đã có dịp nói qua, Radar là máy phát giác tàu và phi cơ địch. Sonar phát giác tàu ngầm. Rất tiếc chiến hạm đang trên đường về bến nên không thể cho cô xem tận mắt, nghe tận tai các hình ảnh và âm thanh tuyệt vời của chúng. Ba dụng cụ gắn ngang hàng trên vách hông là đồng hồ 24 giờ, phong vũ biểu Barometer và máy đo chiều sâu Fathometer.”

Võ Bằng đứng sát mép tấm bản đồ chiếm trọn mặt bàn, bên trên có bút chì, com-pa, thước kẻ song song:

– “Đây là tấm hải đồ và các thước đo cần thiết cho việc hải hành và săn tàu ngầm. Việc hải hành được chia thành hai loại: Hải hành cận duyên và hải hành viễn dương. Một phương pháp hải hành dùng chung cho hai loại này là Phương pháp Hải Hành Phỏng định, tiếng Mỹ gọi là Dead Reckoning. Võ Bằng chăm chú nhìn tôi dò xét. Thấy tôi tỏ vẻ lắng nghe, anh chàng vui vẻ tiếp:

– “Để dễ thấy phương pháp này, một so sánh cụ thể rất nên đưa ra. Ví dụ mình tính đi đâu đó bằng xe hơi với vận tốc trung bình 60 cây số giờ và dự trù đến nơi sau 10 tiếng. Nếu không bị kẹt xe, hoặc không bị Việt Cộng đắp mô thì đến đúng giờ dự trù. Ảnh hưởng của gió không làm thay đổi tốc độ, vì chỉ cần bớt hay tăng thêm ga. Với tàu biển thì gió và dòng hải lưu có tác động rất lớn. Bởi vì khác với xe chạy trên mặt đường, tàu thì chạy trên mặt biển. Nghĩa là dù hướng đi và vòng quay chân vịt giữ nguyên, con tàu bị gió và hải lưu đẩy giạt ít nhiều khỏi đường đi và đồng thời làm tăng hay giảm tốc độ. Nói cách khác, con tàu sẽ đến ngoài địa điểm đã định đồng thời đoạn đường di chuyển cũng dài hơn hoặc ngắn hơn.

Võ Bằng lại ngưng nói, nhìn tôi. Chỉ đến khi tôi cho biết đã hiểu anh chàng mới chịu trình bày tiếp:

– “Một rắc rối nữa là trên thế giới, tùy theo vùng và theo mùa, chiều và vận tốc của gió và của dòng hải lưu khác nhau. Nói riêng về bờ biển của chúng ta, có hai mùa gió, là mùa gió Đông-Bắc tức mùa Gió Chướng, thổi từ đông-bắc xuống tây-nam khoảng tháng 11 đến tháng 4. Và mùa gió Tây-Nam, thổi ngược lại, từ tháng 5 tới tháng 10. Về dòng hải lưu thì coi như gió chiều nào dòng hải lưu chảy theo chiều ấy.”

Võ Bằng chỉ một vòng tròn lớn in sẵn trên hải đồ:

– Đây là Vòng Tròn Định Hướng, tiếng Anh gọi là Compass Rose, được chia đều thành 360 góc độ. Đường thẳng qua số 0 và 180 là trục Bắc Nam của Trái Đất. Đường thẳng qua số 90 và 270 là hướng Đông Tây.”

Anh chàng chỉ một đường thẳng kẻ sẵn bằng viết chì trên hải đồ và vẽ thêm hai gạch chéo hai bên đường kẻ:

– “Còn đây là đường đi thật 190 độ của chiến hạm và giả thử một bên đường đi có một đảo chìm và bên kia là vùng đá ngầm. Khi bị gió và hải lưu đánh giạt, con tàu sẽ va phải một trong hai đối vật này. Vì vậy, tùy mức độ nguy hiểm của hải trình, thỉnh thoảng sĩ quan đương phiên phải xác định vị trí chiến hạm. Xác định bằng cách dùng la bàn đo ba góc độ của ba đối vật trên bờ. Điểm giao nhau của chúng là vị trí thật của chiến hạm lúc đó. Khi thấy vị trí này nằm ngoài đường đi thật, sĩ quan đương phiên phải tính toán để định ra hướng đi mới sao cho con tàu dù bị giạt vẫn nằm trên đường đi thật. Thí dụ như chúng ta đang trong mùa gió tây nam, gió và dòng nước tác động vào chếch mạn phải của con tàu, đẩy con tàu giạt ra ngoài đường đi thật về phía trái. Vậy muốn giữ con tàu nằm trên đường đi thật, hướng đi phải chếch bên phải. Việc tính toán để tìm ra hướng đi nhờ vào công thức: khoảng cách bằng vận tốc nhân với thời gian và các dụng cụ đo đạc. Thí dụ ta tìm ra hướng đi mới là 200 độ. Cho lái hướng này, thực tế con tàu chạy trên đường đi thật là 190. Theo miệt vườn của chúng ta, cách thức này gọi là lái trừ hao, phải hôn cô Phượng?”

Tôi cười gật đầu. Võ Bằng hỏi:

– “Cô có bao giờ thấy chiếc la bàn?”

– “Dĩ nhiên. Dân sử-địa mà!”

– “Cô từng có dịp ứng dụng nó?”

– “Chưa.” Tôi thú thật.

– “La bàn cô thường thấy là la bàn từ. Hải Quân chúng tôi… chê loại này bởi nó không chính xác. Như cô biết, do cấu tạo địa chất khác nhau, mỗi địa phương có địa từ trường mạnh yếu khác nhau. Lại thêm độ lệch địa từ variation mỗi năm một khác. Lại còn chịu ảnh hưởng sắt thép máy móc của con tàu, gây thêm độ lệch deviation. Cho nên, để tìm hướng Bắc thật của la bàn từ, sĩ quan hải hành phải tính toán lôi thôi lắm! Chính vì vậy la bàn từ chỉ dùng đến khi la bàn điện bị hư. La bàn điện là khí cụ đã được khử từ, đã được điều chỉnh các độ lệch để lúc nào cũng chỉ đúng hướng Bắc của địa cực.

Võ Bằng nhìn tôi như đo lường mức độ tôi nhận hiểu. Thật tình tôi chỉ hiểu lơ mơ nhưng đủ thấy mới lạ và thú vị rất đáng nghe tiếp. Hơn nữa tôi đã nhập tâm ‘ranh ngôn’: thà nghe Võ Bằng nói hơn là bị nói; tức thà hỏi hơn bị hỏi. Tôi hăng hái khích lệ:

– “Mục đích chuyến đi của tôi là ngắm biển và tìm hiểu đời sống trên biển. Đại úy vừa cho tôi một số kiến thức mới lạ và thú vị. Tôi chưa từng biết khi hải hành dọc ven biển, người ta định vị trí tàu bằng cách dùng la bàn điện đo hướng ba đối vật. Cũng chưa hề nghĩ đến gió và hải lưu làm tàu chạy lệch đường. Vậy trong trường hợp hải hành viễn dương, như chuyến đi xuyên Thái Bình Dương của Đại úy, cả tháng lênh đênh không bến bờ, tìm đâu ra ‘đối vật’ mà định vị trí?”

– “Đối vật thì ở đâu chẳng có! Hải hành cận duyên thì có đối vật trên đất. Hải hành viễn dương thì có đối vật trên trời. Dĩ nhiên dụng cụ để đo hướng đối vật trên trời và cách đo cũng khác. Đối vật trên trời là các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Đây là phương pháp rất nhiêu khê, gọi chung là phương pháp hải hành bằng thiên văn. Tôi chỉ đưa ra vài ‘khái niệm’ gợi ý, chớ muốn hiểu rõ thì cô phải gặp tôi liền tù tì vài tháng.”

– “Khó dữ vậy sao?” Tôi giả lả.

– “Có lẽ đó là môn học khó nhất của nghề đi biển. Để định vị trí bằng thiên văn, cụ thể là Mặt Trời, Mặt Trăng, các hành tinh, các định tinh …”

– “Xin lỗi, thế nào gọi là hành tinh, định tinh?” Tôi ngắt lời.

– “Chúng ta đều biết Thái Dương Hệ gồm Mặt Trời và 9 hành tinh quay quanh. Chín hành tinh đó đặt theo thuyết ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, đặt theo trời, biển, địa ngục là Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh, Diêm Vương Tinh và đặt theo hứng là Địa Cầu tức Trái Đất. Còn định tinh là những ngôi sao sáng, có vị trí ổn định trên thiên cầu. Định tinh gần ta nhất là Mặt Trời, cách hơn 4 năm ánh sáng. Tốc độ ánh sáng là 300 ngàn cây số mỗi giây. Năm ánh sáng là quãng đường ánh sáng đi được trong 1 năm, tức là gần 10 ngàn tỷ cây số. Vậy Mặt Trời cách ta gần 40 ngàn tỷ cây số!”
Tôi thè lưỡi:

– “Đường xa chi mấy!”

– “Cô có đọc tập truyện của Lan Đình hả?”

Tôi gật đầu nhưng kéo Võ Bằng trở lại chủ đề:

– “Cám ơn Đại úy cho tôi hiểu rõ về hành tinh, định tinh. Xin tiếp tục.”

– “Định vị trí bằng thiên văn là một việc làm đòi hỏi sự lanh lẹ, khéo léo và chính xác. Các dụng cụ cần có là Sextant, Chronometer, Timer, The Nautical Almanac…

Dùng kính lục phân Sextant để đo độ cao và phương vị độ thiên thể. Dùng đồng hồ Chronometer, Timer để đo thời gian và dùng Lịch thiên văn The Nautical Almanac để có tọa độ các thiên thể. Từ các số liệu đó tính ra vị trí con tàu. Đặc biệt Lịch thiên văn còn cho biết giờ Mặt trời, Mặt trăng mọc lặn, sự bắt đầu và kết thúc của bình minh và hoàng hôn. Tôi yêu bình minh và hoàng hôn vì đó là các thời điểm vừa thấy được rõ ràng chân trời vừa còn nhận ra thiên thể muốn đo đạc. Cô muốn nghe tiếp chứ?”

Tôi sốt sắng gật đầu. Võ Bằng cười mỉm:

– Tôi nói đúng phải không? 15 phút trôi thật mau. Cô muốn nghe tiếp, hẹn sau khi tôi xuống phiên. Giờ thì chúng ta xuống phòng ăn.”

Tôi nhìn đồng hồ:

– “Còn sớm mà Đại úy, mới mười một giờ rưỡi.”

– “Bộ cô tính cho tôi nhịn đói nhận phiên hải hành sao chớ? Cho tôi ít thì giờ dằn bụng, cô cũng cần thì giờ chuẩn bị đón tiếp Hạm Trưởng chủ tọa bữa ăn.”

– “Bộ bữa ăn… vắng mặt Đại úy?” Tôi lo ngại hỏi.

– “Cô là người đại diện!”

Nghĩ đến việc ngồi ăn với toàn là thứ dữ, tôi cảm thấy hụt hẫng:

– “Đại úy cho tôi miễn…”

Võ Bằng lại nở nụ cười dễ ghét:

– “Miễn đại diện Hạm Phó thì được nhưng miễn với tư cách thân nhân Hạm Phó thì không!”

– “Cho miễn đi mà!”

– “Như tôi đã nói, bữa ăn trưa và tối, không ai được phép vắng mặt và cũng không ai được rời bàn trước Hạm Trưởng. Nếu cô nhất định không dự, hãy đích thân xin phép Hạm Trưởng với lý do chính đáng.”

Tôi ngẩn ngơ bước theo Võ Bằng. Trên đường đến phòng ăn, tôi chợt khám phá ra một sự thật khó tin: Gần bên Võ Bằng, mọi lo âu của tôi tan biến…

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)