Chương 5
Trục Bắc Đảo – Hải Tặc
Võ Bằng trao công điện cho Hạm phó Tiến vừa bước vào:
– Anh định vị tọa độ, cho biết cách chiến hạm bao xa.
Tiến bước nhanh đến bàn hải đồ, chăm chú đọc:
“Không tuần cho biết có tàu khả nghi đang đánh cá vùng biển Bắc Đảo, tọa độ 10.45N – 104.03E. Yêu cầu quý chiến hạm đến vị trí trên sớm nhất. Tuần Duyên Đỉnh HQ 729 đang trên đường. Phối hợp khám xét và báo cáo kết quả.”
Anh đánh dấu nhanh vị trí:
– Thưa Hạm trưởng, khoảng cách 28 hải lý.
Võ Bằng lẩm bẩm như nói với chính mình:
– Tối đa cũng mất hai tiếng… Liệu còn kịp?
Rồi dứt khoát chọn tốc độ khẩn cấp:
– Hai máy tiến full!
Lệnh ban ra. Tiếng chuông truyền xuống hầm máy leng keng. Rồi tiếng động cơ rền rĩ, thân tàu rung nhẹ, mũi tàu hất nước trắng xóa sang đôi bên.
Anh quay qua Hạm phó:
– Kẻ hải trình ngắn nhất. Xong, cho tôi xem.
Tiến nhanh chóng thi hành. Hướng mới qua cạnh một vùng đá ngầm, nhưng biển hôm nay êm, gió nhẹ, không hải lưu – rủi ro có thể chấp nhận.
– Sĩ quan đương phiên! Cho lái hướng mới.
Thiếu úy Đức bước đến nhìn hải đồ:
– Nhận rõ. Lái hướng 315.
Hạ sĩ Lâm lặp lại khẩu lệnh, hai tay quay bánh lái. Mũi tàu dần quay qua trái. Trên la bàn, các con số dịch chuyển. Khi đúng hướng, anh dõng dạc:
– Hướng 315.
– Lái thẳng!
– Lái thẳng, hướng 315!
– Tốt.
Võ Bằng gật đầu, ra hiệu cho Hạm phó:
– Gọi HQ 729 hỏi vị trí.
Tiến nói qua PRC-46:
– Hải Dương, Bắc Bình gọi.
Tiếng rè rè trước tiếng đáp:
– Hải Dương tôi nghe.
– Anh đến đâu rồi?
– Mới Zulu!
– Nếu tới trước, gặp tàu thì chờ. Nếu là ghe, cứ xét.
– Nhận rõ, thẩm quyền.
Tiến cúp máy rồi nhìn Hạm trưởng:
– Tôi có linh cảm… đó là tàu tiếp tế cho Việt Cộng.
– Tôi cũng nghĩ vậy.
– Nhưng theo luật, lãnh hải là 12 hải lý từ bờ. Hai nước cách nhau dưới 24 thì chia đôi. Tàu kia cách bờ Miên 8, cách Phú Quốc 6. Như vậy… chưa vi phạm.
Võ Bằng mỉm cười:
– Chuyện này các sĩ quan cần hiểu rõ. Hãy nhìn vào hải đồ, các anh thấy vùng biển Bắc Đảo không hề có đường ranh. Nghĩa là, nếu phát hiện vũ khí hay hàng quốc cấm, chúng ta có quyền hành động, bất kể ở đâu.
Tiến do dự:
– Trước kia, cựu Hạm trưởng cũng nói vậy, nhưng không giải thích. Tôi muốn hỏi mà ngại.
– Với tôi, ai có gì thắc mắc cứ nêu. Tôi không hứa trả lời được hết, nhưng sẽ cố gắng.
Tiến ngập ngừng:
– Có thể nào… nhà in hải đồ sơ xuất?
– Không thể. Hải đồ Mỹ chi tiết lắm. Đến cả đá ngầm, bãi cạn, xác tàu chìm cũng đánh dấu, thì làm sao lại quên đường biên?
– Nhưng nếu Miên kiện, mình có bị liên lụy?
Võ Bằng nghiêm giọng:
– Theo Công Pháp Quốc Tế, biên giới biển là đường kéo dài từ biên giới đất liền ra khơi. Đường ấy cắt ngang Phú Quốc, phía bắc rộng gấp đôi phía nam. Nên, theo lý, Phú Quốc là của Miên. Nhưng cũng theo Công Pháp, đảo này từ xưa có dân Việt ở, là một đơn vị hành chánh của Việt Nam nên thuộc Việt Nam. Nhưng chủ quyền hàng trăm đảo nhỏ quanh phía bắc thì vẫn còn tranh chấp.
Tiến sốt ruột:
– Vậy nên mới cần đường ranh giới biển!
– Năm 1939, quan Toàn quyền Brévié vẽ một ranh giới gọi là đường Brévié, vòng quanh hai phần ba Bắc Phú Quốc, cách bờ 3 hải lý. Đảo nào trong đường đó thuộc Việt Nam, ngoài thì thuộc Cao Miên.
– Chỉ ba hải lý? Thiệt thòi cho mình quá!
– Có thể ông Brévié nhìn theo thực tế: Việt Nam giữ trọn Phú Quốc thì nên nhường Miên phần biển rộng hơn. Nhưng Việt Nam không đồng ý. Cuối cùng, ông xác định rõ: đường Brévié chỉ là ranh giới hành chánh, không phải biên giới quốc tế.
Tiến trầm ngâm:
– Tại sao không chia đôi theo đúng Công Pháp?
– Miên không chấp nhận, nhất định đòi ranh giới hành chánh là hải giới. Đến nay vẫn đang bàn cãi.
– Bàn… suốt 30 năm chưa xong!
– Vì chưa có đường ranh rõ ràng, Miên thỉnh thoảng đổ quân chiếm các đảo như Kiến Vàng, Kèo Ngựa, Thổ Chu. Và chúng ta phải hành quân giải tỏa. Đó là một trong nhiều lý do cần chiến hạm tuần tiễu vùng này.
Tiến hỏi dồn:
– Trường hợp gặp tàu chở quân Miên, mình phản ứng thế nào?
– Nếu không có bằng chứng đổ quân, cứ theo dõi. Nếu xâm nhập trong 3 hải lý thì bắt, đưa về An Thới. Nếu chống cự – đánh chìm.
Cả đài chỉ huy im lặng. Mắt mọi người dõi về phía chân trời, như tìm tàu Miên đang đổ quân…
***
Võ Bằng chợt cau mày:
– Hạm phó, đã bao lâu rồi tàu mình chưa thực tập tác xạ?
Tiến lắc đầu:
– Thưa, khoảng nửa năm.
– Tôi muốn biết chắc các khẩu súng đều khiển dụng.
Hạm phó đáp vội:
– Để tôi ra lệnh ngay.
– Tốt. Cẩn tắc vô ưu. Cho bắn thử tất cả các ổ súng. Mục tiêu giả định cách 100 thước và 200. Quan sát kỹ. Phải chắc chắn khu vực không ghe tàu.
Tiến bảo sĩ quan đương phiên:
– Nhận còi nhiệm sở tác chiến!
Tiếng còi rú lên từng hồi, dội xuống lòng tàu, lan ra mũi, lái. Các nhân viên chạy vội vào các ổ súng. Tiếng đạn nạp vào nòng khua vang. Các ổ súng báo cáo sẵn sàng.
Võ Bằng đích thân chỉ thị tác xạ. Giọng anh mạnh, rõ ràng, dứt khoát:
– Đại bác 40 mũi. Các đại liên hữu hạm. Mục tiêu hướng 2 giờ, tầm xa 100 mét. Bắn!
Một loạt tiếng nổ giòn giã. Nước biển bắn tung tóe. Chớp sáng rạch qua không khí. Hơi thuốc súng thoảng theo gió.
Võ Bằng ra lệnh tiếp:
– 76 ly, đại liên tả hạm. Mục tiêu hướng 2 giờ. Cách 200 mét. Bắn.
Loạt đạn thứ nhì rung rinh cả tàu. Khói thuốc súng nồng nặc. Từng cột nước bung cao. Võ Bằng hài lòng và cảm thấy yên tâm:
– Giải tán nhiệm sở tác chiến.
Còi vang lên. Mọi người rời vị trí, gương mặt hớn hở. Võ Bằng trở về ghế tựa. Đại úy Cố vấn Mỹ đứng sẵn lúc nào:
– Good afternoon, Cap! Chào mọi người. What’s happening?
– Chào Bill. Just a gun test!
Anh ra hiệu, cả hai cùng bước tới bàn hải đồ. Võ Bằng chỉ mục tiêu và mục đích đang hướng đến. Có thể có đụng độ.
Cố vấn gật đầu, vẻ quan tâm. Anh cúi xuống mở PRC 46, liên lạc nêu nhu cầu với Trung tâm yểm trợ phi pháo Mỹ.
Võ Bằng trở về ghế ngồi. Trong khi chờ kết quả, hai người trao đổi tâm tình. Cố vấn nói về gia đình: vợ và con gái bốn tuổi. Võ Bằng nửa đùa nửa thật: chưa vợ nhưng có thể có con trai 5 tuổi.
Cả hai đang cười thì máy PRC kêu “tách”. Cố vấn áp tai nghe rồi đưa ngón cái chỉ thiên:
– Phi pháo sẵn sàng. Dự trù 20 phút khi được yêu cầu.
– Tốt. Có thể không dùng đến, nhưng sẵn sàng vẫn hơn.
Cố vấn gật đầu, đứng bên hạm trưởng như một minh chứng đồng minh đáng tin cậy.
Biển vẫn yên, sóng lặng nhưng Võ Bằng bỗng mang một linh cảm bất an. Chuyện gì sắp xảy ra ở vùng biển phía trước?
***
Lúc 16 giờ, HQ 729 gọi vào hệ thống PRC:
– Trình Bắc Bình, đã tới điểm hẹn. Đó là một tàu đánh cá không treo cờ, mạn tàu có chữ ngoằn ngoèo. Có thể là tàu của Miên, Thái hoặc Mã Lai.
Võ Bằng đáp gọn:
– Theo dõi. Chờ phối hợp.
Một giờ sau, Võ Bằng cho lệnh ngưng máy, thả trôi, cách mục tiêu 1 hải lý. HQ 729 tiến đến, cập vào. Các sĩ quan họp nhanh đường lối hành động. Các bước được xác định:
Kế hoạch thực hiện ngay sau phiên họp. HQ 729 rẽ sóng tiếp cận, mở loa gọi tàu nghi ngờ:
– Đây là Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Tàu bạn đang ở khu vực giới hạn. Yêu cầu cho khám xét!
Tàu nghi ngờ im lặng, có dấu hiệu cho máy khởi động. HQ 729 lại kêu gọi, quơ cờ hiệu. Tàu nghi ngờ tăng tốc, đổi hướng, bỏ chạy.
Võ Bằng lạnh giọng:
– HQ 729 vòng mạn tả. HQ 266 giữ mạn hữu. Tạo thế gọng kềm.
Hai chiến hạm tăng máy tối đa, chia hai hướng khóa đuôi tàu lạ. Võ Bằng ra lệnh dứt khoát:
– Đại liên mạn tả. Tác xạ chỉ thiên!
Một loạt đạn nổ rền. Vệt khói vẽ thành vòng trên cao. Nhưng tàu nghi ngờ vẫn ngoan cố, tiếp tục zig-zag. Võ Bằng la to:
– Bắn một tràng ngay trước mũi!
Đạn đại liên gầm rít, nước tung trắng xóa. Sau lái khói đen cuộn lên.
HQ 729 nêu yêu cầu:
– Trình Bắc Bình, xin cho trực xạ!
Võ Bằng dằn giọng:
– Chờ! 40 ly mũi. Bắn chặn đầu lần hai.
Tiếng nổ dội vang. Sóng biển văng cao như ngăn trở. Tàu lạ lắc mạnh, thân nghiêng nghiêng đổi hướng.
Võ Bằng chụp ống liên hợp:
– Hải Dương! Trực xạ vào hầm máy!
Loạt đạn rền vang như trút giận. Cùng lúc, đại liên của HQ 266 giội thêm một vào mũi.
Qua ống dòm, Võ Bằng thấy một cánh tay giơ lên, vải trắng đang phất loạn xạ. Tàu nghi ngờ giảm tốc, rồi dừng hẳn, lênh đênh.
Hai chiến hạm cùng áp sát. HQ 729 cặp vào mạn hữu. Toán khám xét súng lên đạn, nhảy lên boong. Võ Bằng dõi theo từng động tác, tim thình thịch đập.
***
45 phút sau, tiếng Hạm phó Tiến vang qua vô tuyến, dứt khoát mà dè dặt:
– Trình thẩm quyền. Tịch thu hàng trăm gói bột trắng trong tủ ngụy trang cùng một bọc tiền Miên. Giấy hành nghề do Miên cấp. Xin chờ chỉ thị.
Võ Bằng trầm ngâm trước khi quyết định:
– Chuyển toàn bộ tang vật sang HQ 729. Giữ nguyên hiện trường tàu phạm pháp. Sẽ có quyết định sau.
Anh bước nhanh về Phòng Truyền Tin, thảo công điện gửi Bộ Tư Lệnh Vùng:
“Trân trọng kính trình. HQ 266 và HQ 729 đã phối hợp khám xét tàu nghi ngờ. Tịch thu hàng trăm gói bột trắng, nghi là bạch phiến, cùng một bọc tiền Miên. Xin chỉ thị.”
Chưa đầy 20 phút sau, công điện chỉ thị:
“HQ 729 hộ tống tàu phạm pháp về An Thới. HQ 266 tiếp tục tuần tiễu trục Bắc Đảo – Hải Tặc.”
***
Khi Hạm phó Tiến trở lại tàu, các thủy thủ đón anh bằng ánh mắt rạng rỡ. Có lời hoan hô, có tiếng huýt sáo. Võ Bằng bắt tay chúc mừng.
Hạm phó trình lên Hạm trưởng hai tang vật lạ:
– Thưa Hạm trưởng, ngoài bạch phiến và tiền, còn hai vật lạ: một tượng cá bằng đồng và một khúc gỗ mun quấn vải đỏ. Tôi mang về tàu vì nghĩ Thượng sĩ Châu Lâm người Miên biết xuất xứ.
Cố vấn Mỹ ngắm nghía. Võ Bằng cầm tượng cá, nhìn kỹ từng đường nét tinh xảo. Rồi anh cầm khúc gỗ, ngón tay lướt nhẹ lớp vải đỏ sậm đã phai màu. Gỗ nặng, bóng lưỡng, như có tuổi đời hàng trăm năm. Hạm trưởng không ngăn được tò mò:
– Gọi Thượng sĩ Châu Lâm.
Một lát sau, Châu Lâm bước vào. Người đàn ông tuổi ngũ tuần, da sạm đen, ánh mắt điềm đạm. Anh cúi đầu, hai tay cẩn trọng nâng khúc gỗ, nói chậm rãi:
– Thưa Hạm trưởng, khúc gỗ này là vật linh thiêng của người Miên. Gọi là Neak Ta – người Việt gọi là Ông Tà. Không thờ cúng ở đình làng như Thần Hoàng, Ông Tà thờ ở miếu nhỏ, thường dưới gốc cây lớn hoặc nơi riêng rẽ giữa rừng.
– Lý do thờ cúng?
– Cùng lý do thờ Thần Hoàng: tín ngưỡng bảo vệ làng xã đất nước. Dân Phú Quốc thờ nhiều ở Gành Dầu, Bãi Thơm, Hàm Ninh, Dương Đông
Võ Bằng mỉm cười chỉ tượng cá:
– Còn cái này?
– Thưa, người Miên gọi là Toh Tey – Cá Voi – vị thần che chở ghe thuyền giữa giông bão. Người Việt có thờ hay không tôi không rõ…
Hạm phó Tiến tiếp lời:
– Người Việt cũng thờ Cá Voi, gọi tôn kính là Cá Ông hay Ông Nam Hải. Suốt miền Trung cho đến miền Nam, các làng chài ven biển hay ven sông đều có lập lăng thờ Cá Ông.
Hạm trưởng lên tiếng:
– Tôi có đến viếng lăng thờ Cá Ông ở Dương Đông. Nghe nói quanh Phú Quốc còn nhiều lăng khác.
Hạm phó Tiến kể:
– Tôi đã có dịp viếng Đình Thần Thắng Tam ở Vũng Tàu, trong đó có Lăng Ông Nam Hải và Miếu Bà Ngũ Hành. Đền thờ trang trọng, uy nghi. Hằng năm đều có tổ chức lễ Nghinh Ông, rất trọng thể.
Thiếu úy Đức cũng chia sẻ:
– Tôi quê Bạc Liêu, đã từng dự lễ Nghinh Ông. Ngày đó trên sông ghe đông như trẩy hội. Trên bờ thì người Hoa, người Miên, người Việt tề tựu. Cả phố ngợp hoa đăng. Người ta còn truyền câu:
Vui gì bằng lễ Nghinh Ông
Đèn hoa, pháo nổ, ngập sông ánh trời
Võ Bằng chậm rãi nói:
– Sử truyền lại rằng khi Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy đuổi đến Soài Rạp, một đôi Cá Ông đã kẹp mạn, đưa thuyền chở ông đến nơi an toàn. Khi lên ngôi, vua Gia Long sắc phong Cá Ông là Nam Hải Đại Tướng Quân.
Thấy Cố vấn đứng ngẩn ngơ, Võ Bằng tóm lược câu chuyện. Đôi mắt Cố vấn mở to, thích thú.
Võ Bằng hỏi Hạm phó:
– Hai vật thiêng này Hạm phó tính sao? Chủ tàu bị đưa về An Thới rồi, chưa chắc gặp lại.
– Tôi tạm giữ. Gặp chủ tàu thì hoàn trả, bằng không, gửi vào biển cả.
Thượng sĩ Châu Lâm ngập ngừng:
– Trường hợp không gặp lại chủ tàu, tôi xin thỉnh về nhà thờ phượng.
Võ Bằng nhìn Hạm phó. Tiến gật đầu:
– Hoan nghênh!
Võ Bằng băn khoăn thầm nghĩ hai vật thiêng này, không biết mang đến cho tàu… may hay rủi! Nỗi băn khoăn biến thành lo lắng khi anh vô tuyến xuất hiện, tay cầm bảng kẹp công điện. Võ Bằng không đợi anh trình báo, cầm ngay đọc:
– “Yêu cầu quý chiến hạm trực chỉ Gành Dầu. Một tàu đang lảng vảng hải phận quốc tế, nghi ngờ chờ tối xâm nhập vùng bắc đảo. HQ 741 đang trên đường đến điểm hẹn. Phối hợp hoạt động ngăn chận, khám xét. Báo cáo nhận hành.”
Anh đưa công điện cho Hạm phó:
– Lại xuất hiện tàu khả nghi. Không chừng phải thức suốt đêm! Đánh công điện trả lời: “Đáp nhận hành”. Ghi dấu tọa độ. Kẻ hải trình ngắn nhất đến Gành Dầu. Tăng dần tốc độ đến tiến Full. Khi còn cách 2 hải lý, gọi tôi.
Trong dáng vẻ ưu tư, Võ Bằng bước khỏi đài chỉ huy. Cố vấn lặng lẽ theo sau.
Võ Bằng tự pha ly cà phê rồi cầm lên đài chỉ huy. Trời đen đặc. Các nhân viên đương phiên chỉ là những bóng mờ trong ánh đèn đỏ lờ mờ từ vách. Không ai nhận ra Hạm trưởng hiện diện cho đến khi anh lên tiếng:
– Tới đâu rồi?
Trung úy Tài quay lui:
– Thưa, còn 5 hải lý nữa mới tới Gành Dầu.
Võ Bằng tiến tới bàn hải đồ, bật đèn ánh sáng hạn chế. Anh rà ngón tay trên bản đồ. Vị trí vừa ngang qua Rạch Vẹm, địa hình khá lý tưởng để đổ hàng. Nếu chiếc tàu nghi ngờ theo đường này, nó sẽ ủi bãi lúc nửa đêm, đủ thời gian tiếp tế và rút ra trước rạng sáng.
“Phải ra tay khi nó ủi bãi”, anh thầm nghĩ. “Lúc ấy, nó khó xoay trở”. Nhưng đấy chỉ là phỏng đoán. HQ 266 không thể chần chừ, thả trôi ở đây. Chỉ thị đưa ra là đến tọa độ đã cho. Không đến, để tàu nghi ngờ chạy thoát, biết ăn nói làm sao! Mà đến, gặp nó, liệu một mình có thể thực hiện việc khám xét? Giá như HQ 729 còn phối hợp.
Như đọc được suy tư của Võ Bằng, Bộ Tư Lệnh Vùng thông báo: Duyên tốc đỉnh HQ 3837 đang trực chỉ Gành Dầu, đặt dưới quyền điều động của HQ 266. Dự trù tới tọa độ khoảng 1 tiếng.
Gió đổi chiều, mát mà ẩm ướt. Sóng cũng bắt đầu ập vào mũi tàu. Tầm nhìn thu hẹp. Radar báo cáo bị nhiễu xạ. Rồi mưa như trút nước. Võ Bằng than thầm: “Không lẽ Trời che chở cho kẻ xấu?”
Anh nhớ lời của Tư Lệnh Hải Quân: “Chiến hạm là thế giới cô lập giữa đại dương. Hạm trưởng là người chịu toàn bộ trách nhiệm sinh mạng thủy thủ và tài sản quốc gia. Thành công thì thăng tiến, thất bại thì có khi biển cả là mồ chôn tất cả.” Không! Không thể thất bại.
Một tia sét xé rách bầu trời. Tiếng sấm rền vang từ xa xăm. Võ Bằng châm điếu thuốc, rít sâu. Mùi khói thuốc, mùi khói tàu, mùi muối biển hòa trộn hăng hắc và khô gắt. Anh dụi thuốc vào gạt tàn gắn bên ghế.
Tiếng quan sát viên vang lên:
– Báo cáo. Có ánh sáng nhấp nháy tả hạm.
Võ Bằng đứng phắt dậy, chụp ống dòm, bước qua cánh trái. Anh đưa ống dòm lên mắt. Quả là có ánh sáng lập lòe như tín hiệu Morse. Anh ra lệnh:
– Tay lái hết bên trái.
Anh cảm nhận được chiến hạm đang đổi hướng. Số độ trên la bàn giảm dần.
– Tay lái số không. Lái thẳng.
Thủy thủ Bảo đang giữ tay lái nói to:
– Lái thẳng. Hướng 190.
Mũi tàu hướng thẳng vào ánh đèn khả nghi.
Tiếng Võ Bằng:
– Radar báo cáo khoảng cách.
– Cách 1.500 yard. (gần 1.400 mét)
– Chiều sâu?
– Chiều sâu 10 fathom. (hơn 18 mét)
Gió rít và mưa tạt vào đài chỉ huy. Võ Bằng vừa mặc áo mưa vừa ra lệnh giảm dần tốc độ. Càng gần, hiện ra một chiếc ghe câu nhỏ. Anh ban các lệnh cần thiết để chiến hạm tiến sát ghe câu. Chiếc đèn măng-sông chao đảo theo sóng. Trên ghe, hai người đang thả lưới. Anh hỏi người giăng lưới:
– Bắt được nhiều cá không, các anh?
– Cũng khá rồi. Sáng mai về.
Không thấy gì khả nghi, Võ Bằng cho tiếp tục tiến về mục tiêu. Tiếng từ loa máy truyền tin PRC–46:
– Bắc Bình, đây Hồng Hải.
Sĩ quan đương phiên nhấc máy:
– Hồng Hải. Bắc Bình nghe.
– Tôi đang ngang qua Diên Hồng – Đồng Dao. (Dương Đông)
– Đáp nhận. Hẹn gặp.
Võ Bằng cởi áo mưa, vào phòng radar. Màn hình rõ nét mũi Gành Dầu, đảo Koh Seh. Không thấy gì khả nghi. Lẽ ra ở vị trí này, radar đã ghi nhận tàu nghi ngờ. Hay nó đã bỏ đi? Không thể. Nó không thể đi qua HQ 266 mà không thấy. Nó đã đổi hướng? Hay đang ủi bãi. Đâu lẽ?
Khi Hạm phó xuất hiện, Võ Bằng dặn dò rồi trở lên đài chỉ huy. HQ 3736 báo cáo còn một tiếng nữa mới tới. Anh ngồi vào ghế, nhắm mắt, định thần mong quên đi các mối lo. Nhưng trong đầu lại hiện ra nụ cười tinh quái của Hoàng Như Oanh. Anh cố xua đi mà hình ảnh như sóng chập chờn.
Anh nhớ đến cựu Hạm trưởng Quang, đổi về làm Tham Mưu Phó Hành quân Vùng 4 Sông Ngòi. Ông vẫn hay thổ lộ: “Làm Hạm trưởng luôn là một vinh dự lớn.” Câu hỏi của Huỳnh Như Oanh hiện lên: “Nên chung vui hay chia buồn?”
Hạm phó báo cáo:
– Đài chỉ huy. Radar ghi nhận đối vật hướng 11 giờ, cách 8 hải lý.
Võ Bằng ngồi bật dậy:
– Cho biết hướng di chuyển.
– Hướng về Rạch Gầm.
– Máy tiến 3. Tắt hết đèn hải hành.
Mưa vừa tạnh. Mây che ánh trăng. Gió lành lạnh. Bóng tối phủ kín. Không gian lặng lẽ rợn người. Võ Bằng lại nhớ Thiếu tá Quang. Phải chi ông là Hạm trưởng của tàu thì anh đâu phải lo lắng thế này. Chỉ mới ngày đầu trở lại biển mà anh đã thấy uể oải. Cái phiền là uể oải không nhằm lúc nhằm chỗ. Bắc đảo chẳng khác gì vùng tự do, tàu đánh cá cả ba nước Miên, Thái, Mã Lai xuất hiện đều đều. Đuổi mệt… không nghỉ!
– Đài chỉ huy. Tàu nghi ngờ cách 6 hải lý. Tốc độ 18 gút. (hải lý /giờ)
Võ Bằng hạ giọng:
– Cho máy tiến 3. Lái hướng 300.
Anh đứng nghiêng người, tựa vào thành đài chỉ huy, ống dòm ghì sát mắt. Linh tính báo tàu nghi ngờ chở vũ khí, đạn dược, lương khô. Sáng nay, Phòng nhì cho biết Phú Quốc có chừng một tiểu đoàn Việt Cộng. Bằng bất cứ giá nào chúng cũng phải xâm nhập tiếp tế.
– Đài chỉ huy. Cách 4 hải lý. Hướng 11 giờ. Tốc độ 16 gút.
Võ Bằng dán mắt vào ống dòm, chửi thầm: “Tổ cha nó! Cũng darken ship!” *(không đèn)
– Cách 3 hải lý. Hướng 10 giờ. Tốc độ 14 gút. Sâu 6 fathom. (11 m)
– Cách 2 hải lý. Hướng 10 giờ. Tốc độ 14 gút.
Võ Bằng gằn giọng:
– Cho nhiệm sở tác chiến!
Tiếng còi rú vang dội. Tiếng chân dập dồn. Các ổ súng lao xao. Tiếng lạch cạch của đạn lên nòng. Vẫn giọng rắn rỏi của Hạm trưởng:
– Các trưởng khẩu kiểm soát nhân viên đầy đủ áo giáp nón sắt.
Mọi người trên đài chỉ huy tự động răm rắp tuân hành. Võ Bằng bước đến bàn hải đồ, mở đèn, xem xét thủy đạo địa thế.
Cố vấn bước vào, hỏi khẽ:
– Hi, Cap. Xin cho hỏi…
Võ Bằng cho Cố vấn biết chiến hạm đang chận đầu một tàu nghi ngờ. Có thể có chạm súng, HQ 3736 sẽ đến trợ lực. Cố vấn vội về phòng mặc áo giáp…
– Cách 900 feet. Hướng 9 giờ. Tốc độ 14 gút. Đối vật đổi hướng vào bờ.
– Lái hướng 180.
Mũi chiến hạm hướng về tàu nghi ngờ. Võ Bằng cố đoán ý định của địch. Với bờ biển nhiều san hô thế này, hoặc là nó đang liều đổ bộ hoặc đang quay đầu, bỏ chạy.
Anh ra lệnh:
– Giám lộ. Đánh đèn hỏi nó là ai? Đi đâu?
Ánh đèn chớp tắt phóng đi. Ba lần liên tiếp. Không một đáp trả. Rồi bất ngờ vô số tia chớp lóe lên từ tàu nghi ngờ. Một tràng đốm lửa vụt xé màn đêm, lao thẳng về hướng chiến hạm. Những tiếng lốp bốp từ thành đài chỉ huy. Có tiếng la ở khẩu đại liên 50 tả hạm. “Ối, tôi bị rồi!” Võ Bằng la to:
– Trừ 76 ly, tất cả phản pháo. Toán cứu cấp. Có người bị thương mạn tả.
Khẩu 40 ly mũi, các khẩu đại và tiểu liên tuôn ra những làn đạn lửa đáp trả. Tàu nghi ngờ tiếp tục bắn. Hai làn đạn giao nhau như hoa đăng.
Tiếng của Hạm phó:
– Nó quay ngược ra khơi. Cách 1.200 feet. Hướng 11 giờ.
Hạm trưởng cao giọng:
– Ngưng bắn. Tay lái hết bên phải. Lái hướng 340. Hỏi HQ 3736 đến đâu rồi?
– Hồng Hải, đây Bắc Bình. Đến đâu rồi?
– Ba hải lý nữa mới tới điểm hẹn.
– Tàu địch đang chạy ngược về Gành Dầu. Cẩn thận! Hỏa lực địch khá mạnh.
– Đáp nhận.
– Radar báo cáo. Cách 0,8 hải lý. Hướng 11 giờ. Vận tốc 16.
– Độ sâu?
– Sáu fathom!
Võ Bằng ra lệnh:
– Máy tiến full.
Tiếng Hạm phó từ phòng radar:
– Đài chỉ huy. Đối vật cách 1 hải lý. Vận tốc 16.
Võ Bằng vươn người ra ngoài nhìn xuống mạn tả:
– Nhân viên bị thương ra sao?
– Trình Hạm trưởng, đạn trúng đùi. Y tá đang băng bó.
Anh nhìn vào hải đồ:
– Lái hướng 310.
Tiếng hối hả từ phòng radar:
– Đài chỉ huy. Đối vật cách 2 hải lý. Tăng tốc 20 gút. Hướng 10 giờ!
Võ Bằng rít qua kẽ răng:
– Máy tiến Flank! *(Tốc độ tối đa)
Chiến hạm run lên bần bật. Hai chân Võ Bằng bám chặt sàn sắt, mắt ghì vào ống dòm. Trên làn sóng nhá nhem, vệt nước trắng xóa mờ dần. Anh tiếc cơ hội lỡ mất. Nếu tàu anh có tốc độ cao, dễ gì nó chạy thoát. Anh bấm bộ liên hợp:
– Hồng Hải, đây Bắc Bình! Đó là tàu Bắc Cộng. Nó khai hỏa và bỏ chạy. Cố gắng truy cản. Tác xạ tự do.
– Đã thấy nó trên radar. Cách 2 hải lý. Đang tăng tốc đón đầu.
– Trung úy Tài. Ra lệnh khẩu 76 ly sẵn sàng.
Võ Bằng nói vào loa dẫn đến phòng radar:
– Radar. Cho khoảng cách và hướng độ tàu địch.
Có lời đáp từ loa. Giọng Võ Bằng khô khan:
– 76 ly 2. Tác xạ 1 đạn soi sáng, tầm xa 3.000 mét, hướng 010.
Tiếng nổ chát chúa vang lên. Chiến hạm rùng mình. Mùi khói tạt vào đài chỉ huy khét nghẹt. Võ Bằng dán mắt vào ống dòm. Một đốm lửa bùng lên lộ dạng tàu địch.
– HQ 3736 báo cáo. Thấy tàu địch. Điều chỉnh qua phải.
Võ Bằng nói to:
– Radar. Cho khoảng cách, hướng độ đối vật.
Hạm phó đáp ứng yêu cầu. Giọng Hạm trưởng rắn rỏi:
– 76 ly 2. Tác xạ hai đạn nổ. Tầm xa 3.500 mét. Hướng 015.
Hai tiếng nổ vọng về, mơ hồ.
– Bắc Bình. Đây Hồng Hải. Xin ngưng bắn. Tôi đang tiến chận đầu nó.
– Đáp nhận.
Tất cả yên lặng. Võ Bằng hy vọng HQ 3736 chận được và tàu anh sẽ tiến tới, phối hợp tóm gọn địch.
– Đài chỉ huy. Đối vật cách 4 hải lý. Vận tốc 28 gút.
Mười phút sau, duyên tốc đỉnh báo cáo:
– Bắc Bình. Đây Hồng Hải. Tàu địch đổi hướng về Sihanoukville. Không đuổi kịp. Xin cho chỉ thị.
Võ Bằng siết chặt tay ghế, mắt đăm đăm về hướng 1 giờ. Chúng chạy thoát thì thật đáng buồn. Nỗi thất vọng đưa Võ Bằng vào chút hy vọng. Tàu địch cách 4 hải lý vẫn còn trong tầm đạn. Anh hỏi phòng radar vị trí mới nhất rồi gằn giọng:
– 76 ly 2. Bắn 4 quả đạn nổ. Tầm xa 7 ngàn mét. Hướng 015.
Bốn tiếng nổ vang rền không xóa tan được nỗi thất vọng. Nhưng bất ngờ một tiếng nổ lớn vọng lại. Và một cụm lửa bùng cao theo nhiều tiếng nổ phụ. Không lẽ tàu địch trúng đạn?
Cố Vấn Mỹ đặt ống dòm rồi bắt tay Võ Bằng:
– Congratulations! You got it!
– Hồng Hải gọi Bắc Bình. Dường như tàu địch trúng đạn, bốc cháy. Xin cho đến kiểm soát.
Võ Bằng mỉm cười, bóp ống liên hợp:
– Hồng Hải. Đây Bắc Bình. Nó đã vào lãnh hải Miên. Tránh rắc rối. Tôi rất cần bạn. Đến tôi ngay, giúp đưa một nhân viên bị thương về An Thới.
– Đáp nhận hành.
Võ Bằng cho lệnh giảm máy tiến 3 rồi giao đài chỉ huy cho sĩ quan đương phiên. Anh hối hả xuống boong gặp nhân viên bị thương. Cố vấn đứng cạnh. Viên đạn xuyên qua đùi, đã được băng bó. Anh nắm tay Hạ sĩ trọng pháo Lưu văn Nghĩa, giọng thân mật:
– Em yên tâm, vết thương không trầm trọng. Ít phút nữa duyên tốc đỉnh sẽ đưa em về bệnh xá. Em xứng đáng được Chiến Thương Bội Tinh.
Nói xong, Võ Bằng và Cố vấn xuống phòng sĩ quan thảo công điện báo cáo diễn tiến tình hình cuộc chạm súng…
Chương 7
Tình duyên hải
Đúng 11 giờ trưa, phái đoàn chiến hạm Rạch Gầm gồm Hạm trưởng Võ Bằng, Hạm phó, sĩ quan chiến tranh chính trị và ba đoàn viên bước vào bệnh xá.
Mùi thuốc sát trùng hăng hắc quyện với hương trái cây từ giỏ quà đầu giường. Hạ sĩ Nghĩa bắp đùi quấn băng trắng cố ngồi dậy bắt tay từng người. Đôi mắt sáng rỡ, giọng đầy xúc động:
– Xin cám ơn hạm trưởng, quý vị và các bạn.
Võ Bằng tươi cười:
– Mừng em chóng bình phục. Cả tàu gửi lời thăm em.
Hạ sĩ Nghĩa hỏi thăm hoạt động chiến hạm sau ngày anh bị thương. Tiếng cười đùa rôm rả qua lời kể của mọi người. Không còn tàu địch xâm nhập tiếp tế, chỉ bận rộn xua đuổi các tàu đánh cá của các nước láng giềng vi phạm lãnh hải.
Đến trưa, Võ Bằng vỗ vai Nghĩa:
– Hãy an tâm dưỡng thương. Đừng lo nghĩ cho chiến hạm.
– Nhưng em muốn dự chuyến công tác tới.
***
Rời bệnh xá, cả đoàn kéo đi ăn trưa. Hạm phó giới thiệu quán Hải Âu nổi tiếng. Quán nằm cuối con đường độc nhất đầy sỏi đá của khu phố. Thực khách phần lớn là quân nhân. Mùi cá nướng thơm lừng.
Võ Bằng đảo mắt tìm bàn trống, chợt thấy hai bàn tay vẫy ngoắt. Anh vẫy tay đáp lại hai chị em Như Oanh.
Hạm phó khẽ nói:
– Xin Hạm trưởng tự nhiên.
Bà chủ quán dẫn khách đến bàn trống gần đó. Võ Bằng dừng bên bàn hai chị em:
– Chào chị, chào Như Oanh.
Nàng nghiêng đầu, ánh mắt tinh nghịch:
– Chào Hạm trưởng. Mời Hạm trưởng ngồi.
Võ Bằng ngần ngừ. Như Oanh và chị đã ăn xong. Anh nhìn về bàn hạm phó. Trung úy Tiến đưa ngón cái lên trời. Anh miễn cưỡng kéo ghế ngồi xuống. Như Oanh trêu ghẹo:
– Biển chắc hành hạ Hạm trưởng dữ lắm, ăn cá mú nướng bồi bổ nghen.
Giọng nàng mềm như gió biển. Võ Bằng bật cười:
– Cám ơn Như Oanh. Nhưng cá mú nướng phải ăn hai người mới đúng điệu. Hẹn ngày mai.
Nàng cười khúc khích:
– Rất tán thành. Hôm nay thì ăn bún cá đi.
Khi anh gọi bia Budweiser, Như Oanh thoáng sững người. Budweiser cũng là bia của Vinh, bia của mỗi tối hẹn hò. Ở đây, cả hai cùng thay thế bằng bia quân tiếp vụ. Chút xót xa chạm tim.
Lương phu nhân lên tiếng:
– Hôm HQ 3736 chở Hạ sĩ Nghĩa về bệnh xá, chúng tôi có tháp tùng Tư lệnh đi thăm. Mừng là viên đạn không chạm xương.
– Chúng tôi vừa thăm Nghĩa. Thấy đã khỏe nhiều.
Lương phu nhân góp thêm vài câu rồi đứng lên:
– Em ở lại trò chuyện với Đại úy Bằng. Chị phải về trước.
Như Oanh gật nhẹ, tim rộn lên theo nhịp hân hoan.
Tô bún cá và chai bia được đặt lên bàn. Võ Bằng khui bia uống vài ngụm. Như Oanh nhắc:
– Anh Bằng ăn đi, nguội mất ngon.
Theo kiểu nhà binh, Võ Bằng thanh toán nhanh tô bún. Nàng lặng thinh nghĩ về một địa điểm chị nàng hứa sẽ đưa nàng đến mà chưa có dịp. Nàng nói:
– Mình ra biển đi.
Võ Bằng bước qua dặn Hạm phó:
– Tìm tôi ở bãi biển, khi cần…
***
Quán Sóng nằm trên bãi cát, mái lợp cỏ tranh, bàn ghế đơn sơ, chỉ bán nước dừa và cà phê. Võ Bằng gọi cà phê phin, Như Oanh chọn nước dừa. Gió biển ùa qua rừng dừa thưa, qua tán dù che bóng mát hai chiếc ghế tựa đặt cạnh nhau. Trước mặt họ là biển xanh bát ngát, hàng chục chiếc ghe câu bồng bềnh, dăm ba người đùa giỡn sóng nước.
Họ im lặng rất lâu, như chờ người kia mở lời trước. Võ Bằng khẽ hỏi, giọng bâng quơ:
– Người ấy đã từng đến quán này chưa?
Như Oanh khẽ nhíu mày:
– Người ấy?
– Ừ… người ấy.
Nàng bật cười khi hiểu ra:
– Chưa. Đây là lần đầu Như Oanh đến.
Thật may. Nàng nghĩ. Nếu hôm nay vào đúng cái quán hôm trước đi với Vinh, thì không biết trả lời sao! Nàng nhìn quanh. Cái quán đó cách không xa.
– Chỗ này đẹp thật. Lại rất hữu tình.
Nàng đưa mắt nhìn xa khơi, giọng thầm thì:
– Trời cao, biển rộng… tình người có bao la không anh?
Họ nhìn nhau. Gió biển làm những sợi tóc nàng lòa xòa trước trán. Nàng đưa tay vén. Khuôn mặt như nàng tiên. Anh chàng nào được nàng yêu thương hẳn là kẻ may mắn nhất trần đời. Tiếng Võ Bằng trầm buồn:
– Người ấy … thế nào?
– Thế nào là thế nào?
– Thế nào cũng được. Hỏi để hỏi!
Trả lời sao đây? Không lẽ thẳng thừng đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu? Bốn câu thơ của T.T. Kh. bất ngờ hiện ra. Nàng vui vẻ đọc:
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi…
Võ Bằng nhỏm người quay sang Như Oanh:
– Sao người ấy lại sợ như vậy?
– Tại Như Oanh có hơi lạng quạng!
– Lạng quạng thế nào?
Thế nào ư? Như Oanh tự hỏi. Vì sao một chàng đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu lại không chiếm trọn trái tim nàng? Vì sao một nét mặt hiền hòa, một tia nhìn bình thản, một lối nói không ồn ào lại làm xao động tâm tư?
Như Oanh mỉm cười:
– Anh biết không, anh tò mò thật đấy. Như Oanh sẽ nói nếu anh cho biết tại sao anh thắc mắc!
– Lẽ thường, quen với người nào, người ta đều mong được biết ít nhiều về người đó.
– À, vậy thì xin nói ít nhiều về Như Oanh. Tuổi 22, nghề dạy học, đang sống chung với cha mẹ.
– Sắp đám hỏi thật sao?
– Như Oanh chỉ đồng ý sau khi nhận được sự vụ lệnh đi dạy.
– Chỉ có thế mà “Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi”?
– Lẽ thường ai đang yêu mà không sợ tan vỡ!
– Như Oanh đánh trống lảng tài thật!
Như Oanh nâng ly nước dừa uống một hơi. Trong đầu nàng trôi về hai ngày đi chơi với Vinh. Chỉ hai ngày đủ cho Vinh nhận ra sóng gió trong lòng nàng. Nàng trầm buồn:
– Khi biết Như Oanh lạng quạng, người ấy đã buông một câu vừa trách móc vừa lo lắng: “Đừng có khùng!”
– Lạ quá! Tôi cũng từng nói câu đó với người tôi yêu.
– Trường hợp nào?
Võ Bằng khuấy tách cà phê, uống vài hớp:
– Do hoàn cảnh đẩy đưa nàng nhận làm vợ một trung úy Mỹ. Trước ngày lên máy bay theo chồng, nàng khóc, nói chỉ cần tôi mở lời, nàng sẽ ở lại. Tôi muốn lắm, nhưng tự xét lương thiếu úy chưa kham nổi một gia đình nên bảo: “Đừng có khùng!”
Như Oanh lặng đi. Sóng vẫn xô bờ mà lòng nàng vỡ òa một nỗi buồn. Nàng nghe tâm hồn chùng xuống, như tấm lụa mong manh giữa gió. Có lẽ Vinh nói đúng. Chẳng qua chỉ là tình cảm nhất thời, như những mối tình mong manh thời trung học. Lãng mạn chỉ khổ thân…
Như Oanh hít một hơi thật sâu, quyết định:
– Sự việc thế này. Hôm anh Bằng rời đi công tác, người ấy tới An Thới. Thấy Như Oanh đón tiếp thiếu nồng nhiệt, không như ở Sài Gòn, nên khi chia tay người ấy khuyên: “Đừng có khùng”. Anh Bằng thấy… đúng, phải không?
Võ Bằng trầm ngâm phút giây rồi chậm rãi đáp:
– Câu trả lời là thế này. Ngay đêm đầu tiên gặp Như Oanh, tình cảm tôi đè nén bấy lâu bỗng bùng vỡ. Trí óc tôi bảo không nên, nhưng trái tim lại khuyên: “Đừng có khùng!”
Một làn sóng xúc động ập vào tâm hồn Như Oanh. Nàng cúi mặt, lặng lẽ cân nhắc lòng mình. Một cơn gió mạnh thổi qua, chiếc nón của nàng bay tạt về phía anh. Võ Bằng đưa tay giữ lại đúng lúc nàng vói sang. Các đầu ngón tay như dòng điện chạm nhau. Cả hai lặng người, nghe rõ nhịp tim hòa nhịp sóng.
Võ Bằng nghiêng người nhìn khuôn mặt nàng, khuôn mặt đã ám ảnh anh suốt chuyến công tác. Khuôn mặt thiên thần đó, những nét mềm mại vương vài sợi tóc lòa xòa. Đôi mắt hút hồn. Đôi môi gợi cảm.
Như Oanh cầm về chiếc nón, giọng nói như gió thoảng:
– Anh Bằng gắn bó với biển từ bao giờ?
– Từ năm thứ nhất đại học. Tôi không chọn biển mà biển chọn tôi.
– Là sao?
– Thằng bạn học nó muốn gia nhập Hải Quân, rủ rê tôi đi cùng. Đi rồi mới… mê biển!
Oanh gật đầu, nâng ly ừng ực. Nước dịu ngọt giúp nàng ngọt lời hơn:
– Trường hợp Như Oanh cũng vậy. Bà chị rủ rê ra Phú Quốc, bảo bốn bề là biển, sóng vỗ về ngày đêm. Thế rồi đâm ra yêu biển, yêu sóng gió và khùng nhất là yêu luôn… chiến hạm! Yêu mà sợ!
– Sợ nhớ hay sợ… phải quên?
– Cả hai.
Võ Bằng nhìn nàng, ánh mắt dò xét:
– Tôi không biết chừng nào Như Oanh về Sài Gòn, nhưng nếu tôi nói tôi muốn Như Oanh ở lại, liệu tôi có bị cho là… khùng?
Nàng làm mặt giận:
– Đâu dám!
– Vậy Như Oanh ở lại?
– Có muốn cũng không thể. Như Oanh phải về đi dạy. Người ấy ra đây để trao lệnh bổ nhiệm. Như Oanh phải về chuyến bay sớm nhất.
Họ im lặng rất lâu. Biển mênh mông như hòa chung nỗi buồn. Võ Bằng trầm giọng:
– Tám ngày qua, hẳn Như Oanh dành hết cho người ấy?
Nàng mỉm cười, thoáng bối rối:
– Phần nào thôi!
– Phần còn lại?
– Trông ngóng… Rạch Gầm!
Như Oanh giận cho mồm miệng nhanh nhẩu đoảng. Nhưng Võ Bằng như không quan tâm, tiếp tục thắc mắc:
– Hôm nay Như Oanh thảnh thơi thế này chắc người ấy đã rời An Thới?
– Người ấy mới ở hai ngày thì Sài Gòn triệu hồi về gấp!
– Nếu cho là tôi quá tò mò, thì miễn trả lời: hai ngày đó … thế nào?
– Rất vui. Nhưng sau khi người ấy đi rồi thì không nhớ lắm!
– Nghĩa là có nhớ?
– Có chứ, bốn năm yêu nhau mà!
Võ Bằng lặng thinh. Nàng không hối hận. Sự việc rõ ràng, nàng nói khác, anh biết ngay nàng nói dối! Một đám mây trôi qua mặt trời. Gió mát hơn giúp nàng dễ thở hơn. Nàng đổi giọng vui vẻ:
– Ngày mai anh Thám đưa tụi em đi Dương Đông mua vé máy bay. Khi về, Như Oanh sẽ xuống Rạch Gầm…
Nói xong, nàng nghe mặt nóng bừng. Võ Bằng hân hoan gật đầu:
– Tôi sẽ chờ…
Như Oanh nghiêng người tránh tia nhìn đam mê. Rặng dừa ôm lấy các tán dù trên bãi cát trải dài. Nàng quay lại, mỉm cười:
– Ai đặt danh từ “duyên hải” nghe hay thật. Duyên là duyên gặp gỡ. Hải là biển. Gặp nhau ở biển.
Võ Bằng bật cười thích thú:
– Sáng tác nghĩa mới thật tuyệt. Đúng là giáo sư Việt Văn!
Như Oanh mỉm cười, như trêu chọc:
– Cho nên về đất liền là hết duyên hải!
Võ Bằng choáng váng. Như Oanh tàn nhẫn quá. Niềm vui trao chưa kịp nhận đã vứt bỏ. Số mình sao cứ là số… vô duyên! Đụng cô nào là cô nấy đi lấy chồng!
Hai người nằm lặng im bên nhau rất lâu, như đã nói hết với nhau lần cuối.
Rồi họ rời quán, đi dọc theo bãi. Như Oanh nhớ lần đi với Vinh vui thích đuổi còng, nhặt vỏ sò dọc Bãi Chướng, Hòn Thơm. Lần đó, mới tuần rồi… Thế mà hôm nay, đi với người mới quen, nàng chỉ lo ngăn cản những cảm giác lạ lùng.
Rồi một lần, bàn tay Võ Bằng chạm tay nàng và nắm chặt. Nàng không rút lại. Không ai nói gì. Tiếng sóng ập vào ghềnh, tiếng gió len qua cành lá hòa với nhịp đập rộn ràng của hai con tim.
Giọng trầm buồn của Võ Bằng:
– Có thật rồi mình sẽ không còn gặp nhau?
– Em không biết. Em cần thời gian xét lại lòng mình. Khi mãn công tác, trước khi về Sài Gòn, anh hãy gặp chị em. Nếu chị chuyển lời, tức là em đã chọn…
Họ dừng lại nơi mép sóng. Như Oanh khẽ choàng tay qua lưng anh, cúi mặt nhìn nước tràn vào chân rồi rút đi như cuộc tình đến rồi rời xa.
Anh đứng lặng, mắt dán vào đường chân trời, nơi biển và trời hòa làm một. Thì sao với anh và nàng, hai người sẽ mãi hai nơi? Chẳng lẽ đời anh bao giờ cũng vẫn chỉ có biển và con tàu?
Và sẽ buồn hay vui khi mang thêm dư âm cuộc tình… duyên hải?
Chương 8
Từ An Thới đến Nam Du
Khi Võ Bằng bước vào phòng họp, các sĩ quan đã tề tựu đông đủ, kể cả cố vấn. Tất cả đứng lên chào. Anh đáp lễ bằng một cái gật nhẹ rồi ra hiệu mời ngồi.
Từ ghế đầu bàn, anh nói chậm rãi đủ để cố vấn cũng theo kịp:
– Chúng ta sẽ đảm trách tuần tiễu trục Nam Du – Bà Lụa trong 8 ngày, ngăn chận Bắc Cộng tiếp tế người và vũ khí cho 2 sư đoàn của chúng hoạt động vùng Rạch Giá – Cà Mau, mà cũng có thể là cho cả miền Tây. Đây là vùng tiếp tế quan trọng và thuận lợi cho chúng vì ven bờ có nhiều cửa sông kín đáo, ngoài biển lại có nhiều đảo nhỏ trú ẩn. Tàu tiếp tế chỉ việc hoặc chạy thẳng vào bờ hoặc chuyển hàng lên đảo rồi từ từ đưa vào bằng ghe. Với ghe, chúng dễ phi tang bằng cách tuôn hàng xuống biển khi thấy tàu tuần tiến tới.
Võ Bằng tiếp tục sau khi nhìn cố vấn Mỹ tỏ dấu đã hiểu:
– Tàu Bắc Cộng có tốc độ cao, ngụy trang tàu đánh cá nhưng trang bị vũ khí. Khi bị chận xét, chúng chạy thoát ra hải phận quốc tế; nếu bị dồn vào thế cùng, chúng liều mạng nổ súng. Sĩ quan đương phiên không được tự tiện khám xét. Tùy tình hình, chúng ta tăng cường đơn vị bạn. Đơn vị bạn vùng này cũng đông hơn: chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội, các chiến đỉnh của Hải Đội 4, nhiều chiến thuyền của các Duyên Đoàn.
Anh trao bao thư mật cho sĩ quan truyền tin:
– Chuẩn bị sẵn sàng máy và tần số liên lạc.
Ánh mắt Võ Bằng lướt qua mọi người:
– Có trưởng ban nào gặp trở ngại?
Những cái lắc đầu. Vài tiếng “không” gọn lỏn.
Võ Bằng nhìn Hạm phó:
– Anh cho tập họp nhân viên thông báo mỗi ngày làm việc như thường lệ, trừ cuối tuần. Đặc biệt gõ sét, sơn lót, tu bổ súng và sẵn sàng đạn.
Võ Bằng đứng lên, giọng rắn rỏi:
– Hạm phó tập họp xong, chúng ta tách bến!
***
Trong tiếng động cơ rầm rì, tiếng leng keng đổi vận tốc, Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm tách khỏi cầu, hướng ra biển. Võ Bằng quay nhìn ngôi nhà tiền chế trên đồi, nơi tiên nữ bất ngờ giáng trần đã “giáng” xuống anh một đòn ngơ ngẩn. Một chút bồi hồi nhớ nhung… Anh tự hỏi, giả sử Hoàng Như Oanh còn ở An Thới, nàng có ra bến tàu tiễn đưa? Tiếng xạc xào nhịp nhàng của mũi tàu chẻ nước gợi nhớ buổi chia tay nơi bãi biển chiều hôm trước. Anh như còn thấy bàn tay vẫy cùng nụ cười buồn của nàng.
Sáng hôm qua, anh bỏ tiền riêng nhờ nhà bếp nấu một bữa ăn tối tương đối thịnh soạn thết đãi Như Oanh, nhưng tiên nữ lại… bỏ “về trời”. Sáu giờ chiều, bàn ăn sẵn sàng thì một thủy thủ từ nhà Tư lệnh đến trao cho anh phong thư. Anh vội mở ra và thẫn thờ đọc mấy dòng chữ: “Như Oanh xin lỗi anh Bằng. Đến Dương Đông, máy bay có sẵn nên không thể trở lại An Thới viếng chiến hạm như đã hứa. Xin nhắc: trước khi anh về Sài Gòn, đừng quên gặp chị của Oanh.”
Biển sáng nay thật êm, chỉ gợn sóng lăn tăn đủ để dâng nỗi buồn thêm da diết. Ánh xám của mây khiến màu biển thêm xanh. Vài chiếc ghe câu thả lưới thong thả. Dăm con hải âu chao lượn nhởn nhơ. Đài chỉ huy im lặng như đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp ban mai trên Hòn Dừa.
Chiến hạm vừa qua khỏi đảo đổi hướng về Hòn Dăm Ngoài rồi trực chỉ quần đảo Nam Du, đoạn đường 30 hải lý, ba tiếng hải trình. Quá dài cho một vùng biển quang đãng, không đá ngầm, chỉ lác đác vài chiếc ghe nhỏ…
Chẳng lẽ cứ ngồi nhìn mây nước mà nhớ bóng dáng Như Oanh? Võ Bằng ngăn tiếng thở dài. Coi như hết rồi… Hãy quên đi như đã từng quên…
Nhưng làm gì để quên bây giờ? Một ý nghĩ vụt qua. Võ Bằng chợt nhớ môn học “Tổ Chức Chiến Hạm”. Đây chính thời điểm thích hợp để tìm hiểu từng sĩ quan thuộc quyền. Anh quay sang Hạm phó đang đứng bên cánh tả:
– Anh Tiến, thông báo cho tất cả sĩ quan: tôi muốn gặp riêng từng người, theo thâm niên. Quân phục làm việc. Trình diện ở phòng Hạm trưởng. Mười lăm phút nữa, bắt đầu là Hạm phó.
Võ Bằng đứng lên. Tiếng hô “Nghiêm” tiễn Hạm trưởng rời đài chỉ huy.
Về buồng, mở tủ lấy quân bạ sáu sĩ quan, anh ngồi vào bàn đọc nhanh từng hồ sơ. Đúng giờ, tiếng gõ cửa vang lên.
Hạm phó Tiến bước vào, chào kính, giọng rắn rỏi:
– Hải quân Trung úy Phạm Lê Tiến trình diện Hạm trưởng.
Anh nghe lòng bồi hồi chen lẫn hãnh diện. Mới đây thôi, anh trình diện Mặt Trời. Đó là lần chót chỉ chuyên làm thuộc cấp trình diện. Hôm nay lần đầu anh được lên hàng… thượng cấp! Võ Bằng thấy rộn ràng. Anh nhìn thẳng vào mắt người đối diện, tay chỉ ghế:
– Mời ngồi.
Khi thấy Trung úy Tiến đã an vị thoải mái, Võ Bằng tiếp:
– Anh quê quán Long An, còn tôi Châu Đốc, cùng là dân miền Tây. Tình cảm ra sao?
Tiến tỏ vẻ ngạc nhiên rồi mỉm cười:
– Thưa… đang yêu.
Võ Bằng nhớ đến tình cảm lang bang của mình, cười hỏi:
– Một hay nhiều?
– Một là quá đủ, thưa Hạm trưởng.
– Dự tính xây dựng gia đình?
– Thưa, chắc năm tới.
Võ Bằng gật đầu hài lòng:
– Nhớ mời tôi nghen!
– Chắc chắn, thưa Hạm trưởng.
– Anh tốt nghiệp khóa 12?
– Thưa phải.
– Theo quân bạ, anh đi biển từ ngày ra trường đến nay, liên tục 6 năm. Kinh nghiệm đi biển của anh tương đương tôi. Với anh, anh tin vào điều gì nhất?
Hạm phó Tiến nhíu mày:
– Xin Hạm trưởng giải thích rõ hơn!
– Tôi muốn hỏi, để thành công trong việc chỉ huy một chiến hạm, anh tin vào điều gì nhất?
– Thưa, kỷ luật và tình đồng đội.
– Đó là một phần trong các nhiệm vụ khó khăn của một Hạm trưởng. Ngoài ra, còn phải áp dụng mọi biện pháp để giữ an toàn cho thủy thủ đoàn và cho chiến hạm. Anh tin mình sẽ hoàn tất nhiệm vụ để sẵn sàng chức vụ mới?
– Thưa, tôi sẽ tận tâm tận lực thực hiện.
– Theo Huấn thị Điều hành Căn bản, Hạm phó là người kế nhiệm Hạm trưởng. Anh là người trực tiếp quản trị và điều hành các ban. Tôi sẽ thông báo cho anh mọi tin tức liên quan đến chiến hạm để anh thông suốt khi thi hành mọi mệnh lệnh của tôi.
– Tôi hiểu, thưa Hạm trưởng.
– Ngược lại, anh phải báo cáo cho tôi tất cả các vấn đề liên quan đến thủy thủ đoàn và chiến hạm. Phải luôn luôn cảnh giác, đừng chủ quan.
– Tôi hiểu, thưa Hạm trưởng.
– Tốt! Anh đã có một năm làm hạm phó tuần duyên hạm và một năm ở tàu này. Kỳ bình điểm cuối năm, tôi sẽ đề nghị anh đủ khả năng làm hạm trưởng.
– Xin cám ơn Hạm trưởng.
– Ngoài chức vụ Hạm phó, anh còn kiêm nhiệm sĩ quan chiến tranh chính trị. Nhớ duy trì lớp chính huấn hàng tháng. Phải luôn nâng cao tinh thần tích cực chống Cộng.
– Tuân lệnh.
– Tôi rất vững tâm nơi anh. Cám ơn anh.
Hạm trưởng chìa tay. Hạm phó đứng lên nghiêng người nắm bắt rồi xoay nửa vòng rời phòng.
***
Trung úy Đặng Thành Tài, Trưởng ban Hải hành bước vào. Võ Bằng hài lòng nhìn lối đi mạnh dạn, chào kính đúng quân cách, thân mật hỏi:
– Anh khóa 13, quê quán Nha Trang?
– Thưa phải.
– Tôi có nhiều kỷ niệm với Nha Trang. Thời đi học, lẫn thời quân trường. Còn anh, nơi nào tặng anh kỷ niệm sâu đậm nhất?
–Thưa, Mỹ Tho. Tôi ở đó liên tục 6 năm. Từ sĩ quan mới ra trường lên đến Giang đoàn trưởng.
– Vậy mà lại xuống chiến hạm làm sĩ quan đệ tam?
– Thưa, tôi tình nguyện xin được trở về với biển.
– Đã đi biển bao lâu?
– Thưa, 8 tháng trên Hải vận hạm HQ 410.
– Trong 8 tháng ở biển, anh có kinh nghiệm nào đáng nhớ, đáng học?
– Thưa, trải qua hai trận bão. Cứ sợ tàu chìm.
Võ Bằng nhìn bộ mặt rắn rỏi của Tài:
– Vậy thật ra anh thích chiến hạm hay thích giang đoàn? Trong sông không sóng gió.
Tài nhìn huy hiệu “bánh xe nước mía” trên túi áo của Hạm trưởng:
– Thưa, dĩ nhiên là chiến hạm. Tôi lúc nào cũng mong tới ngày được đeo huy hiệu Hạm trưởng.
Võ Bằng mỉm cười:
– Đi biển, điểm mạnh nhất của anh là gì?
– Hải hành. Tôi có thể định vị chính xác chiến hạm ngày như đêm.
– Anh đã chứng tỏ qua chuyến công tác vừa rồi. Còn điểm yếu?
– Vẫn còn say sóng.
– Đa số mới đi biển đều say sóng. Rồi sẽ quen. Khi Hạm phó Tiến rời tàu, anh sẽ lên thay. Lúc đó anh sẽ quên ói mửa.
Cả hai cùng cười. Giọng Tài hân hoan:
– Cám ơn Hạm trưởng.
– Cám ơn anh.
***
Trung úy Bùi Anh Tuấn, Trưởng ban Truyền tin, An ninh trình diện đúng quân cách.
– Khóa 14 và quê quán Biên Hòa?
– Thưa phải.
Võ Bằng gục gặc đầu:
– Tôi rất thích bưởi Biên Hòa! Còn anh, vì sao bỏ Biên Hòa và chọn Hải Quân?
– Thưa Hạm trưởng, món nào ăn hoài rồi cũng ngán. Tôi gia nhập Hải Quân để đổi món.
Cả hai cười vang. Võ Bằng nói:
– Anh thấy sao về hai món Truyền tin và An ninh?
– Khó nuốt nhưng phải ráng!
– Anh học về an ninh ở trường Quân Báo Cây Mai?
– Thưa phải!
– Các chức năng chính về an ninh là gì?
– Thưa, thứ nhất thu thập tin tức về địch; thứ hai phân tích, tổng hợp, đánh giá; thứ ba khai thác, tức là suy đoán ý đồ và tiên đoán hành động của địch; thứ tư bảo vệ an ninh cơ sở; thứ năm đề phòng địch xâm nhập hệ thống truyền tin và thứ sáu, ngụy tạo tin tức đánh lừa địch.
– Trong chức năng an ninh chiến hạm, anh có những biện pháp nào? Đây là vấn đề tôi quan tâm hàng đầu.
– Thưa kiểm soát chặt chẽ xuất nhập. Khóa an toàn kho vũ khí. Bảo vệ tài liệu kín, mật. Sàng lọc nhân viên. Phân định khu vực cấm, hạn chế…
– Tôi hài lòng thấy anh rất thuộc bài. Điều quan trọng là anh phải thực hiện thật nghiêm chỉnh.
– Xin tuân lệnh.
– Còn truyền tin, cũng quan trọng không kém. Anh phải nắm vững các thiết bị, công suất, tần số và các đặc điểm của mọi máy phát, thu. Một chiến hạm tê liệt truyền tin giống như một người vừa câm vừa điếc. Anh phải thường xuyên đôn đốc nhân viên học hỏi, bảo trì. Cám ơn anh.
***
Một anh chàng trẻ trung, to con, quân phục chỉnh tề, khuôn mặt trẻ trung, nghiêm nghị đến chào kính rồi mạnh dạn lên tiếng:
– Hải Quân Thiếu úy Dương Công Đức. Khóa 15, quê Hố Nai. Hai chức vụ: Vận chuyển và Ẩm thực.
– Ra trường năm nào?
– Thưa, 1967.
– Đến hôm nay, anh đã đủ 2 năm lên Trung úy rồi. Chừng nào đeo lon mới?
– Thưa, nghe bạn ở Phòng Tổng quản trị nói đã có quyết định thăng cấp, sắp phổ biến.
– Khi nhận được quyết định, tôi sẽ tổ chức tiệc để cả tàu chung vui cùng anh.
– Xin cám ơn Hạm trưởng.
– Ba mẹ còn đủ?
– Thưa còn.
– Hôm tiệc thăng cấp, nhớ chuyển lời tôi mời ba mẹ anh tham dự.
Thiếu úy Đức nói với giọng xúc động:
– Xin cám ơn Hạm trưởng.
– Anh đang giữ cùng lúc hai chức vụ quan trọng: Vận chuyển và Ẩm thực. Có gì khó khăn cần giải quyết?
– Về Ẩm thực, hôm trước tôi đã trình Hạm trưởng là chợ An Thới thiếu rau thịt…
– Chuyến này tôi sẽ cho đi chợ Rạch Giá. Còn gì nữa?
– Thưa, chỉ có thế.
– Hãy cố gắng cho anh em ăn ngon, đầy đủ. Tôi không muốn nghe lời than phiền.
– Nhận rõ.
– Còn về ngành Vận chuyển, hãy nhớ, có một sự việc hiếm khi xảy ra nhưng lại xảy ra bất ngờ cùng với tử thần. Phải sẵn sàng cho nhiệm sở đào thoát. Anh có thường xuyên kiểm tra ca-nô và lương khô?
– Thưa có. Ca-nô tình trạng khiển dụng. Lương khô đến năm tới mới hết hạn.
– Đầy đủ các phao cá nhân cho từng anh em?
– Thưa, đầy đủ.
– Trái sáng? La bàn? Dụng cụ câu cá? Dụng cụ tạo nước, chứa nước?
– Thưa, đầy đủ.
– Cám ơn anh.
Thiếu úy Đức vừa xoay người ra cửa thì tiếng điện thoại nội bộ reo vang. Võ Bằng nhấc máy:
– Hạm trưởng nghe đây.
– Thưa, có tàu xuất hiện và có đánh đèn “Chào Hạm trưởng Võ Bằng”.
Võ Bằng vội bước ra ngoài, báo hai sĩ quan còn lại trình diện dịp khác rồi bước nhanh lên đài chỉ huy. Qua ống dòm, Võ Bằng đọc trên mạn tả trước mũi các chữ số trắng nổi bật: HQ 015. Đó là chiến hạm rời vùng về nghỉ bến và tàu anh đến thay thế. Anh lật tập danh sách Hạm Trưởng đương nhiệm. Hạm trưởng HQ 015 là Hải Quân Thiếu tá Trần Văn Quý, khóa đàn anh. Võ Bằng ra lệnh:
– Thủ tục chào kính Hạm trưởng thâm niên.
Khi hai chiến hạm ngang nhau, một hồi còi dài lanh lảnh nổi lên. Mọi người trên đài chỉ huy đứng nghiêm. Võ Bằng đưa tay chào và nhận chào đáp của Hạm trưởng HQ 015. Qua tiếng còi vọng đến giữa trời biển bao la, anh chợt nghe lòng ấm lại: tình đoàn kết thương yêu giữa những người lính biển và những con tàu vẫn luôn bền chặt.
Chiếc HQ 015 vừa qua khỏi, Cố vấn Mỹ nói với Võ Bằng:
– Tôi vừa nhận tin, có một tàu khá lớn lảng vảng ngoài khơi, gần đảo Thổ Chu. Nghi ngờ đợi trời tối xâm nhập vùng Cà Mau, Rạch Giá. Sẽ có tin thêm.
Võ Bằng từng tuần tiễu vùng quần đảo Thổ Châu, là tiền đồn của lãnh hải Việt Nam trong vịnh Thái Lan, cách An Thới 100 cây số về phía tây nam. Tàu nghi ngờ còn trong vùng trách nhiệm của chiến hạm bạn. Tối xâm nhập thì tối tính. Bây giờ nghỉ ngơi lấy sức trước đã. Anh dợm bước đến cầu thang dẫn về phòng riêng thì máy PRC 46 phát thanh:
– Bắc Bình, đây Thái Dương.
Anh trở lui, mở danh sách truyền tin. Thái Dương là ám danh Bộ Tư lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Anh bấm máy phát:
– Bắc Bình nghe Thái Dương.
– Không tuần cho biết có một tàu khả nghi đang ủi bãi Vàm Kim Quy. Yêu cầu quý đơn vị đến yểm trợ hỏa lực và phối hợp khám xét.
– Đáp nhận hành.
Võ Bằng gác máy, đo đạc. Cũng phải chiều tối mới đến vị trí chỉ định. Anh cho tăng tốc rồi vẩn vơ thầm nhủ:
– Tối nay lu bu lắm đây!
Chương 9
Đêm trên vùng Nam Du
Chiều xuống, lúc 5 giờ, chiến hạm vừa đến Vàm Kim Quy thì công điện từ Vùng 4 chuyển đến ‘để thông báo’: “Phóng pháo cơ đã tiêu diệt tàu xâm nhập. Kết quả địch 2 chết, 3 bị thương. Súng đạn và thuốc men đã thu, chiến thuyền giải giao về Rạch Giá.”
Công điện thứ hai gửi trực tiếp cho Rạch Gầm: “Yêu cầu quý chiến hạm trở lại vùng trách nhiệm”.
Võ Bằng ngồi lặng thinh, ngước nhìn ra biển. Lại trục quen thuộc mà đầy rẫy hiểm nguy. Anh tính nhẩm: ba ngày cho 20 đảo hoang Nam Du, rồi còn chuỗi ngày vất vả hơn ở Bà Lụa. Nhưng ít ra, Bà Lụa gần An Thới hơn. Gần hơn bóng dáng Như Oanh. Có lẽ giờ này nàng đã có tin nhắn cho chị mình…
Từ Vàm Kim Quy đến Nam Du cần 3 tiếng cho 30 hải lý. Võ Bằng thấy đủ thì giờ cho cơm chiều và tiếp tục cuộc gặp gỡ ban tham mưu.
Sau bữa ăn, Võ Bằng chỉ thị Thiếu úy Lũy, Thiếu úy Quang và Quản nội trưởng lần lượt trình diện vào lúc 7 giờ.
***
– Hải quân Thiếu úy Đỗ Văn Lũy trình diện Hạm trưởng.
Cách chào kính mạnh mẽ, khuôn mặt trang nghiêm, thế đứng cứng cỏi. Giọng Huế như lần mò vào tim óc. Những mối tình xa xưa. Nào Tuyết, nào Hiền, nào Hồng. Võ Bằng mỉm cười:
– Nghỉ. Mời ngồi.
Anh mở sổ quân bạ:
– Anh ở đường Trần Hưng Đạo, đoạn nào?
– Thưa, ngang chợ Đông Ba.
– Tôi từng đến chợ Đông Ba ngay sau Tết Mậu Thân. Khi ấy, chợ xác xơ lắm.
– Thưa Hạm trưởng, bây giờ đông đúc như xưa rồi. Tôi vừa về thăm ba mạ trước khi tàu công tác.
“Ba mạ” – hai tiếng gợi nhớ Hồng và đứa con nuôi. Anh thoáng bâng khuâng, rồi hỏi tiếp:
– Anh khóa mấy?
– Khóa 16, thưa Hạm trưởng.
– Với chức vị trưởng ban trọng pháo, anh hoàn thành thế nào?
– Thưa, rèn luyện nhân viên tác xạ chính xác. Bảo trì vũ khí các loại. Kiểm soát chặt chẽ xuất nhập. Tiếp nhận đạn dược, cất giữ, di chuyển an toàn. Bổ sung kịp thời súng hư hỏng và đạn tiêu thụ.
Anh mỉm cười:
– Riêng cá nhân anh, có tiêu thụ đạn bừa bãi không?
Thiếu úy Lũy cố giữ mặt nghiêm trang:
– Thưa không.
– Tốt. Giữ như vậy. Đừng để mang tai tiếng Hải Quân.
– Đáp nhận.
– Tôi rất hài lòng và tin tưởng ở anh. Cám ơn anh.
Cũng như khi đến, Lũy trịnh trọng chào rồi quay lui.
Sĩ quan Cơ Điện và Phòng tai bước vào:
– Hải Quân Thiếu úy Ngô Quang trình diện Hạm trưởng.
Võ Bằng chào đáp:
– Mời ngồi.
Quang ngồi, hai tay trên đùi. Các móng tay hơi đen, có lẽ do dầu mỡ.
– Vì sao anh chọn ngành máy móc mà không là chỉ huy?
– Thưa, tôi rất mê máy móc. Thích nghiên cứu cách nó vận hành.
– Chắc anh đồng ý: tàu hỏng máy thì coi như vừa đui vừa què. Chuyến vừa rồi, các máy chánh máy điện đều vận hành hoàn hảo. Anh rất đáng khen.
– Cám ơn Hạm trưởng.
– Còn về phương diện phòng tai. Hãy luôn giáo dục phòng ngừa tai nạn. Nhắc nhở nhân viên an toàn là trách nhiệm của mỗi người. Phổ biến các kinh nghiệm sai lầm của người khác để học hỏi cách phòng ngừa. Đặc biệt chú tâm phát hiện hỏa hoạn, phá hoại, tấn công…
– Nhận rõ. Thưa Hạm trưởng.
– Anh có nguyện vọng gì không?
– Thưa không!
– Cám ơn anh.
Cuối cùng, một chàng trung niên cao ráo, rắn rỏi, quần áo thẳng nếp, ngực đeo nhiều huy chương với ba anh dũng bội tinh bước vào:
– Thượng Sĩ Trọng Pháo Lâm Văn Minh trình diện Hạm trưởng.
– Mời ngồi.
Anh ngập ngừng ngồi lên nửa ghế. Võ Bằng niềm nở giúp anh bớt ái ngại:
– Nhìn huy chương là biết anh gan dạ, gương mẫu. Thời gian ngắn vừa qua đã đủ cho tôi thấy thấy thủy thủ đoàn đối với nhau bằng tình huynh đệ. Đó là công lao lớn của anh. Tôi hoàn toàn tán thành việc cựu Hạm trưởng chỉ định anh làm Quản nội trưởng và tôi mong anh vẫn tiếp tục chức vụ này.
– Rất hân hạnh, thưa Hạm trưởng.
– Tôi biết anh rất hiểu nhiệm vụ của mình. Tôi chỉ muốn nhắc nhở vài điểm quan trọng.
Chờ Thượng sĩ Minh chăm chú lắng nghe, Võ Bằng tiếp:
– Chức vị quản nội trưởng là cầu nối giữa đoàn viên và sĩ quan, dĩ nhiên rất tế nhị, khó khăn. Hãy cố gắng duy trì tinh thần đoàn kết. Đôn đốc nhân viên làm việc với nhiệt tình. Đồng thời nắm vững mọi sinh hoạt và báo cho hạm phó hoặc trực tiếp gặp tôi trình bày mọi sự kiện có thể gây ra hiệu quả xấu cho chiến hạm. Nhiệt thành tiếp nhận và đạo đạt mọi nguyện vọng nhân viên.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng
– Cám ơn anh.
***
Khi Võ Bằng lên đài chỉ huy, cả quần đảo đã chìm vào bóng tối. Chiến hạm sắp sửa ngang qua Hòn Mấu tiến đến Hòn Nồm, cực nam của quần đảo Nam Du. Dự tính là sau khi qua hòn Mấu, sẽ đổi hướng đi vào vùng trong của quần đảo, từ đó len lỏi tuần tra lần lượt 20 đảo kết hợp thành vòng tròn. Thế nhưng thời tiết không còn thuận lợi. Gió giật, rít qua đài chỉ huy. Sóng bắt đầu lay lắt con tàu. Mây đen chớp giật, tung cơn mưa rào xối xả. Hạt to nặng bay lộp bộp vào kính chắn gió…
Võ Bằng lầm bầm kêu than. Ông Trời đúng là giở chứng. Gần qua tháng 11 rồi. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 mà còn mưa cái nỗi gì!
– Đài chỉ huy. Radar bị nhiễu xạ, không thấy đối vật.
Võ Bằng bước đến bàn hải đồ xem xét vị trí sau cùng. Với tình trạng radar có như không, với dòng hải lưu chảy từ Tây-Nam lên Đông-Bắc, cách an toàn nhất là giữ chiến hạm dọc phía đông quần đảo. Nếu có bị dòng hải lưu tác động thì chiến hạm càng tách xa. Anh kẻ hải trình mới rồi ban lệnh:
– Lái hướng 020.
Anh mặc áo mưa, trùm kín đầu, bước qua cánh tả, mắt dõi tìm hòn Mấu. Anh từng tuần tra quanh đảo này. Đảo dài, không mấy cao nhưng cây xanh um toàn đảo. Quanh bờ, phần nhiều là đá tảng. Vài bờ cát trắng nhưng hoang sơ. Chỉ một nơi có rừng dừa với dăm ba nóc nhà tranh. Nhưng đêm nay, cả dạng đảo cũng không thấy dù vị trí tàu cách không xa hơn hai hải lý. Trước mặt chỉ là đại dương tăm tối, gió dập sóng dồi.
Nước bắn túa vào mặt mùi tanh tưởi, môi măn mẳn. Nước mưa thành giọt trên lưng, lành lạnh. Tim anh như đập nhanh hơn…
Anh nhớ những đêm mang tàu từ Mỹ vượt Thái Bình Dương. Hàng chục đêm mưa gió còn tơi bời hơn thế này và con tàu lầm lũi hải hành phỏng định. Anh tưởng đã quá quen cảnh mưa xối xả trong bóng đêm mênh mông, hãi hùng. Thế mà đêm nay lòng vẫn dậy lên nỗi ư tư. Liệu trên 60 sinh mạng và con tàu bình an qua đêm nay?
Anh chợt nhớ Hòn Nam Du có đài kiểm báo theo dõi tàu thuyền. Anh chỉ thị sĩ quan đương phiên liên lạc xin vị trí chiến hạm nhưng đài kiểm báo cho biết cũng đang trở ngại gió mưa.
Anh thấy đã đến lúc áp dụng một phương pháp hải hành hiếm khi dùng đến. Ít nhất giúp phần nào an tâm. Đây cũng chính là dịp cho sĩ quan thực tập. Anh nói với sĩ quan đương phiên:
–Trung úy Tuấn. Anh còn nhớ hải hành bằng chiều sâu?
Tuấn ấp úng:
– Thưa, có học nhưng chưa có dịp thực hành.
– Theo anh, hải hành bằng chiều sâu ví như ở đời thường, nó giống trường hợp nào?
Tuấn ngẫm nghĩ rồi đáp:
– Như người mù đi đường, thưa Hạm trưởng.
– Rất đúng. Người mù nhờ cây gậy dò đường. Với ta, cây gậy chính là máy đo chiều sâu. Bây giờ anh bắt đầu thực hành.
Võ Bằng bước tới bàn hải đồ. Trung úy Tuấn đứng bên cạnh. Võ Bằng hỏi:
– Trên hải đồ, anh cần chú ý những gì?
– Trước nhất, số đo chiều sâu đáy biển. Kế đến các đường đồng chiều sâu.
– Đúng. Còn cần gì nữa?
– Thưa, bảng thủy triều.
– Và?
– Máy đo chiều sâu.
– Chiều sâu tính theo đơn vị đo lường nào?
– Thưa, fathom. Máy đo gọi là Fathometer.
– Khá lắm! Đúng là anh còn nhớ. Thế còn đo chiều cao?
– Tính bằng feet.
– Khi tác xạ hải pháo, tính bằng gì?
– Thưa, bằng yard.
– Còn về hải lý và dặm, khác nhau thế nào?
Tuấn hít sâu, trả lời rành rọt:
– Thưa, cùng gọi là mile, nhưng đo hải trình thì gọi hải lý, bằng 1 cây số 852 mét. Còn đo trên lộ trình, gọi là dặm, bằng 1 cây số 609.
Võ Bằng cười khích lệ, vỗ vai:
– Giỏi! Mỹ rắc rối thế mà vẫn rành sáu câu. Người mình quen xài giản dị theo lối Tây là mét, ki-lô-mét. Nhưng dùng đồ Mỹ viện trợ thì phải rành lối Mỹ.
Anh nói chậm rãi, như cũng để nhắc cả đài chỉ huy:
– Hãy nhớ kỹ: Fathom để đo sâu. Foot cho chiều cao. Yard cho tầm bắn. Nautical mile cho hải trình. Và Knot, mình gọi là gút – hải lý/giờ- cho tốc độ. Nào! Bắt đầu định vị trí chiến hạm bằng fathom đi.
Hạm trưởng trở về ghế. Cả đài chỉ huy lặng đi giây lát, chỉ còn tiếng mưa quất rào rạt vào kính.
Trung úy Tuấn nói vào loa đến phòng chiến báo:
– Thám xuất. Cho tôi chiều sâu mỗi hai phút.
Anh cúi xuống ghi chép, lật bảng thủy triều mỗi khi được báo con số, rồi tính toán, đánh dấu trên hải đồ. Mười phút sau, anh trình Võ Bằng hải trình theo chiều sâu. Võ Bằng rất hài lòng:
– Tốt lắm. Anh ghi tất cả vào nhật ký hải hành.
Vị trí mới nhất của chiến hạm cách hòn Mấu 10 hải lý về phía đông, trên hải trình 020 anh vừa kẻ.
Chợt có tiếng hốt hoảng từ hạ sĩ quan đương phiên:
– Thưa Hạm trưởng. Có đối vật hướng 10 giờ. Rất gần chiến hạm.
Võ Bằng chụp ống dòm. Một chiếc tàu đánh cá lớn hiện ra trong ánh chớp. Anh ra lệnh:
– Còi nhiệm sở tác chiến. Tắt hết đèn hải hành. Các khẩu 40, 50 sẵn sàng!
Tiếng còi dồn dập. Những bóng đen lao vào vị trí. Đài chỉ huy lặng im. Chỉ còn tiếng lên đạn, tiếng máy rền và tiếng sóng ập mạn tàu. Mưa như được khẩu lệnh riêng, lại ập xuống xối xả. Hạt to như đá vụn quất vào mặt rát buốt. Nước mưa chảy lạnh sống lưng.
Tàu đánh cá hiện rõ ngay trước mũi. Võ Bằng ban lệnh tránh va chạm:
– Máy tiến 1. Tay lái hết bên mặt.
Chiến hạm xoay qua bên mặt:
– Tay lái số không. Lái thẳng
Hai chiếc chạy cặp kè. Võ Bằng nói lớn:
– Giám lộ. Rọi đèn pha.
Ánh đèn xuyên thủng gió mưa rọi lên một chiếc tàu đối diện. Trên boong, vài ba bóng người đang cố căng tấm bạt một cách mờ ám. Võ Bằng có thừa kinh nghiệm địch lợi dụng đêm tối và trời mưa để chuyển vũ khí. Giọng anh vang lên qua ống loa, khàn đục, lạnh lùng:
– Tàu đánh cá! Yêu cầu ngưng máy ngay lập tức. Chúng tôi tiến hành khám xét.
Lặng im. Chỉ tiếng máy khục khặc đáp lời.
Võ Bằng lên giọng, đầy đe dọa:
– Lệnh cuối cùng: Tắt máy. Mọi người ở yên vị trí. Bất tuân, chúng tôi nổ súng.
Các nòng súng ghim vào chiếc tàu đang nhồi lên hụp xuống. Tàu đánh cá ngưng máy. Võ Bằng cũng cho máy ngưng. Anh nói vào loa nội bộ:
– Hạm phó và toán khám xét có mặt ngay bên tả hạm.
Cả hai tàu đều nhấp nhô. Võ Bằng thấy rõ nếu cặp vào, vỏ tàu cả hai đều móp méo, hư hỏng. Nhưng tàu này đang ở vùng cảnh giác. Toán khám xét đang nắm dây an toàn chờ lệnh. Tàu hư thì sửa, quan trọng là súng đạn gây rối miền Nam.
Nhưng Võ Bằng vẫn ngần ngừ. Trời quá tối, lại đang mưa, ánh đèn pha không đủ sáng, nhảy qua rất nguy hiểm. Mà nhảy qua trong thế thiếu vững vàng, khó trở tay khi bị phục kích.
Có tiếng van xin từ tàu đánh cá:
– Xin các quan tránh xa giùm. Đụng hư tàu chúng tôi. Chỉ mới ra khơi. Chưa đánh được con cá nào!
Võ Bằng mở to mắt. Họ xin xỏ thật hay giả vờ? Mà quả đúng, nếu hai tàu va vào nhau, tàu kia mỏng manh hơn chắc chắn thiệt hại nặng hơn. Tàu anh hư thì có Hải quân công xưởng. Còn tàu kia nếu thật đánh cá, họ phải bỏ tiền túi vốn eo hẹp.
Chợt có tiếng hạ sĩ quan đương phiên kêu to:
– Thưa Hạm trưởng, có một tàu khác phía trước mũi.
Võ Bằng hướng ống dòm tìm kiếm. Một chiếc tàu ẩn hiện trong màn mưa như tàu ma. Khá gần…
Anh dùng dằng, bất định. Rạch Gầm chỉ một mình mà hai tàu xuất hiện. Gọi Duyên đoàn đảo Nam Du thì thời tiết thế này, ghe yabuta cũng khó ra khơi. Nếu hai tàu địch tập trung hỏa lực tấn công bất thần thì Rạch Gầm khó chống trả. Còn nếu anh quyết định tiên hạ thủ vi cường mà nhằm tàu của dân lành thì tòa quân sự sẵn chờ! Không khám xét được dịp này thì dịp khác. Cách hay nhất là lần quần theo dõi, chờ sáng rồi tính. Anh nói vào loa:
– Ngày mai mưa thuận gió hòa, chúc đánh được nhiều cá.
– Đội ơn các quan.
Anh thở ra một hơi dài như trút bỏ mọi thắc mắc lo âu. Rồi nói với sĩ quan đương phiên:
– Cho giải tán nhiệm sở tác chiến. Giải tán toán khám xét.
Tiếng còi dài vang lên. Ai cũng nhẹ người. Võ Bằng vừa cho máy tiến thì lại nghe tiếng kêu hốt hoảng:
– Thưa, có tàu ngay trước mũi!
Võ Bằng nghiêng người nhìn rồi hối hả ra lệnh:
– Phòng máy. Hai máy lùi full.
Tiếng động cơ kêu rền. Con tàu rung rẩy dữ dội. Võ Bằng cũng lạnh người. Nó tính gì mà đâm thẳng vào chiến hạm? Anh cho ngưng máy và ra lệnh rọi đèn. Trên boong, dưới cơn mưa, ba người nằm la liệt. Người thứ tư ngổi vẫy hai tay, nói yếu ớt:
– Cứu! Cứu! Cứu chúng tôi. Tàu chết máy 10 ngày. Đói lắm. Cứu với.
Võ Bằng khựng lại. Có thật bị trôi giạt hay gài bẫy? Mà sóng gió thế này, làm sao cứu? Anh ra lệnh rọi đèn khắp tàu. Một chồng lưới giăng cá chất ở mũi. Ba thân người rời rã dưới mưa. Người đang ngồi chắp tay van lạy. Tim anh se thắt. Bỏ mặc thì không đành. Nhưng giúp bằng cách nào? Tàu anh cũng đang dọ dẫm đường đi…
Chương 10
Thuở Ấy Có Em…
Như Oanh và Ngọc Lan ngỡ mình đến sớm, nào ngờ thiên hạ còn sớm hơn. Các bàn ăn gần sân khấu đã đầy chỗ. Hai cô đành chọn một bàn khá xa nhưng vẫn nhìn thẳng lên sân khấu đúng ý Như Oanh. Trên sân khấu, dàn nhạc cụ đã bày biện đẹp mắt nhưng các nhạc công chưa xuất hiện. Từ loa phóng thanh, bản “Summer Time” trỗi lên da diết, điệu jazz nhẹ nhàng lan khắp gian phòng trang trí theo lối Tàu.
Nàng nhận lời đi với bạn chỉ vì muốn được xem tay trống Huỳnh Anh biểu diễn trong đêm khai trương nhà hàng Đông Phương.
Một chàng thanh niên tiến đến, dừng bước trước chiếc ghế đối diện Như Oanh. Nàng tưởng chàng ta sẽ ngồi xuống, nhưng anh lại tiếp tục vòng sang bên nàng, cất giọng lễ độ:
– Ghế này có người ngồi chưa, thưa cô?
– Chưa. Mời anh tự nhiên.
Anh chàng trông quen quen, dáng vẻ khiến tim Như Oanh bỗng rộn rã. Quần kaki xanh hải quân, áo sơ mi Hawaii hoa lá, mái tóc cắt ngắn gọn, nét mặt phảng phất hình bóng Võ Bằng. Anh chàng từ tốn ngồi xuống rồi quay ngang:
– Thiện, tên tôi.
Như Oanh cố giữ nét mặt bình thản, mỉm cười:
– Chào anh. Bạn tôi Ngọc Lan, và tôi, Như Oanh.
Thiện cười tươi:
– Một người quyền quý như hoa lan, một người thanh nhã như chim oanh. Hân hạnh được làm quen.
Nàng thầm nghĩ: “Lối nói có phần khách sáo nhưng không đến nỗi vô duyên. Ta cứ xử sự như… người Sài Gòn cho qua thì giờ. Xong ca nhạc là… đường ai nấy đi.” Nàng tinh nghịch hỏi:
– Tên Thiện, chắc hẳn người cũng… thiện?
– Trăm phần trăm!
– Có gì chứng tỏ?
– Cô hứa không giận khi tôi nói điều tôi đang nghĩ…
Như Oanh nhìn Ngọc Lan. Cô bạn nháy mắt khích lệ. Như Oanh nói cứng cỏi:
– Tôi hứa!
Thiện làm bộ mặt nghiêm trang, ánh mắt nhìn sâu vào mắt Như Oanh, giọng trịnh trọng:
– Thưa cô Như Oanh, nếu cô chưa lập gia đình, tôi xin ngỏ lời cầu hôn ngay lúc này.
Như Oanh và Ngọc Lan đều sững sờ. Anh chàng này bạo miệng quá! Nhưng đã hứa không giận nên đành nhỏ nhẹ:
– Tôi không giận, có điều anh bước… quá nhanh.
– Nhà binh mà. Đánh nhanh thắng nhanh!
Như Oanh còn đang lựa lời thích đáng thì người bồi đã lên tiếng:
– Thưa hai cô, dùng gì ạ?
Như Oanh nhớ lại ly nước dừa thật ngon bên Võ Bằng ở quán Sóng. Nàng định gọi thì Thiện đã nói:
– Tôi đề nghị chúng ta dùng champagne để mừng buổi gặp gỡ thân ái này.
Nàng thoáng bâng khuâng. Ở nhà, ba nàng thỉnh thoảng đãi tiệc và nàng từng thích thú nhấm nháp vị rượu ấy. Vả lại anh chàng mạnh miệng thì mình cũng nên … mạnh tay cho anh chàng tốn kém chơi. Nàng nhìn bạn. Ngọc Lan gật đầu. Nàng nói:
– Chúng tôi thích hương vị của Blanc de Blancs.
Thiện quay sang người bồi:
– Cho một chai Blanc de Blancs.
***
Bàn ăn dần đầy tám người. Tình cờ, đúng bốn trai bốn gái, đều cùng trang lứa. Như Oanh thầm mừng khi thấy Ngọc Lan đã có người chuyện trò rôm rả.
Hai cô kết thân từ khi cùng học Đại học Sư phạm. Tuần trước, Ngọc Lan nhận giấy bổ nhiệm về Long An. Còn Như Oanh thì ở lại Sài Gòn. Từ tuần tới, cả hai sẽ bắt đầu đi dạy. Đêm nay là đêm tự do cuối cùng trước khi bước vào đời sống mô phạm…
Các nhạc công đã vào vị trí, mở màn bằng bản Ly Rượu Mừng rộn rã. Món đầu tiên – súp hải sâm – vừa mang ra, ai nấy đều thanh toán nhanh, có lẽ vì bụng đói.
Giữa lúc chờ món tiếp theo – salad hoàng đế – Thiện lại nghiêng sang Như Oanh:
– Tôi nóng lòng chờ câu trả lời.
Như Oanh bật cười:
– Anh đùa dai thật! Chọn đề tài khác đi.
– Chính cô bảo tôi phải chứng tỏ tôi là người thiện mà.
Nàng bắt đầu cảm thấy bực mình, định nói dối rằng đã có chồng, thì một chàng trai khác chạy đến:
– Ông Thầy! Không ngờ gặp ông Thầy ở đây. Qua nhậu với tụi em vài ly!
Thiện nhìn sang bàn bên. Đúng là toàn đệ tử của mình. Chẳng đặng đừng, anh quay sang Như Oanh:
– Xin lỗi cô vài phút.
Thiện bước theo chàng thanh niên. Như Oanh thở phào, hớp từng ngụm champagne, gắp thử món salad vừa được mang ra. Ngọc Lan vẫn ríu rít cười nói với người bên cạnh.
Ban nhạc chuyển sang “Đời Tôi Chỉ Một Người”. Tiếng trống Huỳnh Anh quyện giọng hát Giao Linh nồng nàn: “Đời tôi chỉ yêu một người. Mà một hình bóng đã ăn sâu lòng tôi…”
Như Oanh nghe mà xao xuyến, mỉa mai. Nàng từng yêu Vinh, tưởng đời mình chỉ một người. Nhưng rồi hôm nay… “Lạ quá! Sao ở đâu cũng có bóng dáng Võ Bằng!” – nàng thầm thì.
Thiện trở lại, mặt đỏ gay, phân trần:
– Điều kiện để tôi được trở lại đây là phải uống với mỗi đứa một ly!
Nhớ lại chàng trai gọi Thiện bằng “ông Thầy”, Như Oanh tò mò:
– Các học trò của anh hả? Anh dạy trường nào?
Thiện cười:
– Trường huấn luyện ngoài khơi!
– Lần đầu nghe tên! Ở đâu vậy?
– Đùa thôi. Chúng tôi cùng phục vụ trên một chiến hạm.
Như Oanh kêu lên:
– Anh là Hải quân?
Thiện gật đầu, ánh mắt nghiêm trang:
– Phải. Và xin nhắc về lời cầu hôn…
Như Oanh khoát tay:
– Anh chưa biết gì về tôi, tôi cũng chưa biết gì về anh…
– Người ta gọi là tiếng sét ái tình.
Nàng chợt nhớ: “Mình cũng vậy thôi. Nào biết gì về Võ Bằng, ngoài cái chức Hạm trưởng vốn chẳng liên quan gì đến tình yêu.” Nàng nổi máu tinh nghịch:
– Đồng ý là có tiếng sét ái tình. Tuy nhiên phải thỏa mãn một điều kiện.
– Đang nghe!
– Người đó phải là Hạm trưởng!
Thiện phá lên cười, át cả tiếng nhạc:
– Điều kiện cũng dễ thỏa mãn. Năm năm nữa tôi thành Hạm trưởng, chúng ta vẫn còn trẻ.
– Rất tiếc, anh đã chậm một bước.
Thiện mở to mắt:
– Lúc thì cô bảo tôi bước nhanh, lúc thì bảo tôi chậm một bước. Khéo từ chối thật!
Như Oanh nâng ly champagne nhấp thêm vài ngụm, mỉm cười:
– Không! Tôi nói thật. Hôm nay anh cầu hôn thì quá sớm, mà năm năm nữa thì quá muộn. Bởi vì hiện tại, tôi đang chờ một vị đương kim Hạm trưởng ngỏ lời!
– Tôi xin được phép hỏi thêm một câu.
– Anh hỏi bao nhiêu câu cũng được. Đồng nghiệp với vị Hạm trưởng của lòng tôi mà!
– Vị Hạm trưởng nào may mắn vậy?
Như Oanh nhăn mặt:
– Câu hỏi quá khó, không thể trả lời.
– Ông ấy chỉ huy tàu nào?
– Cùng ý câu hỏi như trước!
Thiện lặng lẽ gắp con tôm càng rang muối đặt vào đĩa nàng. Trên sân khấu Thái Châu cất giọng: “Thuở ấy có em anh yêu cuộc đời. Yêu đôi môi hồng điểm nét son tươi. Yêu đôi tay ngà làn má thắm. Tóc xanh buông lả lơi. Nhớ em nhớ bao thuở ấy”. Như Oanh lặng người, tưởng như chính Võ Bằng đang hát cho mình.
Cuộc sống của nàng từ ngày gặp Võ Bằng như treo lơ lửng. Ngày nào cũng nhớ, ngay cả lúc Vinh đến thăm. Trái tim nghiêngvề Võ Bằng nhưng ân tình với Vinh vẫn nặng nề. Những săn sóc, cả ân huệ – nhờ ba của Vinh mà nàng mới được nơi dạy học như ý. Một tiếng thở dài hòa theo tiếng nhạc.
Thiện cắt ngang:
– Cô học trường nào?
Như Oanh giật mình, mỉm cười:
– Trông tôi giống học trò lắm hả?
– Cô còn quá trẻ để nghĩ rằng cô đã đi làm.
– Cám ơn anh, nhưng anh nghĩ sai rồi.
– Vậy cô làm ở đâu?
Như Oanh nghĩ đến chỗ làm của Vinh:
– Bộ Thương Mại.
– Thế mà tôi tưởng cô vẫn còn là sinh viên.
Như Oanh đổi giọng buồn buồn:
– Con nhà nghèo mà!
Thiện cười:
– Con nhà nghèo mà đi nghe ca nhạc và biết uống champagne?
Nàng nhìn qua Ngọc Lan:
– Bạn tôi đài thọ.
– Tôi không tin. Cô vừa xinh đẹp vừa cao sang…
– Anh quá lời. Ngay cả vị Hạm trưởng kia còn chê…
– Ông ta khùng!
Nàng bật cười thành tiếng. Ngọc Lan ngạc nhiên:
– Chuyện gì vui thế?
– Chuyện dài lắm, để kể sau.
Thiện nghiêng chai rượu vào ly của Như Oanh. Rượu đã ngấm. Mặt nóng bừng. Đầu chếnh choáng. Nàng nói:
– Đủ rồi, anh Thiện, đừng rót nữa…
Thiện vội gọi trà nóng. Các món ăn tiếp tục dọn ra. Nàng chỉ gắp lấy lệ.
Đến món tráng miệng, tiếng nhạc lại vang lên. Điệu pasodoble dồn dập, thúc giục. Các thực khách lần lượt ra sàn nhảy. Thiện ngập ngừng:
– Cho phép tôi mời cô một bài.
Như Oanh đứng dậy, thầm nhủ: “Thì đêm vui cuối cùng mà. Cứ tưởng tượng đang khiêu vũ với Võ Bằng.”
Thiện nhảy điệu nghệ, không thua kém gì Vinh. Những bước chân, vòng tay, nhún nhảy khiến nàng bất giác nhớ lại bốn năm yêu đương đã qua. Nàng từ chỗ không biết nhảy nay rành mọi thể điệu. Tuần trước, vừa về tới Sài Gòn, Vinh đã đến rủ đi Mỹ Phụng, vũ trường ưa thích nhất của nàng. Thế nhưng nàng từ chối, viện lý do còn mệt…
Điệu nhạc chậm dần, chuyển sang nhịp buồn. Thiện đưa Như Oanh trở về bàn. Ngọc Lan còn mải mê với bạn mới.
Khi Như Oanh và Thiện đã an vị, Thiện nói:
– Cô nhảy đẹp lắm. Tôi đã định giữ cô thêm …
Lệ Thu đang thổn thức Tình Khúc Thứ Nhất. Nàng dứt khoát đứng lên:
– Chúng ta tiếp tục…
Thiện thoáng ngạc nhiên rồi mỉm cười đưa nàng vào điệu boston. Lời nhạc như hớp hồn: “Tình vui trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời. Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không thành. Dù trời đem cay đắng gieo thêm, cũng xin đón chờ bình yên. Vì còn đây câu nói yêu em, âm thầm soi lối vui tìm đến.”
Như Oanh khiêu vũ như người mộng du. Bắt gặp ánh mắt chăm chú của Thiện, nàng buông lời:
– Xin đừng hiểu lầm. Chỉ vì tôi rất quý Hải quân các anh.
Thiện cười, nheo mắt:
– Nhất là với Hạm trưởng.
– Anh Thiện nói đúng.
– Và càng đặc biệt hơn là với… Hạm trưởng Võ Bằng.
Như Oanh sững người, đứng khựng lại. Nàng mở to mắt nhìn xoáy vào Thiện, lắp bắp:
– Anh biết Võ Bằng? Sao… sao anh biết?
(Còn tiếp)