Chương 10
Nhật Đạo Thái Bình Dương
Thứ năm 9/2/1967 12:00G
Nếu không có nắng hanh khô rát da mặt, nếu không có gió Lào đẫm áo mồ hôi, tôi sẽ vẫn ở trên Đài Chỉ Huy để chờ ngắm cảnh Hạm Trưởng, Hạm Phó và tên Mỹ trở lại tàu. Lúc đi, Hạm Trưởng là người sau cùng qua ghe, còn lúc về thì sao? Và anh giám lộ có thổi còi chào đón?
Tôi về đến phòng hồi 4 giờ 05 chiều trong niềm vui được thêm nhiều hiểu biết thú vị. Lại được Hạm Trưởng ân cần, lòng an tâm thanh thản, tôi bất cần kéo kín màn cửa trước khi vào buồng tắm. Tôi tắm gội thỏa thuê rồi thay bộ đồ sạch cuối cùng. Đó là chiếc quần tây xanh và áo sơ mi lụa trắng. Hưng rất thích bộ đồ này vì theo anh, trông tôi thanh lịch và quyến rũ.
Tôi mỏi mệt ngả lên giường, nhưng cái lệ có mặt 10 phút trước cơm chiều làm tôi cứ phải trằn trọc, gật gờ. Rồi bỗng chợt nhớ tới quả bom, từ lúc đem vào buồng, tôi chỉ lo tìm nơi đặt nổ mà quên kiểm soát nó còn đó hay đã bị lấy mất! Tôi cười nhạo chính mình: Hẳn nó phải còn đó, nếu không thì tôi đã không còn được nằm trong phòng mát rượi thế này…
Tuy nhiên tôi vẫn bật dậy bước tới rờ rẫm túi xách. Quả bom còn đây. Tôi mở nắp túi xách kia. Thời chỉnh còn đây. Tôi nghĩ tới giấc mơ lạ lùng. Giấc mơ gợi ý tôi đặt quả bom dưới bàn ăn sĩ quan. Tại sao tôi không đặt ở đó mà cứ tìm đâu cho xa. Quả bom nổ, tàu sẽ chìm và mang theo toàn bộ sĩ quan. Còn thành tích nào hơn? Tôi thử khoảng cách. Một bước, tôi ra khỏi cửa buồng. Đúng bảy bước, tôi vào phòng ăn. So với địa điểm thùng đạn ở sân mũi, tôi phải ôm quả bom leo một cầu thang và đi vòng vòng, nguy cơ gấp mười.
Nhưng giấc mơ cũng cho thấy tôi quay lại Quy Nhơn thay vì về Sài Gòn. Phải chăng nó gợi ý tôi nên bỏ cuộc? Hay nó báo rằng tôi có thể cho nổ quả bom nhưng chính tôi cũng không trở về quê quán, vĩnh viễn xa lìa mẹ cha.
Tôi bần thần trở vào phòng ngủ, ngồi ngẩn ngơ nghĩ về chuyện hôn nhân giữa tôi và Hưng. Tôi yêu Hưng và muốn làm vợ Hưng. Cả hai bên mẹ cha đều đã tán thành. Nhưng điều kiện để được tổ chức cho phép kết hôn thì khó khăn quá. Phải tạo thành tích cách mạng. Và tôi đang ra sức tạo thành tích đó.
Điều đáng buồn là, để có thành tích, tôi phải giết những người đang ân cần tiếp đãi tôi, đang đối xử với tôi bằng tình đồng bào với lý do vì họ bán nước…
Thấy đồng hồ chỉ 6 giờ kém 5 phút, tôi vội bước vào phòng ăn, nhưng chưa thấy ai hiện diện. Anh chiêu đãi cho biết giờ ăn tối dời lại lúc 7 giờ vì Hạm Trưởng và Hạm Phó còn bận ở hầm máy. Cái tin làm tôi ngỡ ngàng. Tôi vẫn tưởng họ chưa về tàu. Đúng rồi, tàu không còn im ỉm như khi neo. Tiếng máy đang chạy rầm rì. Sàn rung nhẹ, thỉnh thoảng bị giật sóng. Tôi hỏi anh chiêu đãi:
– “Tàu đang chạy, phải hôn?”
– “Chạy cả tiếng rồi cô, đã ra khỏi vịnh. Cô cần uống gì không?”
Tôi bước đến bàn đựng ly tách. Anh chiêu đãi bước theo:
– “Để tôi lấy nước cho.”
– “Tôi muốn tự tay làm cho biết.”
Tôi lấy một gói trà Lipton, mở bỏ giấy bọc rồi phân vân giữa ly và tách. Tôi thích uống trà nóng nhưng nhớ ly trà đá sáng nay của Võ Bằng, tôi quyết định nhấc chiếc ly. Anh chiêu đãi chỉ tôi vòi nước sôi và nơi chứa nước đá cục. Năm phút sau, tôi cầm ly trà đá về ghế ngồi. Năm phút kế tiếp, anh chiêu đãi mang ly trà đá đặt trước chỗ ngồi của Hạm Phó. Đó là ly thường lệ của Võ Bằng cho suốt bữa ăn.
Tôi hỏi:
– “Anh Tốt có vợ con gì chưa?”
– “Có rồi, một con. Còn cô?”
– “Chỉ mới bồ bịch thôi. Ảnh hẹn sáng mai sẽ đón ở cầu tàu mà xem ra kiểu này không biết bao giờ tàu mới về tới.”
– “Hẹn với xe đò còn chưa chắc đúng giờ, huống hồ hẹn với tàu chiến!”
– “Nào có biết!” Tôi thở dài.
Tôi nâng ly, uống vài ngụm. Trà đậm nhưng không thơm như trà Bảo Lộc của ba tôi. Giờ này chắc ba mẹ tôi đã bắt đầu trông ngóng tôi về. Ông bà hẳn đang ngồi ở bộ salon nhìn hình ảnh tôi thuở bé. Tôi bỗng nhớ đến tấm ảnh ‘mẹ bồng con’ trên bàn Hạm Phó và tấm ảnh ‘tân lang tân giai nhân’ trên bàn Hạm Trưởng. Cả hai ‘bà’ đều đẹp, nhưng với hai vẻ đẹp đối nghịch. Người thì sắc sảo, tinh ranh, kẻ thì kiêu sa, phúc hậu. Tôi không biết so mình với ai, chỉ biết thích lời khen của Hưng mượn thơ Nguyễn Bính: ‘Nàng là con gái trời cho đẹp. Tuổi mới mười lăm đã đẹp rồi!’ Mà nay ‘nàng’ đã hai mươi. Đẹp càng ác liệt càng tươi má đào! ‘Đẹp ác liệt’ có thể là giữa sắc sảo và kiêu sa chăng? Còn phúc hậu bỏ đâu? Chắc bỏ vào quả bom sắp nổ! Mẹ tôi đều được mọi người khen phúc hậu mà tôi sao quá ác liệt? Vì đâu nên nỗi?
Võ Bằng và tên Mỹ bước vào cùng với tiếng cười như vừa trao đổi chuyện vui. Cả hai áo quần xốc xếch, mặt mày ướt đẫm. Tên Mỹ về thẳng buồng riêng. Võ Bằng reo mừng gặp lại tôi:
– “A ha, chào cô Phượng. Hạm Trưởng nhắn là cô hãy đọc cái chứng chỉ rồi ổng sẽ kể chuyện sau…”
Anh chàng chỉ cái khung mạ vàng treo trên vách sau lưng tôi rồi đi thẳng. Tôi đứng lên, bước đến cái khung vài lần tôi thoáng thấy. Bên trong là mảnh giấy trình bày như một bằng cấp.
Tôi mỉm cười thích thú, thầm nghĩ mấy anh chàng Hải Quân bịa cái này cũng hay. Tôi biết vĩ tuyến, kinh tuyến nhưng xuyên nhật đạo là gì? Phải tạo thành tích đặc biệt gì mới được Long Vương cấp chứng nhận? Tôi mong tới bữa cơm để nghe ông giải đáp.
Tôi nhìn xuống mặt kệ tầm ngang ngực. Có hai bản kẹp tài liệu in các chữ in lớn trên tờ bìa KÍN, THƯỜNG. Hưng dặn tôi nếu có cơ hội ăn cắp các tài liệu MẬT và TỐI MẬT. Các tài liệu này ở đâu? Chờ vắng người, tôi sẽ tìm trong các ngăn tủ.
Tên Mỹ xuất hiện với bộ quân phục kaki vàng thẳng thớm. Vài phút sau là Võ Bằng với bộ kaki xanh rất mới. Chúng tôi chưa kịp trao đổi xã giao thì Hạm Trưởng bước vào. Vẫn thủ tục chào đón như cơm trưa. Không như lần trước hoàn toàn miễn cưỡng, lần này tôi chào đón ông bằng tấm lòng quý mến. Vẫn như buổi trưa, tôi được ông dành cho lời đầu tiên:
– “Cô Phượng đã bắt đầu chán cảnh trời, cảnh biển chưa?”
– “Vẫn thấy thích thú, thưa Hạm Trưởng.”
– “Còn với chiến hạm, có gì khiếu nại?”
– “Rất tuyệt. Cám ơn Hạm Trưởng và tất cả.”
Ông mỉm cười hướng về Thiếu úy Hoàng Văn:
– “Thực đơn ra sao, Sĩ quan ẩm thực?”
– “Thưa Hạm Trưởng, thưa quý vị, thực đơn hôm nay gồm có: Cơm trắng. Thịt gà xào đậu. Trứng chiên với củ hành. Và canh bí hiểm. Hết”
– “Canh bí hiểm? Sáng tác mới của sĩ quan ẩm thực chăng?” Hạm Trưởng ngạc nhiên.
Tôi nhìn tô canh có các lát màu vàng, lên tiếng:
– “Tôi nghĩ là bí rợ …”
Hoàng Văn nói:
– “Thưa Hạm Trưởng và quý vị. Hôm qua đi chợ Quy Nhơn, tôi hỏi bà bán hàng trái gì, bà nói tên bằng giọng Quảng nghe không rõ nhưng không dám hỏi lại. Bà quả quyết trái đó nấu canh rất ngon rồi chỉ tôi cách nấu. Xin bảo đảm tôi nấu y như cách bà chỉ, nhưng ngon hay không tùy người thưởng thức.”
Tất cả cười rần. Hạm Trưởng múc một muỗng vừa thổi vừa húp. Ông gật đầu:
– “Ngon đấy chứ!”
Tên Mỹ cũng múc một muỗng, cũng gật đầu: ‘Taste good!’ Tôi theo thói quen chan canh xăm xắp chén cơm, rồi múc cả cơm canh đưa lên miệng.
– “Ngon!” Tôi khen. “Phân chất thì thấy có tôm khô, mùi nước mắm và còn gì gì nữa, hả Thiếu úy?”
– “Tác giả xin giữ bản quyền!” Thiếu úy Văn tươi cười.
Hạm Trưởng nói:
– “Giữ bản quyền, là phải lắm. Một sáng tác vô tiền khoáng hậu!”
Sau những tiếng cười, mọi người lặng lẽ ăn. Tên Mỹ bắt chước tôi, chan canh vào cơm rồi dùng muỗng múc. Trông đỡ ‘thê thảm’ hơn lối dùng đũa lúc trưa. Hạm Trưởng lên tiếng:
– “Cô Phượng đã đọc Chứng Chỉ Xuyên Nhật Đạo chưa?”
– “Thưa rồi!”
– “Cô thấy sao?”
– “Qua việc lộng kính và trưng bày trân trọng, hẳn không phải là chuyện đùa cho vui?”
– “Không đùa đâu.” Hạm Trưởng nghiêm giọng. “Chuyện nghìn năm một thuở, mà riêng với tôi là vinh dự một đời người.”
– “Xin Hạm Trưởng giải thích.” Tôi nôn nóng.
Ông và miếng cơm, gắp thức ăn rồi chậm rãi nhai. Mắt ông đăm chiêu nhìn xuống bàn như đang sắp xếp ý tưởng. Mấy phút sau ông mới ngẩng lên nhìn tôi:
– “Cô Phượng có biết ‘Xuyên Nhật Đạo’ là gì không?”
– “Thưa, mới nghe lần đầu!”
– “Cô có biết ‘kinh tuyến’ và ‘vĩ tuyến’?”
– “Dạ, rất rành.”
– “Tức là cô đã biết địa cầu được chia theo đường dọc qua hai cực Bắc Nam thành 360 kinh tuyến và các vòng theo chiều ngang là vĩ tuyến, mà xích đạo là vĩ tuyến 0?” Tôi gật đầu. Ông tiếp, “Do quả đất tự nó quay quanh trục trong 24 giờ mà có ngày đêm, nghĩa là giờ nơi này khác giờ nơi nọ. Để tính sai biệt, cho dễ hiểu, người ta phóng chiếu quả cầu lên mặt phẳng và chọn kinh tuyến 0 đi qua Đài Thiên Văn Greenwich ở Luân Đôn là múi giờ quốc tế GMT. Cô theo kịp đến đây chứ?”
Ông tiếp tục ăn như dành thì giờ cho tôi nghiền ngẫm. Tôi nói:
– “Đại úy Bằng có cho tôi xem các kinh tuyến và vĩ tuyến được phóng chiếu trên hải đồ theo trục dọc, trục ngang.”
Ông gác đũa, nghiêng mặt theo lối nhìn của Rhett Butler khi mới gặp Scarlett O’hara:
– “Cô đang học ban gì?”
– “Dạ, ban Sử Địa.”
– ‘Thảo nào! Vậy thì tôi chỉ lướt qua thôi. Từ kinh tuyến Greenwich, về phía Đông 180° gọi là múi giờ Đông và về phía Tây 180° gọi là múi giờ Tây. Mỗi 15 kinh tuyến cách nhau một múi giờ, tức là mỗi bên múi giờ Đông và Tây có 12 múi giờ. Kinh tuyến 180° được gọi là đường Nhật Đạo, nôm na là đường đổi ngày. Theo quy định, khi đi từ Đông sang Tây phải thêm một ngày và từ Tây sang Đông phải giảm một ngày. Ví dụ chúng ta đang ăn tối là ngày 5 tháng 8 và chiến hạm chúng ta vừa qua đường Nhật Đạo, chúng ta phải sửa ngày thành ngày 6 tháng 8. Giờ vẫn là giờ hiện tại, tức 19:20.”
Nhớ ngày tháng năm ghi trên Chứng Chỉ, tôi ngạc nhiên hỏi:
– “Tức là chiến hạm này, hồi nửa năm trước, đã xuyên nhật đạo ngày 9 tháng 2?”
– “Chứ gì nữa!” Hạm Trưởng cười khoan khoái.
Tôi tính nhẩm. Chu vi địa cầu là 40 ngàn cây số, có 360 kinh tuyến, mỗi kinh tuyến cách nhau trên 100 cây số. Nước Việt Nam ở vào kinh tuyến 108°, cách kinh tuyến 180° đến 72 kinh tuyến. Có nghĩa là vào ngày 9 tháng 2, chiến hạm ở xa Việt Nam đến trên 7 ngàn cây số! Tôi ngờ vực hỏi:
– “Thưa Thiếu tá, Thiếu tá thi hành công tác gì mà phải đi xa đến gần phần năm địa cầu?”
– “Không phải đi xa mà đi về. Nói rõ hơn, chúng tôi lái chiếc chiến hạm này từ Mỹ về Việt Nam, một hải trình xuyên suốt Thái Bình Dương. Nghĩa là không phải xa bảy ngàn cây số mà hơn gấp đôi số đó!”
– “Xa dữ vậy! Vậy nên nhận được Chứng Chỉ Xuyên Nhật Đạo của Ngài Đại Hải Long Vương là phải quá rồi.” Tôi khen thật lòng.
– “Lúc cơm trưa, cô nói có biết Ngài Đại Hải Long Vương qua truyện Tây Du Ký.”
Hạm Trưởng tiếp. “Tôi cần minh xác điểm này. Truyện Tây Du Ký nói đến Tứ Hải Long Vương tức là bốn vị thần hùng cứ bốn biển: Đông hải, Tây hải, Nam hải, và Bắc hải. Cả bốn ông vua này đều có giúp đỡ Tam Tạng trên đường thỉnh kinh. Còn Đại Hải Long Vương là vị thần khác. Vị thần này giúp Đinh Bộ Lĩnh vào năm Mậu Thân 968. Tương truyền vào năm đó, Đinh Bộ Lĩnh trên đường dẹp loạn thập nhị sứ quân, đến bờ sông ở làng Xuân Phả tỉnh Thanh Hóa thì gặp bão tố. Bỗng có con rắn lớn nổi lên giữa sông, rồi biến thành một tòa miếu nguy nga cho Đinh Bộ Lĩnh và quan quân vào trú ngụ. Sau khi thống nhất sơn hà, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, cho lập đền thờ tại bờ sông và phong cho vị thần chức Đại Hải Long Vương.”
– “Thì ra là vậy!” Tôi thích thú nói. “Cám ơn Thiếu tá giải thích tận tường!”
– “Nói thêm cho đủ ý. Ngài Đại Hải Long Vương là thần Việt, còn Tứ Hải Long Vương là thần Tàu. Đâu lẽ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam lại thừa lệnh thần Tàu cấp Chứng Chỉ Xuyên Nhật Đạo cho chiến hạm!”
– “Thậm chí lý, thưa Thiếu tá!”
Tất cả cười ồ. Tôi thấy ngường ngượng nghĩ thầm, ‘Mình được khen là một cây Sử Địa mà ngay Sử Việt cũng không rành! Mới chỉ ‘đụng’ sơ với Hải Quân mà đã lòi ra còn nhiều thứ cần phải học. Hạm Trưởng gác đũa, hỏi tên Mỹ:
– “Có hiểu câu chuyện không Rick?”
– “So so, Sir!”
Hạm Trưởng thuật bằng tiếng Mỹ. Hắn thích thú cười to. Tôi cũng cười nhưng thầm chửi: ‘Cười cho đã đi rồi… chết!’ Tôi lên tiếng để lấp liếm nỗi sượng sùng:
– “Sẵn dịp, xin Thiếu tá kể chuyện vượt Thái Bình Dương. Phượng ở trên tàu này chỉ mới ‘vượt bao hải lý, chưa nghe vừa ý’…”
– “À, gian nan lắm! Chiếc tàu Mỹ viện trợ được tân trang ở Hải Quân Công Xưởng Norfolk Naval Shipyard, tiểu bang Virginia. Tôi, Hạm Phó, 6 sĩ quan trong đó có Trung úy Võ Bằng và 90 nhân viên được một toán đặc huấn của Mỹ tận tình huấn luyện và thực tập. Sáu tháng đầu vừa học Anh ngữ vừa học chuyên môn. Sáu tháng kế tiếp làm quen chiến hạm. Phải học sử dụng rành rẽ đủ loại máy móc, phải thông thạo hải hành cận duyên và hàng hải thiên văn, phải thuần thục các nhiệm sở như nhiệm sở cập cầu, nhiệm sở tác chiến, nhiệm sở phòng tai, nhiệm sở vớt người, nhiệm sở neo, nhiệm sở đào thoát…”
– “Nhiệm sở đào thoát! Nghe ghê quá!” Tôi nói.
– “Rất quan trọng. Có đánh đấm là có chìm tàu. Mỗi người phải có đủ năng lực và điều kiện để sống còn nếu phải qua nhiều ngày chịu sóng gió nắng mưa, chờ tiếp cứu.”
Ông ngưng lại cho mọi người tiếp tục ăn. Rồi tiếp:
– “Sau một năm học tập mờ người, chiến hạm khởi hành về nước. Đầu tiên là 12 ngày trên Đại Tây Dương, từ tiểu bang Virginia đến Panama. Chờ thủ tục và qua kinh đào mất thêm 3 ngày. Rồi từ đó vượt Thái Bình Dương suốt 45 ngày. Tổng cộng tròn 2 tháng lênh đênh!”
– “Vì sao phải đi qua kinh đào Panama?”
– “Đường từ Mỹ về Việt Nam có hai lối. Con đường ngắn nhất là đi băng qua Thái Bình Dương, biển thường êm ả. Con đường vượt Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương vừa xa hơn vừa biển động thường xuyên; lại phải vòng qua mũi Hảo Vọng của Nam Phi nổi tiếng sóng to gió lớn. Cuối cùng phải qua eo biển Malacca giữa Nam Dương và Mã Lai.”
Hạm Trưởng lại ngưng, nhìn tôi dò dẫm. Tôi nói:
– “Xin Hạm Trưởng tiếp tục.”
– “Dĩ nhiên chúng tôi chọn con đường êm ả Thái Bình Dương. Nhưng vì chiến hạm đang ở phía Đại Tây Dương nên muốn qua Thái Bình Dương, chiến hạm phải dùng kinh đào Panama. Ngày xưa khi chưa có kinh đào, người ta phải đi vòng qua mũi Sừng, tức mũi Horn của Nam Mỹ, mất thêm ít nhất nửa tháng!
– “Thưa, ai có sáng kiến đào kinh Panama?”
– ‘Năm 1881, Pháp khởi sự cho đào kinh với 44 ngàn công nhân. Năm năm sau, có đến 6 ngàn người chết vì dịch bệnh nên công trình bị bỏ dở. Hai mươi năm sau nữa, Mỹ tiếp nhận công trình. Vì không thể đục xuyên núi, người ta tạo ra 6 ụ nước để nâng tàu vượt qua núi. Khi tàu vào ụ nổi đầu tiên, người ta bơm nước vào cho tàu nổi lên cao để vào ụ thứ hai. Đến ụ thứ ba, tàu lại được nâng cao để vào hồ nhân tạo Gatun dài 33 cây số, lớn nhất thế giới. Từ hồ này tàu sẽ vào các ụ nước xuống thấp dần và cuối cùng ra đại dương. Tính ra có đến 10 năm với 27 ngàn công nhân mất mạng, công trình dài 82 cây số này mới hoàn tất vào tháng 8/1914.”
– “Nghe thiệt ớn… chè đậu! Xin hỏi, trong 45 ngày trên Thái Bình Dương, chiến hạm chạy ròng rã hay có ghé bến nào không, thưa Hạm Trưởng?”
– “Vượt đại dương dài 15 ngàn cây số, dĩ nhiên chúng tôi cần tiếp tế lương thực, dầu nhớt và dưỡng quân. Mỗi trạm ghé 3 hay 4 ngày. Trạm đầu tiên là Trân Châu Cảng, sau cuộc hành trình 9 ngày. Trạm kế đến đảo Guam, sau 18 ngày hải hành liên miên. Rồi thêm 7 ngày đến Subic Bay của Phi Luật Tân. Và trạm cuối Phi – Việt 4 ngày.”
Ông lại ngưng nói như để tôi hình dung trọn vẹn con đường thiên lý chiến hạm đã vượt qua. Khi tôi thầm nhủ ‘chắc chắn là không có tôi’, Hạm Trưởng tiếp:
– “Đúng là Thái Bình Dương, đúng là ‘tháng ba bà già đi biển’. Nhưng khi qua eo San Bernardino trước khi vào vịnh Subic, eo thì hẹp mà trời thì mịt mù, chúng tôi rã người mới an toàn qua được.”
– “Trong 45 ngày đó, chiến hạm làm gì cho thủy thủ đoàn đỡ nhớ nhà? Phượng ở trên tàu này mới một ngày mà đã thấy nhớ!”
– “Có chứ! Đại khái là các trò giải trí, các lớp ôn tập ngành nghề. Đặc biệt, vì hải hành nhằm dịp Tết nên tôi cho lệnh sĩ quan ẩm thực tìm mua đầy đủ bánh mứt và trò giải trí ở các tiệm tạp hóa Tàu.”
Hạm Trưởng lại ngưng nói nhìn tôi, tia mắt như tỏa mùa Xuân tươi vui:
– “Cô Phượng biết không, một tình cờ lạ lùng đã giúp ngày Tết vui thêm. Ngày 8 tháng 2, vào đúng khi mặt trời lên thiên đỉnh, mình nôm na là đúng ngọ, khi đo đạc để định vị trí chiến hạm, tôi giật mình khám phá ra chiến hạm vừa qua kinh tuyến Nhật Đạo 180°. Thành thử mâm bánh mứt chuẩn bị cúng Giao thừa, chuyển sang cúng mừng Tân Niên Đinh Mùi cùng lời chúc Tết! Bầu Cua Cá Cọp được bày ra. Vài sòng bài xì dách nho nhỏ mua vui. Treo giải domino, cờ tướng. Tổ chức ca hát. Mọi người vui chơi suốt tuần, trong ảo tưởng là được về nhà sớm một ngày!”
Ông bất ngờ hướng về Trung úy Lê Giáp Thân:
– “Nói tới về nhà sớm, tôi cũng nôn nao. Này, Sĩ quan cơ khí. Liệu hai máy cho tiến full được không?”
– “Tôi phải xuống xem tình hình mới có thể trả lời Hạm Trưởng.”
– “Ăn xong đi đã!”
– “Thưa Hạm Trưởng đã xong. Xin phép rời bàn.” Anh đứng lên.
Hạm Trưởng móc túi lấy gói thuốc Pall Mall. Ông mời Võ Bằng. Chàng ta lắc đầu.
Giọng Hạm Trưởng ngạc nhiên:
– “Hạm Phó bỏ thuốc?”
– “Đang cố gắng, thưa Hạm Trưởng.”
– “Hút thuốc được mấy năm rồi?”
– “Từ thời lên Trung học. Cũng hàng chục năm rồi!”
– “Hút hàng chục năm mà lại bỏ! Uổng công không!”
Nhiều tiếng cười. Hạm trưởng lại tiếp:
– “Hẳn phải có lý do quan trọng?”
– “Sợ buồng ngủ hôi mùi thuốc, cô Phượng chê!”
Võ Bằng nói tỉnh bơ. Mọi người xuýt xoa. Tôi vừa nghèn nghẹn vừa bực mình nhưng chỉ biết lặng thinh. Hạm Trưởng rút một điếu gắn lên môi. Tôi nghe tiếng “tích”. Tên Mỹ đưa ngọn lửa đến trước ông. Chiếc bật lửa bằng thép trắng có khắc hình nổi một chiếc chiến hạm. Ông nghiêng người mồi thuốc. Tiếng “thank you” nhẹ nhàng bay theo đợt khói nhả đầu tiên. Và, theo như tôi nghĩ, đợt khói cũng là hiệu báo mọi người đã được phép. Tên Mỹ mở gói Lucky, và một lần nữa tiếng ‘tích’ giòn giã vang lên. Hắn đặt hộp quẹt và gói thuốc trên bàn. Mùi Lucky hòa quyện mùi Pall Mall vẫn là mùi thơm dễ chịu.
Tôi lẩm cẩm nghĩ, nếu người quẹt máy cho Hạm Trưởng mồi thuốc là Võ Bằng thay vì tên Mỹ, đố tránh khỏi bị nhìn là nịnh bợ.
Anh chiêu đãi nhanh chóng dọn sạch bàn ăn rồi mang ra hai dĩa bánh LU tráng miệng như buổi trưa. Vẫn Hạm Trưởng bốc miếng đầu tiên. Ông hớp trà nóng và hít vài hơi thuốc. Rồi nheo mắt với Võ Bằng:
– “Hạm Phó đâu có muốn tàu tiến full, phải không?”
– “Hạm Trưởng đi guốc trong bụng Hạm Phó!” Võ Bằng cười.
– “’Tiến full’ là sao?” Tôi hỏi.
– “Là máy chạy tối đa với tốc độ đường trường. Còn khi hải hành tuần phòng, chỉ nửa tốc độ. Cô Phượng có như tôi không, chỉ muốn tàu chạy… nửa tốc độ?”
Võ Bằng quả có tài bóng gió. Tôi trêu chọc:
– “Tôi tưởng Đại úy cũng mong sớm về gặp ‘mẹ bồng con’ chứ?”
– “Người ta đã bỏ tui rồi, cô Phượng ơi!” Võ Bằng hát trả lời.
Mọi người cười rộ.
– “Vậy thì câu ‘Còn con thì không biết có hay không’ là ám chỉ chú bé trong hình?”
– “Còn ai trồng khoai đất này!” Võ Bằng buồn rầu đùa cợt.
Tôi lặng thinh. Trường hợp này, lặng thinh tốt hơn là lời an ủi. Một giọng nói phát lên từ cuối bàn:
– “Tôi có một thắc mắc, nhờ cô Phượng giải đáp.”
Tôi ngoảnh nhìn Thiếu úy Nguyễn Ấn đang nở nụ cười tinh quái. Tôi khiêu khích:
– “Mời Thiếu úy”.
– “Tôi tự hỏi một người đẹp như cô thì làm sao mà leo đến năm thứ ba đại học được?”
Tôi suýt nổi xung với câu hỏi thoạt nghe như đầy vẻ miệt thị nhưng kịp ghìm lại. Anh chàng chỉ bóng gió chuyện yêu đương chứ không ngụ ý hễ người đẹp là không có … đầu óc! Tôi hỏi cho ăn chắc:
– “‘Người đẹp’ với ‘năm thứ ba’ thì có ăn nhậu gì hở Thiếu úy?”
– “Mỹ nữ là tiêu điểm của thanh niên. Lẽ ra có người rước cô về dinh từ khuya!”
– “Lấy chồng sớm hay muộn là do… duyên nợ chớ đâu phải do xấu đẹp. Đồng ý là Phượng được nhiều người để tâm nhưng đến nay duyên nợ chưa tới!”
– “Chưa duyên nợ nhưng cô Phượng… có để tâm?” Bằng chen vào.
Tôi thấy đến lúc nên cho Bằng chấm dứt mọi tán tỉnh vô ích:
– “Đúng, Phượng có… để tâm một người!”
– “Anh chàng diễm phúc nào đó hẳn tu chín kiếp!” Võ Bằng trở giọng xót xa.
– “Đâu cần phải tu mới được. Miễn không là… lính biển!” Tôi thẳng thừng.
– “Vậy, xin Hạm Trưởng làm ơn ký ngay cho tôi cái lệnh giải ngũ!” Võ Bằng thản nhiên.
– “Giải ngũ cũng vẫn còn gốc lính biển!” Tôi thẳng tay.
Hạm Trưởng nhíu mày và tất cả lặng thinh làm tôi hiểu mình đi quá trớn. Tôi còn đang lựa lời cứu vãn thì Võ Bằng đã tặng tôi lời cay đắng:
– “Vậy khi nào cô báo “tin mừng”, nhớ báo “tin buồn” cho tôi biết!”
Tôi cười để che giấu xúc động. Câu kế tiếp của anh chàng chuyển thành rúng động:
– “Cũng xin đừng nhận còi nhiệm sở vớt người khi không thấy tôi trên tàu!”
Đúng lúc đó Hạm Trưởng lên tiếng:
– “Cô Phượng sao lại ghét Hải Quân đến thế?”
– “Phượng chỉ có ý nói chơi với Đại úy Bằng!”
– “Cô học trường nào?”
– “Thưa, Đại học Sư phạm.”
– “Cô biết Huỳnh Tấn Mẫm?”
– “Thưa không!” Tôi nói dối.
– ‘Có đi dự biểu tình chống chính phủ?”
– “Thưa không!” Tôi tiếp tục nói dối.
– “Huỳnh Tấn Mẫm dùng lời dối trá để lôi cuốn sinh viên biểu tình chống Mỹ. Nó là tên ‘ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản’. Đừng dại mà nghe tên nằm vùng đó. Nó bị bắt nhốt rồi.”
Tôi lặng thinh. Huỳnh Tấn Mẫm đang học Đại Học Y Khoa, là thủ lãnh ‘Phong trào Thanh niên-Sinh viên-Học sinh đấu tranh chống Mỹ-Ngụy. Tôi và Hưng luôn luôn hăng hái nghe lời kêu gọi của Mẫm. Hai năm trước, chúng tôi quen nhau trong một cuộc biểu tình. Chúng tôi bị cảnh sát dã chiến xịt nước giải tán. Tôi chạy bán mạng và trợt té. Hưng kéo tôi đứng lên và giúp tôi vượt thoát. Từ đó anh là điểm tựa của đời tôi.
Vờ không hiểu câu nói của Hạm Trưởng, tôi nêu câu hỏi ngu ngơ để đánh tan nghi ngờ:
– “‘Ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản’ là ý gì, thưa Thiếu tá?”
Ông trầm ngâm một lúc rồi trả lời:
– “Một ví dụ cho dễ thấy. Hãy coi chiến hạm này như là một Quốc Gia. Chiến hạm đang giúp cô thực hiện chuyến đi mong ước, cung cấp cho cô ngày ba bữa no, mà về tới Sài Gòn cô lại đi theo lũ vẹm biểu tình chống đối!”
Tôi muốn trả lời ông đâu phải mình tôi ăn cơm Quốc Gia. Những người đi biểu tình cũng ăn cơm Quốc Gia. Còn việc thờ ma Cộng Sản thì có lý do của nó. Một chính quyền dâng đất nước cho ngoại bang thì phải chống đối. Đó là bổn phận. Nhưng câu nói của ông buộc tôi im lặng suy xét nghiêm chỉnh vấn đề. Thực sự Quốc Gia này còn hay mất? Cộng Sản là hạng người nào? Là ai thì tôi chưa tỏ tường, chỉ thấy các hành động ám sát, thủ tiêu, khủng bố. Và tôi đang bước đầu làm một tên khủng bố!
Khó thể chối rằng tôi đang ‘ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản’! Đời tôi rồi sẽ về đâu?
Chương 11
Hải phận Ninh Thuận
Thứ bảy 5/8/1967 21:00G
Khi Trung úy Thân trở lại báo cáo hai máy đã hoạt động bình thường, Hạm Trưởng đứng lên, ra dấu Bằng theo ông. Bằng nói nhỏ với tôi: ‘gặp lại sau’. Tôi nói thầm: ‘còn trốn nơi nào khác mà chẳng gặp lại’. Lý trí thì cười nhạo nhưng tình cảm thì lại hụt hẫng. Tôi ghét bộ mặt nhởn nhơ của Võ Bằng nhưng vắng nó tôi lại thấy bồn chồn, lo lắng. Tôi không hiểu nổi chính mình. Tiếng của ai đó vang lên:
– “Làm một ván Belote chăng, các quan ta?”
– “Nên lắm!” Nhiều tiếng đáp.
Thiếu úy Nguyễn Ấn mở hộc tủ lấy bộ bài đặt lên bàn với một tập giấy trắng và cây viết. Cuộc chơi gồm bốn người chia làm hai phe ngồi chéo nhau ở cuối bàn ăn. Thỉnh thoảng khi lá bài đánh xuống, một phe thì cười hét ầm lên, còn phe kia thì mặt mày nhăn nhó! Tôi tò mò hỏi cách chơi. Theo lời Trung úy Bạch, Belote là môn bài cốt để đấu trí chớ không sát phạt. Người chơi phải vận dụng bộ óc không những phải nhớ các lá bài của mình đánh ra lật sấp mà còn phải đoán bạn và địch đang cầm những lá bài nào. Lại có nhiều cách đánh. Như Atout, Sans atout, Tout atout. Với mỗi cách đánh, mỗi con bài được định điểm giá trị khác nhau. Nghe xong tôi hết muốn học.
Tên Mỹ cũng chơi bài, nhưng chơi một mình. Đối diện với hắn là bảy cột bài. Mỗi cột có số lá bài tăng dần từ 1 đến 7. Lá trên hết được lật ngửa. Tên Mỹ mở một lá bài của phần còn lại rồi tìm đặt vào cột thích ứng. Hắn tỏ vẻ hào hứng nhưng tôi không hiểu gì hết.
Hắn chợt nhìn tôi, cười hỏi:
– “Chào Miss Phượng. Mi mạnh khỏe?”
– “Cám ơn. Còn mi?”
– “Khỏe! Cám ơn.’ Hắn cười, tiếp: “Mi muốn học cách chơi game Solitaire không?”
– “Không! Chỉ muốn hỏi mi vài câu?”
Hắn khoanh chéo hai tay tựa lên bàn, tỏ ý lắng nghe. Tôi mở cuộc tấn công:
– “Rất ngạc nhiên thấy mi trên tàu này?”
– “Tôi cũng vậy!”
Tôi đăm đăm nhìn hắn. ‘Tôi cũng vậy’ là ý gì? Đâu lẽ hắn tự ngạc nhiên về chính hắn? Không, hắn chủ ý trả đũa câu hỏi của tôi, cũng ngạc nhiên thấy tôi trên tàu. Người Việt đi tàu người Việt, có gì đáng ngạc nhiên? Tôi phớt lờ hỏi tiếp:
– “Mi ở tiểu bang nào?”
– “Colorado.”
– “Ở đó có gì đặc biệt?”
– “Núi cao và vực sâu.”
– “Mi có gia đình chưa?”
– “Có rồi và một con.”
– “Sao không ở nhà với vợ con mà qua Việt Nam làm chi?”
Đến lượt tên Mỹ đăm đăm nhìn tôi như không tin vừa nghe một người Việt nêu lên câu hỏi ngớ ngẩn. Tôi cười cười làm như chỉ đùa thôi. Hắn nói:
– “Lính mà. Lệnh bảo đi đâu thì tới đó.”
– “Nhưng ít nhất, mi cũng biết lý do chứ?”
– “Dĩ nhiên là biết.”
– “Riêng trên tàu này, mi có nhiệm vụ gì?”
– “Làm những gì ông Hạm Trưởng yêu cầu.”
– “Thí dụ?”
Hắn nói chậm rãi thật đúng giọng Việt như muốn chắc chắn tôi hiểu:
– “Thí dụ ông ấy bảo tôi tìm hiểu lý do cô có mặt trên tàu này!”
Tim tôi thót, người ớn lạnh nhưng làm như đó là câu đùa hay, tôi cất tiếng cười vang. Hắn cũng cười thoải mái. Tôi tiếp tục, giọng thân mật:
– “Mi xuống tàu này từ Hoa Kỳ?”
– “Không, xuống ở Sài Gòn cách đây ba tháng!”
– “Chừng nào rời Việt Nam?”
– “Tám tháng tám ngày nữa!”
– “Sẽ trở lại?”
– “Không, trừ phi tình nguyện.”
– “Mi sẽ tình nguyện?”
– “Không! Nhưng có lệnh thì đi.”
– “Chúc may mắn!”
– “Cảm ơn!”
Tôi không hiểu sao lại chúc hắn may mắn. Kẻ đi xâm lược bao giờ cũng đáng chết! Tôi thấy hỏi vậy là đủ. Hỏi thêm e rằng chính mình phạm sơ hở. Qua đối đáp, hắn không phải là tay mơ. Tôi đứng lên, ra dấu tay chào tất cả.
Tôi lên sân chính, đi dần về phía lái, đứng đúng vào nơi tôi ói mửa. Một kỷ niệm khó quên. Con tàu hục hặc nhưng không tròng trành. Gió còn hâm hấp, mạnh hơn trong vịnh. Tôi mong Hạm Trưởng đứng đâu đó thấy tôi nói thật: Tôi đi tàu vì mê biển, cho dù trời tối mù mờ. Những ngọn sóng chập chờn óng ánh lân tinh như đang tranh nhau vượt khỏi màn đêm. Vài ba ánh đèn đủ sáng cho thấy hình dạng các ghe câu. Một đám lửa nung đỏ đỉnh núi. Cao hơn, một trái hỏa châu bừng hồng chốc lát rồi trả lại bầu trời đầy sao.
– “Cô Phượng!”
Tôi giật mình, quay lui. Một dáng người lù lù như ma quỷ hiện hình. Tôi ôm lấy ngực, cố nhận dạng nhưng trời quá tối. Tuy nhiên nghe tiếng nói quen quen:
– “Thấy cô đứng một mình, anh em cử tôi đến mời cô cùng ‘lai rai’ với chúng tôi cho vui.”
Tiếng ‘lai rai’ gợi tôi nhớ ba tôi. Ông có thói quen lai rai vài chung rượu đế cuối ngày. Ông không say, chỉ đủ để kể các chuyện vui xảy ra trong lớp học. Tôi hy vọng rượu sẽ đẩy đưa họ nói nhiều và hé lộ những gì tôi muốn biết. Nếu họ đáng chết, tôi sẽ không có gì ân hận.
– “Có những ai vậy anh Tùng?” Tôi thăm dò, mong Bằng có mặt.
– “Quen có, lạ có. Mà trước lạ sau quen, cô đừng ngại.”
Tôi nhớ đến ông Quản nội trưởng hoạt bát vui tính:
– “Có Thượng sĩ Hoàng chứ?”
– “Ông ấy chủ xị mà!”
– “Chủ xị là sao?”
– “Là sếp sòng của buổi nhậu, như nhạc trưởng của dàn đờn.”
Tôi thích Thượng sĩ Hoàng, ông có cái vẻ gì đó giống ba tôi. Tôi dứt khoát đứng lên.
– “Tôi đến nhưng cái mục “lai rai” thì cho xin.”
– “Chỉ là bia quân tiếp vụ, nhẹ lắm, không say đâu!”
– “Tôi bị dị ứng với rượu.”
– “Yên trí! Có trà và bánh ngọt!”
Chúng tôi lần lượt leo lên thang đứng. Thấy tôi đến, ‘toán lai rai’ dồn chỗ dành cho tôi.
– “Mời cô Phượng ngồi cạnh tôi đây.”
Nghe tiếng Thượng sĩ Hoàng, tôi vui mừng nói:
– “Chào bác Hoàng, xin chào tất cả”.
Chiếc quần tây bó sát làm tôi co gối một cách khó khăn. Thượng sĩ Hoàng lại lên tiếng:
– “Đứa nào chịu khó đi lấy thùng đạn cho cô Phượng ngồi dễ hơn.”
Tôi xua tay, vội nói:
– “Xin miễn. Tôi thích ngồi… như các anh”
Thượng sĩ Hoàng giới thiệu theo chiều kim đồng hồ. Trong ánh lờ mờ của ngọn đèn hải hành trên cột radar, tôi cố nhớ mặt và tên từng người: Hạ sĩ Trường, Thủy thủ Minh, Trung sĩ Trọng, Thủy thủ Tạo. Trung sĩ Tùng ngồi bên phải tôi, lên tiếng:
– “Thủy thủ Minh, rót trà mời cô Phượng.”
Minh ngồi đối diện, nhấc chiếc bình rót nửa ly đưa cho tôi. Đó là loại ly giấy cỡ nhỏ.
– “Mời cô Phượng. Đây là trà Bảo Lộc thứ thiệt. Sản phẩm quê nhà tôi đó! Cô biết quận Bảo Lộc?”
Tôi tiếp nhận ly trà, mỉm cười:
– “Biết! Mà biết trên sách vở thôi chớ chưa có dịp đến tận nơi. Thậm chí Đà Lạt cũng còn trong ước ao thăm viếng!”
– “Chừng nào cô đi được, cho tôi biết. Tôi sẽ làm hướng dẫn viên cả hai nơi!”
– “Chắc chắn tôi sẽ nhờ anh!”
Mọi người nâng ly:
– “Dô! Dô!”
Tôi nhấp từng ngụm nhỏ, lần đầu thưởng thức hương vị đặc biệt nổi tiếng. Tôi hỏi:
– “Bộ tối nào các bác và các anh cũng tụ tập ‘lai rai’ thế này?”
Thượng sĩ Hoàng lắc đầu:
– “Không đâu cô. Chỉ trên đường về. Bởi vì ai cũng nôn nao không ngủ được, nên tụ tập nói chuyện
tào lao cho qua thì giờ.”
– “Thường là… chuyện gì?”
– “Tùy người mở lời…”
– “Một thí dụ?”
– “Thí dụ như hôm nay, cô là người mở lời …”
– “Tôi? Sao lại tôi?” Tôi hồi hộp hỏi.
– “Tại vì cô là khách đặc biệt, xin mời …”
Tôi tự trách mình nhận lời đến dự làm chi để bây giờ ở vào thế kẹt.
– “Mở lời đi chớ.”
– “Biết nói gì đây!”
– “Thí dụ cô kể trường hợp cô gặp gỡ Hạm phó.” Trung sĩ Trọng gợi ý.
– “Với Hạm Phó, tôi chỉ mới gặp ở cầu tàu khi đến xin quá giang”.
– “Vậy mà tôi tưởng hai người là…” Thượng sĩ Hoàng ngạc nhiên.
– “Không! Không có gì hết!” Tôi kêu lên.
– “Nếu ‘không có gì hết’ thì cho qua. Nhưng cô vẫn phải mở lời …”
Ngẫm nghĩ, chợt nhớ mục đích nhận lời là để tìm hiểu, tôi hỏi:
– “Bác Hoàng vào Hải Quân chắc lâu hơn mọi người ở đây?”
– “Đúng đấy cô ạ. Tôi đã có mười năm thâm niên quân vụ.”
– “Lúc bác vào lính, còn Tây chỉ huy không?”
– “Không! Tôi vào lính năm 1957, tụi Tây đã rút hết về xứ!”
– “Nhưng Mỹ thay thế!”
– “Không! Mỹ không thay thế. Tôi không thấy có tên Mỹ nào ở Cần Thơ, hậu cứ của Hải Đoàn 21 Xung Phong tôi phục vụ lúc đó.”
– “Bác thụ huấn ở đâu?”
– “Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.”
– “Trung Tâm Huấn Luyện của Mỹ?”
– “Của Pháp, năm đó cũng đã bàn giao cho Việt Nam. Vị Chỉ huy trưởng đầu tiên, mà cũng là vị chỉ huy suốt năm tôi thụ huấn là Hải Quân Thiếu Tá Chung Tấn Cang, mấy năm sau ông lên làm Tư Lệnh Hải Quân.”
– “Còn nhớ năm 1965, các báo đăng tin quân đội Mỹ ồ ạt đổ quân lên Đà Nẵng. Vậy là rõ ràng Pháp đi, Mỹ tới. Cũng lại bị đô hộ!”
Thấy mọi người mải mê câu chuyện, Hạ sĩ Trường sốt ruột kêu to ‘Dô! Dô!’ Các ly bia được nâng cao. Mồi cá khô được gắp. Một lúc, Thượng sĩ Hoàng lên tiếng:
– “E rằng chúng ta đang vào đề tài chính trị. Vậy tôi chỉ phớt qua, hy vọng đủ để giải tỏa thắc mắc của cô Phượng! Hẳn cô đã biết, năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, miền Bắc trở thành nước Cộng Sản, miền Nam trở thành quốc gia Tự Do. Miền Nam chủ trương an cư lạc nghiệp trong khi miền Bắc chủ trương nhuộm đỏ luôn miền Nam. Đầu tháng 2/1963, Cộng quân mở trận Ấp Bắc rồi năm sau mở trận Bình Giã…”
Sau một chầu ‘Dô! Dô!’, Thượng sĩ Hoàng lại tiếp:
– “Vào thời điểm đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa có quân số ít ỏi, vũ khí lỗi thời, phương tiện hành quân giới hạn, do đó việc chống trả gặp nhiều khó khăn. Hải quân cùng hoàn cảnh với quân đội, chỉ có 14 chiến hạm để canh phòng một bờ biển dài 1200 cây số, và chỉ với 250 chiến đỉnh phải bao vùng sông ngòi miền Đông, miền Tây, thậm chí cả đến miền Trung! Với số lượng tàu bè ít ỏi, dĩ nhiên khó thể bao vùng. Đầu tháng 2/1965, phe ta tình cờ phát giác một chiếc tàu đang tiếp tế súng đạn cho Cộng quân ở vịnh Vũng Rô. Chiếc này bị đánh chìm. Báo nào cũng đăng tin, chắc cô biết. Cùng năm đó Hải Quân đánh chìm thêm ba tàu nữa ở cửa Tiểu, cửa Bồ Đề, cửa Ba Động. Vũ khí tịch thu cho thấy, từ súng trường đến súng cối do Trung Cộng và Liên Xô cung cấp đều tối tân hơn Việt Nam Cộng Hòa. Như súng AK 47 bắn liên thanh so với súng carbine, garant, bắn từng phát. Như súng cối 81, B40 phe ta chưa có loại tương đương. Việc tình cờ khám phá, cho thấy trước đó địch hẳn đã xâm nhập nhiều chuyến.”
Quản nội trưởng lại dừng để ‘Dô, Dô’, còn tôi thì nôn nóng muốn nghe tiếp.
– “Sơ sơ ở chiến trường là vậy. Còn hậu phương thì bị địch gây rối liên miên. Tháng 5/1963, phong trào Phật giáo đấu tranh nổi lên ở miền Trung. Ở Sài Gòn thì họ tổ chức biểu tình phản đối chính quyền. Họ đặt chất nổ khủng bố nhiều nơi, thậm chí với cả Tòa Đại Sứ Mỹ. Trong thời gian gây rối, bọn Cộng quân tăng cường xâm nhập tối đa và chuẩn bị đánh chiếm cao nguyên miền Trung. Trước tình hình nguy hiểm đó, chính quyền có tổng động viên tăng quân cũng không kịp. Chỉ còn cách nhờ Mỹ ‘cứu bồ’! Đó là lý do Mỹ ồ ạt đổ quân lên Đà Nẵng.”
Thượng sĩ Hoàng nốc cạn ly bia, khà một tiếng, rồi tiếp:
– “Mà đâu chỉ một mình quân Mỹ đến cứu bồ. Còn có thêm năm nước gần nước ta là Thái Lan. Phi Luật Tân, Nam Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan.”
Tôi nhắm mắt duyệt lại sự việc. Thượng sĩ Hoàng nói có lý. Họ đổ quân ở miền Trung để tăng cường bảo vệ miền Trung chớ có đổ quân vào Sài Gòn để chiếm chính quyền đâu. Chính quyền vẫn là của người Việt đang do các tướng tranh giành quyền lãnh đạo. Cộng Sản trà trộn vào sinh viên, xuyên tạc việc Mỹ đổ quân là xâm lược để khích động biểu tình. Và tôi cũng đã tham gia.
Thượng sĩ Hoàng ra lệnh Thủy thủ Tạo rót thêm bia và trà. Chúng tôi lại cụng ly ‘Dô! Dô!’. Mọi người bận rộn nhai đậu phộng và khô cá. Tôi hỏi:
– “Bác Hoàng nghĩ sao về việc tên Mỹ có mặt trên chiến hạm này?”
– “Nó lịch sự, đàng hoàng.”
– “Tôi muốn hỏi về nhiệm vụ của hắn.”
– “Tôi không rành, đề nghị cô hỏi Hạm Phó.”
– “Bác thấy Hạm Phó ra sao?”
– “Cô Phượng thấy sao?”
Câu hỏi bất ngờ làm tôi lúng túng. Tôi nhăn mặt:
– “Cháu hỏi bác trước.”
– “Ổng … xứng với cô lắm!”
Nhiều tiếng cười càng làm tôi bối rối. Tôi cằn nhằn:
– “Ý cháu là muốn biết Hạm Phó đối xử với bác và các anh như thế nào.”
– “Không có gì phàn nàn. Còn cô, có gì phàn nàn Hạm Phó không? Tôi là Quản nội trưởng, sẵn sàng chuyển lời phàn nàn của cô!”
Tôi bật cười giòn. Tôi thích cái cách họ ăn nói vô tư, cười đùa thoải mái. Có thể ảnh hưởng từ trời nước bao la mà tâm hồn phóng khoáng. Ngay với một khách quá giang như tôi, họ cũng coi như người thân thích và tôi cũng bắt đầu dành nhiều cảm tình. Rồi bỗng tôi nghe ớn lạnh. Sao tôi lại có ý nghĩ phản động như vậy! Tôi mới sống với họ chỉ hơn một ngày đêm. Tất cả những gì tôi thấy có thể chỉ là bề ngoài. Biết đâu tâm hồn họ đã tiêm nhiễm thói tư bản xấu xa. Tôi phải vững tin ở Hưng, phải tin ở người mình chọn sống chung trọn đời.
Chợt Trung sĩ Tùng lên tiếng:
– “Thú thật với cô Phượng, xin đừng giận. Anh em đây thách tôi, nếu mời được cô đến chung vui thì khi về Sài Gòn sẽ đãi một chầu tưng bừng. Cám ơn cô đã giúp tôi chiến thắng vẻ vang. Theo thỏa thuận, người chiến thắng được quyền mời một người khách, tất nhiên người đó ưu tiên là cô. Mong cô không từ chối…”
Tôi nghĩ đến Hưng, mỉm cười:
– “Tôi nhận lời với điều kiện được đi kèm một người.”
Nói xong mới nhận ra mình lại ngớ ngẩn. Hưng kỵ nhất vụ này mà tôi thì lúc đó coi như đã cao bay xa chạy, tìm đâu ra mà mời. Thủy thủ Tạo lên tiếng:
– “Nếu người đi đó là Hạm Phó thì tán thành trăm phần trăm.”
Tất cả bật cười vang. Trung sĩ Trọng nói:
– “Nếu đúng là Hạm Phó, tôi là người kế tiếp mời cô Phượng!”
– “Khi không tôi lại được hai bữa ăn ngon. Cám ơn các bác các anh.”
Hạ sĩ Trường hỏi giọng khiêu khích:
– “Cô Phượng có dám nhận lời tôi mời không? Bữa ăn thứ ba.”
Tôi cười thầm. Có thêm mười người mời nữa thì cũng chả có bữa ăn nào! Nhưng chuyện đã lỡ. Phóng lao thì đành theo lao. Tôi mạnh dạn nói:
– “Dĩ nhiên là dám chứ. Tuy nhiên, tôi đành từ chối vì sợ lại được mời thêm, rồi thêm nữa. Chắc ăn bể bụng luôn!”
Tiếng cười lại rộ lên. Tôi cũng thực sự vui lây. Bên Hưng, tôi thấy hạnh phúc nhưng không thấy vui. Anh lúc nào khó đăm đăm, lúc nào cũng bàn giải phóng với cách mạng. Có vài khi tôi cười đùa với anh mà lòng vương vấn ưu phiền. Còn ở đây, bên những người vừa quen biết, tôi hoàn toàn thoải mái.
Chợt tiếng của Võ Bằng vang lên:
– “Cô Phượng đây rồi!”
Tất cả vội đứng lên tiếp đón. Võ Bằng ra dấu mời ngồi. Vòng tròn tự động bung rộng bên Trung sĩ Tùng để Hạm Phó ‘được’ ngồi bên tôi. Quản nội trưởng Hoàng đích thân rót bia vào ly:
– “Xin mời Hạm Phó. Đúng ra, tham gia trễ, phải bị phạt vài ly. Nhưng với Hạm Phó thì được miễn, chỉ phải đi thật ngọt ly này!”
– “Tuân lệnh chủ xị!” Bằng cười rồi đi ngọt thật.
Tất cả vỗ tay hoan hô. Trung sĩ Tùng bất ngờ đặt câu hỏi:
– “Cô Phượng trước sau vẫn đính chính rằng cô không phải là người yêu của Hạm Phó. Sẵn Hạm Phó có mặt đúng lúc, xin thỉnh ý Hạm Phó.”
Tôi tiếp nhận cái nhìn say đắm của Võ Bằng với cảm giác khó chịu. Lẽ ra anh chàng phải tức khắc xác nhận đúng ý tôi thay vì chần chừ. Không những thế, anh chàng còn đặt câu hỏi khiêu khích:
– “Cô Phượng muốn tôi trả lời sao đây?”
Tôi nghiêng mặt tặng Võ Bằng một cái liếc sắc bén và nói gằn từng tiếng:
– “Là Hạm Phó, xin Đại úy đừng nói trái… sự thực!”
Bằng cười nhẹ:
– “Tôi luôn luôn tôn trọng sự thực. Vậy trước khi tôi trả lời, mong cô xét lại… lòng cô!”
Tôi bật cười để ngăn cơn giận đang bùng vỡ:
– “Đại úy… tránh né hay thật!”
– “Tôi đâu có tránh né. Tôi trả lời theo sự thật đây: cô là người yêu của tôi!”
Tôi giận dữ, co chân dợm đứng lên thì Võ Bằng chụp cánh tay, ghìm giữ tôi ngồi yên. Bằng nói:
– “Cô muốn tôi tôn trọng sự thật và tôi vừa nói thật, sao cô lại giận? Tôi nói ‘cô là người yêu của tôi’ chớ có nói cô yêu tôi đâu!”
Mọi người im lặng chờ phản ứng của tôi. Tôi thua lý lẽ của Võ Bằng. Quá nóng giận tôi đã không kịp suy nghĩ! Võ Bằng nói đúng. Ai cũng có quyền coi tôi là người yêu của họ. Nhưng tôi yêu ai thì lại là chuyện khác. Mà cứ làm người yêu của Võ Bằng thì đã sao! Không việc gì phải giận ra mặt. Thời gian gần họ chẳng còn bao lâu nữa. Cùng lắm là tới chiều mai. Tôi cố đưa ra một câu đùa:
– “Tôi đề nghị chúng ta tiếp tục cuộc vui, coi như không có mặt… Hạm Phó.”
– “Thưa Hạm Phó, xin ghi nhận đó là lời của cô Phượng chớ không phải của chúng tôi.”
Thượng sĩ Hoàng cười nói rồi rót thêm bia vào ly mời Võ Bằng. Anh chàng ực một hơi, đặt ly lên
sàn, thấm khăn giấy lên môi rồi chậm rãi nói:
– “Có một bài ca, tôi nghĩ là rất thích hợp để chứng minh tôi có mặt! Tôi bỏ hát lâu rồi nhưng tối nay lại muốn lên tiếng tặng cô Phượng.”
Võ Bằng đột ngột ngưng hát, nói trổng ‘Em nói đi, nói đi em!’. Tiếng vỗ tay lẫn tiếng cười vang. Tôi nghe mặt nóng bừng. Tôi không sợ tướng tá của anh chàng nhưng rất sợ lời ca. Không thế võ nào đỡ nổi. Tôi ấm ức cúi mặt. Giọng Thượng sĩ Hoàng nồng nhiệt:
– “Hạm Phó hát quá hay, vậy mà lâu nay giấu nghề. Tới luôn cho trọn bản, thưa Hạm Phó!” Ông ra lệnh cho người đối diện. “Hạ sĩ Trường, còn chờ gì mà chưa chịu lên dây đàn!”
– “Có ngay, thưa ông Quản!”
Hạ sĩ Trường xoay người ra sau. Cây đàn đặt nằm sẵn trên sàn gần đó. Tôi đăm đăm nhìn Võ Bằng. Anh chàng vừa hát đúng bản nhạc tôi ưa thích mà đã hai năm rồi, từ sau ngày quen Hưng tôi bị cấm hát. Hưng không chỉ cấm tôi hát nhạc vàng mà cấm luôn tôi xem phim tư bản. Anh buộc tôi nghe nhạc cách mạng, xem phim cách mạng. Hai năm rồi tôi nghe cho anh vui chớ chán ngấy đến tận cổ. Đêm nay, dù chỉ mới nghe hai đoạn Mộng Dưới Hoa mà tôi đã rụng rời. Đêm nay tôi sẽ nghe, sẽ hát những bản nhạc tôi cố chôn vùi nhưng chưa bao giờ rời khỏi tâm khảm…
Ít nhất tôi sẽ hát tặng Võ Bằng bài ‘Kiếp Nào Có Yêu Nhau’…
(Còn tiếp)