Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 2 (chương 2 & 3)

0 bình luận ♦ 1.08.2023

Chương 2

Hải phận Bình Định
Thứ sáu 4/8/1967 19:30G

Tôi vịn khung cửa thông ra boong tàu nhìn mấy mươi lính thủy trong đồng phục trắng dàn hàng từ mũi đến lái. Ngay khi tiếng còi vang lên, tất cả thẳng người, trang nghiêm giơ tay chào phố thị Quy Nhơn. Con tàu từ từ tách bến hướng về cửa vịnh. Tôi dõi mắt tìm bóng dáng Hưng và Anh Đào. Con đường Gia Long dài hun hút. Các mái phố lầu nhuộm ánh vàng chạy lùi trên hàng mũ polo trắng. Hưng và Anh Đào đang vẫy tay ở đúng vị trí tôi xuống xích lô. Tôi nồng nhiệt gửi đi những nụ hôn gió.

Những ngày đầu tôi đến với gia đình Hưng, cả hai bên đều vất vả với ngôn ngữ bất đồng. Giọng Bình Định đấu với giọng miệt vườn miền Tây. Với tôi thì đó là sự việc bất ngờ. Ngày tôi quen Hưng, giọng Bình Định của anh đã bị giọng Sài Gòn đồng hóa sau 15 năm làm học trò và làm việc. Tuy nhiên, bất kể trở ngại ngôn ngữ, Anh Đào lại tỏ ra hết sức thân thiết với tôi và ba má Hưng thì xử sự như tôi đã là con dâu tương lai. Tháng trước, tôi đưa Hưng về Vĩnh Long ra mắt ba má tôi và Hưng được ông bà cho phép đưa tôi ra mắt ba má Hưng. Tôi những tưởng hạnh phúc đang trong tầm tay…

Từng mệnh lệnh ngắn gọn, dứt khoát “hữu tiến”, “tả lùi”, “lái thẳng”… vọng mồn một đâu đó, bên trên. Sau một lệnh là tiếng nhắc lại kèm theo tiếng leng keng. Tôi nghiêng đầu nhìn ngược lên phía tiếng nói nhưng chỉ thấy đáy của một chiếc ca-nô. Gió hâm hấp từng đợt ập vào người tôi, xóa dần độ mát của không khí điều hòa bên trong con tàu. Khi chiếc cầu đã xa sau lái, tiếng còi lại vang lên chấm dứt dàn chào.

Tôi đứng lùi vào, nhường khung cửa cho từng người bước qua. Tôi nhẩm đếm. Người cuối cùng thứ bốn mươi chín. Nếu kể luôn những người đang thi hành nhiệm vụ ở các vị trí khác, hẳn tổng số thủy thủ cũng tròn một trăm. Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình. Nhiệm vụ của tôi là phải đặt quả bom đâu đó có thể gây thiệt hại tối đa cho người và chiến hạm. Đó là điều kiện cần và đủ để Thành Ủy cho phép tôi và Hưng thành vợ thành chồng.

Tôi bước ra boong, vịn sợi dây an toàn chăng dọc mạn tàu, cao ngang ngực. Từ cuối tầm nhìn, bãi cát trắng ôm vùng nước xanh còn đầy ghe đánh cá chưa rời bến. Vài căn ngói đỏ ẩn hiện giữa rừng cây tiếp liền rặng núi. Thành phố chia thành hai phần rõ rệt. Phần mái nhà còn là ngày, phần vách tường đã ngả hoàng hôn.

Tôi nghĩ đến ba má Hưng, thầm cám ơn đã tiếp đãi ân cần, đã yêu thương chiều chuộng. Xin bái biệt giang sơn của anh hùng áo vải Quang Trung, thần tượng đời đời. Xin cảm ơn những danh lam thắng cảnh. Xin từ giã các con đường vắng vẻ tôi và Hưng lang thang vạch định tương lai. Xin chia tay các hàng quán thôn làng cho thưởng thức hương vị các đặc sản tuyệt vời.

Suốt hai tuần, Quy Nhơn đã cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp nhưng không hiểu sao tôi không mảy may có ý muốn trở lại. Có thể vì Quy Nhơn quá khô cằn, nóng bức, quá chộn rộn, xô bồ với hàng quán ngày một nhiều đua nhau đáp ứng nhu cầu giải khuây lính Mỹ, lính Hàn. Cũng có thể vì Quy Nhơn ghi dấu chuyến công tác đầu đời mà chắc chắn là tôi muốn quên đi, chuyến công tác mà tôi và Hưng đã lời qua tiếng lại suốt ba ngày. Rốt cuộc, thấy Hưng có lý, tôi nhận lời…

Dù luôn luôn tự tin, nhưng đây là lần đầu, lại là công tác chết người, tôi không sao đè nén được nỗi lo âu. Tôi đề nghị Anh Đào cùng đi nhưng Hưng viện ba lý do để không đồng ý. Anh Đào vừa đi dò đường tháng rồi. Hai người đẹp cùng một chuyến dễ sinh nghi ngờ. “Trên” chọn tôi vì công tác này đòi hỏi một người lanh lợi, hoạt bát.

Tôi nhìn xuôi theo lái tàu. Tôi không còn nhận ra bóng dáng Hưng và Anh Đào. Cửa vịnh đã lờ mờ hoàng hôn, chỉ còn rõ nét mũi vách đá của bán đảo Phương Mai. Bên trái là xóm chài đã lên đèn, đầm Thị Nại phủ đầy những đốm sáng của ghe câu. Bên phải ngọn hải đăng Phước Mai là vùng nước thẫm xanh mênh mông chập chờn ánh lân tinh. Gió lồng lộng, hâm hấp, khô khan.

Phố Quy Nhơn chưa mấy xa mà tôi đã bắt đầu da diết nhớ Hưng. Hai năm trước, chúng tôi quen nhau. Hưng học năm cuối Kiến Trúc, tôi mới vào Sư Phạm. Vào một tối ca nhạc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly ở sân trường Văn khoa, chúng tôi đứng gần nhau và cùng chạy trốn khi mật vụ giải tán. Từ đêm đó chí hướng của tôi bắt đầu thành hình. Mỗi tháng một lần, Hưng đưa tôi ra ngoại ô dự buổi học tập đường lối chánh sách cách mạng. Tôi đã nhìn thấy Mỹ là quân xâm lược, là tên sen đầm quốc tế. Và ngày qua ngày tôi càng yêu quý Hưng hơn. Tháng rồi anh ngỏ ý muốn cưới tôi. Tôi vui sướng nhận lời…

Bãi đá cuội ven bờ trông quen quen, chừng như là bãi tắm Hoàng Hậu. Nếu đúng vậy thì trên khoảng cao là mộ Hàn Mặc Tử hoang lạnh. Hưng cũng đưa tôi đến trại cùi Quy Hòa, thắp nhang ngôi mộ ông an nghỉ thời gian đầu. Tôi rất mê thơ ông và thương xót đời ông. Hưng thì chỉ thích thơ hừng hực đấu tranh.

Cơn gió đột ngột mang theo mùi khói khét lẹt, phần phật vào người vào mày mặt làm tôi nhờn nhợn nôn mửa. Tôi nắm chặt một trụ cột, nín thở. Rồi từ từ thở ra, hít vào. Đó là kinh nghiệm của Anh Đào. Tôi thấy khá hơn nhưng khói tàu vẫn tiếp tục quấn lấy tôi. Tôi hốt hoảng đi dần về hướng lái hy vọng thở được không khí trong lành. Nhưng tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, phần lái nhấp nhô, lay lắc mạnh hơn và tiếng ồn rầm rập, rì rào to hơn. Tôi lần đến ngồi lên một trong hai trụ sắt kề nhau có sợi dây to quấn chéo hình số 8, nhắm mắt lắng nghe phản ứng của cơ thể. Nó có vẻ hòa hợp với sóng gió. Tôi hít một hơi dài rồi thở mạnh, rồi lại hít, lại thở, theo hướng dẫn của Anh Đào. Cũng theo lời khuyến cáo, tôi cố gắng tỉnh bơ, phớt lờ hiện trạng.

Những dải mây nhiều sắc màu chỉ còn hai màu duy nhất đen và trắng chen lẫn những vì sao.
Đang mải mê, con tàu bỗng vặn vẹo, nhấp nhô, đong đưa, rung rinh. Tôi lại nghe nhờn nhợn khó chịu. Cả thân người như đang quay mòng. Tôi chụp hai tay vào dây an toàn, ngậm cứng miệng. Sợ không đủ sức giữ, tôi bụm cả hai tay. Nhưng thức ăn trào lên, hai bàn tay tự động mở, miệng há rộng. Mọi thứ trong bụng nhộn nhạo tuôn ra. Nước mắt nước mũi tuôn theo. Tôi hổn hển thở…

Như có linh cảm bị nhìn trộm, tôi nghiêng mặt. Bằng đứng bên tôi tự bao giờ, lên tiếng:

– “Chờ đó, tôi đi lấy khăn giấy.”

Anh chàng phóng vội vào lòng tàu. Hưng cũng sốt sắng như Bằng mỗi khi thấy tôi cần được giúp đỡ. Hưng hẳn không thể nào tưởng tượng được rằng người anh yêu đang say sóng ngất ngư. Anh còn đứng đó hay đã ra bến xe về Sài Gòn? Đừng quên đón em ở bến Bạch Đằng. Em đang tha thiết mong chờ giây phút cùng ngắm chiến hạm nổ tung.

Tội nghiệp Võ Bằng. Anh trở lại với xấp khăn cho tôi lau mặt mũi. Tôi sẽ trả ơn bằng quả bom nổ tung? Con tàu lại nhún nhảy, lắc lư mạnh. Cổ họng tôi lại nhờn nhợn, miệng đầy nước miếng. Tôi thò đầu ra ngoài mạn tàu, phun mạnh và khạc nhổ. Mồ hôi rịn trên trán trên lưng. Tôi tự khuyên mình cố gắng lên, chỉ mới bắt đầu.

Con tàu lại giật mạnh đánh sầm, rung rinh, phát tiếng răng rắc. Võ Bằng cho biết chiến hạm đang đổi đường, năm ba phút nữa là xuôi sóng, sẽ dễ chịu hơn. Anh chàng đề nghị tôi đến đứng ở giữa tàu, ít nhấp nhô và ồn ào hơn. Bằng băng qua phía mạn trái, rồi tiến dọc hành lang. Không gian mông lung mở rộng. Nhiều ánh đèn xa khơi. Võ Bằng chỉ hai nhóm đèn sáng nhất cho biết đó là hai thương thuyền. Còn vô số đèn lập lờ là đèn các ghe câu. Một ngọn đèn rực sáng, rồi tắt rồi sáng. Tôi nhớ ánh đèn hải đăng Phước Mai. Tôi hỏi:

– “Hải đăng ở chếch mũi tàu, phải hôn Đại úy?”

– “Đúng! Đó là hải đăng Poulo Gambir do Tây xây cất trên đỉnh của một cù lao cùng tên. Nhưng từ hàng trăm năm trước đó, ông bà ta đã đặt tên là Cù Lao Xanh. Xanh là vì hòn đảo bốn mùa cây xanh tươi tốt. Từ ngày Tây rút khỏi Đông Dương, chúng nó cũng rút theo cái tên Tây. Tháng trước, chiến hạm tham dự ba ngày hành quân, yểm trợ hải pháo cho Địa Phương Quân tảo thanh Việt Cộng trên đảo. Ngày chót, thủy thủ đoàn được phép lên bờ. Chúng tôi cũng tảo thanh, nhưng nhằm vào rừng dừa.”

Tôi cười thành tiếng:

– “Lần tới, Đại úy nhớ mang cho tôi vài trái.”

– “Lần tới, cô đích thân tới đó với tôi.” Bằng nói, cười duyên.

Tôi biết là mình vừa tạo cơ hội cho Bằng tiến tới. Cũng nên lắm! Anh chàng càng mê mẩn, tôi càng dễ lợi dụng và càng dễ che giấu sơ suất!

– “Cảnh hoàng hôn trên biển đẹp quá phải không cô Phượng?”

Tôi lặng thinh, e bị lạc vào mê hồn trận. Võ Bằng tiếp:

– “Hãy nhìn qua rừng cây. Mặt trời đã khuất nhưng còn bắn các tia màu hồng, đỏ, cam, tím vào các dải mây trên đỉnh núi. Đẹp kỳ ảo.”

Tôi vẫn lặng thinh. Võ Bằng lại tiếp:

– “Người thủy thủ được trời ban cho hai buổi tuyệt vời trong ngày: đó là cảnh bình minh và cảnh hoàng hôn. Đặc biệt là không buổi nào giống buổi nào, không ngày nào giống ngày nào. Đúng là thiên thượng phù vân, thiên biến vạn hóa.”

– “Ngày nào cũng ngắm thì không thể không sinh ra nhàm chán!” Tôi mỉa.

Võ Bằng đăm đăm nhìn tôi:

– “Tôi chưa bao giờ thấy nhàm chán. Tựa như ngắm một giai nhân, cho dù giai nhân đó một ngày như mọi ngày!”

Tôi tìm lời đáp trả. Đầu óc rỗng không. Tôi thầm trách tôi: Mày được khen là lanh lợi hoạt bát, sao cứ câm như hến! Võ Bằng nhởn nhơ:

– “Thế nhưng một giai nhân mà đẹp quá thì cũng nguy hiểm. Sắc trời cũng vậy. Nếu thấy bầu trời có màu óng ánh như mỡ gà thì phải nhớ câu thành ngữ ‘Ráng mỡ gà có nhà thì giữ’. Nghĩa là dông bão sắp đến, cẩn thận bảo vệ nhà cửa. Hải quân chúng tôi sửa lại câu trên cho hợp cảnh hợp tình: Ráng mỡ gầu có tàu thì giữ!”

Tôi bật cười thành tiếng. Anh chàng đáo để thật. Cũng nên cho anh chàng biết ta cũng rành tục ngữ ca dao. Tôi hỏi:

– “Còn câu này: ‘Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy, cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi’ nghĩa là sao?”

– “Cô biết câu đó, tự nó cho thấy cô đã rành sáu câu! Tuy vậy tôi cũng nói ra xem có đúng ý cô không. Cơn là cơn mưa. Nếu thấy mưa ở hướng Đông thì mưa sắp tới, mau tìm chỗ trú; còn thấy ở hướng Nam thì cứ tự nhiên ăn chơi như người Sài Gòn!”

– “Câu rồi chỉ nêu hai hướng Đông Nam, Đại úy có biết câu nói về hai hướng Tây Bắc?”

– “Tôi không thấy câu nào đề cập hướng Tây Bắc. Có thể tại vì mưa ở hai hướng này, nông dân cứ ăn chơi hết mình!”

Tôi nhìn mông lung, cố nhớ thêm một tục ngữ:

– “Còn câu này: Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm! Không biết ở biển có chuồn chuồn?”

– “Tôi không lần nào thấy chuồn chuồn bay ở biển nhưng tiếng ‘râm’ gợi tôi nhớ tiếng ‘thâm’ trong câu tục ngữ cũng về mưa hướng Đông: Thâm Đông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm… ư ư…”

Bằng im bặt, tủm tỉm cười. Tôi tức mình, hối:

– “Thâm gì nữa?”

– “Tưởng cô biết rồi! Thôi, để dành cho cô về Sài Gòn tra cứu, nói ra không tiện.”

– “Không có gì bất tiện. Tôi rất thích ca dao tục ngữ. Đại úy cứ nói.”

– “Về Sài Gòn tra cứu đi mà, nói ra dị hợm!”

Tôi làm mặt giận, bước dần về phía mũi. Võ Bằng nói:

– “Được rồi, tôi nói đây. Nguyên văn đó nghen: Thâm Đông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa.”

– “Vô duyên!”

– “Cô nói tôi hay tác giả?”

– “Cả hai!”

Chúng tôi cùng cười. Tôi nhớ đến những câu ca dao tục ngữ tương tự mà bái phục cổ nhân. Hàng trăm năm trước các cụ đã táo bạo không ngờ. Tôi không biết Võ Bằng đang nghĩ gì. Nhưng anh chàng lên tiếng trước:

– “Cô nói với ông Hạm Trưởng rằng cô xin quá giang là vì nghe đồn biển tuyệt đẹp. Cô thấy biển thế nào?”

Tôi nhìn mặt nước dao động, lao xao. Ánh lân tinh chập chờn trên các ngọn sóng. Tiếng xạc xào đều đều êm êm như khúc nhạc du dương. Nhưng thấy vậy mà không phải vậy. Tôi nuốt nước bọt, cay đắng:

– “Đẹp thì đẹp thật! Nhưng giống như giai nhân, có giai nhân tàn ác. Gặp phải là… ói mửa!”

– “Vừa say sóng, vừa say tình, cô quạu quọ cũng phải!” Võ Bằng cười ngất.

– “Đại úy nói vậy là ý gì?” Tôi dọ dẫm.

– “Khi tàu rời bến, tình cờ tôi bắt gặp một anh chàng đứng cạnh chiếc Honda liền tù tì gửi hôn gió cho… chiến hạm! Nếu là “anh” thì không thể gửi hôn kiểu đó!”

Tôi ớn lạnh. Võ Bằng tinh tế thật. Trời xui đất khiến chi cho tôi vớ phải anh chàng cà chớn này. Giờ có muốn thoát cũng không xong, có muốn nói cũng nghẹn lời! Bằng tiếp tục chế nhạo:

– “Than ôi! Bước chân xuống tàu nước mắt như mưa!”

– “Nguyên tác là ‘Bước chân xuống thuyền!’”

– “Thuyền hay tàu gì thì cũng khóc. Cô Phượng nhận là có khóc đi.”

Sau ngày gặp Bằng, Hưng đã dặn tôi cố tìm cơ hội gặp gỡ và lợi dụng cho công tác. Hạm Phó là người uy quyền thứ hai trên tàu, lợi dụng được thì công tác càng thuận lợi. Cơ hội thì đã có, còn lợi dụng thì coi bộ khó ăn. Chỉ một sơ suất nhỏ đã đủ cho anh chàng suy ra Hưng không phải là “anh” thì quả đáng ngại. Có lẽ nên rù quến cho anh chàng mù quáng. Thì đã sao! Khi mình lìa tàu thì anh chàng cũng… lìa đời! Tôi vờ kịch liệt phản đối:

“Anh ruột thì có mắc mớ gì mà phải khóc! Hôn gió thì hôn ai chẳng được. Đại úy có thấy em gái của tôi hôn không? Cũng như anh tôi thôi. Tại đại úy hay… nghĩ bậy!”

Không gian còn đủ sáng cho tôi thấy ánh mắt Bằng đang cân nhắc thật hư. Tôi vờ phân trần:

– “Tôi nói thật đó. Ba má tôi khó lắm. Cấm tôi không được “dớ dẩn” yêu đương trước khi ra trường. Tới nay, tôi chưa dám để ý đến bất cứ ai.”

– “Cô học ở trường dạy chữ hay dạy nghề?”

– “Ba má tôi muốn tôi thành giáo sư.”

– “Còn cá nhân cô, cô muốn thành gì?”

– “Làm con thì phải nghe lời cha mẹ!”

– “À, vậy ra cô đang học Đại học Sư phạm!”

Tôi giật mình. Tôi vừa nói thật. Tôi đã cảnh giác mà vẫn vào tròng. Lẽ ra tôi phải nói Đại học Kiến Trúc. Đó là trường Hưng theo học. Anh nói đi nói lại mấy ngày liền cho tôi nhớ trường ở đường nào, tên ông Viện trưởng, giáo sư gồm những ai, năm thứ nhất thứ nhì gồm những môn học gì. Giờ lỡ mồm nói thật, nếu Võ Bằng không chết theo tàu, thì tôi cũng khó thoát! Hưng cũng đã cảnh báo nhiều lần, tôi sẽ là mục tiêu cho mọi câu hỏi, từ đó người ta có thể khám phá tôi là ai. Anh bảo tôi ráng nhập tâm căn cước mới. Căn cước mới là căn cước cô bạn thân, tôi rành rẽ đời tư. Nhưng từ thuở tôi biết nói suông câu, tôi lại nhập tâm lời dạy của cha mẹ là phải luôn thật thà, không nói dối. Tôi chỉ tập nói dối từ ngày quen Hưng. Bây giờ đã trót lỡ lời nhưng chưa đến nỗi! Với đầu óc đang chập chờn, có thể lại phạm lỗi lầm. Tôi nghĩ tốt nhất là… đi ngủ cho khỏe. Tôi nói:

– “Sao nhức đầu quá, mệt và khó chịu quá… phải đi nằm mới được.”

– “Để tôi đưa cô xuống phòng.”

– “Cám ơn Đại úy”.

– “Chừng nào cô thấy dễ chịu, thì bắt đầu bước.”

Tôi vờ còn choáng váng, nhắm nghiền mắt, hít thở không thôi. Có đến năm phút tôi mới mở miệng:

– “Sẵn sàng rồi, Đại úy.”

– “Cô hãy đi như tôi, người sẽ vững vàng hơn.”

Hai chân Bằng dang rộng, từng bước về hướng mũi. Chúng tôi băng qua khung cửa vào lòng tàu. Cái mùi hỗn hợp khói tàu, thức ăn, mùi sơn càng nồng nặc. Tôi đưa tay bụm cả mặt lẫn mũi. May quá, bụng chỉ quặn đau, ợ chua mà không mửa. Mửa lên sàn tàu, ai rửa ai lau? Chừng như mùi hỗn tạp cũng bắt chiến hạm rùng mình.

Võ Bằng nắm cánh tay tôi, dìu tôi đi. Lần mò đến được chiếc thang nghiêng, tôi thấy dễ chịu hơn. Cái mùi đặc biệt gần như tan biến, chừng như thấm hết vào da thịt. Bằng nắm cả hai bàn tay tôi, giữ thăng bằng cho tôi xuống trước. Bước đến bậc thứ ba, Bằng nhả một tay cho tôi nắm thanh an toàn rồi nhả nắm tay còn lại. Tôi nghĩ phải chi Bằng là Hưng, tôi sẽ bắt anh cõng. Khi tôi đã đứng trên sàn, Bằng chạy vụt xuống dễ dàng như bị trượt chân. Con tàu không còn lay lắc. Tôi bước những bước bình thường dọc hành lang về phòng ăn. Lần này tôi có thì giờ nhìn quanh.

Căn phòng chiếm trọn chiều ngang con tàu. Rộng rãi, sáng sủa. Tám ống néon kép được thiết trí khéo léo trên trần. Tên Mỹ đang ngồi bói bài ở salon. Dưới chân ghế cạnh đó là hai chiếc xách của tôi. Tên Mỹ không phải là đứa tò mò; tôi an tâm với ý nghĩ đó. Hai sĩ quan đang chơi domino. Tấm khăn bàn màu trắng khi ăn đã được thay bằng tấm nỉ xanh mát mắt. Một sĩ quan đọc sách trên ghế bành đặt cạnh góc. Một sĩ quan đang pha cà phê. Bằng lên tiếng:

– “Cô Phượng uống chút gì nghe. Sẽ giúp cổ họng tan vị đắng!”

– “Cảm ơn Đại úy.”

– “Cám ơn yes hay cám ơn no?

Tên Mỹ ngẩng lên cười. Đôi mắt xanh của hắn chờ tôi trả lời.

– “No!” Tôi đáp.

– “Vậy thì mời cô về buồng nghỉ ngơi.”

Tôi vội bước đến hai túi xách. Bằng bảo:

– “Cứ để đó, tôi mang sau!”

Tôi vẫn khom người, hai tay vừa nắm hai quai xách thì tên Mỹ nói “Để tôi giúp” rồi giành lấy. Tôi không nói cám ơn. Tôi ghét hắn, tôi không nhờ hắn. Võ Bằng vén màn nhường tôi và tên Mỹ qua trước. Sau khung cửa là một hành lang khá dài, ánh sáng dịu mát. Hai bên hành lang là vách đứng sơn trắng, có nhiều màn treo cách khoảng, đối nhau. Bằng vén tấm màn đầu tiên, bên tay mặt:

– “Buồng của cô đây.”

Tôi bước vào. Gian buồng sơn màu ngà, chật hẹp nhưng gọn gàng. Chiếc giường nệm trải drap trắng tinh trông thật hấp dẫn. Tên Mỹ đặt hai túi xách lên mặt bàn bọc formica xanh rồi biến sau bức màn đối diện. Tôi nghe ơn ớn. Chẳng lẽ nó ngủ gần mình. Trời ơi nửa đêm nó mò qua thì sao. Hoàng đai đệ nhị cấp của Vovinam có đủ đối phó? Mặt bàn bọc formica xanh được ánh đèn tập trung tỏa sáng tạo cho hai túi xách hơ hớ tênh hênh. Phía trong là hai khung ảnh. Một là ảnh cô thiếu nữ bồng đứa bé thật dễ thương và khung kia là ảnh có vẻ là một gia đình 5 người. Tôi cúi nhìn kỹ hơn. Không thể lầm lẫn. Đó là Võ Bằng với cha mẹ chị em. Tôi kêu lên:

– “Đây là buồng của Đại úy mà! Đại úy làm ơn cho tôi ngủ ở khu quá giang.”

Bằng cười:

– “Đã nói rồi, tàu này là tàu chiến, làm gì có khu quá giang. Thì cô cứ coi đây là khu quá giang!
Thấy tôi ngần ngừ, Bằng tiếp:

– “Tôi đã từ chối không cho cô quá giang nhưng cô cứ nằng nặc, buộc tôi trình xin Hạm Trưởng. Rồi bây giờ cô tiếp tục làm khó tôi!”

Tôi chợt vỡ lẽ cái từ “nói giúp”. Tôi dịu giọng:

– “Cám ơn Đại úy đã “nói giúp”. Nhưng nhường cho cả phòng riêng thì tôi áy náy lắm! Đại úy đã giúp thì giúp cho trót. Làm ơn cho tôi ngủ chỗ nào khác, chỗ nào nằm được là được rồi!”

– “Chỗ nào nằm được thì quá dễ. Chỉ cần một tấm nệm và một chiếc gối đem đặt trên boong. Tuy nhiên cô sẽ gặp hai trở ngại lớn. Khi mưa thì ướt như chuột lột. Khi cần thì không có chỗ vệ sinh! Cô nhắm chịu được suốt hai ngày?”

Tôi cứng họng. Anh Hưng, anh có biết đã đẩy em vào tình cảnh ngặt nghèo. Anh nói có khu quá giang, lúc nào cũng đông người. Bây giờ em chỉ một mình và từ đêm nay em bị vây quanh bởi những tay gây tội ác trời không dung đất không tha! Em có võ nhưng mãnh hổ sao địch quần hồ. Em thấy sợ… Giọng Võ Bằng dứt khoát:

– “Tôi nhường buồng không vì cô mà vì thằng bạn cùng khóa! Tùy ý cô, hãy chọn một: ngủ ở đây hay là ngủ ở nhà?”

Thấy tôi tỏ ra không hiểu, Võ Bằng lạnh lùng tiếp:

– “Muốn ngủ ở nhà thì tàu sẽ ủi bãi cho cô lên bờ!”

Anh chàng dám làm thật lắm! Lên bờ giữa đường thì biết về đâu, biết ngủ đâu. Thôi đành ba bảy cũng liều. Nếu Bằng nằm chung giường thì chịu khó thủ thân! Còn nếu bị tập thể thì… tử thủ! Tôi hỏi dò:

– “Rồi Đại úy ngủ ở đâu?”

– “Có một sĩ quan đang đi phép, tôi ngủ ở buồng của anh ta.”

– “Đại úy cho tôi ngủ ở đó.”

– “Nó nằm ở mũi tàu, ở đó sóng nhồi dữ lắm, cô không chịu nổi đâu!”

– “Tôi chịu nổi!”

– “Cô còn bướng bỉnh thì tôi nhất định trả cô lên bờ.” Bằng gắt.

Đến nước này thì không thể nằn nì nữa. Đành nhập gia tùy tục. Tôi đã quá mỏi mệt. Cứ ngủ một giấc rồi tùy cơ ứng biến. Tôi đuổi khéo:

– “Cám ơn Đại úy nhường buồng!”

Giọng Bằng ấm áp:

– “Tôi biết cô Phượng đang rất thèm nghỉ ngơi nhưng cho tôi thêm vài phút. Có một vài tiện ích cô cần biết cách sử dụng.”

Tôi theo anh chàng bước sâu vào trong. Phòng vệ sinh bên trái được ngăn đôi. Một bên là bồn rửa mặt và cầu tiêu. Một bên sát mạn tàu là phòng tắm. Bồn rửa mặt và phòng tắm có hai cần ngắn. Một, màu xanh để mở nước mát và một màu đỏ cho nước nóng. Bằng vói tay nhấn chiếc cần bên hông một chậu sành sau bàn cầu:

– “Đây là cần xả nước đi cầu.”

Tiếng nước rút đi tạo âm thanh lạ tai. Bằng tiếp:

– “Cầu tiêu trên chiến hạm tân tiến hơn cầu tiêu chúng ta thường dùng. Ngồi bẹp chớ không chồm hổm. Và chỉ nhấn nút chớ không múc xối!”

Tôi gật đầu tỏ vẻ hiểu biết. Bằng bước ra phía cửa, dừng lại ở chiếc bàn. Anh chàng nhấc cả hai túi xách dời qua cái kệ đối diện, bên dưới chứa giày dép. Tôi lại nhìn hai khung ảnh. Người đẹp bồng con là ai? Nếu là vợ Võ Bằng thì sao anh chàng không chụp chung?

Võ Bằng đưa tay nhấn vào đầu ngọn huỳnh quang nằm ngang có cánh tay gắn vào vách. Ánh sáng vụt tắt. Bằng đẩy ngọn đèn sang phía đầu giường. Đèn vụt sáng, tỏa lên cặp gối kề sát đầu bàn. Anh chàng nói:

– “Chừng nào thấy khát nước, thì qua phòng ăn. Nước uống từ cái máy đứng ở góc. Nước ngọt hay bia thì trong tủ lạnh. Còn đói bụng thì có… gạo sấy, thịt chà bông.”

Bằng nhìn tôi. Tôi gật đầu tỏ ra đã ghi nhớ. Anh chàng lại tiếp:

– “Suốt thời gian ở trên tàu này, mỗi ngày cô được mời dự ba bữa ăn. Xin vui lòng ghi nhớ. Sáng từ 7 đến 9. Tự do, ăn lúc nào cũng được. Nhưng trưa và chiều phải có mặt đúng giờ. Trưa: đúng ngọ. Chiều đúng 6 giờ. Cô cần có mặt sớm 10 phút, vì Hạm Trưởng rất đúng giờ. Chúc cô Phượng ngủ ngon.”

Nghĩ tới cả tiếng phải ngồi chung bàn, mặt đối mặt với tên Mỹ, tôi năn nỉ:

– “Đại úy cho tôi tự túc ăn uống. Tôi có mang theo Ration C đủ cho hai ngày.”

– “Ration C chỉ dành cho lính Mỹ, cô Phượng người Việt, ăn cơm Việt.”

Bằng bỡn cợt nhưng tôi chừng như bị búa giáng. Khi mua tôi chỉ tính tiện lợi cho việc quá giang chớ bình thường tôi vốn ghét thức ăn Mỹ. Tôi định phân trần thì Bằng đã tiếp:

– “Nói là mời nhưng đúng ra là… lệnh.”

– “Làm ơn mà!” Tôi nài nỉ.

– “Hãy nhớ vị thế của cô hiện tại. Cô đã biết tàu này không nhận khách quá giang rồi mà. Cô được chấp thuận cho đi là vì tôi nhận cô là thân nhân.” Võ Bằng nhìn vẻ ngỡ ngàng trên khuôn mặt tôi, cay đắng tiếp: “Đã là thân nhân của Hạm Phó thì làm ơn hành xử như… thân nhân của Hạm Phó!”

Tôi ngớ người, cúi mặt. Sự việc đang vượt xa mọi dự liệu. Giọng Bằng trở lại bỡn cợt:

– “Chịu khó hai ngày ăn cơm Việt. Bảo đảm thức ăn Mỹ cô ưa thích không bị tịch thu. Về Sài Gòn cô thưởng thức sau!”

Lời Võ Bằng như nước lạnh tạt vào mặt. Xót xa và xấu hổ. Tôi từng tự hào chống Mỹ cứu nước mà lại nuôi thân bằng thức ăn Mỹ! Tôi mắng thầm “đồ vô ý thức!” Bằng mỉm cười, tiếp:

– “Điểm lưu ý chót, khi cô ngủ mà nghe tiếng còi thì cứ ngủ tiếp. Đó là tiếng còi gọi nhân viên đổi phiên hải hành. Cứ mỗi 4 tiếng còi ré một lần. Ngủ thật ngon nghe, cô Phan Kim Phượng.”

Anh chàng vén màn bước ra và biến mất. Tôi thở phào bước vội đến bồn cầu. Khu vệ sinh không có cửa đóng then cài, chỉ có tấm màn plastic mờ ảo kéo ngang.

Tôi mở nắp đậy bằng gỗ sơn trắng láng bóng và hài lòng với bồn cầu bằng men sứ sạch bong. Nhớ lời Bằng dặn phải ngồi bẹp, tôi thở dài. Từ nhỏ chỉ biết ngồi chồm hổm, nay ngồi bẹp thì sao ngồi được. Giấy cuộn tinh khôi, mềm mại. Đúng là Mỹ! Tôi nhận xét mà không biết mình khen hay chê!
Tôi xề qua bồn rửa mặt. Tấm gương chữ nhật phản chiếu màu bạc sáng láng của chậu kim loại rửa mặt. Tấm gương cũng cho thấy một khuôn mặt xanh xao, xơ xác. Tôi vặn vòi đỏ vòi xanh, thử độ ấm, xoa xà phòng chà xát hai tay. Khỏe ơi là khỏe! Ở nhà phải múc nước rửa từng bàn tay. Tôi bụm nước cúi đầu xoa mặt. Xoa tới lui mãi đến chán chê, cũng là lúc tôi chợt nhận ra tôi quên mở xách tay lấy khăn lau.

Vừa xoay lui tôi bắt gặp ngay hai chiếc khăn lông trắng tinh máng sẵn ở vách ngăn. Trên một bệ nhỏ tiếp nối tấm gương, cây kem đánh răng và chiếc bàn chải còn chưa khui hộp. Tôi khen thầm Bằng quá chu đáo!

Tôi quyết định không thay đồ ngủ, thả ngửa lên giường. Bộ nệm quá êm ái. Tôi nhớ chiếc phản gỗ của nhà trọ và ở nhà ba mẹ Hưng. Tôi ao ước sau này đi làm có tiền sẽ ưu tiên cho… êm ái! Nhưng hiện tại, hiện tại thật gai góc. Tôi không biết phải ứng xử thế nào cho qua hai ngày lê thê xem chừng lành ít dữ nhiều. Hai ngày đó hẳn phải thường “vật lộn” với những người rõ ràng có học vấn cao hơn, nhiều kinh nghiệm trường đời hơn. Chỉ sơ sẩy một lời nói, một cử chỉ là tương lai tan tành. Hưng đã tưởng nhờ cậy sĩ quan bảo lãnh thì tôi dễ dàng vượt ải khám xét, dễ dàng hành động. Anh nào biết tôi đã phải trải qua những giây phút căng thẳng đứng tim. Anh lại càng không biết cái tên bạn học của anh đã đẩy tôi vào hang ổ của Võ Bằng! Riêng mỗi Võ Bằng cũng đã nhiều móng vuốt…
Từng thớ thịt như đang giãn nở và mắt cứ muốn híp lại. Ngọn đèn trên trần vẫn sáng chói dù mắt tôi đã híp. Nhưng tắt đi thì chắc chắn tôi càng không ngủ được dù tôi vốn quen ngủ không đèn. Tôi không sợ ma nhưng ở đây thì sợ người. Tôi trở mình nằm nghiêng, mặt hướng ra ngoài. Ở vị trí này tôi có thể thỉnh thoảng nhướng mắt canh chừng…

Gian buồng chật hẹp phát đều tiếng động rầm rừ, lạch cạch, lách cách chen với âm xạc xào, bùm bụp, đì đùng. Tôi nghe mãi nghe hoài và thiếp đi…

Chương 3

Hải phận Bình Định
Thứ sáu 4/8/1967 23:45G

Tiếng còi “te-tít, te-tít, te-tít” rền rĩ. Tôi choàng tỉnh, tim thùm thụp đập. Siết chiếc gối vào ngực và mở mắt, tôi thót người. Mọi hình ảnh đều lạ hoắc lạ huơ. Đây là đâu? Ai mang tôi đến đây? Tại sao tôi lại nằm trên chiếc giường êm ái này? Tiếng động gì mà cứ rầm rì, bùm bụp, xạc xào? Và tôi nhớ ra là đang ở trên một chiến hạm cùng tiếng còi đổi phiên hải hành.

Tôi nhấc cổ tay xem đồng hồ: 11 giờ 45. Tôi đã ngủ được bao lâu? Đang buổi trưa hay khuya? Trong lòng con tàu, ngày đêm giống nhau, lúc nào và nơi nào cũng được tỏa sáng bằng những ống huỳnh quang. Tôi lắng nghe động tĩnh. Ngoài các dị âm đã quen tai, không có tiếng động đáng nghi ngờ.

Tôi cũng cảm nhận con tàu không còn nhấp nhô, lay lắc.

Tôi trở người nằm ngửa. Ánh đèn huỳnh quang chói chang. Một khối tròn như trăng rằm mọc trên vách cuối giường. Đó là chiếc đồng hồ tôi mới gặp lần đầu. Vòng ngoài ghi số lớn, bắt đầu từ đỉnh với số 00, 1, 2… đến số 23. Vòng số nhỏ nằm trong, bắt đầu với số 00, 5, 10 … đến số 55. Cũng có ba cây kim chỉ giờ, phút, giây. Tôi suy ra giờ chiến hạm hiện là 23 giờ 45 phút. Mười lăm phút nữa là tới nửa đêm. Tôi đã ngủ nhiều lắm là ba tiếng. Khỏe đâu không thấy chỉ thấy mỏi mệt hơn.

Tôi hít vào cho đến khi không khí thật đầy phổi và bụng, đếm đến 3 rồi thở ra. Tôi làm lại vài lần. Nghe đâu đây thoang thoảng mùi khói. Chắc chắn không phải là mùi chiến hạm. Mùi khói không còn kinh dị mà thơm dịu. Mùi thuốc lá thơm tôi ngửi ở phòng ăn. Tôi xoay vào vách, ngửi chiếc gối. Cái gối cũng là mùi đó. Có lần tôi than phiền mùi Bastos khét lẹt. Hưng bảo tiết kiệm để mua nhà, làm đám cưới. Tôi đành chịu đựng.

Có tiếng văng vẳng và tiếng đóng cửa như là cửa của tủ lạnh. Tôi bỗng nghe cổ khô khốc. Tôi lồm cồm ngồi dậy, bước chân không đến mở chiếc xách lấy đôi dép. Rồi đi rửa mặt, chải lại tóc.
Tôi lần lượt vén hai bức màn để vào phòng ăn. Võ Bằng đang ngồi ở chiếc ghế tôi ngồi ban chiều. Thấy tôi, anh chàng có vẻ ngạc nhiên:

– “Chỗ lạ, khó ngủ phải không?”

– “Ngả xuống giường là thiếp đi, không còn biết trời biết đất!” Tôi cười gượng.

– “Nhưng còn biết biển chứ?” Võ Bằng chế nhạo.

– “Thấy Đại úy mới biết!” Tôi đáp trả.

– “Và thấy khỏe?” Võ Bằng mỉm cười.

– “Chút chút!”

Đáp xong tôi mới biết bị lừa. Tôi như thú nhận có chút khỏe là nhờ thấy Bằng. Đành đánh trống lảng:

– “Còn mệt đừ nhưng khát quá phải mò ra đây kiếm nước.”

– “Cô thích nước lạnh hay nước ngọt?”

Anh Đào đã cho biết nước trên tàu có vị lờ lợ, khó uống. Tôi nhìn anh chàng sĩ quan đang pha cà phê, thấy thèm nhưng chợt nhớ đã nửa đêm mà chơi cà phê thì hết ngủ. Thôi thì giữa hai thứ, dại gì không chọn thứ ngon. Tôi nói:

– “Xin cho nước ngọt.”

– “Thứ nào?”

Đáng ghét thật. Thứ nào tàu có cho thứ ấy, cứ làm như nhà hàng. Tôi chọc quê bằng cách nói thứ tôi thích nhưng hiếm có trên thị trường:

– “Nếu có thể, xin cho lemonade.”

– “Mời cô Phượng ngồi. Ăn sáng, cô có thể ngồi bất cứ ghế nào. Nhưng trưa và chiều phải ngồi đúng ghế, nghĩa là ghế tôi đang ngồi.”

Tôi nhớ lại lúc Võ Bằng giới thiệu các sĩ quan, các Thiếu úy ngồi cuối bàn, các Trung úy ở giữa, Đại úy Bằng bên tay mặt của Hạm Trưởng, tên Đại úy Mỹ bên tay trái. Thì ra tôi được tiếp đãi như một… thượng khách! Đã không thấy vui mà càng khổ thân; ngày hai buổi phải đối mặt với tên Mỹ khốn kiếp! Tôi cằn nhằn:

– “Đại úy làm ơn cho tôi ngồi tuốt dưới kia. Chỗ này của Hạm Phó mà!”

– “Cô quên rồi sao? Cô là thân nhân của tôi!”

Nằn nì cũng vô ích. Với Võ Bằng, coi như ván đã đóng thuyền. Thì cứ trực diện kẻ thù, để thêm căm thù. Thậm chí ngay lúc này, lẽ ra tôi ngồi đối diện Võ Bằng cho phải phép, nhưng tôi kéo chiếc ghế cạnh ghế tên Mỹ. Tôi không muốn ngồi lên ghế của hắn.

Võ Bằng đang mở cả hai cánh cửa tủ lạnh đặt cạnh bàn pha cà phê. Tủ lạnh to gấp đôi tủ lạnh thường dùng ở nhà. Cả bốn ngăn gần như trống trơn, chỉ ít hộp trái cây và vài tô nhựa có nắp đậy. Ngăn dưới cùng chứa các chai nước ngọt để chồng lên nhau. Võ Bằng khom người lục lọi và cầm lên một chai. Đúng là lemonade. Anh chàng bước qua bàn cà phê, lấy cây khui nắp, nhấc một chiếc ly trên giá, rót một nửa, mang cả hai đến đặt trước tôi.

– “Không biết là cô hay tôi may mắn! Thường thì tủ lạnh trống trơn khi hết công tác.”

– “Cám ơn Đại úy, dĩ nhiên người may mắn là tôi. Thật tình mà nói, tôi có ý chọc quê Đại úy. Tôi đã nghĩ tàu làm gì có lemonade.”

– “Thì cô hẳn biết, mỗi người một ý thích. Mười quan trên tàu này chứng minh điều đó. Ông Hạm Trưởng thì chỉ nước đá lạnh. Tên Mỹ thì chỉ Coke, các quan thì không ai giống ai.”

– “Còn Đại úy?”

– “Tôi à? Tôi bắt đầu thích… lemonade.”

Anh sĩ quan quay lại nhìn tôi mỉm cười. Tôi nâng ly lemonade uống cho tới cạn. Vị ngọt lần này có pha vị ngọt trong lời của Võ Bằng. Tôi rót thêm vào ly. Chiếc ly thủy tinh in hình mỏ neo tuyệt đẹp…

– “Xin phép Hạm Phó, tôi lên Đài Chỉ Huy trước.”

– “Thiếu úy ký nhận phiên, tôi lên trễ một chút! Thấy gì bất thường, cho tôi biết ngay.”

– “Đáp nhận, thưa Hạm Phó.”

Tôi đã thấy bảng tên. Thiếu úy Hoàng Văn. Bằng chào đáp Thiếu úy Văn rồi quay nhìn tôi:

– “Bình thường thì tôi không đi phiên, chỉ tạm thay khi có sĩ quan đi phép, đau yếu.”

– “Thì ra làm Hạm Phó… khỏe re!”

– “Khỏe re như con bò kéo xe!”

Chúng tôi cùng cười rồi cùng lặng thinh. Tôi tránh đôi mắt của Bằng, cố nghĩ xem sẽ hỏi gì để tránh bị… tấn công. Chợt nhớ lời Bằng vừa nói với Thiếu úy Văn ‘Thấy gì bất thường cho tôi biết ngay’, tôi hỏi:

– “Đại úy nói ‘cho tôi biết ngay’ là cho biết thế nào? Đài Chỉ Huy hẳn ở trên cao, từ đó chạy xuống đây qua mấy cầu thang thẳng đứng thì đâu còn ‘biết ngay’ nữa!”

– “Chiến hạm có điện thoại nội bộ từ Đài Chỉ Huy đến các vị trí quan trọng như phòng Hạm Trưởng, phòng họp sĩ quan, phòng chiến báo, phòng truyền tin, hầm máy…”

Tôi nhìn ống liên hợp gắn gần khung cửa, ngang ghế ngồi của Hạm Trưởng. Tiếng của Võ Bằng như phát ra từ đó:

– “Tôi nhận cô là ‘thân nhân’ mà cả tôi lẫn cô chả ai biết ai là ai! Còn 20 phút nữa tôi sẽ lên Đài Chỉ Huy, chúng ta mỗi người có 10 phút kê khai tiểu sử. Mời cô nói trước.”

– “Tiểu sử!” Tôi kêu lên. “Nghe ghê quá! Tôi quê mùa mà tiểu sử tiểu siếc gì!”

Võ Bằng im lặng như một hình thức không chấp nhận. Tôi tìm cách hoãn binh để duyệt lại tiểu sử giả của mình. Tôi nói:

– “Đại úy nói tiểu sử của Đại úy trước đi.”

– “Một yêu cầu thông minh. Nhưng nghe xong rồi mà cô… chạy làng là không được đó. Nên nhớ cô đang ở trên tàu, có chạy trời cũng không khỏi nắng.”

Lời của Võ Bằng gợi tôi nhớ câu thơ ‘Con Cóc là cậu ông Trời…’, tôi mỉa:

– “Tôi biết chứ. Đại úy là… cậu ông Trời mà!”

Võ Bằng lườm tôi:

– “Tôi sinh ở một làng thuộc tỉnh Châu Đốc. Cha làm công chức, mẹ buôn tảo bán tần. Ông bà có năm người con, tôi lớn nhất. Khi tôi lên đại học được một năm thì xem ra ba má tôi đã đuối sức. Nhân Hải Quân mở khóa sĩ quan, có thằng bạn rủ rê, tôi gia nhập. Về đường thê tử thì rất long đong. Thê thì định cưới cô nào là cô đó bỏ đi lấy chồng. Còn tử thì không biết có hay không. Hết!”

– “Gia cảnh của Đại úy quá độc đáo!” Tôi cười lớn. “Còn đường công danh, xem ra Đại úy đi lính chỉ để cha mẹ bớt gánh nặng chớ đâu phải vì yêu nước, phải hôn?”

– “Đúng như vậy. Nhưng vào lính rồi mới thấy quyết định đó đúng hết chỗ nói! Tôi ra trường vào thời điểm ông Diệm bị giết, các tướng tranh giành quyền lực, quân đội suy yếu, Việt Cộng mở những cuộc đánh lớn.”

– “Và Mỹ nhảy vô đô hộ!”

– “Mỹ đô hộ? Cô nghe cộng sản tuyên truyền rồi! Pháp thì có đô hộ nhưng Mỹ thì không. Họ đến vì chính quyền yêu cầu tiếp sức.”

– “Tiếp sức? Tiếp sức kiểu gì mà giết Tổng Thống của người ta!”

Bằng nhìn tôi đăm đăm. Tôi cúi nhìn tấm nỉ xanh phủ mặt bàn. Tôi vừa rót phần lemonade cuối cùng vào ly vừa giận mình quá nhạy miệng. Lẽ ra tôi phải giả vờ ngu dốt thời sự. Tôi đưa ly lên môi, tìm lời điều chỉnh nhưng Võ Bằng đã lên tiếng:

– “Ở Đại học Sư phạm, có sinh viên tham gia biểu tình chống Mỹ?”

– “Cũng có.” Báo chí đều đăng, tôi không thể nói không.

– “Cô có dự?”

Cái điều tôi lo sợ đã đến. Tôi buộc phải nói dối:

– “Không!”

Võ Bằng vẫn chiếu tia mắt ngờ vực:

– “Rất tốt! Hãy dành hết thì giờ cho việc học. Được miễn học phí, được làm giáo sư, vinh dự biết bao. Đừng dại dột nghe cộng sản, bị đuổi học, uổng lắm.”

Tôi nóng mặt, thẳng thừng:

– “Tôi không ưa cái giọng thầy đời của Đại úy. Tôi… tôi…”

– “Đủ rồi, cô Phượng. Có dịp chúng ta bàn tiếp nơi khác. Trên chiến hạm, chính trị bị nghiêm cấm. Bây giờ đến lượt cô.”

Tôi nhìn đồng hồ. Đúng là đến 10 phút của tôi. Tôi quyết định nói thật tiểu sử của mình. Chỉ dùng tên giả là đủ an toàn rồi, cần gì nhớ thêm thân thế của nhân vật giả. Nói dối không quen, sao khỏi lầm lẫn chân giả, giả chân. Tôi nói:

– “Tôi sinh ra ở Vĩnh Long. Ba má đều là giáo sư trung học Tống Phước Hiệp. Tôi đang học năm thứ hai Đại học Sư phạm Sài Gòn. Chưa dám yêu ai. Hết!”

– “Tiểu sử của cô cũng quá độc đáo, ngắn kỷ lục!” Võ Bằng nhìn đồng hồ. “Cô còn 8 phút nữa.”

– “Tiểu sử chỉ có thế, không còn gì thêm. Chỉ còn một thắc mắc lớn: Vì sao cùng khóa mà anh Đính còn mang Trung úy. Chắc anh ấy bê bối lắm?”

– “Đính nổi tiếng siêng năng, đàng hoàng. Hắn sẽ được thăng cấp một ngày rất gần. Trong quân đội việc thăng cấp dựa vào tiêu chuẩn tính điểm. Như kỷ luật, năng lực, thành tích, chức vụ. Phải không bị phạt, hoàn thành mọi công tác, được ân thưởng huy chương và nhất là được đề bạt một chức vụ có cấp bậc cao hơn.”

– “Như chức vụ Hạm Phó của Đại úy Bằng?”

Cái bản mặt thần tượng ciné nở nụ cười tươi:

– “Đúng. Nhưng để được chức vụ Hạm Phó, tôi phải đạt các yếu tố còn lại. Kỷ luật của tôi không được mấy ngon lành nhưng nhờ các yếu tố khác ngon lành hơn nên bù qua sớt lại. Khi còn là Sĩ quan Đệ tam tôi được gửi qua Mỹ lãnh tàu. Suốt sáu tháng đầu tiên tôi được học bổ túc hải nghiệp như hàng hải thiên văn, luật hàng hải quốc tế. Rồi thêm nửa năm on-the-job-training, nghĩa là học hỏi và thực tập sử dụng các máy móc dụng cụ tân trang hiện đại cho chiến hạm. Sau đó là suốt hơn một tháng hải hành liên tục từ Mỹ về Sài Gòn. Khi đi, tôi là Sĩ quan Đệ tam; khi về, tôi lên Sĩ quan Đệ nhị. Nói cho đúng, cũng nhờ có thêm thành tích trận Vũng Rô. Cô có nghe về trận Vũng Rô?”

Đó là thời điểm tôi mới yêu Hưng. Anh đã tức giận, than thở, buồn phiền mấy tuần liền trước tin con tàu chở quân dụng tiếp viện cho quân Giải phóng bị bắn chìm và vô số vũ khí đạn dược bị tịch thu. Vụ này quá lớn, cả Sài Gòn xôn xao, tôi không thể nói không biết.

– “Có, tôi có nghe!”

– “Tôi tham dự trận đó, được ân thưởng huy chương vàng, nhờ đó thêm số điểm đáng kể.”

– “Ồ!” Tôi ngạc nhiên kêu lên cùng với nỗi xót xa. Thì ra, kẻ góp phần đã gây đau buồn cho người tôi yêu là tên ngồi đối diện. Nên hắn có chết cũng đáng kiếp.

Tôi nhìn đồng hồ. Đã qua 7 phút. Còn chưa đầy 3 phút. Chẳng lẽ đứng lên chào về buồng, mà ngồi lại thì cặp mắt Võ Bằng cứ nhìn tôi chăm bẳm. Anh chàng nâng tách cà phê, tôi biết, ngay khi đặt ly xuống, thế nào cũng buông câu tán tỉnh. Bèn vội nói:

– “Mình đang ở đâu, Đại úy?”

– “Không thể nói chính xác. Mình đã đi được ba tiếng. Có lẽ sắp rời vùng biển Bình Định, vào lãnh hải Phú Yên.”

– “Mới nghe tên lần đầu! Đại úy có đến Phú Yên?”

– “Cô có đến Bình Định?”

Tôi ngớ người, Võ Bằng cười, tiếp:

– “Dĩ nhiên là cô có đến Bình Định, nhưng cụ thể thì cô chỉ viếng cùng lắm là tỉnh lỵ Quy Nhơn và vài danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Còn bao nhiêu thành phố làng xã trong tỉnh cô chưa đi tới. Có phải không? Tôi cũng vậy, thậm chí chỉ mới dạo qua một đoạn đường của phố Tuy Hòa. Riêng thị xã Sông Cầu và Duyên Đoàn đồn trú ở đó thì tìm hiểu kỹ hơn.”

Cái lối ăn nói chi li, lòng vòng nghe chướng tai. Tôi hết muốn hỏi hay nghe thêm. Chỉ mong anh chàng đứng lên. Nhưng Võ Bằng vẫn ngắm nhìn. Thôi ráng chịu đựng vậy. Chỉ còn một phút mong manh nữa hắn buộc phải lên Đài Chỉ Huy. Đài Chỉ Huy! Thêm vào danh sách một từ lạ nữa từ khi xuống tàu: Hạm Trưởng, Hạm Phó, hạm kiều, hàng hải thiên văn… những danh từ nghe hấp dẫn. Đài Chỉ Huy hẳn là nơi dành cho giới chỉ huy. Cho nổ một phát là một đống quan đi đứt, mong là gồm cả Võ Bằng!

Anh chàng uống cạn tách cà phê. Tôi uống cạn ly lemonade. Tôi liếc nhìn đồng hồ, vừa hết giờ. Võ Bằng đứng lên, giọng ân cần:

– “Cô nên tiếp tục ngủ. Nếu thích đọc sách thì có một số trên kệ. Tàu đang xuôi sóng, hết lắc rồi, hết mửa rồi, đọc sách được lắm!

– “Tôi thích lên Đài Chỉ Huy hơn. Để về khoe bạn bè.”

– “Cô không là người yêu thủy thủ, không được phép!”

– “Nói thật, tôi quá ghét cái lối móc họng của Đại úy.”

Võ Bằng cười như hài lòng vì đã chọc được tôi nổi quạu, tuy vậy lại đổi giọng ân cần như lời xin lỗi:

– “Tôi sẽ dứt phiên hải hành vào lúc 4 giờ. Nếu cô không ngủ được và thấy đói bụng, tôi sẽ tặng cô tô mì ăn liền!”

Tôi định nói ‘không thèm’ nhưng chợt nhận ra anh chàng đâu phải là Hưng mà nhỏng nhẻo. Bằng nói ‘Hẹn gặp’ rồi rời phòng. Tôi vừa lầm bầm vừa bước về buồng. Hai túi xách còn nguyên chỗ. Tôi đi thẳng vào khu vệ sinh rồi lại ngả lên giường.

Đúng như Bằng nói, tàu xuôi sóng rất êm nhưng tôi cảm thấy chính tôi mới còn lắc lư. Ngọn đèn trên trần quá chói mắt, tôi ngồi dậy, bước qua mở đèn ở bàn và tắt đèn trên trần. Ánh sáng rực chiếu mặt bàn bọc formica xanh soi rõ từng gương mặt trong hai khung ảnh. Một khung ảnh là gia đình Võ Bằng. Anh chàng trông giống mẹ nhiều hơn cha. Hai chị em thì ngược lại. Tất cả đều tươi cười hạnh phúc. Khung ảnh kia là nàng thiếu phụ bồng con, phải chăng là hai nhân vật Võ Bằng ám chỉ qua ‘tiểu sử’ vừa kể? Nếu tôi nêu thắc mắc, liệu Võ Bằng có cho tôi quá tò mò? Mà cũng chắc gì anh chàng chịu nói!

Chiếc giường thật êm như đang san sẻ cơn mỏi mệt của tôi. Kể ra anh chàng Bằng gian nan sóng gió rất xứng đáng được đền bù. Còn mình, thật mỉa mai, được hưởng là nhờ mưu đồ tiêu diệt chủ nhân của nó. Luồng gió điều hòa từ khe hở trên trần về khuya trở nên lạnh hơn. Tôi đặt chiếc gối lên ngực và giấu hai cánh tay vào trong. Chiếc gối mềm mại, ấm áp. Điệp khúc rầm rì, xào xạc, bùm bụp làm đầu óc lung tung nghĩ ngợi.

Anh Đào đã căn dặn là vào lúc gần sáng, mọi người còn ngủ say, đi thám sát địa điểm đặt bom là tốt nhất. Tôi cũng thừa biết nhưng bây giờ chỉ mới nửa đêm. Bằng nói sẽ mãn phiên vào bốn giờ. Ăn mì xong thì vẫn còn quá sớm. Mà vội chi, còn nhiều thì giờ mà…

Có tiếng động ở phòng ăn. Tôi ngồi dậy, nằm trở đầu nhìn ra ngoài và lắng nghe. Ở vị thế này, tôi thấy an tâm hơn. Bất cứ ai bước vào buồng, tôi có đủ thì giờ tự vệ.

Nhưng tự vệ thế nào trường hợp hàng chục trai tráng được rèn luyện đánh đấm chí tình ra tay cùng lúc. Có vẫy vùng gì thân thể cũng sẽ nát như tương. Chỉ còn mối hy vọng họ không tàn ác như lời đồn. Hay ít ra cũng phải nể mặt Võ Bằng. Thân nhân của Hạm Phó mà! Nhưng nếu chính Võ Bằng?

Tôi chợt nhớ đến ba má tôi và nghe rùng mình. Trời ơi, mãi đến lúc này tôi mới nghĩ tới hai người thương yêu và tin tưởng tôi nhất. Ông bà đâu có ngờ con gái mình quá liều lĩnh. Khi nhận lời công tác, tôi không hề nghĩ tới cha mẹ, chỉ lo sợ Hưng giận, chỉ biết chiều lòng người yêu. Lỡ tôi có mệnh hệ nào. Tôi không dám nghĩ tới…

Đúng lúc đó, qua khe hở của chiếc màn và khung cửa, tôi thấy bóng dáng to kềnh của tên Mỹ dừng ngay trước cửa buồng. Tôi nín thở, chuẩn bị thế võ, chờ hắn bước vào. Nhưng hắn biến mất, hẳn là đã vào buồng hắn. Tôi thở phào…

Gian buồng càng khuya càng lạnh, Võ Bằng để cái mền ở nơi nào? Trong tủ đứng hay tủ nằm? Ngăn thứ mấy? Thôi đành chịu lạnh. Tôi nằm nghiêng, ôm chiếc gối vào ngực, một bàn tay giấu vào cái gối ở ngực và bàn tay kia luồn dưới gối kê đầu. Hóa ra dưới cái gối kê đầu là chiếc mền lông cùng màu trắng với tấm drap, được xếp nhiều lớp đặt nằm vắt ngang cuối giường.

Tôi tung chiếc mền ra, trùm kín người. Tôi cảm thấy ấm dần. Tôi lại nghĩ đến ba má tôi, đến căn phòng riêng của tôi trong căn nhà xinh đẹp ở Long Hồ, gần cầu Thiềng Đức. Tôi nhớ chiếc giường với tấm nệm mỏng manh, cặp gối thêu hoa hồng, con chó bông trên thành cửa sổ…

Những lời mơ hồ đâu đó vẳng bên tôi: “Tay lái bên phải. Tay lái bên trái. Máy tiến. Máy lùi…” Tôi nghe tiếng còi dài. Tôi thấy một hàng lính thủy áo trắng giơ tay chào.

Con tàu êm ả cập cầu. Hai thủy thủ đang hạ hạm kiều. Tôi xách hai chiếc bị bước lại gần cầu thang. Công tác hoàn tất. Quả bom đã được đặt ở phía trong của chân bàn ăn sĩ quan, chỗ Hạm Trưởng, Hạm Phó và tên Mỹ ngồi. Đó là nơi kín đáo khó ai phát giác. Càng may mắn cho tôi là tại bàn ăn sẽ có buổi họp phân công cho sĩ quan ngay sau khi tàu cập bến, cũng là lúc tôi đặt quả bom với thời chỉnh đúng 30 phút.

Tôi đã sợ toát mồ hôi khi phải chờ gặp Hạm Trưởng để nói lời cám ơn và từ giã. Mất thêm vài phút để lên đến hạm kiều. Lại thêm vài phút để Võ Bằng dặn dò toán canh gác. Tôi cố kềm cái ước muốn nhảy đại lên bờ bỏ chạy thật xa. Đâu có gì bảo đảm quả bom không nổ sớm hơn. Và tôi cũng toi đời.
Tôi đã nói với Võ Bằng miễn tiễn đưa nhưng anh chàng cứ khăng khăng giành lấy hai túi xách. Chúng tôi tiến đến chiếc xích lô còn đậu như chờ tôi trở lại. Tôi leo lên xe. Bằng đặt nhẹ hai cái xách lên chỗ để chân rồi đặt hai ngón tay lên môi. Rồi thả ra.

– “Cám ơn Đại úy về mọi giúp đỡ.” Tôi thành tâm nói.

– “Mong tái ngộ.” Bằng tha thiết nói rồi quay mặt thất thểu bước.

Tôi yêu cầu bác xích lô cho tôi vài phút. Tôi nhìn chiến hạm lần cuối. Nó cập hướng mũi ra cửa biển như khi khởi hành. Chỉ một thời gian ngắn nữa tôi sẽ trở thành kẻ giết người. Tôi vẫy tay chào vĩnh biệt khối sắt có chiếc giường nệm thật êm. Vĩnh biệt Hạm Trưởng và thủy thủ đoàn. Xin chúc ngàn thu an giấc.

Bằng dừng lại giữa hạm kiều. Anh nghiêng mặt nhìn tôi. Khuôn mặt Burt Lancaster tôi ưa thích. Ánh nhìn đắm đuối thiết tha. Thế đứng gợi tôi ngày được anh tiếp đón và những đãi ngộ tốt đẹp nhất sau đó. Tôi nao nao buồn đưa hai ngón tay lên môi, thầm chúc anh sống sót và mong cầu còn dịp gặp lại nhau trên cõi đời này. Rồi tôi nhờ bác phu xe đạp nhanh về đường Trần Cao Vân như muốn sớm giao tội ác lại cho Hưng. Vừa khi chiếc xích lô ngang qua chùa Long Khánh, một tiếng nổ lở đất long trời vang lên…

Tôi choàng mở mắt. Đầu óc lơ mơ hình ảnh con tàu đang từ từ chìm. Không phải tiếng nổ mà tiếng còi te-tít, te-tít, te-tít… Tôi mở mắt, định thần. Trên trần không phải là hình ảnh quen thuộc của căn buồng nhà ba má tôi. Nó lờ mờ những khung sắt, những đường dây, những ống dẫn. Ngọn đèn huỳnh quang rọi hai khung ảnh trên bàn … Tôi chợt nghe cơn lạnh chạy dài theo cột sống. Tiếng còi đổi phiên. Tôi xem đồng hồ: 3:45. Đúng rồi, tiếng còi đổi phiên hải hành. Tôi còn ở trên chiến hạm…
Giấc mơ của tôi sao lạ lùng! Rõ ràng con tàu đã nổ đúng thời chỉnh nhưng không nổ ở bến Bạch Đằng mà lại chính tại cái bến tôi vừa ra đi…

Giấc mơ gợi điềm báo gì? Lành hay dữ?

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)