Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 2 (chương 12 & 13)

0 bình luận ♦ 14.08.2023

Chương 12

Hải phận Bình Thuận
Chủ nhật 6/8/1967 02:00G

Chương trình văn nghệ lai rai chấm dứt vào 11 giờ khuya. Đã lâu mới được ca hát thoải mái nên lòng còn tiếc nuối. Tôi theo Võ Bằng xuống khu sĩ quan. Khi đứng trước cửa buồng ngủ ‘của tôi’, anh chàng nói nếu tôi thích lên đài chỉ huy ngắm cảnh về khuya thì ra phòng ăn khi nghe còi báo đổi phiên hải hành. Lời mời hấp dẫn xem chừng lấn lướt cơn mệt mỏi. Tuy vậy tôi trả lời lửng lơ “để xem”.

Tôi nhanh chóng tắm gội, mặc lại bộ đồ cũ và ngả lên giường. Chưa kịp nghĩ gì thì đã chìm vào giấc ngủ mê man.

Rồi tiếng còi báo đổi phiên dội vào tai đủ để gợi tôi nhớ Võ Bằng đang đợi ở phòng ăn. Tôi tự hỏi ngủ tiếp hay theo Võ Bằng lên đài chỉ huy? Ngủ tiếp thì dễ dàng và mặc sức ngủ khi về nhà trong khi đêm nay là đêm chót của chuyến đi nghìn năm một thuở trên tàu này. Ngày mai, vào lúc nào đó tôi sẽ xa rời vĩnh viễn. Vào lúc đó, theo dự trù, nhiều người tôi bắt đầu cảm mến sẽ tan xác cùng con tàu. Tôi muốn dành hết thì giờ còn lại để nhìn thật kỹ sự việc, để đánh giá thật đúng công tác tôi đang thực hiện…

Khi bước ra phòng ăn thì Võ Bằng và Thiếu úy Hoàng Văn đã ngồi đó tự bao giờ. Thấy tôi, Võ Bằng nở nụ cười tôi tin chẳng bao giờ quên được. Nụ cười hài lòng và hạnh phúc khác hẳn nụ cười xã giao của Thiếu úy Văn.

Ly trà đá trước anh chàng chỉ còn một nửa. Ly trà đá trước chỗ ngồi của tôi thì đầy ắp. Hộp bánh LU đang mở nắp. Tôi ngồi xuống đúng lúc Thiếu úy Văn đứng lên. Anh mang tách cà phê bỏ vào bồn rửa rồi xin phép rời phòng.

Tôi nâng ly cụng vào ly của Võ Bằng rồi đưa lên môi. Mùi hương của trà Lipton không bằng trà Bảo Lộc nhưng vị thì nghe thật ngọt ngào. Tôi uống một hơi, nhắm chừng còn bằng ly của Võ Bằng thì ngưng lại. Tôi tin rằng anh chàng hiểu đó là cách tôi thay lời cám ơn đã pha cho ly trà.

Bằng đưa tôi chiếc bánh LU:

– “Nên ăn, vì thức khuya sẽ thấy đói.”

Tôi cám ơn và cắn đôi. Nếu Bằng là Hưng thì tôi đút cho anh nửa còn lại. Tôi ăn hết và lấy thêm…
Võ Bằng lặng lẽ nhấp từng ngụm. Khi chiếc ly đã cạn, anh chàng không đặt xuống bàn mà lại đưa lên mắt. Rồi anh chàng nghiêng mặt sang tôi, đưa chiếc ly từ mắt phải sang mắt trái rồi ngược lại. Tôi ngượng nghịu nói:

– “Tôi xấu quá phải hôn?”

– “Phải! Cô thật xấu. Tôi mừng thấy cô thật xấu cho … dễ quên!”

Tôi uống vội vàng để đè nén nỗi xúc cảm. Khi đặt ly xuống, nỗi xúc cảm tiêu tan… Võ Bằng lặng lẽ mang hai ly bỏ vào chậu rửa, rồi ra dấu tôi theo lên đài chỉ huy.

Thấy tôi, Thiếu úy Hoàng Văn ngạc nhiên:

– “Cô Phượng cũng đi ca tiên?”

– “Ca tiên?” Nghe từ ngữ lạ, tôi hỏi.

– “Là tên gọi cho phiên trực hải hành từ nửa đêm tới 4 giờ sáng.” Võ Bằng nhanh nhẩu.

– “Vì sao gọi là ca tiên?”

– “Có thể nó mang nghĩa ca trực đầu tiên trong ngày. Cũng có thể do giờ giấc của nó dễ gặp tiên nữ chăng?”

– “Đại úy chắc đã nhiều lần gặp tiên nữ?” Tôi trêu chọc.

– “Chưa lần nào, nhưng đêm nay thì đã gặp. Và sau đêm nay thì xem chừng chẳng bao giờ còn gặp nữa.”

– “Tôi thì sợ gặp… tiên ông!” Tôi nói.

Chúng tôi cười vang. Võ Bằng, Thiếu úy Văn và Trung úy Bạch, Thiếu úy Ấn bàn giao phiên hải hành. Tôi nhìn quanh. Một người đang giữ tay lái, hai người đứng hai bên đều có vóc dáng trung bình. Không thấy bóng dáng tên Mỹ. Trung úy Bạch và Thiếu úy Ấn rời đài chỉ huy. Võ Bằng và Thiếu úy Văn chính thức nắm vận mạng con tàu. Tôi nghe niềm hãnh diện dâng lên. Trăm năm đô hộ không cản được tài ba của dân Việt. Tôi đứng khoanh tay lên thành đài, thưởng thức không gian êm ả thanh bình, sảng khoái dõi mắt trên mặt đại dương. Không bóng tối nào ngăn được vẻ long lanh của các ngọn sóng. Và bầu trời cũng chia vui với vô vàn vì sao lấp lánh. Càng ngắm tôi càng ngạc nhiên. Ở biển, bầu trời về đêm sâu thẳm và lộng lẫy, không như bầu trời thành phố vàng vọt, sao thưa thớt. Tôi nhớ đến bầu trời màu xanh ban ngày.

Khi Võ Bằng bước đến đứng bên tôi, tôi hỏi ngay:

– “Đại úy đã giải thích vì sao bầu trời màu xanh, bây giờ tôi thấy bầu trời màu đen…”

– “Thì ban đêm nó phải đen, chứ sao! Chúng ta đều biết ban ngày thì sáng, ban đêm thì tối!”

– “Đại úy đã căn dặn tôi phải hỏi ‘vì sao’?”

– “Có câu nói tôi không nhớ của ai: ‘Nếu chưa đứng vững trên đất thì đừng nói chuyện trên trời.’
Hôm nay tôi nhớ lại câu đó nên xin… ngậm miệng!”

– “Chớ không phải Đại úy bị… bí? Người ta nói ‘nếu không đứng vững trên đất’ chớ có nói ‘trên biển’ đâu mà không được bàn chuyện trên trời!”

– “Với cô, thật khó mà qua mặt! Quả là tôi bí lù với câu hỏi này. Xin trả lời sau nếu còn có dịp gặp lại!”

Thiếu úy Văn báo Võ Bằng có nhiều đèn phía trước mũi. Võ Bằng ngắm nghía rồi ban lệnh tăng giảm máy và lệnh đổi hướng tránh né các ghe câu. Có khi con tàu cách chiếc ghe chừng năm mười thước, đếm được số người trên ghe. Mãi nửa giờ sau, không gian trở lại mịt mùng và con tàu lại tăng tốc độ.

Khi Võ Bằng trở lại đứng bên tôi. Tôi nói:

– “Bầu trời lộng lẫy quá, như có vô vàn hạt kim cương. Mỗi hạt có độ lấp lánh khác nhau, sắc màu khác nhau.”

– “Tôi coi như cô muốn đặt ra hai câu hỏi. Thứ nhất, vì sao các ngôi sao lấp lánh? Vì ánh sáng từ ngôi sao bị khúc xạ khi qua lớp khí quyển. Thứ nhì, vì sao sắc màu khác nhau? Vì tùy thuộc độ xa, độ lớn, độ nóng, chất liệu và tuổi tác của ngôi sao. Như với ngôi sao màu xanh, ngôi sao đó xa trái đất hơn ngôi sao màu đỏ. Hoặc có màu xanh vì nhiệt độ của nó nóng hơn ngôi sao màu đỏ. Về tuổi tác cũng tương tự. Màu đỏ cho biết ngôi sao ở cuối đời. Câu hỏi kế tiếp…”

Hỏi gì đây? Gió? Biết rồi. Mưa? Biết rồi. Bão? Biết rồi. Võ Bằng lên tiếng:

– “Cô cứ suy nghĩ và tự do đặt câu hỏi. Tôi rất vui được trả lời mọi câu hỏi. Tuy nhiên sẽ vui hơn nếu cô hứa trả lời một câu hỏi của tôi. Một câu hỏi duy nhất.”

Tôi ngại ngần. Câu hỏi duy nhất hẳn phải là câu hỏi khó! Khó nhất thì cũng chỉ là câu ‘Cô có yêu tôi không?’ Sợ gì mà không trả lời có. Dù gì Võ Bằng cũng đã dành cho tôi sự tiếp đãi đặc biệt ân cần. Trả lời có như là một cách cám ơn. Rồi vĩnh viễn không thấy mặt nhau. Tôi hăng hái hứa:

– “Tôi hứa sẽ trả lời.”

Võ Bằng gật đầu cười khoái chí. Vẫn nụ cười tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi lại ngắm khung trời thăm thẳm lung linh để trấn áp nỗi buồn mênh mang ập đến.

Tiếng nhắc nhở của Võ Bằng:

– “Hỏi tiếp đi chớ!”

Tôi lại nhìn lên khung trời ngàn sao và chợt nhớ đến truyện ngắn tôi học lớp đêm ở Hội Việt Mỹ năm rồi. Tôi đã nghĩ đó chỉ là những lời hoa mỹ của một nhà văn. Nhưng đêm nay, ngoài biển xa khơi, tôi thấy lời văn hoa mỹ đó chừng như chưa diễn đạt đầy đủ. Bởi vì chính mắt tôi đang chiêm ngưỡng bầu trời đêm tuyệt vời. Tôi đặt ngay câu hỏi:

– “Đại úy có đọc truyện The Stars của Alphonse Daudet?”

– “‘The Stars’ thì chưa, nhưng ‘Les Étoiles’ thì có. Thời trung học của tôi còn ngoại ngữ Pháp văn nên Alphonse Daudet nằm trong chương trình.”

– “Bầu trời tôi đang chiêm ngưỡng còn đẹp hơn bầu trời của cô chủ Stéphanette nói với chàng chăn cừu: ‘Never had the heavens appeared to me so profound, never the stars so brilliant.’” (1)

– “Tôi thì thích câu tiếng Pháp, nghe… Tây hơn: ‘Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes…’”

Tôi cười thầm. Anh chàng có vẻ muốn khoe mình biết tiếng Pháp chăng? Vậy thì nói thêm một câu tiếng Anh nữa cho bõ ghét:

– “If one has ever passed a night under the stars, one knows that during the hours when most people sleep a mysterious world awakens in the solitude and the silence.” (2)

– “Cô Phượng thuộc cả bài tiếng Anh?”

– “Tôi từng thuộc cả bài nhưng giờ thì quên nhiều!”

– “Đây là câu tiếp theo: ‘Lúc bấy giờ những dòng suối có tiếng ngân trong trẻo hơn, những hồ nước lấp lánh những đốm lửa nhỏ. Các thần linh của núi rừng đi lại tự do; và trong không gian có những xao xuyến, những âm thanh không thể nghe được, tuồng như người ta nghe cây cối tăng trưởng, cỏ hoa mọc thêm’. Trong trường hợp đứng giữa biển mịt mùng như đêm nay, lời diễn đạt trên cần bổ sung thêm một đoạn nữa: và tuồng như người ta nghe được cả nhịp tim của công chúa Thủy tề và nỗi hân hoan của người thủy thủ…”

Lời thêm thắt của Võ Bằng mang cho tôi niềm hưng phấn và bạo dạn. Tôi cao hứng đọc tiếp, đổi tiếng ‘shepherd’ thành ‘lieutenant’:

– “How beautiful the stars are! I have never seen so many. Do you know their names, lieutenant?” (3)

– “Mais oui, Mademoiselle Phượng. Tenez! Juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de Saint Jacques (la Voie lactée).” (4)

Chúng tôi cùng cười phá lên. Mọi người hiện diện quay lui nhìn chúng tôi như hai quái vật. Không ngờ Võ Bằng lại nhạy bén đến thế. Tôi vui thích ngợi khen:

– “Xem chừng đại úy thuộc cả bài tiếng Pháp?”

– “Cũng không hơn gì cô!”

– “Tôi không tài nào nhớ cái đoạn anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao! Vừa khó hiểu vừa có những danh từ riêng lạ lẫm…”

Anh chàng nghiêng mặt nhìn tôi:

– “Vậy thì để tôi thử đóng vai chàng chăn cừu tán hươu tán vượn may ra giúp cô hiểu rõ hơn chăng! Nhưng trước hết tôi phải giao quyền chỉ huy cho Thiếu úy Văn. Cô chờ tôi một chút!”

Võ Bằng bước sang bàn hải đồ, loay hoay đo đạc. Tôi tiếp tục ngước nhìn các vì sao, hít sâu làn gió nhẹ, cố đè nén xúc động. Sao bỗng dưng tôi lại gài Võ Bằng và tôi vào hai nhân vật của một truyện tình tuyệt đẹp? Trong sâu thẳm của tâm hồn, tôi đang có ước muốn đó sao? Chưa bao giờ tôi và Hưng có những giây phút êm đềm thơ mộng như thế này. Hưng quá thực tế. Trong đầu Hưng lúc nào cũng đấu tranh cướp chính quyền, lúc nào cũng tìm phương cách đuổi Mỹ về nước, lúc nào cũng mộng mơ xây dựng một xã hội không có người bóc lột người. Ngay cả khi ngồi bên nhau ở những quán cà phê ngoài trời, tôi cũng không nhận được một lời tình tứ ngọt ngào nào. Thậm chí có lần tôi phải mượn một câu trong một truyện của Bùi Quang Đoài để tỏ lòng mình: ‘Anh hãy đếm những vì sao trên trời, được bao nhiêu thì em yêu anh còn hơn thế nữa’. Hưng nghe mà chỉ cười trừ…

Võ Bằng trở lui đứng bên tôi, hỏi:

– “Cô Phượng thấy ‘The Stars’ ra sao?”

Tôi lại nhìn lên bầu trời rồi thú nhận:

– “Sao nhiều hơn và sáng tỏ hơn ở thành phố… vạn lần.”

– “Tôi muốn hỏi cảm nghĩ về truyện Les Étoiles”.

– “Rất tuyệt! Tôi mê lắm, mê đến thuộc lòng!”

– “Chỉ câu kết thôi cũng đủ ăn tiền, phải không?” Võ Bằng cười khẽ. “Có lúc tôi ngỡ rằng một trong những ngôi sao đó, ngôi sao đẹp nhất, sáng nhất, lạc đường đã đến tựa trên vai tôi mà ngủ….”

– “Đẹp như mơ! Mọi người mê là vì vậy”.

– “Thời đó tôi cũng mê lắm, nhưng sau vào Hải Quân, được học Hàng hải Thiên văn, có dịp nghiên cứu các vì sao mới thấy anh chàng chăn cừu này có phần… ma giáo.”

– “Ma giáo, ma giáo là sao?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

– “Cô chê anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao khó hiểu. Tôi tạm tóm lược đoạn khó hiểu đó: ‘Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường Thánh Jacques (dải Ngân Hà)… Chính Thánh Jacques đã vạch con đường này cho hoàng đế Charlemagne tiến đánh bọn Sarrasins. Xa hơn, là cỗ xe chở linh hồn (Ðại Hùng Tinh) với bốn trục bánh xe sáng rực. Ba ngôi sao đi đầu là ba con vật kéo xe, và ngôi sao bé tí gần ngôi sao thứ ba là người xà ích điều khiển xe… Thấp một chút là sao Ba Ông Vua… Thấp hơn một chút, vẫn về phía nam, là ngôi sao Jean de Milan, ngọn đuốc của các vì sao. Về ngôi sao này, các mục đồng có truyền tụng một câu chuyện như sau. Vào một đêm nào đó, Jean de Milan cùng với sao Ba Vua và sao Poussinière (sao Rua) được mời dự tiệc cưới của một sao bạn gái. Sao Poussinière vội vã hơn nên đi trước và chọn lộ trình cao… Sao Ba Vua đi đường thấp hơn và đuổi kịp; nhưng anh chàng Jean de Milan lười biếng này, vì ngủ dậy trễ, đi lẹt đẹt sau chót, giận dữ đưa cây gậy ra để chận các sao kia lại. Vì thế, sao Ba Vua còn được gọi là cây gậy của Jean de Milan. Nhưng ngôi sao đẹp nhất trong tất cả các vì sao, là ngôi sao của chúng tôi, Ngôi Sao của Kẻ Chăn Cừu (sao Hôm, sao Mai)… Chúng tôi còn gọi sao đó là Maguelonne. Nàng Maguelonne kiều diễm chạy theo chàng Pierre của xứ Provence (Thổ Tinh) và kết hôn với chàng ta cứ bảy năm một lần.’ Câu chuyện mờ mờ ảo ảo, tính danh các vì sao không giống ai, kết cuộc chẳng đâu vào đâu! Vậy có khác gì những lời ru ngủ cho cô chủ vốn đang mỏi mệt vì lạc đường, vì mưa lạnh! Ngồi cạnh kề nhau mà ngủ gục thì đương nhiên nàng phải ngả vào vai chàng! Ma giáo là chỗ đó!”

– “Đại úy có ý tưởng… quỷ quái thật!”

– “Tôi chỉ bông lơn cho vui thôi. Huyền thoại của Pháp về các vì sao đến anh chàng chăn cừu cũng biết thì coi như người Pháp nào mà không biết! Chỉ chúng ta mù mờ vì bận mê… truyện cổ nước Nam!”
Tôi vẫn cảm thấy bực dọc. Dù là ý nghĩ bông lơn nhưng vẫn là một xúc phạm đến nét đẹp của nội dung. Phải chọc quê cho bõ ghét, tôi nói khích:

– “Đại úy trách anh chàng chăn cừu ma giáo. Vậy, với cái tâm trong sáng, đại úy sẽ kể câu chuyện thế nào?”

– “À à! Cô Phượng làm khó tôi chi vậy; có là khùng mới sửa đổi một tuyệt phẩm văn chương. Tôi chỉ dám liều mạng lan man cái đoạn khó hiểu cho nó… dễ hiểu hơn thôi!”

– “Tôi xin lắng nghe.”

– “Trường hợp việc tôi lan man càng khiến cô Phượng thêm khó hiểu, thì hãy như cô chủ của chàng chăn cừu, cô quá giang của chiến hạm cứ tự nhiên… tựa lên vai tôi mà ngủ!”

– “Đại úy! Xin làm ơn…” Tôi ngượng nghịu kêu lên.

– “Trước khi lan man,” Võ Bằng thản nhiên tiếp, “tôi xin có vài lời phi lộ về thiên văn. Như cô đang nhìn thấy và như trong truyện kể, bầu trời quả là sâu thẳm với vô vàn các vì sao. Sâu thẳm là vì nó vô cùng tận. Rồi cô sẽ thấy vì đâu nó vô cùng tận. Còn với vô vàn các vì sao, thì ngay với kính thiên văn, cũng không ai đếm được hết. Tuy vậy, từ năm ngàn năm trước, các nhà thiên văn đã quan sát, nghiên cứu và chọn đặt tên cho chừng vài chục ngôi sao sáng nhất, có lợi ích nhất cho mùa màng và hàng hải. Nhưng việc nhận dạng từng vì sao lại là chuyện khó nên tùy vị trí của chúng, họ đặt chúng thành từng chòm, và hình dung mỗi chòm thành một con người hay một con vật. Và qua hình dạng của nó, họ bịa ra một câu chuyện thần thoại để dựa vào đó mà đặt tên cho chòm sao. Có tất cả 88 chòm sao thấy được bằng mắt thường trên bầu trời, gồm 12 chòm sao Hoàng Đạo, 29 chòm sao ở Bắc bán cầu và 47 chòm ở Nam bán cầu. Cô Phượng theo kịp chứ?”

– “Xin tiếp tục…”

– “Vào thời điểm anh chăn cừu ngồi bên cô chủ ở một trang trại nào đó trên nước Pháp nằm khoảng giữa Bắc bán cầu, bầu trời hiện ra những chòm sao như được kể trong truyện: Con đường của Thánh Jacques tức Dải Ngân Hà, Chòm Đại Hùng Tinh với Cỗ Xe chở Linh Hồn, chòm Lạp Hộ với sao Ba Vua, chòm Đại Khuyển với sao Sirius, chòm Kim Ngưu với cụm sao Rua cùng hai hành tinh Sao Kim và Sao Thổ. Vậy, tôi bắt đầu bằng huyền thoại Dải Ngân Hà…”



Dải Ngân Hà

Tôi chận lời Võ Bằng:

– “Huyền thoại dải Ngân Hà – con đường Thánh Jacques, theo ông thầy tôi giảng thì đó là con đường hành hương từ Pháp sang Tây Ban Nha mà vì tín đồ đi hành hương quá đông, bụi bay mờ mịt thành một dải sáng trông như sữa, nên được đặt tên là La Voie lactée. Mình gọi là Dải Ngân Hà.”

– “Đó chính là huyền thoại được kể trong truyện. Nhưng còn một huyền thoại khác cũng ‘trông như sữa’, mà hấp dẫn hơn. Thần thoại Hy Lạp kể rằng trên trời có một vị thần chúa tể tên Zeus, rất uy quyền mà cũng rất…. loạng quạng! Một hôm, một đứa con ngoại hôn của ông bị khát sữa vì mẹ đi vắng, ông liều mạng cho nó bú trộm vú hoàng hậu Hera đang ngủ say. Hoàng hậu giật mình đẩy đứa bé ra, khiến dòng sữa văng tung tóe lên bầu trời thành Milky Way.”

Võ Bằng nâng ống dòm lên tìm kiếm rồi đưa cho tôi:

– “Cô Phượng nhìn kỹ hướng này sẽ thấy một dải sáng chạy dài từ hướng lái đến hướng mũi tàu. Đó là Milky Way.

Tôi nhìn qua ống dòm. Đúng là có một dải sáng, nơi thì rực trắng, chỗ thì ửng hồng quyện lẫn những làn mây đen nằm vắt ngang bầu trời. Một hình ảnh lạ lùng, tuyệt đẹp nhưng không có gì giống một đường sữa hay long lanh thủy ngân. Tôi hỏi:

– “Milky Way sao lại dịch là Dải Ngân Hà?”

– “Thì đông là đông, tây là tây mà! Người châu Âu thấy nó như dòng sữa nhưng người châu Á trông nó tựa như dòng sông! Phải chăng vì dân châu Á nghèo nàn ít thấy sữa nên chỉ có hình ảnh nước trong đầu? Nhưng chính nhờ nghĩ tới dòng sông Ngân Hà mà ngày nay văn học Việt Nam có được câu chuyện tình đẫm nước mắt mà đẹp hơn cả Les Étoiles. Đẹp hơn là cái chắc: Cô con gái út của Ngọc Hoàng yêu chàng chăn trâu. Và vì quá yêu nhau mà phải bị phạt xa nhau! Cô hãy nhìn lại dải Ngân Hà, và tôi sẽ chỉ cô đâu là Chức Nữ, đâu là Ngưu Lang…”

Tôi phản đối:

– “Đại úy ơi, đây chỉ là huyền thoại!”

– “Đúng là huyền thoại nhưng là huyền thoại về các thực thể. Thực tế trên bầu trời có một ngôi sao mang tên Chức Nữ và một ngôi sao mang tên Ngưu Lang, mỗi ngôi sao nằm một bên dải Ngân Hà. Hãy nhìn theo ngón tay của tôi. Ngôi sao sáng nhất, lấp lánh ánh xanh bên trên bờ sông chính là nàng Chức Nữ. Còn ngôi sao dĩ nhiên sáng thua Chức Nữ đôi chút ở bờ bên dưới, về phía tay phải chính là chàng Ngưu Lang. Và ngôi sao nằm ngang sao Ngưu Lang bên tay trái chính là tiên nữ Thiên Tân, người được Ngọc Hoàng biệt phái đưa đò cho ‘đôi trẻ’ hằng năm gặp lại nhau. Cô nhận ra ba ngôi sao rồi chứ?”

– “Thấy rồi.” Tôi hăng hái gật đầu.

– “Cô có biết đôi uyên ương bị chia cách bao xa không?”

Tôi cười:

– “Chắc không quá xa. Xa quá thì tiên nữ Thiên Tân chèo gì nổi!”

Võ Bằng hướng nhìn về vùng trời mông lung như đang đo lường khoảng cách giữa hai vì sao. Tôi nghe ấm ức với cách hỏi của Võ Bằng, câu hỏi vô bổ, vô lý như muốn chọc tức người nghe. Có ai đi đo làm gì khoảng cách giữa hai vì sao. Tôi xoay người nhìn các thủy thủ đương phiên. Ba bóng đen vẫn đứng dàn hàng như ba pho tượng. Ở vành cung đối diện tôi với Võ Bằng là bóng dáng của Thiếu úy Văn, ống dòm dán vào mắt. Chiếc ghế hạm trưởng trống vắng im lìm. Tiếng của Võ Bằng kéo tôi xoay lại:

– “Muốn thấy được là bao xa, tôi cần nói thêm đôi chút về dải Ngân Hà. Nó có chừng vài trăm tỷ ngôi sao trong đó có ngôi sao Mặt Trời. Chúng ta đã học Thái dương hệ gồm Mặt Trời và 9 hành tinh quay quanh nó. Trái Đất chúng ta là một. Dải Ngân Hà thực ra là một khối hình trụ tròn, tựa như vòng thổi của khói thuốc, có đường kính khoảng 100.000 năm-ánh-sáng, có độ dày khoảng 1.000 năm! So với vũ trụ, cô đã thấy dải Ngân Hà chỉ chiếm một khoảng trời bé nhỏ. Để hình dung vũ trụ lớn cỡ nào, chỉ cần biết dải Ngân Hà bé cỡ nào. Cô hẳn còn nhớ tốc độ của ánh sáng là ba-trăm-ngàn-cây-số-trong-một-giây. Một năm-ánh-sáng là gần 10 ngàn tỷ cây số. Theo công thức tính thể tích hình trụ tròn, ta lấy bình phương của 10 ngàn tỷ cây số nhân cho bán kính 50.000 năm-ánh-sáng, rồi nhân chiều cao 10 ngàn tỷ cây số, rồi nhân cho 1.000 năm rồi nhân cho Pi. Cô thử hình dung số thành của bài toán!”

– “Quả là càng không thể hình dung vũ trụ lớn đến cỡ nào!”

– “Với một dải Ngân Hà mênh mông như vậy thì khoảng cách xa nhau giữa Chức Nữ và Ngưu Lang là 16 triệu năm-ánh-sáng xem ra có là bao!”

– “Xa như vậy thì làm thế nào một năm gặp một lần được?”

– “Thì như vậy mới gọi là huyền thoại! Ngọc Hoàng chỉ cần cho gặp là… gặp thôi!”

Võ Bằng cười sảng khoái. Tôi cũng thấy vui lây. Không ngờ trên trời lại có những con số quá sức khổng lồ. Tôi thích thú hỏi tiếp:

– “Ngưu Lang, Chức Nữ mỗi năm được tái ngộ vào tháng bảy mưa ngâu, còn trong truyện của Alphonse Daudet, Kim Tinh và Thổ Tinh phải cần đến 7 năm mới kết hôn một lần là sao?”

– “Thực tình mà nói, tôi cũng… mù luôn! Tuy nhiên, theo tôi suy đoán thì chắc tác giả muốn nói về thời điểm gặp gỡ giữa Kim Tinh và Thổ Tinh được nhìn từ Quả Đất.”

Võ Bằng lặng thinh một lúc như tìm giải đáp:

– “Cái rắc rối là người đẹp Kim Tinh – Vệ Nữ – không chịu quay quanh Mặt Trời cùng chiều với 8 hành tinh kia mà lại quay theo chiều ngược lại. Người đẹp này lại nhiều e ấp. Trong một thời gian nào đó, nàng vừa là sao Mai vừa là sao Hôm; một thời gian khác chỉ là sao Mai hoặc sao Hôm; lại có khi lâu vài ba tháng nàng biến mất trên bầu trời. Với người đẹp Kim Tinh thì vậy, còn người đẹp Kim Phượng cũng nào kém: lúc thì vừa quen vừa lạ, khi thì chỉ lạ hoặc chỉ quen và ngày mai đây cũng sẽ biến mất!”

Tôi cười:

– “Tôi được Ngọc Hoàng gửi tạm xuống chiến hạm này để đồng hành cùng đại úy một lần… rồi thôi. Rồi biến mất vĩnh viễn.”

– “Cũng đành!” Võ Bằng lắc đầu.

Tiếng Thiếu úy Văn vang lên:

– “Trình Hạm Phó, chiến hạm nằm lệch ngoài đường nửa hải lý.”

– “Anh cho lệnh lái vào hải lộ.”

– “Đáp nhận.”

Võ Bằng lặng thinh nhìn hướng mũi tàu như đang quan sát tác động của các lệnh Thiếu úy Văn ban hành. Một lúc, anh quay sang tôi:

– “Còn câu chuyện của chúng ta, tôi có… lệch xa lắm không?”

– “Đại úy vẫn còn đi trên thiên cầu nhưng chưa nói về chòm sao Đại Hùng Tinh với cỗ xe chở linh hồn!”

Giọng Bằng đều đều ấm áp như được phát ra từ nụ cười:

– “Về chòm Đại Hùng Tinh, tên thiên văn là Ursa Major, gọi nôm na là Gấu Lớn, có 7 ngôi sao sáng rất “danh trấn giang hồ” cả trong thiên văn lẫn văn học, mang tên Thất Tinh Bắc Đẩu. Gạch nối 7 ngôi sao này, nó thành hình một cái gầu. Người xưa tưởng tượng cái gầu là thân con gấu. Tuy nhiên, các nhà thiên văn thời Ả Rập cổ xưa lại tưởng tượng thành một chiếc xe với 4 ngôi sao là cỗ quan tài và ba ngôi sao còn lại là ba con vật kéo xe. Đó là hình ảnh Cỗ Xe chở Linh Hồn theo như truyện kể.”

Bằng chỉ tay về vùng trời sau lái tàu, gần chân trời:

– “Hãy cố tập trung vào bảy vì sao sáng tạo hình cái gầu. Kéo dài cạnh cuối của chiếc gầu gấp năm lần sẽ gặp ngôi sao không sáng lắm nhưng lại là ngôi sao quan trọng nhất. Đó là sao Polaris tức sao Bắc Đẩu. Nó quan trọng vì luôn luôn chỉ gần đúng hướng Bắc của địa cầu. Sao Bắc Đẩu cũng là ngôi sao nằm cuối đuôi của Gấu Nhỏ, tức chòm Tiểu Hùng Tinh, Ursa Minor.”

Bằng nghiêng người chỉ ngôi sao sáng tỏ gần chân trời, trọn vẹn cánh tay còn lại dính chặt vào cánh tay của tôi. Trời đang gió lặng biển êm mà tôi như người trong cơn bão. Tôi bấu các ngón tay vào thành sắt, tưởng như có lực kéo bay khỏi đài chỉ huy. Tôi vội lên tiếng và nhích rời cánh tay:

– “Tôi chịu thua, thấy sao nào cũng giống sao nào!”

– “Giống thế nào được. Hãy nhìn ngôi sao tỏ nhất.”

Tôi nghiêng đầu, nhắm một mắt theo ngón tay của Bằng. Cuối cùng tôi cũng nhận ra ngôi sao giây phút trước đó mang lại nhiều xao xuyến. Tôi không kềm được tiếng kêu thích thú:

– “Tôi đã hiểu vì sao các anh đi biển lâu ngày mà không chán rồi!”

– “Đối với các nhà hàng hải, từ chòm Đại Hùng Tinh còn giúp tìm được thêm nhiều chòm sao lân cận bằng cách cứ kẻ đường kéo dài đi qua hai ngôi sao nào đó trong chòm. Còn đối với nhà nông, cứ nhìn Thất tinh Bắc Đẩu là biết mùa: Vào lúc hoàng hôn, nếu thấy cái cán chỉ về hướng Đông thì nhân thế vào mùa Xuân, chỉ hướng Nam – mùa Hè, hướng Tây – mùa Thu và hướng Bắc – mùa Đông.”

Tôi lại thích thú khẽ reo:

– “A, hay quá!”

Qua một cử động đổi thế đứng, cánh tay tôi vô tình chạm vào cánh tay Bằng. Lần này, sự va chạm rất nhẹ nhưng đủ làm thân tôi như hòa nhịp con tàu đang rung. Tôi cố xóa cảm giác lạ lùng đó. Thời may, vừa lúc đó một lằn sáng xẹt nghiêng bầu trời. Tôi mừng rỡ kêu lên:

– “Ô, sao băng. Một ngôi sao băng thiệt đẹp!”

Bằng nói khẽ:

– “Cô Phượng ước điều gì đi. Thấy sao băng, ước gì được nấy.”

Tôi nghĩ đến Hưng. Ước làm vợ Hưng chăng? Tôi từng thầm ao ước làm vợ Hưng nhưng sao lúc này lại ngần ngừ? Tôi nhìn Bằng rồi hướng về ngôi sao băng đã tắt, thầm nói. “Ước gì tôi đã không…” Tiếng Bằng cắt ngang:

– “Cô ước gì, tôi biết được chăng?”

– “Không! Không thể được!” Tôi ấp úng.

– “Sao lại không? Thông thường người ta ước điều tốt đẹp.”

– “Điều tôi muốn ước, xem ra không còn thích hợp!”

– “Cô có muốn nghe điều ước của tôi không?”

Có thể Bằng đã ước được tôi yêu; cũng có thể đã ước được tôi… làm vợ. Nếu thật vậy và nếu Bằng ngỏ ý, tôi sẽ trả lời sao? Tôi tự cười nhạo mình sao bỗng dưng lại có ý tưởng quá ngạo mạn. Hay chính tôi đang khao khát được như vậy? Không kềm được óc tò mò, tôi ngại ngùng hỏi:

– “Đại úy nói nghe thử!”

– “Nghe thử thì không nói!”

– “Thì nghe thiệt!”

– “Ước gì cô Phượng đã không xuống tàu…”

Tôi lại ngước nhìn muôn vạn vì sao. Dường như chúng đang chao đảo, nhòe nhoẹt. Thật lạ lùng, đó cũng chính điều tôi muốn ước! Tôi đã ước giống Bằng nhưng không phải như mục đích của Bằng. Bằng chỉ muốn bày tỏ tình yêu dành cho tôi, còn tôi, chỉ vì yêu Hưng mà bước xuống tàu để rồi tình yêu đó chừng như không còn nguyên vẹn. Giọng êm ái của Bằng như sóng gió ập phủ lên tôi:

– “Thôi thì cứ xem cô như ngôi sao băng. Thấy đó rồi mất đó.”

Tôi lại vội lên tiếng để tránh khỏi mềm lòng:

– “Vì sao có sao băng, Đại úy?”

– “Sao băng, còn gọi là sao đổi ngôi khi thiên thạch bay vào bầu khí quyển bị bốc cháy do cọ xát. Thường thì chúng biến thành tro bụi. Thiên thạch nào lớn quá, không cháy hết, sẽ rơi xuống mặt đất và được gọi là vẩn thạch. Mưa sao băng là các sao băng cùng phát ra từ một hướng. Mưa sao băng thường là do sao chổi bị vỡ ra. Sao chổi được hình thành từ các đám mây ngoài thái dương hệ. Đuôi sao chổi có thể dài hàng triệu cây số. Câu hỏi kế tiếp?”

– “Đại úy đã nói về dải Ngân Hà, chòm Đại Hùng Tinh, mà chưa kể chuyện sao Ba Vua.”

– “Đó là ba ngôi sao thẳng hàng nổi bật trên cái đai lưng của người thợ săn Lạp Hộ Orion. Chòm sao này không chỉ giúp chàng chăn cừu biết giờ giấc mà còn tối cần cho các nhà hàng hải định vị và định hướng con tàu. Chòm sao này có lắm điều thú vị…”

Tiếng còi vang lên, lồng lộng. Bằng nói:

– Mười lăm phút nữa tôi sẽ mãn phiên. Nếu cô Phượng còn muốn tiếp tục…”

Tôi nhanh nhẩu:

– “Nếu đại úy không buồn ngủ…”

– “Tôi sẽ ngủ bù sau khi cô rời tàu. Chừng đó còn dịp gặp lại cô… trong mơ!”

Tôi dở cười dở khóc. Biết Võ Bằng hay nói xa nói gần mà cứ thích dây dưa. Trăng sao có dính dáng gì đến tương lai, sao phải nghe cho hao tâm tổn tướng. Tôi định rút lại lời nói, bỏ xuống phòng nhưng giọng êm đềm của Bằng như mệnh lệnh bắt tôi đứng yên:

– “Cô Phượng chờ một tí. Bàn giao xong, chúng ta mặc sức theo chân chàng thợ săn Lạp Hộ…”


Chòm Hổ Cáp và Lạp Hộ

Khi chúng tôi ngồi mỗi người một ghế ở khẩu đại bác 76 ly 2 trước mũi, Bằng nhìn bao quát bầu trời một lúc mới lên tiếng:

– “Quả là không thấy chòm Lạp Hộ Orion. Theo sách vở, chòm sao này chỉ thấy từ mùa Thu qua đến mùa Xuân. Vào mùa Hạ, chàng thợ săn cũng đi nghỉ hè như cô Phượng. Vậy cô chịu khó tưởng tượng trên nền trời có ba ngôi sao sáng gần nhau và thẳng hàng, đó là đai kiếm của chàng thợ săn Lạp Hộ. Đó cũng chính là sao Ba Vua. Rồi tưởng tượng tiếp có bốn ngôi sao sáng khác bao quanh: hai ngôi sao phía trên màu đỏ là Bellatrix và Betelgeuse, mỗi sao trên mỗi vai của một chàng thợ săn này và hai ngôi sao phía dưới, một không tên, một sắc rực xanh Rigel nằm ở hai đầu gối.”

Tôi cố tưởng tượng chàng thợ săn nhưng chỉ loáng thoáng hình bóng của Bằng! Tôi kêu lên:

– “Nào thấy gì đâu!”

– “Nếu có cơ hội, tôi sẽ cho cô xem hình, còn bây giờ thì phải ráng tưởng tượng thôi. Từ cái đai lưng Sao Ba Vua, kéo dài ở hai đầu, sẽ gặp hai ngôi sao cũng được truyện nhắc đến là sao Jean de Milan tức sao Sirius, tức sao Thiên Lang sáng nhất bầu trời thuộc chòm Đại Khuyển và cụm Poussinière, tức cụm Thất Nữ tuyệt đẹp thuộc chòm Kim Ngưu. Cụm Thất Nữ chính là cụm sao mà người mình gọi là Sao Rua, hay Tua Rua. Quan sát bằng kính thiên văn, cụm sao này có đến 250 vì sao nhưng nhìn bằng mắt thường, có cái lạ là người ngoại quốc thì thấy 7 ngôi sao mà người mình lại thấy tới 9. Bởi vậy mới có các câu ca dao:

Sao Rua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha.
Sao Rua chín cái nằm ngang,
Thương em từ thuở mẹ mang trong lòng.
Sao Rua chín cái nằm chồng,
Thương em từ thuở mẹ bồng mát tay.
Sao Rua chín cái nằm xoay,
Thương em từ thuở em hay khóc nhè.
Sao Rua chín cái nằm gần,
Thương em từ thuở bước chân xuống tàu.”

Tôi không nhịn được tiếng cười:

– “Hai câu chót chắc là ca dao mới, do đại úy Bằng sáng tác.”

Bằng cười giòn. Sợ Bằng thêm sáng tác, tôi vội tiếp:

– “Theo lời Đại úy, các nhà thiên văn đặt tên các chòm sao theo hình tượng con người và con vật. Xin cho vài ví dụ…”

– “Ví dụ như Xà Phu, Hổ Cáp, Song Nam, như Thiên Nga, Song Ngư, Bắc Giải… Trong việc đặt tên, các nhà thiên văn còn thận trọng đặt cho đủ giống đực giống cái để giúp các chòm sao khỏi cô đơn. Ví dụ như về vợ chồng thì có chòm Thiên Vương, Thiên Hậu; về bạn bè thì có Anh Tiên, Xử Nữ; về bồ bịch thì có Tiên Nữ, Mục Phu…”

– “Đại úy quả là có lòng quảng đại, cho Tiên Nữ có bồ…. cowboy!”

– “Thì truyện Les Étoiles đã chẳng gợi ý chàng chăn cừu mê cô chủ? Rồi thêm truyện con gái Ngọc Hoàng mê chàng chăn trâu. Còn truyện tôi đang tưởng tượng thì vai chính cũng đang mê một giai nhân…”

Tôi hốt hoảng tránh né:

– “Đại úy nói, vị trí con tàu được xác định bằng nhiều cách, như bằng La bàn đo góc độ đối vật, bằng Radar đo khoảng cách, bằng Loran nhận tín hiệu. Vậy thì còn học thêm môn Thiên văn rắc rối mà làm gì!”

– “Cô Phượng ngưng gọi tôi ‘đại úy’ tôi sẽ nói lý do. Đây là lần yêu cầu cuối cùng.”

Tôi đắn đo. Nhưng chắc phải đành thôi. Đường về thì còn xa mà bị Võ Bằng xem như người lạ thì càng thấy xa hơn. Tuy nhiên tôi liều thử hoãn binh như lần trước:

– “Chỉ mới quen Đại úy hơn một ngày. Vẫn còn quá sớm!”

– “Cô hứa sẽ gọi ‘Anh’ trước khi rời tàu?” Võ Bằng lặp lại câu hôm qua.

– “Tôi hứa!”

Gọi anh một lần trước khi rời tàu thì chỉ một lần ngượng miệng. Mà lời hứa lúc này thì ít nhất cũng giúp cho câu chuyện tiếp tục thú vị. Giọng Võ Bằng vui vẻ:

– “Một cách tổng quát, các vì sao, các chòm sao giúp cho các nhà hàng hải ở mọi thời đại định được vị trí và hướng đi của con tàu. Vì vậy, đã vào Hải Quân thì phải học Hàng hải Thiên văn, như lên trung học là phải đọc The Stars! Đành rằng có nhiều phương pháp định vị nhưng thói thường cái gì gọi là máy móc thì đều có thể bị hư hỏng hoặc bị phá hoại. Vì vậy, phương pháp hải hành bằng thiên văn là phương pháp tuy cổ điển mà ăn chắc.”

– “Nhưng sao thì nhiều mà toàn tên tiếng La Mã, Hy Lạp…”

– “Mới bắt đầu môn học, chúng tôi cũng rất sợ. Nhưng sau khi tiếp nhận căn bản, càng học càng mê. Sao có hai loại: hành tinh và định tinh. Hành tinh là 9 ngôi sao thuộc thái dương hệ. Định tinh là các sao có vị trí cố định trên thiên cầu. Chòm sao là tập hợp một số định tinh gần nhau thành một hình tượng cho dễ phân biệt, dễ nhận dạng các định tinh. Lại có các vì sao, chẳng phải hành tinh mà cũng chẳng định tinh, đôi khi đi lạc làm say đắm lòng người như vì sao lạc vào chòi chàng chăn cừu và vì sao lạc xuống tàu…”

– “Đại úy! Xin đại úy…” Tôi nài nỉ và bắt đầu thực sự thấy sợ lời bóng gió chừng như bất tận của Bằng.

– “Cô Phượng có xem phim Anastasia, kể chuyện cô con gái út của Nga hoàng?”

Bằng chuyển đề tài đột ngột làm tôi mừng quýnh. Vội nói:

– “Có chứ, tôi cũng… mê phim này lắm.”

– “Cô mê gì nhất?”

– “Nữ tài tử Ingrid Bergman, đẹp mà diễn xuất tuyệt vời, đã nhận được giải Oscar.”

– “Còn ‘mê’ gì nữa?”

Bằng có ý gì? Sẽ dẫn tôi tới đâu? Tôi duyệt lại nội dung bộ phim. Đó là chuyện một người con gái đã từng là công chúa nước Nga thoát chết trong cuộc tàn sát của Nga Cộng năm 1917. Công chúa thoát chết, bị thất lạc, và bị mất trí. Hàng chục năm sau có người nhận ra nàng. Thế mà, ngay trong buổi lễ trang trọng của Hoàng gia xác nhận ngôi vị công chúa, nàng lại từ chối cuộc sống sang giàu để đuổi theo người khám phá ra mình. Tôi nói:

– “Tôi mê phim nhưng chê đoạn kết! Tôi không thuộc loại quá tôn thờ tình yêu.”

– “Tôi thì thích bản nhạc nền. Lời thật nên thơ, ví nàng công chúa từ ngôi sao nào đó đi lạc xuống trần”

– “A!” Tôi chợt nhớ, kêu lên. “Tôi cũng rất thích bản đó. Pat Boone hát thật tuyệt vời!” Tôi cao hứng cất tiếng. “Anastasia. Tell me who you are? Are you someone? From another star? Anastasia. Beautiful stranger. Step down from your star. I only know I love you so. Whoever you are.’”

Tia nhìn đắm say của Bằng chiếu vào mắt tôi cùng với lời ngọt ngào đi thẳng vào tim:

– “Tôi cũng đã định hát tặng Phượng…”

– “Đại úy.” Tôi hốt hoảng. “Xin trở lại chuyện các vì sao. Hải Quân học Hàng hải Thiên văn là học những gì?”

– “Chúng tôi không học chuyên về thiên văn là môn học nghiên cứu và giải thích các chuyển động, các hiện tượng vật lý của các thiên thể trong không gian. Chúng tôi chỉ học về những gì có liên quan đến hàng hải, tức là phải biết nhận dạng ngôi sao để định hướng đi, phải biết đo cao độ sao để định vị trí con tàu. Học định hướng không khó, nhưng học đo cao độ mới là nhiêu khê. Thứ nhất, nếu không ‘nhận diện’ được thiên thể thì phải rành sử dụng bảng-tìm-sao hoặc bản-đồ thiên-cầu. Thứ hai, tìm được tên ngôi sao rồi, phải biết cách dùng kính lục phân Sextant đo cao độ, biết dùng lịch The Nautical Almanac cho kinh tuyến Greenwich cùng độ phương vị, và dùng các dụng cụ lỉnh kỉnh khác… Cô hẳn có đọc quyển Ngư Ông và Biển Cả của Ernest Hemingway?”

– “Có! Tôi mê quyển đó còn hơn nữa!”

– “Vậy thì cô nhớ đoạn lão ngư ông nhìn sao để tìm đường về bến sau khi bị con cá khổng lồ lôi đi vô định, xà quần?”

– “Tôi nhớ quá đi chứ, cũng như nhớ đại úy nói bầu trời có 88 chòm sao, trong đó có 12 chòm sao Hoàng Đạo. Sao gọi là 12 chòm sao Hoàng Đạo?”

– “Ngày xưa cổ nhân cho rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể quay quanh nó. Ai nói ngược lại thì bị tử hình. Tương truyền rằng nhà thiên văn học Galileo chịu tử hình chớ không nói khác sự thật: Mặt Trời mới là trung tâm và Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Ông bị bắt giam. Đến khi bị mang lên giàn thiêu, người ta cho ông cơ hội nói lại để được sống, ông bảo, dù ông có chết Trái Đất vẫn cứ quay quanh Mặt Trời. Đúng là vậy nhưng, để cô Phượng dễ hiểu, tôi tạm để Trái Đất đứng yên và Mặt Trời quay quanh thiên cầu. Và trong khi du hành giáp vòng là một năm, Mặt Trời đi qua đúng 12 chòm sao trong số 88 chòm sao trên thiên cầu. Người ta gọi đó là 12 chòm sao Hoàng Đạo. Về phương diện chiêm tinh, 12 chòm sao Hoàng Đạo chính là 12 cung Hoàng Đạo của tử vi tây phương. Mỗi cung tương ứng một tháng…”

– “À ra thế!”

– “Cô có tin tử vi không?”

– “Không tin nhưng tuần nào cũng mua báo để đọc tử vi. Đó là mục giải trí ưa thích!”

– “Nếu ưa thích tử vi thì hẳn cũng ưa thích… Hải Quân vì Hải Quân lấy 12 chòm sao hoàng đạo đặt tên cho các khóa sĩ quan. Như khóa tôi thuộc cung thứ 11: Bảo Bình.

– “Ô, thật vậy sao?”

– “Tháng sinh của cô thuộc cung nào?”

– “Cung Hải Sư.”

– “Người thuộc cung Hải Sư rất vui vẻ, dễ thương, thích văn chương thi phú và hợp với tuổi Kim Ngưu, tuổi của tôi…”

Tôi mạnh dạn cắt ngang, cười nhạo:

– “Xin tiếp tục chuyện các vì sao. Đại úy chưa nói gì về sao Jean de Milan, sao Rua. Các sao này nằm ở đâu, có huyền thoại gì không. Hay đại úy bí rồi nên chuyển qua coi tử vi chăng?”

– “’Em chớ hỏi: sóng đi trên biển lớn. Cớ làm sao thành nhã nhạc dâng lên. Cớ làm sao muôn tinh tú trong đêm. Bỗng rung động khi em cười rất nhẹ’. Thơ Nguyên Sa đó, nghe tình quá phải không?”

– “Chưa biết là của Nguyên Sa mà lòng đã xiểng liểng!” Tôi thú nhận. “Đại úy tính đem hết sao trời bủa vây không chừa lối thoát cho tôi sao? Thì cũng được nhưng với điều kiện: ‘Anh về đếm hết sao trời. Em đây kết tóc ở đời với anh’.”

Tôi nghe tiếng Bằng thở dài:

– “Cô Phượng ơi! Chỉ nội dải Ngân Hà không thôi đã có vài trăm tỉ ngôi sao mà cô lại đòi tôi phải đếm hết trọn cả bầu trời. Chắc phải hẹn gặp cô hàng muôn tỉ tỉ kiếp sau…”

Tôi tự mắng thầm. Đã sợ mà còn ‘anh anh, em em’ có khác gì khuyến khích Bằng tiến tới, tôi vội chuyển hướng:

– “Đại úy nói người xưa bịa ra những câu chuyện thần thoại để đặt tên cho 88 chòm sao. Phượng rất muốn nghe. Mỗi một truyện đại úy kể, Phượng hứa sẽ… tăng thêm số sao đại úy phải đếm! Bắt đầu bằng chuyện vì sao có hai chòm sao đặt tên Gấu Lớn Gấu Nhỏ.”

Bằng cười:

– “Khó mà ngờ cô Phượng độc ác đến thế! Đã không giảm mà còn tăng. Nhưng lỡ ăn thua thì cho… thua luôn! Về nguyên do có hai chòm sao mang tên Gấu Lớn Gấu Nhỏ, cũng theo thần thoại Hy Lạp, ông vua Zeus lại léng phéng có con với một người đẹp khác, nên hoàng hậu Hera lại nổi cơn ghen và biến người đẹp này thành con gấu, Vua Zeus quá bi thương nên đưa nàng lên trời. Đó là hình tượng chòm Gấu Lớn. Về sau đứa con, hình tượng chòm Gấu Nhỏ, được vua cha cho về sống bên mẹ. Thế nhưng cả hai vẫn không được yên thân. Hoàng hậu còn ấm ức nên nhờ anh mình là thần biển không cho phép họ uống nước. Vì vậy mà hai mẹ con Gấu cứ chạy lòng vòng trên bầu trời Bắc cực, không bao giờ được xuống dưới đường chân trời.”


Gấu Lớn – Gấu Nhỏ

– “Đại úy có hứa lúc mãn phiên hải hành, rằng chúng ta sẽ mặc sức theo chân chàng thợ săn Lạp Hộ…”
Bằng đăm đăm nhìn tôi:

– “Tôi có nói vậy sao? Đúng ra, thì anh chàng này có số xui, gặp phải bà chằng lửa!

Thần thoại Hy Lạp kể rằng, bởi anh thợ săn này quá kiêu căng, tự xưng mình là tay săn bắn giỏi nhất trần đời nên Hoàng hậu Hera nổi sùng, bèn sai con Bồ Cạp (Hổ Cáp) chòm Scorpio dùng nọc độc giết chết. Vua Zeus nghe tin lấy làm thương xót và quyết định cho cả Hổ Cáp lẫn Lạp Hộ lên thiên cầu nằm ở hai vị trí đối nghịch. Hễ chòm sao này mọc thì chòm sao kia lặn để cho hai kẻ thù chẳng bao giờ thấy mặt nhau…”

Vẫn giọng êm ấm thân tình, Bằng kể tiếp qua thần thoại chòm Đại Khuyển với ngôi sao sáng nhất trong mọi vì sao là Sirius Thiên Lang. Giọng kể chuyện ngọt ngào của Bằng tạo cho tôi cái cảm tưởng như chính mình đang sống trong thần thoại. Tôi không biết Bằng có định kể trọn bộ huyền thoại của 88 chòm sao hay không nhưng tôi mong Bằng đừng chấm dứt trước khi tôi rời tàu. Bởi vì chừng như Bằng không đang kể về chuyện tình những chòm sao mà lại là đang thổ lộ tâm tư thầm kín Bằng dành cho tôi. Đến một lúc, tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Không như cô chủ nghe chàng chăn cừu kể chuyện các vì sao mà ngủ gục, tôi đã vô cùng tỉnh táo và vui thích lắng nghe từng lời Bằng kể. Có điều trong lúc lắng nghe, tôi vẫn muốn được như cô chủ là tựa đầu vào vai Bằng!

Chương 13

Hải phận Bình Thuận
Chủ nhật 6/8/1967 08:00G

Tiếng còi ‘tích te” xoáy vào giấc ngủ mê mệt làm tôi giật bắn người, thùm thụp tim đập. Tôi vẫn chưa quen tiếng còi rền rĩ này. Ngày và đêm, cứ 4 tiếng ré lên một lần, mỗi lần chín cặp ‘tích te”. Đầu tôi nhức như búa bổ. Tôi đưa hai tay xoa hai bên thái dương và chầm chậm mở mắt. Những thanh sắt ngang dọc trên trần tàu quay cuồng. Tôi vội nhắm kín. Cảm giác lo sợ len lỏi theo từng sợi thần kinh. Cùng lúc, cũng chợt nhận ra cả người ê ẩm đến rã rời. Ý nghĩ thật xấu xa đến từ tên Mỹ. Dám bị hắn chụp thuốc mê và làm hỗn lắm. Tôi lắng nghe biến chuyển trong cơ thể. Không. Chỉ là mỏi mệt do dậy sớm thức khuya và nhịp đong đưa của con tàu. Đêm trước, đêm đầu tiên xuống tàu, tôi ngủ quá ít lại còn bị ác mộng. Đêm qua thì mải mê chuyện các vì sao đến 5 giờ sáng. Tính ra tôi mới ngủ chưa đầy ba tiếng. Tôi không tha thiết ăn sáng, nhưng cần chứng tỏ ước mong của chuyến đi.

Tôi xoay nghiêng, bỏ chân ngoài giường, chống tay nâng tấm thân rã rời ngồi thẳng dậy. Ngồi hít thở một lúc, thấy khỏe hơn, tôi xỏ chân vào đôi bata rồi vào phòng tắm.

Khi bước vào phòng ăn, tôi tưởng sẽ gặp nhiều người nhưng chỉ thấy Trung úy Thạch Trung Cang và Thiếu úy Vương Văn Tiến. Họ lên tiếng trước:

– “Chào cô Phượng.”

– “Chào cô Phượng.”

– “Chào hai anh.” Tôi nói. “Hai anh sắp đi phiên?”

– “Trái lại, vừa dứt phiên.” Trung úy Cang cười.

– “Mình tới đâu rồi Trung úy?”

– “Sắp ngang qua thành phố Phan Thiết.”

– “Chừng nào mới về đến Sài Gòn?”

Trung úy Cang nhíu mày như đang tính toán. Anh chiêu đãi hỏi tôi:

– “Chị ăn cháo với thịt kho hay bánh mì omelette?

– “Anh cho bánh mì trứng chiên. Tôi thích ăn chín.”

Anh chiêu đãi rời phòng. Trung úy Cang nói:

– “Nếu không có gì trở ngại, tàu sẽ cập cầu lúc 8 giờ tối.”

– “Tám giờ tối!” Tôi kêu lên. “Tôi quá sợ cái câu ‘nếu không có gì trở ngại!’”

– “Chúng tôi thì quen rồi!” Thiếu úy Tiến cười. “Nhà binh mà!”

Theo kinh nghiệm của Anh Đào, thời gian đi từ Quy Nhơn về Sài Gòn đúng 36 tiếng. Đêm kia tàu rời Quy Nhơn lúc 7 giờ rưỡi, tính đến sáng nay là đúng 36 tiếng, lẽ ra giờ này đã cập cầu Sài Gòn. Tối mới đến là trễ trên 10 tiếng. Đó là không gặp trở ngại, còn ‘nếu có trở ngại’ thì nào biết đến bao lâu! Mà thật ra Hưng có phải chờ thì cũng đáng kiếp. Anh đã đưa tôi vào hoàn cảnh tiến thối lưỡng nan! Tôi vừa muốn gặp anh lại vừa không muốn. Mà cũng có thể là chẳng bao giờ. Niềm tin dành cho anh đang lung lay…

Anh chiêu đãi đặt trước tôi dĩa bánh mì và dĩa trứng chiên. Trứng chiên hai mặt vừa đúng ý tôi. Anh hỏi:

– “Chị uống cà phê hay trà đá?”

– “Xin anh cà phê sữa. Cám ơn anh.”

Trung úy Cang đưa tôi chai Maggi, cười nói:

– “Đêm qua thấy cô và Hạm Phó ôm ổ súng đến năm giờ sáng mà giờ này cô đã thức! Coi như cô thắng Hạm Phó là tay nổi tiếng ít ngủ!”

Tôi không biết nói sao, lặng lẽ gắp trứng bỏ vào bánh mì. Tên Mỹ kéo ghế trước mặt. Hắn mỉm cười:

– “Chào cô Phượng buổi sáng. Cô ngủ ngon chứ?”

Chợt nhớ đã nghĩ oan cho hắn tội làm hỗn, tôi vui vẻ đáp:

– “Cám ơn. Mi thế nào?”

– “Ngủ ngon lắm. Cám ơn.”

Tôi thích lối chào hỏi kiểu Mỹ. Tôi không rõ lời chào của miền Bắc và miền Trung, riêng miền Nam thì vắn tắt quá. Gặp nhau chỉ nói ‘chào ông, chào bác, chào thầy, chào cô’, tuy đủ lễ độ mà thiếu lịch sự. Thậm chí người cùng nhà gặp nhau chỉ chào nhau bằng nụ cười, không một lời hỏi han sức khỏe. Lần này về nhà, buổi sáng tôi sẽ nói ‘chào ba mẹ, ba mẹ khỏe không?’ và ban đêm, ‘chúc ba mẹ ngon giấc’.

Anh chiêu đãi mang tách cà phê và hộp sữa cho tôi rồi rời phòng, không buồn hỏi tên Mỹ ăn gì. Tôi nghĩ chắc hắn có mang theo ration C, đã ăn sáng trong buồng. Nhưng tôi nghĩ sai, anh chiêu đãi trở lại đặt trước hắn dĩa bánh mì và dĩa omelette. Thì ra đó là phần ăn sáng cố định mỗi ngày của hắn.

Khi tôi lên trên boong thì trước mắt tôi hàng trăm ghe đánh cá phủ kín mặt biển từ tàu đến gần bờ. Tôi cũng nhận thấy con tàu đang chạy thật chậm thật sát các chiếc ghe. Nếu đêm qua tàu chạy gần đến nỗi tôi có thể đếm số người trên ghe thì sáng nay tôi thấy họ vẫy tay với nụ cười. Tôi cũng vẫy tay, hô to ‘chào các bác, chúc các bác bắt được nhiều cá’. Một hình ảnh thích thú khác mà đêm qua tôi không thấy là ghe nào cũng treo cờ vàng ba sọc đỏ. Phải nói đó là một rừng cờ vàng làm tăng vẻ đẹp của biển xanh lóng lánh.

Tôi bước qua mạn trái. Số ghe câu càng đông hơn, đến mút chân trời. Mặt trời rực trắng bao bọc bằng hai nền màu khác biệt. Phần nền từ nửa mặt trời đến đường chân trời có màu hồng tươi. Phần nửa trên nhuộm vàng các dải mây trắng. Tôi không nhận ra đó là loại mây gì và nếu có Bằng bên cạnh tôi cũng không hỏi. Không phải tôi sợ anh chàng chê tôi kém trí nhớ mà vì tôi không chủ tâm nhớ. Nghe thì thích nhưng nhớ cũng chẳng ích gì!

– “Cô Phượng!”

Tôi nhìn quanh tìm Võ Bằng.

– “Cô Phượng!”

Tiếng gọi từ trên cao. Tôi ngước nhìn đài chỉ huy. Một người đang vẫy tay, dường như là Trung úy Bạch. Rồi anh ngoắt ra dấu tôi lên với anh. Tôi mừng húm vì cảnh đẹp thế này mà được ngắm từ trên cao thì còn gì bằng.

Đã qua vài lần leo trèo, lần này tôi bước lên từng bậc thang nhanh hơn. Khi còn vài bậc cuối đến đài chỉ huy, hình dáng đầu tiên tôi trông thấy là tên Mỹ. Hắn đang nói gì đó với người ngồi trên chiếc ghế dành riêng cho Hạm Trưởng. Khi bước hẳn vào trong, tôi nói:

– “Xin chào Thiếu tá! Thiếu tá thức sớm quá!”

Hạm Trưởng nghiêng mặt nhìn tôi:

– “Không thức sớm thì không xong với vùng này. Sơ sẩy là đụng chìm ghe. Nói theo chuyên môn thì cả một hạm đội ghe! Nói theo miền Nam thì ‘quỷ thần thiên địa ơi, minh mông ghe là ghe’! Đó cũng là lý do tôi cho gọi cô lên đây thưởng thức một cảnh tượng khó có dịp thấy lần thứ hai.”

Tôi đảo mắt nguyên một vòng. Quả là nhìn từ trên cao, hình ảnh ghe chen chúc trông đậm nét hơn, cờ vàng rực rỡ hơn.

Hạm Trưởng hỏi:

– “Đêm qua, sau mục ca hát, còn mục gì khác không? Như đi ca tiên với Hạm Phó?”

Tôi giật mình. Ông hỏi thật hay đã được báo cáo mà vờ hỏi. Tôi thấy nên nói thật:

– “Thưa có. Được Hạm Phó kể huyền thoại các chòm sao nghe mê luôn, tới 5 giờ sáng mới đi ngủ!”

– “Thế mà 8 giờ sáng đã lên boong ngắm biển!”

– “Nhờ vậy mới được thấy… ghe ôi là ghe!” Tôi cười nói.

– “Lại thêm trời trong, gió nhẹ, biển êm. Cô may mắn lắm đó. Tháng tám là tháng bão mà!”

– “Gặp bão chắc Phượng ói mửa chết thôi!”

– “Thật ra dân đi biển chết vì bị bão đánh chìm chớ không chết vì ói mửa. Cùng lắm thì gần chết!”

– “Với Phượng, thà chết còn hơn!”

Tôi định nêu lên câu hỏi ‘gặp bão làm sao tránh’ thì có tiếng la của anh Trung sĩ:

– “Thưa Trung úy, có ghe vượt mũi tàu.”

Trung úy Bạch quan sát nhanh bằng ống dòm rồi ban lệnh cho nhân viên điều khiển tay lái. Hạm trưởng vụt đứng lên nhìn mũi tàu đang quay qua phải. Một chiếc ghe hiện ra ngay trước mũi và lùi dần dọc theo mạn trái. Mấy người trên ghe hớn hở vẫy tay. Hạm Trưởng càu nhàu:

– “Sợ luôn! Cá đâu không thấy, chỉ thấy chết trước mắt!”

– “Nghĩa là sao, thưa Thiếu tá?”

– “Họ có niềm tin hễ vượt qua mũi tàu là ngày đó đánh được nhiều cá!”

Tôi chỉ biết cảm thông cho cả hai phía bằng cách lắc đầu! Thiếu úy Ấn từ cánh trái bước đến chiếc la bàn điện. Tên Mỹ đứng sát ghế Hạm Trưởng nhường chỗ cho Ấn đo góc độ ba đối vật. Đo xong, Ấn bước đến bàn hải đồ xác định vị trí chiến hạm. Anh nói:

– “Trình Hạm Trưởng vị trí chiến hạm trên đường đi.”

– “Tốt.”

Thiếu úy Ấn và tên Mỹ trở lại chỗ đứng cũ. Tôi giơ tay mỉm cười chào Thiếu úy Ấn. Tôi cũng muốn chào anh Trung sĩ và hai thủy thủ đương phiên nhưng cả ba mải hướng về mũi tàu. Tôi nhìn Hạm Trưởng nêu câu đã định hỏi:

– “Tàu của Thiếu tá phải qua hơn một tháng trên Thái Bình Dương, có khi nào gặp bão không? Gặp bão thì tránh cách nào?”

– “Nhờ trời, chỉ gặp mười ba cơn dông, sức gió đều dưới 63 cây số giờ, tiếng chuyên môn gọi là áp suất nhiệt đới! Cô sắp làm giáo sư Sử Địa, chắc đã rành về nguyên nhân hình thành một cơn bão.”

– “Thưa có. Đại khái, bão chỉ xuất phát giữa vĩ độ từ 5° tới 30°, từ nơi biển có độ sâu 50 mét và có độ ấm 27 độ C. Nước Việt nằm gọn trong giới hạn này nên bị bão lia chia.”

– “Người Việt ta gọi bão là gì, bằng tiếng Anh?”

– “Typhoon.”

– “Cô có biết từ ngữ typhoon do đâu mà có?”

Tôi lắc đầu. Hạm Trưởng hỏi tiếp:

– “Cô biết từ ngữ hurricane, cyclone?”

– “Phượng chỉ biết cả ba chữ đều có nghĩa là bão.”

– “Đồng ý, nhưng khi nào thì dùng hurricane, khi nào dùng cyclone, typhoon?”

Tôi lắc đầu. Hạm Trưởng mỉm cười:

– “Tôi cũng mới biết trong chuyến đi từ Tây sang Đông. Bão trên Đại Tây Dương, Mỹ gọi là hurricane, trên Thái Bình Dương, người Việt, người Hoa gọi là typhoon, còn các nước vùng Ấn Độ Dương thì gọi cyclone.”

Từ sáng tới giờ, tên Mỹ vẫn lặng thinh ôm trụ la bàn, bỗng gật đầu lia lịa. Thấy anh chàng tỏ vẻ hiểu biết, tôi hào hứng hỏi:

– “Thưa Thiếu tá, sao lại có sự khác biệt về từ ngữ?”

– “Có lẽ do lịch sử địa phương. Tiếng hurricane thì lấy từ tiếng hurakan, tên vị thần hủy diệt người Maya cổ đại ở Trung Mỹ giáp Đại Tây Dương. Nước Tàu giáp Thái Bình Dương gọi bão là taifeng

– 颱風 đại phong, dịch âm Typhoon. Còn từ cyclone mang nghĩa cơn lốc xoáy mượn từ tiếng Anh, có lẽ do thời Ấn Độ còn là thuộc địa Anh.”

– “Khi gặp bão thì tàu tránh thế nào, thưa Thiếu tá?” Tôi nhắc lại câu hỏi.

– “Tránh thì cũng dễ trừ phi quá xui! Tàu nào cũng có máy nhận tin bão. Trong công điện tin tức khí tượng, họ cho biết tâm bão đang ở đâu, sức mạnh của cơn bão, hướng và tốc độ di chuyển. Từ các yếu tố đó so với vị trí con tàu, chiến hạm phải tính toán thế nào để sớm tránh xa cơn bão.”

– “Sao gọi là quá xui!”

– “Hoặc là vì máy truyền tin hư, hoặc là do cơn bão hình thành bất thường.”

– “Thiếu tá có lần nào gặp xui?”

– “Chưa, đều gặp may mắn. Như cô đi chuyến này không gặp bão.”

Lệnh ngưng máy của Trung úy Bạch vang lên đột ngột. Hạm Trưởng lại đứng thẳng người, đưa ống dòm lên mắt. Tôi nghiêng người ra phía ngoài quan sát chuyện gì xảy ra. Con tàu êm ái lướt qua dãy phao giăng chắn ngang hướng đi. Mãi khi dãy phao nổi lên xa phía sau Trung úy Bạch mới cho lệnh tăng máy.

– “Sao phải ngưng máy, Trung úy?” Tôi hỏi Bạch.

– “À, họ đang chăng lưới bắt cá. Ngưng máy để lưới không bị cuốn vào chân vịt. Cả hai bên cùng có lợi. Với chiến hạm thì khỏi phải cho người lặn xuống gỡ lưới. Với ngư dân thì họ không phải mua lưới mới. Có tới 5, 7 chục ngàn chớ ít sao!”

Nói xong, anh cho lệnh tăng thêm tốc độ. Tôi ngạc nhiên về thái độ bình thản của Hạm Trưởng. Ông chỉ quan sát, theo dõi, không lần nào nói như lần trước ‘Hạm Trưởng nhận quyền chỉ huy’. Ông để Trung úy Bạch toàn quyền điều khiển hải hành. Rõ ràng ông đặt hết tin tưởng vào khả năng của Trung úy Bạch. Điều đó cũng hợp lý. Sau gần hai tháng lênh đênh, các sĩ quan hẳn đều đã thu thập nhiều kinh nghiệm.

Hạm Trưởng thả người, tựa lưng vào ghế, giọng hài lòng:

– “Giỏi lắm, Trung úy Bạch. Nay mai Đại úy Bằng đổi đi, Trung úy sẽ thay làm Hạm Phó.”

Võ Bằng đổi đi. Đi đâu? Tự dưng tôi nghe buồn buồn. Tự dưng tôi nhớ tới mấy câu ca dao về bão của anh chàng. Có một người bạn như Võ Bằng thỉnh thoảng gặp nhau đấu hót cũng vui. Không nén được tò mò, tôi hỏi Hạm Trưởng:

– “Thưa Thiếu tá, Đại úy Bằng đổi đi đâu?”

– “Đi đâu thì chưa biết. Theo thông lệ, một sĩ quan ở một đơn vị không quá hai năm. Tôi vừa bình điểm thường niên, xếp hạng xuất sắc cho Võ Bằng. Rất có thể nay mai Hạm Phó sẽ ôm chức Hạm Trưởng một Tuần Duyên Hạm.”

– “Có giống tàu Hộ Tống Hạm này không, thưa Hạm Trưởng?”

– “Gần giống nhưng nhỏ hơn. Nhân viên chừng nửa tàu này.”

– “Thưa Thiếu tá, nghe tên gọi các chiến hạm hùng hồn quá. Hộ Tống Hạm, Tuần Duyên Hạm rồi gì nữa?”

– “Rất vui thấy cô quan tâm đến Hải Quân. Càng vui nếu cô sớm là thành viên gia đình Hải Quân. Chiến hạm có nhiều loại. Loại hoạt động trong sông thì có Giang Pháo Hạm, Trợ Chiến Hạm. Hoạt động ngoài biển thì có Dương Vận Hạm, Hộ Tống Hạm, Tuần Duyên Hạm, Hải Vận Hạm, Trục Lôi Hạm, Hỏa Vận Hạm, và nhiều nữa … Tổng cộng khoảng bốn mươi mấy chiếc. Trong tương lai gần, Hải Quân sẽ tiếp nhận các loại chiến hạm cỡ lớn, mỗi tàu cần đến 3, 4 trăm người điều hành. Tên gọi là Tuần Dương Hạm, Khu Trục Hạm. Cô theo kịp không?”

Tôi vui vẻ nói:

– “Có quá nhiều danh từ mới lạ, nhớ thì nhớ không nổi mà nghe thì rất thích. Xin Thiếu tá tiếp tục.”

– “Tôi tưởng cô không ưa Hải Quân!” Ông nhìn tôi dò xét.

– “Ưa chứ, thưa Thiếu tá.” Tôi trả lời không suy nghĩ.

Tôi nghe nhiều tiếng cười, trong đó có cả tên Mỹ. Ngẫm nghĩ, tôi trả lời không sai với tình cảm hiện tại. Ít nhất cũng không còn thấy ghét. Hạm Trưởng tiếp tục:

– “Đó là mới kể về ‘hạm’. Còn với tàu nhỏ hơn, thì gọi là ‘đỉnh’, chỉ hoạt động ven biển và trong sông. Có đến hàng chục loại, xếp theo chức năng. Tổng cộng vài trăm chiếc. Như Tuần Duyên Đỉnh, Quân Vận Đỉnh, Khinh Tốc Đỉnh, Soái Đỉnh, Tiền Phong Đỉnh, Xung Kích Đỉnh … Cô nghe đã ớn chưa?”

– “Phượng thấy thích lắm!”

– “Thế thì tôi tiếp tục. Ngoài loại chiến đỉnh, chiến hạm, còn có loại chiến thuyền. Đây là loại ghe đánh cá cải biên, do Hải Quân Công Xưởng chế tạo. Có ba loại ghe là Chủ Lực, Di Cư và Yabuta. Tùy chức năng, ghe được trang bị hoặc đại bác, hoặc đại liên, tiểu liên. Một số ghe tập hợp thành Duyên Đoàn. Có tất cả 27 Duyên Đoàn hoạt động suốt từ Bến Hải đến Hà Tiên. Nhiệm vụ Duyên Đoàn là tuần tiễu, ngăn chận Việt Cộng xâm nhập vào các làng ven biển. Thành tích mới nhất của họ vào đầu năm nay là bắn chìm hai tàu tiếp tế súng đạn từ miền Bắc ở bờ biển Bình Đại, Bến Tre. Trước đó, tháng 11 năm ngoái, hai ghe chủ lực tấn công và bắt sống một tàu tiếp tế ở cửa Hàm Luông, thu nhiều súng đạn.”

– “Thiếu tá sao nhớ hay vậy?”

– “Một là tôi từng chỉ huy các đơn vị này. Hai là công điện phổ biến Tin Hải Quân hàng ngày.”

Thiếu úy Ấn lại xin lỗi tên Mỹ để dùng la bàn. Tôi để ý thấy anh lặp lại việc làm mỗi 15 phút. Tôi nhìn theo anh đang nhắm vào mũi nhọn nhô ra biển khá xa trước mũi tàu. Rồi nhắm vào thành phố con tàu đang ngang qua. Rồi nhắm mũi nhọn xa phía lái. Một khối vuông vàng ố từ đó vượt qua bãi cát đỏ, vươn lên nền trời xanh. Tôi hỏi Hạm Trưởng:

– “Thưa Thiếu tá, cái khối vuông kia là gì vậy”?

– “À, đó là một di tích lịch sử có liên quan đến tác giả hai câu thơ Thiếu úy Ấn ngâm nga trong bữa cơm trưa qua: ‘Ngày mai trong đám xuân xanh ấy. Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.’”

– “Xin Thiếu tá nói rõ hơn!”

– “Ông thi sĩ đó cũng là tác giả bốn câu thơ này:

Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng
Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăиg
Lầu Ông-Hoàng, người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương tha thiết”

– “A! Lầu Ông Hoàng,” Tôi kêu lên. “Cái tên được nhắc trong bản nhạc Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh.”

– “Đúng!” Hạm Trưởng tươi cười. “Nhưng cái khối trụ vuông ố vàng đó không phải là Lầu Ông Hoàng như nhiều người lầm tưởng. Đó là cái pháo đài do Pháp xây để chống lại quân kháng chiến chống Pháp. Lầu Ông Hoàng được xây gần đó, cách nay trên nửa thế kỷ, là một dinh thự có tới 13 phòng của một công tước người Pháp. Rồi sau khi Pháp rút, bị bỏ hoang phế. Cách đây 4, 5 năm, Duyên Đoàn 28 phối hợp hành quân với bộ binh tảo thanh Việt Cộng, tôi có đến tận nơi, thấy Lầu Ông Hoàng chỉ còn vài phế tích.”

Tôi lại nhìn pháo đài, tưởng tượng đôi tình nhân ngồi kề vai ngắm biển cả, trăng sao. Tôi hát thầm ‘Ai mua trăng tôi bán trăng cho…’ Trong nỗi ngậm ngùi, tôi tự hứa sẽ có một ngày đến viếng nơi hẹn hò này của nhà thơ bạc phước và nàng thơ Mộng Cầm. Tuần rồi Hưng đã đưa tôi vào trại cùi Làng Phong viếng ngôi mộ giả của Hàn Mặc Tử, và sau đó đến viếng ngôi mộ thật ở Gành Ráng. Lần viếng đồi Lầu Ông Hoàng sắp tới, chắc chắn tôi sẽ không đi với Hưng. Viếng một nơi tình tứ mà đi với một người quá khô khan thì thà đi một mình. Đi với Võ Bằng thì quá thích hợp nhưng liệu chừng đó tôi còn gặp lại anh chàng? Thôi thì đi một mình theo gợi ý của Hàn Mặc Tử ‘Rồi ngây dại nhờ thất tinh chỉ hướng’. Hướng nào thì Võ Bằng đã dẫn giải. Chòm Thất Tinh chỉ hướng Bắc. Từ Sài Gòn, cứ theo Gấu Mẹ là tới. Nhưng có đáng bõ công không? Cũng đáng lắm. Ngồi trên đỉnh đồi như trên đài chỉ huy, trước mặt là đại dương dạt dào, trên trời vô vàn vì sao. Còn nơi nào thích hợp hơn để nhớ… chuyến đi này! Tiếng của Hạm Trưởng nhẹ vang:

– “Cô Phượng có biết tác giả bản Hàn Mạc Tử là người Phan Thiết.”

– “Vậy sao?” Tôi ngạc nhiên. “Hèn gì lời nhạc nghe rất cảm động. Thiếu tá thích nhạc Trần Thiện Thanh?”

– “Thỉnh thoảng có nghe trên đài Quân Đội. Còn cô?”

– “Chỉ thích vài bản. Như Hàn Mặc Tử, Lâu Đài Tình Ái. Thích Hàn Mặc Tử nhưng chê Tâm Sự Mộng Cầm!”

– “Bút hiệu của nhà thơ trên bản nhạc Hàn Mặc Tử ghi sai. Phải là Hàn Mạc Tử, không dấu á.”

– “Thiếu tá dựa vào đâu mà cho là sai?”

– “Cô về tìm đọc quyển Hàn Mạc Tử của nhà phê bình văn học Trần Thanh Mại. Đó là quyển tiểu sử được đích thân nhà thơ Hàn Mạc Tử yêu cầu tác giả chấp bút.”

Hạm Trưởng lặng thinh nhìn phía trước. Tôi lại vội lên tiếng:

– “Thưa Thiếu tá, ngoài Lầu Ông Hoàng, Phan Thiết có gì đặc biệt khác?”

– “Tôi không biết nhiều về Phan Thiết. Nói rộng hơn là cả tỉnh Bình Thuận. Chỉ nghe nói nước mắm Phan Thiết ngon không thua gì Phú Quốc.”

Ông ra dáng suy nghĩ. Tôi cũng cố tìm một câu hỏi. Ông lên tiếng trước:

– “Nếu nói riêng về mối quan hệ với Hải Quân thì có địa danh Mũi Né.”

– “Liên hệ ra sao, thưa Thiếu tá?”

– “Cái tên Mũi Né đã nói lên sự liên hệ rồi!”

– “Phượng không thấy gì hết. Xin Thiếu tá nói rõ hơn.”

– “Theo đồn đại dân gian thì sở dĩ có tên Mũi Né vì đó là vịnh tốt nhất cho ghe tàu né sóng lớn.”

– “Thiếu tá cho tàu né lần nào chưa?” Tôi cười hỏi.

– “Chưa vì còn một chỗ vừa né được sóng mà cũng né được gió. Đó là đảo Hòn Bà thuộc hải phận Phước Tuy. Còn khá xa, phải qua hải đăng Kê Gà mới có thể thấy. Cũng khoảng 3 tiếng nữa.”

– “Hải đăng Kê Gà, cái tên nghe hay hay. Đã Kê mà còn Gà. Vì sao có tên đó?”

– “Sách vở nói sở dĩ có tên Kê Gà là vì hòn đảo có dạng đầu con gà, còn chữ Kê nguyên thủy là chữ Khe, dân gian đọc thành Kê. So với hải đăng Cù Lao Xanh ở Quy Nhơn, vừa xa đất liền vừa chỉ cao 19 thước, Hải đăng Kê Gà cao 60 thước trên một hòn đảo cách đất liền nửa cây số. Đặc biệt, khi thủy triều xuống, du khách có thể tản bộ trên bãi cát. Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là 67 năm, cả hai hải đăng hoạt động liên tục, hữu hiệu.”

Tôi hít một hơi dài. Có quá nhiều đặc ngữ, thuật ngữ, danh từ cùng lúc dồn dập vào đầu như cơn bão ập đến. Còn đang ngất ngư, Hạm Trưởng đột ngột hỏi:

– “Lên đại học, tiếng Anh của cô chắc khá lắm!”

– “Tôi có học thêm ở Hội Việt Mỹ.”

Trả lời xong tôi giật mình nhớ tới Hưng. Chính Hưng xúi tôi học thêm tiếng Anh để xin vào làm ở các cơ quan Mỹ nghe ngóng, săn tin. Hạm Trưởng định dẫn mình tới đâu đây?

– “Cô có đọc tiểu thuyết tiếng Anh?”

– “Thưa, đôi khi.”

– “Có hai quyển truyện liên quan đến ngọn hải đăng. Một quyển dễ đọc, một quyển khó nhằn. Cả hai truyện đều hay. Đó là quyển ‘The Lighthouse at the End of the World’ của Jules Verne và quyển ‘To the Lighthouse’ của Virginia Woof. Tôi biết cô thích Sử Địa, nhưng nếu có chút máu văn chương thì rất nên đọc.”

– “Xin ghi nhận. Cám ơn Thiếu tá.”

Tôi không ngạc nhiên thấy ông đọc nhiều. Dưới quyền là các sĩ quan giỏi nghề, lại ‘nếu không có gì trở ngại’, ông có quá nhiều thì giờ rỗi rảnh. Tên Mỹ cũng thế, lúc nào cũng ôm bộ bài hay quyển sách. Còn Võ Bằng… Tiếng Hạm Trưởng vang lên:

– “Trở lại đường về, ở phía nam hải đăng Kê Gà có một bãi cạn chìm dưới mặt nước chưa đầy một mét, cách bờ độ 30 cây số, gọi là Banc de Britto. Nếu đi tắt giữa bờ và Banc de Britto, thời gian hải hành sẽ rút ngắn cả tiếng nhưng nguy hiểm vì có thể bị dòng nước ngầm và gió đẩy tàu giạt vào bãi cạn. Thông thường với Hạm Trưởng thích ăn chắc mặc bền, ông ta cho tàu bung xa ngoài dãy banc để được an toàn.”

Tôi cũng muốn được an toàn. Từ lúc xuống tàu, tôi lúc nào cũng nguyện cầu bản thân được an toàn. Giờ phút nào còn ở trên tàu là giờ phút đó tôi thiếu an toàn. Vì vậy, ngược với an toàn hải hành, tôi tràn đầy hy vọng ông chọn đi đường tắt. Đi tắt không an toàn cho tàu nhưng tôi sớm được rời tàu. Tôi hồi hộp hỏi:

– “Thưa Hạm Trưởng, vậy mình đang đi tắt hay bung ra ngoài?”

– “Hạm Phó thì thích đi bung ra ngoài! Còn cô Phượng thì sao?”

Tôi cố nén bực mình, giữ giọng lễ độ:

– “Dĩ nhiên Phượng muốn về Sài Gòn sớm!”

– “Coi như xổ số: Cô bước đến bàn hải đồ xem tàu đi trong hay đi ngoài!”

Bàn hải đồ đặt ngay giữa đài chỉ huy, Thiếu úy Ấn từ cánh trái bước qua đứng cạnh. Tấm hải đồ hai màu đen trắng chi chít con số và các đường cong queo nhưng so với bản đồ được thấy qua môn địa lý thì vẫn sáng sủa hơn. Nhìn qua, tôi đã nhận ra hải lộ của chiến hạm được kẻ bằng viết chì. Nhưng Banc de Britto ở đâu? Thiếu úy Ấn thấy tôi lò dò, nên chỉ một đốm xám có hàng chữ vắt ngang Banc de Britto. Rõ ràng hải lộ nằm giữa bãi cạn và bờ. Nụ cười khoái chí nở cùng lòng quý mến. Ông Hạm Trưởng này có lòng nhân ái, biết cảm thông ước muốn của nhân viên. Ai chẳng mong sớm đoàn tụ gia đình sau công tác dài hạn. Nếu chỉ nghĩ riêng tương lai cá nhân, với uy quyền tối thượng ‘trên có Trời dưới có Hạm Trưởng’, ông có toàn quyền chọn đường đi an toàn. Tôi trở lui tươi cười với Hạm Trưởng: – “Cảm ơn. Cảm ơn. Rất cảm ơn.”

Ông cười, nụ cười nửa hài lòng nửa kẻ cả. Nhìn nụ cười tươi rói của ông, tôi bất chợt nghĩ đến câu thành ngữ ông đề cập trong bữa ăn trưa hôm qua. Câu đó xem ra còn thiếu sót. Tôi thấy nên thêm vài chữ cho đầy đủ: ‘trên có Trời dưới có Hạm Trưởng và Phan Kim Phượng’. Bởi vì tôi cũng có toàn quyền cho bom nổ hay không!

(1). Chưa bao giờ tôi thấy bầu trời sâu thẳm và các vì sao rực rỡ đến thế.
(2). Nếu có bao giờ thức ngoài trời một đêm đầy sao, bạn mới biết rằng trong lúc chúng ta ngủ, một thế giới huyền bí thức dậy trong cô đơn và tĩnh mịch. (Bản dịch của Hà Kỳ Lam)
(3). Đẹp quá. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều như thế. Đại úy có biết tên tất cả các ngôi sao kia không?
(4). Thưa cô, biết chứ. Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường Thánh Jacques (dải Ngân Hà)

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)