Tựa
Truyện dài “Đời Thủy Thủ” của nhà văn Vũ Thất xuất bản lần thứ nhất năm 1969 tại Sài Gòn, Thư Ấn Quán tái bản năm 2012 tại Hoa Kỳ với nhân vật chính Võ Bằng, một sĩ quan Hải Quân trẻ tuổi, mới ra trường, bước đầu vào hải nghiệp.
“Đời Thủy Thủ 2” được viết xong vào tháng 3/2023, 54 năm sau. Nhân vật chính lần này là một người đẹp Nha Mân, sinh viên khoa Sử Địa thuộc Đại học Sư phạm Sài Gòn, cảm tình viên của phong trào sinh viên phản chiến, có người yêu là một kiến trúc sư, nhân viên USAID, con trai một chủ thầu rác cho căn cứ Mỹ ở Quy Nhơn. Thuộc gia đình khá giả nhờ chiến tranh nhưng chàng ta lại đi theo Việt Cộng và muốn lôi kéo người yêu cùng hoạt động với mình. Dù đã được hai bên cha mẹ đồng ý, nhưng nếu hai người muốn cử hành hôn lễ, nàng phải lập thành tích bằng cách cho nổ tung một chiến hạm của Hải quân VNCH.
Mù quáng trước tình yêu cộng thêm những buổi học tập “cách mạng”, nghe theo lời tuyên truyền “căm thù và chống đối Mỹ Ngụy” của cộng sản, cô bằng lòng dùng giấy phép quá giang giả với tên giả để mang quả bom xuống chiến hạm.
Câu chuyện bắt đầu từ 7 giờ tối ngày thứ sáu 4/8/1967 và kết thúc vào khoảng 9 giờ 30 phút tối chủ nhật 6/8/1967 với hai ngày hai đêm trên biển cả qua các vùng biển Quy Nhơn, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, vịnh Cam Ranh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy, Phước Tuy, vịnh Gành Rái và sông Lòng Tào.
Trong chuyển hải hành dài 50 tiếng đó, qua từng chương sách, tác giả đã khéo léo tỉ mỉ giới thiệu về Hải quân VNCH mà ông chọn làm binh nghiệp. Từ cách phân biệt sĩ quan hạ sĩ quan và thủy thủ đoàn dựa trên kiểu quân phục và cấp bậc đến các ngành nghề chuyên môn cũng như việc thuyên chuyển, thăng cấp trong Hải quân. Ông cũng đề cập đến cách bày trí, kích cỡ của các phòng trên chiến hạm, cách chọn màu sơn cho đến tiếng còi hiệu thay đổi phiên hải hành hoặc sẵn sàng chiến đấu. Ông cũng giới thiệu các loại chiến hạm, chiến đỉnh, chiến thuyền và duyên đoàn, các loại hiệu kỳ mang những ý nghĩa khác nhau, như tàu đang chở hàng nguy hiểm, tàu đang lâm nạn, tàu đang neo v.v… Rồi cách xác định vị trí tàu trên đại dương để tránh bị dạt vào vùng đá ngầm, bãi cạn.
Câu chuyện chiến hạm xuyên nhật đạo ngày 9 tháng 2 năm 1967 nhằm ngày Mồng Một Tết Đinh Mùi thật thú vị. Qua mỗi hải phận Miền Nam, tác giả nhắc tới các danh lam thắng cảnh kèm theo một câu chuyện về đặc điểm nơi đó, hoặc lịch sử, hay văn nghệ rất lý thú. Cũng có lúc tác giả giới thiệu sách hay phim ảnh nên xem để hiểu rõ hơn về một sự việc được đề cập…
Tác giả cũng không quên nhờ chàng Hạm Phó giải thích cho người đẹp Nha Mân vì sao bầu trời và biển có màu xanh, vì sao biển thì xanh mà sóng lại bạc đầu, vì sao mây trôi lang thang, vì sao mỗi dạng mây mang tên khác nhau, vì sao có cầu vồng sau cơn mưa, vì sao có thủy triều, vì sao có bão… Đặc biệt, ở một phiên hải hành ca tiên từ nửa đêm tới bốn giờ sáng, tác giả dùng truyện ngắn Les Étoiles của Alphonse Daudet mào đầu cho chàng và nàng nhắc đến những vì sao, những chòm sao… Đây là một chương đẹp và thơ mộng nhất.
Nhưng trên tất cả, tác giả nhắc tới hiện trạng bất ổn của Miền Nam sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết. Sinh viên thì bị xúi giục rầm rộ biểu tình chống đối chính quyền. Được Công Sản Nga Tàu tích cực yểm trợ súng đạn tối tân hơn, Cộng Sản Bắc Việt gia tăng xâm nhập mở nhiều trận đánh. Đặc công gia tăng khủng bố nhiều nơi.
Một người đẹp đặc công Nha Mân mang quả bom xuống chiến hạm, được Hạm Trưởng, Hạm Phó, thủy thủ đoàn, kể cả cố vấn Mỹ vô tình tiếp đón nồng hậu trên suốt cuộc hải hành. Tận tai tận mắt nghe thấy sinh hoạt của chiến hạm, thắm thía lòng nhiệt thành bảo vệ Tổ Quốc của mỗi người, liệu cô nàng đặc công có thay đổi ý định hay vẫn sẽ cố sức làm nổ tung con tàu giết chết toàn bộ thủy thủ đoàn? Câu trả lời sẽ làm hài lòng độc giả vào cuối truyện qua văn phong trong sáng, bố cục chặt chẽ, nội dung hấp dẫn và cuốn hút…
Nơi đây xin được cảm ơn nhà văn Vũ Thất đã để lại cho những thế hệ sau một tác phẩm văn chương cũng là một tài liệu sống động về Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn Miền Nam hết sức nhiễu nhương.
Ước sao ông còn đủ sức và ý nguyện để tiếp tục viết Đời Thủy Thủ 3. Mong lắm thay!
Trần Thị Nguyệt Mai
30-4-2023
Mở
Hưng thả tôi ngay chân chiếc thang dẫn lên chiến hạm rồi trở đầu Honda đậu chờ gần đó. Chiến hạm mang màu xám thẫm, súng ống tua tủa, chiếm trọn chiều dài của cầu tàu hải cảng Quy Nhơn. Ba người lính trên trạm gác giữa tàu đang chiếu tướng tôi một cách soi mói. Một người mang súng ngắn bước lên cầu thang. Chiếc thang rung nhẹ theo nhịp bước. Bộ quân phục cùng chiếc mũ casquette nói lên chức vị của anh chàng.
Trong một lần quan sát sinh hoạt lên xuống chiến hạm ở bến Bạch Đằng chuẩn bị cho chuyến công tác này, Hưng chỉ tôi cách phân biệt giữa quan và lính. Sự khác biệt là ở kiểu quân phục. Nhưng với sĩ quan và hạ sĩ quan thì quân phục giống nhau, khác biệt ở vành nón casquette. Đường viền trước vành nón màu vàng là sĩ quan. Còn thấy màu đen là hạ sĩ quan. Một phân biệt khác: sĩ quan mang giày trắng, hạ sĩ quan giày đen. Về cấp bậc, thì đều đeo ở cầu vai. Trên nền đen, nếu thấy gạch vàng thẳng là sĩ quan, gạch vàng gãy là hạ sĩ quan. Cấp Thiếu úy thì một gạch thẳng. Càng nhiều gạch thì cấp bậc càng cao. Hưng bảo công tác chỉ chừng hai ngày, biết đại khái thế là đủ…
Tôi dừng chân ở cuối cầu thang cũng vừa đúng lúc anh chàng hạ sĩ quan mang hai gạch gãy đặt chân lên cầu tàu. Anh lịch sự hỏi:
– “Chào cô. Cô muốn tìm ai?”
Tôi nở nụ cười thật tươi gây cảm tình:
– “Tôi muốn xin quá giang về Sài Gòn!”
– “Cô có giấy phép quá giang?”
Tôi mở bóp, trao tờ Lệnh Chuyển Vận. Anh hạ sĩ quan xem rồi nhã nhặn:
– “Cô vui lòng chờ một chút.”
Anh xoay người bước trở lên tàu và đưa tờ giấy cho người sĩ quan mang một gạch vàng. Người này chăm chú đọc rồi nhấc ống liên hợp trên vách, quay số. Tôi nghe tiếng anh vọng xuống:
– “Thưa Hạm Phó, đây Thiếu úy Văn, sĩ quan trực hạm kiều. Có một cô muốn xin quá giang về Sài Gòn. Có giấy phép của Phòng Chuyển Vận.”
Tiếng “giấy phép” gợi trong tôi cảm giác nôn nao, bồn chồn. Nếu như họ biết đó là giấy giả thì sao? Hưng đã trấn an tôi nhiều lần rằng không ai có thể khám phá ra giấy giả. Trước tôi anh đã cho hai cô đi quá giang dò đường cũng bằng giấy giả và mọi sự êm xuôi. Hai lần đó, người bảo lãnh là hai thủy thủ. Riêng với tôi lần này là một Trung úy, xem ra uy thế hơn nhiều.
Tôi thở hắt ra rồi hít đầy không khí trong lành. Gió buổi sáng xoa dịu dần nỗi lo âu. Mặt nước đầm Thị Nại lấp lánh long lanh kéo tôi bước dần về phía cuối cầu. Tôi, Hưng và em gái Hưng đã đi ghe băng ngang qua đầm đến bán đảo Phương Mai. Một ngày thật vui với những dân chài chân chất hiền lành. Quy Nhơn là quê hương của Hưng. Ba Hưng là chủ thầu rác cho căn cứ Mỹ. Hưng tốt nghiệp đại học xin được việc làm ở Cơ quan USAID. Anh nghỉ hai tuần đưa tôi về giới thiệu với ba má và cô em gái năm tới vào đại học Sài Gòn. Rồi hai tuần trôi qua thật nhanh nhưng để lại trong ký ức tôi những kỷ niệm không bao giờ quên. Hình ảnh các di tích lịch sử của vua Quang Trung, những thắng cảnh, những món ăn lạ miệng ngon lành. Nhất là những cuộc bàn cãi chừng như bất tận mà rốt cuộc Quy Nhơn trở thành nơi ghi dấu khởi đầu một thành tích tôi cần đạt được để Thành Ủy cho phép tôi và Hưng nên duyên vợ chồng. Cuộc bàn cãi dẫn đến việc tôi bằng lòng thực hiện một chuyến quá giang với nhiệm vụ mang theo quả bom để khi về đến Sài Gòn tôi đặt thời chỉnh cho nổ tung chiến hạm…
– “Chào cô Phan Kim Phượng!”
Tôi giật mình quay lại. Khuôn mặt hiện ra ngay trước tôi là của tài tử Burt Lancaster trong phim Thói Đời mà tháng rồi tôi xem đến ba lần. Chỉ có một khác biệt nổi bật: Da mặt chàng Hải Quân thì sạm đen còn chàng tài tử thì sạm trắng. Còn về khuôn mặt, cho dù vốn mang ác cảm, tôi cũng cho là khá hơn coi được.
– “Xin lỗi đã làm cô giật mình.” Anh chàng cười. “Tôi cũng từng thích ngắm Đầm Thị Nại để nhớ trận thủy chiến giữa các… phe ta! Còn cô, cô đang nhớ gì?
Giọng thân mật đẩy lùi tinh thần cảnh giác trong tôi. Tôi nhìn bảng tên Võ Bằng bên trên túi áo và hai vạch vàng óng ánh hai bên cầu vai. Anh chàng này hơn anh chàng canh gác một gạch hẳn là cấp trung úy.
– “Cô là gì của Trung úy Phan Kim Đính?” Bằng hỏi.
Hưng đã chuẩn bị tôi sẽ bị hỏi câu này. Theo thủ tục xin giấy phép quá giang, tôi phải có người trong Hải Quân bảo lãnh mới được cấp phép. Vì vậy, giấy thì giả nhưng người bảo lãnh thì thực. Phan Kim Đính là bạn học Pétrus Ký với Hưng.
– “Là em.” Tôi lấy giọng tự nhiên.
Võ Bằng cúi đọc tờ phép quá giang:
– “Phan Kim Phượng! Tên đẹp quá!”
Vừa nói anh chàng vừa chiếu tướng. Mắt Võ Bằng mở to và mắt tôi như bị nung nóng. Tên thật của tôi còn đẹp hơn nhiều, nếu anh chàng biết được hẳn quê một cục! Võ Bằng lại tiếp:
– “Cái thằng thật tệ. Học cùng khóa hai năm mà chưa bao giờ nghe khoe là có em gái… rất đẹp!”
“Cùng khóa!” Hai tiếng như một lời báo động, như tiếng nổ của quả bom. Đây là một tình cờ đáng e ngại. Tự nhận ‘là em’ mà chẳng biết tí gì về ông anh thì khác gì lạy ông tôi ở bụi này. Tốt nhất là nên né đi để khỏi trả lời những câu hỏi liên quan. Tôi cố giữ giọng bình thản:
– “Tôi là em chú bác với anh Đính.”
Anh chàng gật gù, cười mỉm:
– “Thì vẫn là ruột thịt chớ không phải người dưng khác họ!
Tôi thở nhẹ, hài lòng với sự nhanh trí của mình. Tôi chờ Võ Bằng nói thuận cho tôi quá giang nhưng anh chàng chỉ lặng thinh, dáng vẻ trầm ngâm suy tư. Rồi anh chàng nhìn tôi, lối nhìn cân nhắc như tìm xem tôi có điểm nào giống Phan Kim Đính. Con chú con bác thì hẳn cũng có ít nhiều. Võ Bằng đột ngột hất hàm về phía Hưng:
– “Anh chàng kia là người yêu của cô?”
– “Anh tôi đó.”
Võ Bằng đăm đăm hướng mắt vào Hưng nhưng may quá Hưng không quay mặt nhìn lui. Anh em gì mà không có chút nào giống nhau!
– “Cô có người yêu rồi chứ hả?”
Anh chàng bắt đầu mở máy tán đây. Tôi nghĩ thầm và thấy cần chận lại ngay:
– “Dĩ nhiên là có rồi!”
– “Là Hải Quân chứ hả?”
Đang cảm thấy khó chịu nên tôi không kềm được chút mỉa mai:
– “Thật đáng buồn là không!”
– “Đáng buồn thật!” Bằng lặp lại, theo sau là tiếng thở dài rõ ràng là giả vờ.
Tôi đổ quạu, cao giọng:
– “Tại sao không có người yêu Hải Quân là đáng buồn?”
– “Đáng buồn là cô không đủ điều kiện để quá giang!”
Tôi chăm chăm nhìn Võ Bằng, không thể tin anh chàng vừa tuôn ra một câu khó nghe như thế. Hẳn anh chàng muốn tôi nhận làm người yêu rồi mới cho quá giang chắc. Tôi nói mỉa:
– “Điều kiện gì lạ vậy? Tôi có giấy phép chính thức mà!”
Bằng cười, giọng bỡn cợt:
– “Giấy phép đó không áp dụng cho tàu này! Tàu này chỉ chở người yêu của thủy thủ.”
Tôi tức nghẹn, nổi nóng:
– “Tôi không thích lảm nhảm. Trung úy trả lời dứt khoát: cho hay là không?”
– “Không!” Bằng trả lời cộc lốc với nụ cười.
Tôi cao giọng:
– “Khi tôi xin giấy phép quá giang, không ai đặt điều kiện tôi phải là người yêu của Hải Quân. Người ta chỉ hỏi thân nhân bảo lãnh. Và thân nhân bảo lãnh của tôi là Trung úy Phan Kim Đính.”
– “Đó là điều kiện của nơi cấp giấy phép. Còn nơi thi hành có điều kiện riêng!”
– “Điều kiện gì mà vô lý quá.”
– “Với cô thì vô lý nhưng với chiến hạm này thì không. Nói rõ hơn, với chiến hạm khác thì được!”
Xem ra anh chàng lèm bèm cố tình muốn tôi năn nỉ. Nhưng năn nỉ một người tôi vốn coi thường thì khó nói quá. Nỗi thất vọng và cơn giận cùng lúc ập tới. Tôi như nghẹt thở, định bỏ đi nhưng nghĩ đến công tác, tôi đành giữ giọng nhã nhặn:
– “Có thực phải là người yêu của Hải Quân mới được đi tàu? Tôi cho rằng Trung úy nói chơi.”
– “Tôi không nói chơi!” Võ Bằng đáp bằng nụ cười.
Tôi lại tức nghẹn, gằn giọng:
– “Không được đi, ngay cả tôi có giấy phép?
– “Ngay cả cô có giấy phép!”
– “Về Sài Gòn tôi sẽ đi thưa Trung úy!”
– “Cô đi thưa, tôi đi hầu!”
Bằng vẫn giữ giọng bỡn cợt và tôi thực sự đổ quạu:
– “Cái điều kiện Trung úy nêu ra thật thậm vô lý! Các bạn tôi có giấy phép quá giang đều được cho quá giang!”
Võ Bằng lại mỉm cười, dai dẳng:
– “Là nhờ họ có người yêu lính thủy!”
Tôi gắt:
– “Không ai có cả! Chỉ có thân nhân là Hải Quân.”
– “Với tàu này, tôi rất tiếc!”
Nghĩ đến mọi công phu chuẩn bị thành công dã tràng, tôi ước gì có súng để tặng anh chàng ấm ớ này một phát! Tôi buông lời cuối cho hả dạ:
– “Thiệt là… cà chớn cà cháo!”
Tôi hậm hực xoay người bỏ đi. Được mươi bước, sực nhớ tờ giấy phép Võ Bằng còn giữ, tôi quay lại. Võ Bằng đang đứng nhìn theo. Tôi nói lớn:
– “Không cho quá giang thì trả tờ giấy lại để tôi còn đi chiếc khác.”
Võ Bằng tà tà bước lại gần, nói bằng giọng thân thiện:
– “Thấy cô nổi giận, tôi… sợ quá! Không phải sợ vì cô dọa thưa Bộ Tư Lệnh Hải Quân mà vì sợ thằng bạn thân cùng khóa Phan Kim Đính! Tôi sợ nó giận rồi nó cấm tôi… gặp lại cô!”
Tôi quạu cọ nói:
– “Lải nhải hoài! Trả giấy lại cho tôi!”
Anh chàng không trả mà lại mở ra đọc, cái kiểu câu giờ tìm lời tán tỉnh. Tôi dứt khoát:
– “Nè, Trung úy! Cứ nói trắng ra Trung úy muốn gì?”
Võ Bằng chỉ mỉm cười, ra dáng suy tư. Tôi cũng tự ngẫm nghĩ sao mình lại tiếc một lời ba xạo. Cứ hứa bừa rồi được … tung cánh chim tìm về tổ ấm! Rồi Võ Bằng không bao giờ còn dịp nham nhở. Tôi tiếp:
– “Nè, Trung úy. Nếu Trung úy cho tôi quá giang, tôi hứa sẽ trở thành người yêu của Hải Quân.”
Võ Bằng toác miệng cười, rộng cỡ miệng Burt Lancaster:
– “Mới chỉ hứa thì vẫn chưa đủ điều kiện!”
– “Thì Trung úy cũng phải cho tôi thì giờ tìm người chứ!”
– “À, phải, phải! Cho cô quá giang, cô sẽ có cả một thủy thủ đoàn và mấy ngày đêm trên chiến hạm để chọn lựa. Tha hồ chọn lựa. May mắn thì tôi được chấm!”
Tôi trố mắt nhìn Võ Bằng:
– “Vậy… có nghĩa là tôi được quá giang?”
– “Vậy có nghĩa là tôi mới chỉ hứa cho cô quá giang.”
Anh chàng quả là tên nham nhở. Chưa cho đi đã nham nhở, huống hồ làm khách quá giang. Thôi thì đành chờ chuyến tàu sau. Còn gần một tháng mới đến ngày nhập học. Hưng cũng đã muốn tôi ở lại. Tôi hậm hực cao giọng:
– “Đủ rồi Trung úy! Tưởng tôi cần đi tàu này lắm sao! Trả lại tôi tờ giấy phép!”
– “Cô Phượng bớt giận! Chuyện đâu còn có đó. Tôi sẽ nói giúp cho…”
Tôi không hiểu “nói giúp” là nói thế nào, xem chừng lại tiếp tục câu giờ. Tuy vậy tôi đẩy đưa lần cuối:
– “Cám ơn Trung úy hứa “nói giúp”. Vậy chừng nào tôi… xuống tàu?”
– “Tốt nhất là cô cho tôi địa chỉ, rồi khi nào được chấp thuận, tôi sẽ cho cô biết. Trong tờ phép, địa chỉ ghi ở Sài Gòn. Còn ở đây, cô ở đâu?”
Anh chàng hỏi thật hay muốn tìm biết địa chỉ để tìm đến tán tỉnh? Tôi hỏi ngược:
– “Trung úy cần biết lắm sao?”
Võ Bằng cười mím chi:
– “Cần cho cô chớ không phải cho tôi.”
– “Nghĩa là sao?”
– “Cô không cho địa chỉ thì làm sao tôi thông báo khi cô được chấp thuận quá giang.”
Tôi kêu khổ thầm. Địa chỉ ở Sài Gòn là giả, họ có biết thì đã… muộn. Còn địa chỉ ở đây, tôi đâu thể để ba má Hưng liên lụy. Tôi thấy cần hỏi ý Hưng. Tôi vờ ngơ ngẩn:
– “Tôi ra đây nghỉ hè ở nhà bà con, không để ý số nhà…. Để tôi hỏi anh tôi.”
Tôi dợm bước thì Bằng bảo:
– “Thôi khỏi, cô Phượng. Có thể anh cô cũng không biết. Tôi đề nghị thế này. Vào ngày thứ bảy hay chủ nhật tới đây, mỗi ngày cô chịu khó… dòm ngó bóng dáng chiến hạm. Chừng nào thấy cập cầu, cô nói lính gác muốn gặp tôi. Tôi sẽ cho cô biết ngày giờ xuống tàu. Trường hợp quá một tuần mà không thấy tàu trở lại, thì coi như chúng tôi đã về thẳng Sài Gòn!”
Tôi buông giọng chán nản:
– “Xem chừng đây là lối từ chối thật khéo!”
Võ Bằng cười, lắc đầu:
– “Không! Đó là lối chấp thuận kiểu… Hải Quân!”
Trong hy vọng mong manh, tôi cố nở nụ cười cầu tài:
– “Trung úy nói gạt là tôi méc anh họ tôi đó. Thôi thì cứ coi tôi là người yêu của Trung úy, Trung úy ừ đại cho tôi vui!”
Võ Bằng cười tươi, chừng không hiểu là tôi vừa mai mỉa. Tuy vậy anh chàng vẫn ấm ớ:
– “Ừ được thì tôi đã ừ!”
Không còn cách nào hơn, tôi đổi giọng thân mật:
– “Trung úy đã hứa thì đừng quên, thứ bảy và chủ nhật mỗi ngày tôi sẽ đến cầu tàu này trông ngóng… Trung úy! Còn như cho tới giờ Trung úy chỉ cợt đùa thì xin tha cho. Hãy biết tội nghiệp người trông ngóng…”
Anh chàng nở nụ duyên dáng nhất của Burt Lancaster:
– “Lúc đầu thì có cợt đùa nhưng giờ thì đứng đắn. Rất đứng đắn. Hãy nhớ là tôi cũng rất mong sớm gặp lại… cô em họ thằng bạn!”
Bằng trao trả tờ Lệnh Chuyển Vận. Tôi ra vẻ cảm động:
– “Cám ơn Trung úy nhiều …”
Tôi xoay người bước đi, kịp giấu nụ cười thương xót: “Dám giỡn mặt với… tử thần!”
Chương 1
Vịnh Quy Nhơn
Thứ sáu 4/8/1967 19:00G
Đến cuối đường Gia Long nối liền cầu tàu, chiếc xích lô tấp vào lề, thắng sững lại, còn cách chiến hạm một quãng khá xa. Bác xích lô bảo đây là điểm giới hạn, không được phép vào cầu tàu. Bác giúp nhấc hai chiếc túi xách để lên lề đường, dọn chỗ cho tôi dễ dàng bước khỏi xe. Tôi đưa bác thêm ít tiền ngoài giá thỏa thuận.
Mỗi tay một túi xách nặng trên dưới mười ký, tôi thầm cám ơn đôi giày bata mềm mại khít khao giúp tôi giữ đều bước với dáng vẻ thảnh thơi bất kể mồ hôi bắt đầu rịn trên da thịt. Gió nhẹ nhưng chỉ phả thêm hơi nóng.
Còn mươi bước đến đầu chiếc thang bắc lên tàu, tôi chợt nhận ra chiếc thang nghiêng cao hơn lần trước, đâm lo không biết có đủ sức mang cả hai xách lên tàu. Chắc chắn là tôi phải để một túi xách trên cầu và trở lui cho chuyến thứ nhì. Nhưng túi xách nào nên mang trước để được nhiều cơ may? Tôi quyết định chọn túi xách đựng ration C và hộp quà tặng. Tôi vừa đặt túi xách đựng quả bom lên cầu tàu thì có tiếng vọng đến:
– “Xin chờ đó!”
Tôi ngẩng lên, nghe dạ nôn nao. Sáng nay Võ Bằng đã cho biết là tôi được phép quá giang, chẳng lẽ giờ lại đổi ý. Anh chàng Thiếu úy nhấc ống liên hợp và nhấn nút màu xanh trên vách. Tôi nghe loáng thoáng: “Thưa Hạm Phó, thân nhân Hạm Phó đã đến”. Im lặng vài giây lại tiếng rõ hơn “Đáp nhận”. Anh chàng gắn lại ống liên hợp rồi nói với anh hạ sĩ quan xuống giúp mang hành lý lên tàu. Tôi nghe mà nhẹ người. Trạm gác vẫn là cặp ba nhưng không ai quen mặt lần trước. Tôi mỉm cười chào anh hạ sĩ quan. Anh gật đầu đáp lễ rồi nhấc chiếc xách trên cầu và cầm luôn chiếc xách đang trên tay tôi. Tôi cố giữ nhưng anh cười bảo mỗi tay một xách dễ đi hơn. Tôi hồi hộp theo sau anh. Chiếc cầu thang nhún nhẩy hòa với nhịp tim của tôi.
Hai túi xách được đặt lên sàn tàu. Anh chàng Thiếu úy mang bảng tên Vương Văn Tiến nhã nhặn nói:
– Xin cô vui lòng cho xem thẻ căn cước.
Tôi mở túi đeo vai lấy tấm thẻ. Tấm thẻ giả được Hưng bầm dập cho nó cũ nhưng xem ra vẫn còn quá mới. Thiếu úy Tiến chăm chú đọc rồi ngước nhìn vào mặt tôi rồi lại nhìn vào hình. Anh so đo thêm lần nữa. Những sợi thần kinh trong tôi lao xao. Tôi cầu Trời khấn Phật cho tôi đừng biến sắc. Khi anh trả tấm thẻ, tia mắt anh cũng dịu êm như lời nói: “Welcome aboard.”
Tôi vừa chớm vui với sự tiếp đón lịch sự thì Thiếu úy Tiến lại tiếp:
– “Chúng tôi mạn phép khám hành lý.”
Dù vẫn biết là sẽ bị khám và đã ngụy trang cẩn thận, nhưng vẫn hồi hộp. Tôi cố nở nụ cười tươi:
– “Xin tự nhiên.”
Thiếu úy Tiến ra hiệu hạ sĩ quan Trần Thanh Tùng mở túi xách. Anh chàng này chọn túi chứa quả bom. Tim tôi ngưng đập vài nhịp. Tôi rủa thầm sao không chọn túi xách kia cho người ta nhờ. Thông thường xét túi xách đầu không thấy gì, túi sau thông qua dễ dàng. Tùng khom người kéo chiếc fermeture rồi nhấc bọc đựng bộ đồ ngủ để trên quả bom. Quả bom tênh hênh đến độ chân tôi muốn sụm xuống. Hạ sĩ quan Tùng mở bọc nylon, nhìn thoáng vào bên trong rồi đặt chiếc bọc lên sàn tàu.
Mắt anh chàng hướng qua túi xách, chợt reo lên:
– A, margarine! Tôi cũng có mua hai thùng cho má tôi. Bà thích thứ này lắm, bảo dùng tiện hơn mỡ heo, mà giá chỉ bằng nửa!
Tôi vội tán thành:
– Má tôi nói Quy Nhơn giá rẻ hơn ở Sài Gòn nhiều, mà vì sợ xách không nổi nên tôi chỉ mua một thùng!
– “Phải biết sớm, tôi giúp cô!” Chúng tôi trao đổi tiếng cười.
Tùng mở rộng miệng túi, chừng như anh chàng muốn lấy thùng margarine ra. Từng sợi thần kinh của tôi căng như dây đàn. Tôi len lén hít vào đầy ngực rồi từ từ thở ra. Thùng mỡ ăn Margarine 20 lbs với chữ và số còn mới tinh nhưng bên trong là cả khối chất nổ, đủ để làm chìm tàu. Nếu anh chàng mang nó ra khỏi túi xách và lật ngược xem phần đáy thì coi như tôi đi đứt. Phần đáy có hai lỗ cắm dành cho cái thời chỉnh tuy được một mảnh băng keo dán vắt ngang ghi tên Phan Kim Phượng và địa chỉ nhà ở Sài Gòn nhưng gặp xui thì băng keo bị gỡ! Nhưng anh chàng hạ sĩ quan chỉ mò mẫm các lớp áo quần tôi xếp quanh thùng.
Sau khi đặt quần áo lại như cũ, anh chàng mở túi xách còn lại đựng một hộp quà, một hộp bánh LU và ba hộp ration C. Hộp quà được bọc giấy có họa tiết đẹp và dây buộc thắt thành nơ, bên trong là cái thời chỉnh cho quả bom. Anh chàng Tùng cầm hộp quà ngắm nghía chiếc nơ rồi để gần lỗ tai, lắc lắc.
Có tiếng kêu sột soạt. Tùng hỏi:
– “Cái gì ở trong?”
– “Cái quẹt lửa Zippo tặng cho ba.”
– “Chà! Cô có hiếu dữ a!” Tùng ra vẻ thán phục. “Hiếm có người đi chơi mà vẫn nhớ mua quà cho song thân!”
Tùng lại hướng mắt vào túi xách. Anh chàng lại kêu to:
– “Ration C! Chà ngon lành!
Tùng đặt hộp quà vào túi, nhấc hộp bánh LU. Sau khi lúc lắc, anh cười:
– “Nghe như là… ma túy!”
Anh loay hoay mở nắp. Đúng lúc đó thì Võ Bằng xuất hiện. Cả ba đứng nghiêm giơ tay chào. Bằng chào đáp rồi nói với tôi:
– “Chào cô Phượng”.
– “Xin chào!” Tôi lí nhí.
– “Khám xong chưa?” Bằng hỏi Thiếu úy Tiến.
Thiếu úy Tiến nhìn Tùng. Tùng đáp:
– “Vừa xong, thưa Hạm Phó!”
Tùng đặt hộp bánh LU vào túi xách rồi kéo khóa. Võ Bằng nhờ anh lính gác mang hành lý của tôi xuống phòng ăn sĩ quan. Anh lính gác giao khẩu súng dài cho hạ sĩ quan Tùng rồi nhấc hai túi xách bước một đoạn ngắn rồi ngoặt vào một khung cửa mất dạng. Tôi lo ngại không biết có còn thêm khám xét nữa chăng?
– “Còn cô, mời theo tôi!” Bằng nói như ra lệnh.
Tôi hồi hộp bước sau Bằng cùng lối đi của anh lính gác. Lối đi hẹp là một hành lang, một bên là dây an toàn dọc theo mạn tàu, một bên là vách xám treo lỉnh kỉnh ống nước, phao cá nhân, hai chiếc búa màu đỏ bắt chéo, các bình chữa lửa, một hộp kính đựng dụng cụ mới thấy lần đầu.
Võ Bằng bước qua một khung cửa dẫn vào một căn phòng sáng choang và mát rượi. Sàn tàu lót gạch nhựa màu xanh phơn phớt các vệt trắng như hoa sóng. Căn phòng chật hẹp, sơn trắng, dây nhợ và ống dẫn khác màu chạy dọc theo chiều dài giao tiếp vách và trần tàu. Phòng không bàn ghế. Gắn trên bốn bức vách mỗi bức một loại vật dụng: Một vách toàn hộp sắt kích cỡ khác nhau có hàng chữ nhỏ. Một vách gắn các kệ đựng sách dày cộm. Một vách gồm các tủ đứng không rõ chứa những gì. Trên vách thứ tư là một hộp khá lớn mang dấu hiệu hồng thập tự. Ở cuối vách này, bên mặt là một cửa buồng đóng kín, trên có gắn một biển xanh mang hai chữ màu vàng: “HẠM TRƯỞNG”. Hai tiếng “hạm trưởng” gợi tôi lời căn dặn của Hưng: “Ráng giết tên chỉ huy tàu để đạt thành tích xuất sắc.” Nhưng ai là Hạm Trưởng?
Làm sao gặp? Và quả bom sẽ đặt nơi nào… cho ăn chắc?
Có tiếng gọi của Bằng. Anh chàng đang đứng bên một ô vuông trên sàn tàu ở bên trái hộp hồng thập tự. Tôi bước đến gần Bằng. Ô vuông là ngõ xuống tầng dưới bằng một cầu thang gần thẳng đứng. Ánh sáng phản ánh sàn tầng dưới cùng loại gạch màu xanh phơn phớt hoa sóng. Bằng bước lên bậc thang đầu tiên. Rồi anh chàng tụt dần, tay giơ cao ngoắt tôi bước theo. Tôi lo ngại nói:
– “Coi bộ dễ té quá!”
– “Không sao đâu! Té biết liền!”
Tôi ấm ức:
– “Trung úy cứ cà giỡn hoài!”
Võ Bằng xuống hết các bậc thang, ngước lên thấy tôi còn đứng yên, hối thúc:
– “Lẹ lên chứ! Hạm Trưởng đang chờ.”
“Hạm Trưởng đang chờ!” Tự dưng tôi thấy ơn ớn. Cơn ớn lạnh phát sinh từ bốn tiếng “Hạm Trưởng đang chờ” hay từ luồng hơi của máy điều hòa từ dưới thốc lên? Sao lại phải gặp Hạm Trưởng? Mấy người đi trước đâu có ai phải gặp đâu. Thậm chí còn không biết Hạm Trưởng là ai!
Cơn ớn lạnh quyện thêm vào mùi chiên xào, mùi khói, mùi xăng dầu khiến tôi như ngộp thở. Tôi nín hơi, một chân đạp lên bậc thang trên cùng, thận trọng đặt chân kia lên bậc thứ nhì. Rồi tôi khòm người, hai tay bám lấy mép ô cửa để vững vàng bước lên bậc kế tiếp. Rồi hai tay tôi rời ô cửa nắm hai bên lan can để bước xuống từng bậc. Nếu không được cảnh báo mà đi guốc cao gót thì quả là… té biết liền!
Bằng đã đứng trên sàn, đưa tay cho tôi vịn. Tôi mừng húm nắm lấy. Đôi bata không còn đủ sức cân bằng thân thể tôi. Bàn tay Võ Bằng giúp tôi nhảy từ bậc chót lên sàn. Sàn lại là một hành lang ngắn. Anh lính xuất hiện ở đầu hành lang đang tiến về phía tôi với hai tay không. Chàng ta đã bỏ hai túi xách nơi nào? Ông Hạm Trưởng mà ra tay lục soát thì chỉ có nước rục xương trong tù!
Thấy Bằng ngắm nghía tôi, tôi hỏi:
– “Bộ tôi xốc xếch lắm hả Trung úy?”
– “Không! Đủ đàng hoàng khi trình diện Hạm Trưởng!”
– “Sao phải trình diện Hạm Trưởng?” Tôi thắc mắc.
– “Thủ tục!”
– “Sao mấy người tôi quen không ai phải gặp Hạm Trưởng?”
– “Vì cô… đặc biệt!”
Tôi bặm môi, có hỏi nữa chỉ thêm bực mình! Mà giờ tôi có muốn rút lui cũng đã muộn, cũng đã vào hang ổ. Từ nhỏ tôi vốn lỳ lợm. Ba má tôi chỉ mong đứa con đầu lòng là con trai, nên nhất định bắt tôi làm con trai. Tôi ăn mặc kiểu con trai, chơi đùa với bọn con trai. Thậm chí từng đập lộn, chả ngán bất cứ tên con trai đồng lứa nào. Mãi đến khi đi học, tôi mới được mặc áo quần con gái. Nhưng tôi lại vất vả hơn. Từ năm đầu đi học, tôi phải học thêm Vovinam. Vậy mà nghe “trình diện Hạm Trưởng” vẫn thấy ngại ngùng. Cái từ “trình diện” nghe như cú đánh phủ đầu ra hồn! Tôi thầm trách mình sao bỗng đâm ra hèn. Võ nghệ đầy mình, có gì mà sợ. Con đường thoát thân cũng đã vạch sẵn: phá tan hang ổ!
Chúng tôi bước về cuối hành lang, nối liền một khung cửa. Võ Bằng vạch bức màn, bước qua và giữ bức màn cho tôi qua theo. Tôi ngỡ ngàng trước một quang cảnh đột ngột đổi thay. Không phải là một căn buồng chật hẹp sáng choang đầy dây nhợ, những hộp sắt tủ sắt vô hồn tôi vừa rời đi, mà là một không gian khoảng khoát màu đọt chuối mát mắt có một bàn ăn dài với một số người ngồi quanh cười nói. Và tất cả đột ngột nín lặng hướng mắt vào tôi. Tên Mỹ nổi bật với mái tóc hoe, đôi mắt xanh, làn da trắng và bộ kaki vàng giữa tám sĩ quan Việt với đồng bộ kaki xanh. Thêm một khác biệt nữa là hắn đeo tấm thẻ bài treo lủng lẳng trước ngực của một vóc dáng to xác. Rồi cặp lon hai gạch bằng kim loại bạc gắn lên cổ áo cũng chẳng có chút gì hòa hợp với những cầu vai đen với các gạch kim tuyến vàng của tám dân Việt vóc dáng khiêm nhường. Tên Mỹ niềm nở mỉm cười với tôi. Tôi đáp lại bằng cái mím môi, nghĩ thầm: “Thì ra Hạm Trưởng là tên này đây! Đúng là tên xâm lược, ngay cách ăn mặc cũng tỏ rõ ai chủ ai tớ!” Tôi cảm nhận sự hiện diện của hắn như là một kích thích tố xua đi nỗi lo âu và tăng thêm quyết tâm hoàn thành sứ mệnh.
Một anh lính đang nhanh nhẹn thu dọn chén dĩa toàn bằng sứ trắng; đũa, muỗng nĩa đều bằng bạch kim. Bằng nắm cánh tay, đẩy nhẹ tôi tiến thêm vài bước gần một sĩ quan ngồi đầu bàn. Thế ngồi dựa ngửa trông dễ ghét. Hai chân bắt chéo, hai cánh tay tì lên tay tựa, mặt nghiêng nghiêng lốm đốm tàn nhang như điểm thêm nét tươi vui. Giọng Võ Bằng trịnh trọng:
– “Thưa Hạm trưởng, đây là cô Phượng, là người tôi đã trình Hạm Trưởng muốn xin quá giang về Sài Gòn.”
Tôi ngạc nhiên nhìn kỹ người được gọi Hạm Trưởng. Thì ra Hạm Trưởng là ông này, không phải tên Mỹ. Mái tóc đen chải tém như tài tử Clark Gable nhưng khuôn mặt chữ điền, không râu. Cùng với vầng trán phẳng phiu là đôi mày rậm, miệng rộng, môi dày. Số tuổi chừng khoảng tuổi con dê. Trên nền đen ở mỗi cầu vai là hai gạch kim tuyến vàng kèm một gạch nhỏ. Giọng ông ôn tồn như giọng thầy dạy sử tôi ưa thích:
– “Cho tôi xem giấy phép quá giang?”
Tôi mở túi đeo vai, trao tờ giấy cho ông. Ông chăm chú đọc. Rồi đôi mắt ông chiếu thẳng vào mắt tôi. Câu hỏi như phát từ tia nhìn soi mói:
– “Sao cô lại xin quá giang tàu Hải Quân? Đi máy bay có phải vừa nhanh vừa khỏe hơn không?”
Tôi vờ ngượng ngùng buông câu đã được chuẩn bị:
– “Các bạn tôi nói đi tàu Hải Quân được ngắm biển tuyệt đẹp! Mà còn khỏi tốn tiền!”
Ông buông ra tiếng “hườm”, tay thọc túi áo móc gói Pall Mall, gắn một điếu lên môi. Tên Mỹ vội vàng móc lấy hột quẹt và tiếng “tích” làm bùng ngọn lửa xanh đầu Zippo. Ông Hạm Trưởng nghiêng người bập bập châm thuốc, hít một hơi dài rồi khoan khoái phà khói. Mùi thơm ngọt ngào gợi tôi nhớ mùi thuốc Bastos khét nghẹt của Hưng. Tôi chợt nhớ hai túi xách và đưa mắt đảo quanh. Chúng đang nằm dưới chân ghế bành ở vách phía sau lưng Hạm Trưởng.
Giọng Hạm Trưởng khô khốc:
– “Cô có biết là cô chọn nhầm tàu để xin quá giang không? Tàu này là tàu tác chiến chớ không phải tàu chuyên chở. Lỡ có lệnh hành quân là chết… như chơi. Cô còn trẻ quá, mà đẹp nữa, chết uổng phí!”
Tôi nhìn ông, tỏ vẻ không hiểu. Ông tiếp:
– “Hải Quân có nhiều loại tàu, mỗi loại có chức năng riêng. Giấy phép của cô, chỉ có hiệu lực cho loại tàu chuyển vận.”
Lòng đầy thất vọng, tôi nhìn Võ Bằng, như nhắc về một lời hứa. Anh chàng lặng thinh, bình thản. Giọng ôn tồn của Hạm Trưởng lại vang lên:
– “Trong tờ Lệnh Chuyển Vận có ghi câu này: ‘Tôi cam kết chấp nhận mọi rủi ro. Tuyệt đối không khiếu nại!’ Cô có đọc không? Tôi đoán là trước khi ký tên, hẳn cô đã đọc?”
– “Tôi đã đọc!”
– “Tức là cô chấp nhận rủi ro?”
– “Tôi chấp nhận.”
Ông chậm rãi tiếp:
– “Rủi ro thì ở đâu cũng có nhưng với tàu tác chiến chữ thọ mong manh hơn tàu chuyên chở. Nói rõ hơn, mức độ rủi ro về thương tích và tử thương được ghi nhận là cao nhất! Thí dụ như ngay cả hôm nay về nghỉ bến, chiến hạm vẫn có thể bị địch phục kích, cũng như rất có thể nhận lệnh hành quân bất thường dài ngày. Cho nên tàu tác chiến thường không nhận khách quá giang. Nếu không cần về Sài Gòn sớm, tôi khuyên cô nên đợi đi tàu chuyên chở, an toàn hơn.”
Tôi ngẩn ngơ, cân nhắc. Mấy người đi trước gặp tàu, trình xin là được cho đi liền, không bị hăm he gì! Ông này không muốn cho đi nên nói để hù mình đây. Tôi mạnh dạn đáp:
– “Tôi chấp nhận mọi rủi ro!”
Ông chặc lưỡi, lắc đầu:
– “Cô nhất định đâm đầu vào cửa tử?”
Tôi giở giọng thiết tha:
– “Đây là cuộc hành trình tôi luôn mơ ước. Và tôi đã xuống tàu. Có chết cũng… ngậm cười!”
– “Vậy thì chúc cô hưởng một chuyến hải hành như ý.” Ông nhìn sang Võ Bằng, tiếp. “Hạm Phó đã được thỏa mãn theo yêu cầu. Bao giờ cũng vậy: quyền lợi đi đôi với trách nhiệm…”
Anh chàng cười tươi:
– “Nhận hiểu 5 trên 5, thưa Hạm Trưởng.”
Tôi ấp úng:
– “Cám ơn…. Hạm Trưởng!”
Các sĩ quan đồng loạt vỗ tay hoan hô. Tiếng cười rộn rã nổi lên. Tôi ngượng ngùng khi nhận ra mình vô tình hòa vào niềm vui chung.
Ông Hạm Trưởng nghiêm giọng:
– “Cũng cần nói thêm với cô Phượng. Xưng hô ‘Hạm Trưởng’ và ‘Hạm Phó’ là dành riêng cho thủy thủ đoàn. Cô là khách quá giang, nên gọi chúng tôi bằng cấp bậc. Hoặc thân mật hơn, gọi bằng anh!”
Nhiều tiếng cười vang lên. Tôi lúng túng nói:
– “Tôi xin gọi bằng cấp bậc nhưng tôi chưa biết cấp bậc Hải Quân.”
Ông mỉm cười:
– “Giờ là tới mục đố vui để học. Hạm Phó sẵn sàng nhường ghế cho cô Phượng chứ hả?”
Võ Bằng mời tôi ngồi vào ghế bên tay mặt của Hạm Trưởng. Các sĩ quan dịch chuyển nhường ghế cạnh tôi cho Võ Bằng. Khi chúng tôi an vị, Hạm Trưởng nói:
– “Cô Phượng hãy nhìn cầu vai các sĩ quan. Đố cô một gạch là gì?”
– “Thiếu úy!” Tôi nhanh nhẩu đáp.
Hạm Trưởng nhìn Võ Bằng:
– “Hạm Phó giới thiệu các sĩ quan cấp úy.”
Bằng chỉ từng người đeo một gạch vàng ngồi cuối bàn:
– “Đây là Thiếu úy Tiến, Thiếu úy Ấn, Thiếu úy Văn.”
Tôi gật đầu chào từng người. Hạm Trưởng lại nói:
– “Còn hai gạch là gì?”
– “Trung úy.”
Bằng lại giơ tay chỉ:
– “Xin giới thiệu Trung úy Thân, Trung úy Bạch, Trung úy Cang.”
– “Còn ba gạch?”
– “Đại úy!”
Hạm trưởng lắc đầu:
– “Cô sai từ cấp bậc “hai gạch”. Hãy nhìn cho kỹ cầu vai cấp Trung úy với cầu vai của Hạm Phó Bằng. Có gì khác biệt?”
Tôi nhìn qua nhìn lại hai lần mới khám phá ra hai gạch… có khác biệt. Hai gạch của cấp Trung úy không bằng nhau. Một gạch lớn và một gạch nhỏ chỉ bằng nửa. Còn hai gạch của Võ Bằng thì lớn bằng nhau. Tôi nói:
– “Khác biệt là… không như nhau!”
– “Nghĩa là?”
– “Nghĩa là Trung úy và Đại úy.”
– “Thế ba gạch là cấp gì?”
Tôi nhìn cặp lon của ông, đáp nhanh:
– “Thiếu tá.”
– “Hãy nhìn kỹ, có gì lạ?”
– “Một gạch nhỏ nằm giữa hai gạch lớn”
– “Vậy ba gạch lớn bằng nhau là cấp gì?”
– “Trung tá chăng?”
– “Đúng! Hãy nhớ kỹ ba gạch bằng nhau là Trung tá, chớ có nhầm là Đại úy.
– “Cám ơn… Thiếu tá hướng dẫn.” Tôi ngượng ngùng nói.
– “Chưa hết! Còn bốn gạch là gì? Bốn gạch lớn như nhau, không có gạch nhỏ.”
Tôi nhẩm tính: bốn gạch có gạch nhỏ là Đại tá, bốn gạch bằng nhau hẳn là Đô đốc. Tôi đáp:
– “Đô đốc.”
Hạm trưởng cười:
– “Lộn xộn quá phải không? Đại tá là bốn gạch lớn. Không có gạch nhỏ. Cô ghi nhận rồi chứ?”
Tôi gật đầu và cảm thấy vui vui từ nay sẽ phân biệt được một loại cấp bậc quá… lộn xộn! Hạm Trưởng lại lên tiếng:
– “Bây giờ là câu đố chót. Hãy nghĩ cho kỹ: Đố cô Phượng… gạch một đống là gì?”
Cấp bậc trên bốn gạch nhất định phải là cấp Đô đốc. Tôi nhanh nhẩu đáp:
– “Là Đô Đốc!”
– “Sai hoàn toàn! Gạch một đống là… một đống gạch!”
Tất cả cười rần. Tôi cũng đành cười theo. Lạ nhất là tên Mỹ cười lớn hơn ai hết! Hạm trưởng lại hỏi:
– “Sẵn dịp, cô có muốn biết luôn cấp bậc Hải Quân Hoa Kỳ?”
Lòng thì không muốn mà đành gật đầu. Hạm Trưởng nhìn tên Mỹ. Tôi cũng đăm đăm nhìn hắn. Chẳng lẽ hắn biết rành tiếng Việt? Tên Mỹ mỉm cười:
– “Tôi nói sơ sơ thôi!”
Hắn nói giọng Mỹ nhưng dễ nghe. Mà dùng được từ “sơ sơ” là đủ cho thấy… đế quốc có hạng rồi! Hắn tiếp:
– “Chúng tôi có ba loại cấp bậc khác nhau, tùy vào quân phục chọn mặc. Quân phục làm việc, quân phục tiểu lễ và đại lễ. Quân phục kaki vàng tôi đang mặc là loại làm việc. Như Hải Quân Việt Nam mặc quân phục xanh. Cấp bậc tôi đang đeo là đại úy.”
Hắn chỉ vào hai bên cổ áo, mỗi nơi có đính mảnh thiếc bạc nhỏ kết hợp bằng hai vạch song song. Hắn tiếp:
– “Còn khi tôi mặc tiểu lễ, quân phục trắng thì đeo lon gần giống Hải Quân Việt Nam. Tôi không đủ chữ diễn tả từng thứ bậc các cấp cũng như cho bộ đại lễ. Nay mai tôi sẽ cho cô xem hình. OK?”
Tôi gật đầu đồng ý ngay. Hắn có nói thêm thì tôi cũng không nhớ hết. Mà ích lợi gì để biết và nhớ cấp bậc kẻ tử thù!
Hạm Trưởng vụt đứng lên. Tất cả chộn rộn đứng lên theo. Ông nói:
– “Nào! Đến lúc chúng ta… về Sài Gòn!”
Tất cả cười rộ, hân hoan rời bàn ăn. Hạm Trưởng đưa tờ Lệnh Chuyển Vận cho Thiếu úy Tiến bảo lưu hồ sơ quá giang rồi rời bước qua khung cửa. Tên Mỹ theo sau, miệng hát “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi!” Tôi nói với Võ Bằng:
– “Xin lỗi, lâu nay gọi Trung úy.”
– “Ba cái lẻ tẻ!” Anh chàng đổi giọng thân mật, “Cô có thể chọn một: hoặc là vào buồng nghỉ ngơi, hoặc lên boong gửi nụ hôn từ biệt Quy Nhơn.”
Gãi đúng chỗ ngứa! Hai anh em Hưng hứa là sẽ có mặt tiễn đưa khi tàu khởi hành. Chắc chắn là họ đang đứng đâu đó gần cầu tàu. Tôi tươi cười với Võ Bằng:
– “Cám ơn Trung úy, ô, xin lỗi Đại úy. Quả là tôi đang rất muốn gửi nhiều nụ hôn từ biệt Quy Nhơn!”
(Còn tiếp)