Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 3 (kỳ 6)

0 bình luận ♦ 5.05.2026

ocean-2

Chương 26

Cuồng phong

Khi Võ Bằng và Lan Như trở lên đài chỉ huy, đồng hồ chỉ đúng 9 giờ 15. Trận đụng độ kéo dài chỉ hơn một tiếng, nhưng trong cảm giác của Lan Như, nó như kéo lê cả ngày lẫn đêm. Tiếng súng, tiếng hét, mùi khét của khói súng, khói dầu và sự rung rần của con tàu như máy đấm vào thân thể nàng. Nàng mệt rã, hai chân run run. Nhưng nàng thầm nhủ: Gắng lên, Lan Như! Đừng để Võ Bằng thêm lo lắng.

Đứng gần chiếc ghế độc nhất, Võ Bằng nghiêng qua nàng, nói nhỏ:

– Theo phép lịch sự thì tôi nên nhường cho Lan Như ngồi nhưng tập tục hải quân lại không cho phép. Vì đó là chiếc ghế dành riêng cho hạm trưởng.

Nàng gật đầu, giữ giọng bình thường:

– Lan Như hiểu. Anh cứ ngồi tự nhiên.

Nhưng Võ Bằng bước đến đứng bên cánh phải. Đó là điểm tựa mỗi khi anh cảm thấy cần tỉnh táo tuyệt đối. Với không khí oi bức thế này, biển đang trầm tích cơn thịnh nộ. Không gian im lắng đến mức từng tiếng động cơ như nhịp tim con tàu vọng lên nghe rõ mồn một.

Gió lồng lộng, giật mạnh. Mây đen từ chân trời ùn ùn kéo đến nuốt chửng những vì sao cuối cùng. Từng mảng dày, lướt sát ngọn ăng-ten. Mặt biển nổi sóng. Từng đợt đập vào mạn Rạch Gầm như đánh trống trận, khiến con tàu rên rỉ, tròng trành dữ dội hơn.

Lan Như cảm thấy bụng quặn lại, mồ hôi rịn trên mặt, trên lưng. Nước miếng ứa đầy miệng. Cơn buồn ói ập đến. Nàng lảo đảo bước tìm chiếc xô. Nước mắt tràn ra nhưng kịp nhận thấy nó nằm sát sàn cánh trái. Vừa cúi gập người, thức ăn tuôn xối xả. Tiếng ói mửa bị nuốt chửng bởi tiếng sóng, nhưng mùi tanh chua thì lan nhanh khắp nơi. Con tàu như bất mãn, nghiêng một góc thật sâu. Suýt nữa Lan Như đã bật ngửa.

Võ Bằng liếc sang, không nói gì. Trên biển, lời an ủi cho người ói mửa chỉ làm đương sự… thêm phiền lòng!

Vô tuyến viên trình công điện. Võ Bằng bước lại bàn hải đồ, bật đèn, mắt lướt nhanh: “Hai duyên tốc đỉnh thuộc Hải Dương 3 trách nhiệm đưa tàu và nhân viên bị bắt về An Thới. Rạch Gầm đảm trách tuần tiễu trục Thổ Châu – Hòn Khoai. Ghi nhận nhiều tàu lạ ngoài khơi Hòn Khoai. Hết sức cảnh giác. Gửi danh sách đề nghị tưởng thưởng. Nhận hành.”

Võ Bằng chỉ thị hạm phó “đáp nhận hành”.

Vào một giờ sáng, Rạch Gầm hoàn tất việc chuyển giao, rẽ sóng hướng về Hòn Khoai.

Nhân viên trình công điện thứ hai:

“Cơn bão đã đổ bộ Thừa Thiên, đang tan dần. Trận cuồng phong đang thành hình trong vịnh Thái Lan. Các đơn vị thận trọng hải hành.”

Võ Bằng khẽ thở dài. Cuồng phong tuy chỉ xảy ra ngắn ngủi, nhưng có khi còn nguy hiểm hơn bão tố. Gặp bão, con tàu có thể nương theo thế sóng, tách dần khỏi tâm bão. Nhưng cuồng phong thì khác. Nó là cơn cuồng nộ bất thường. Gió đẩy sóng dựng đứng, đuôi tàu trên đỉnh sóng, cả bánh lái lẫn chân vịt quay trong không khí. Dòng hải lưu xoáy mạnh, khiến tàu bị cuốn theo và có thể bị nhận chìm.

Đành rằng khi thiết kế con tàu, các kỹ sư đã tính toán sức bền vật liệu và sự thăng bằng trong mọi tình huống có thể, nhưng không phải là toàn năng. Chính Hạm trưởng là người phải nhận định tình thế để có phản ứng thích đáng. Như khi chân vịt quay trên mặt nước, ông ta phải tức khắc cho ngưng máy để tránh trục quay bị phá vỡ. Rồi tức khắc phải cho máy chạy trở lại để con tàu đừng bị gió đẩy ngang, lật tàu. Gặp cuồng phong cực mạnh, ông ta phải ban lệnh máy tiến máy lùi, tiếp sức bánh lái giữ con tàu theo hướng đi. Lệch đường do gió và dòng hải lưu đã là quá nguy hiểm, huống hồ đi hẳn ngoài đường. Cho dù máy ước định vị trí DRT và máy đo chiều sâu vẫn bền bỉ hoạt động, nhưng trong cuồng phong, không có gì bảo đảm để con tàu không mắc cạn hoặc va vào đá ngầm.

Anh quay sang cô phóng viên:

– Lan Như nên xuống nghỉ đi.

Lan Như cố gắng nở nụ cười:

– Mấy thuở được lên chiến hạm. Lan Như muốn trải nghiệm cuồng phong, muốn biết các anh đối mặt với nó… như thế nào!

Võ Bằng xúc động nhìn nàng với lòng ngưỡng mộ. Người thì mảnh mai mà nghị lực phi thường. Phóng viên chiến trường có khác!

Tiếng Thiếu úy Lũy:

– Hạm trưởng cẩn thận. Sóng rất to.

Võ Bằng nhìn phía trước. Không phải một, mà là một chuỗi ba cơn sóng khổng lồ liên tiếp, cao như dãy núi, ập thẳng vào mũi và thân tàu. Rạch Gầm bị hất bổng lên, rồi rơi tự do xuống một hố sâu. Mọi người cảm giác hụt hẫng, thót tim. Thân tàu kêu răng rắc như thể sắp vỡ toang ra từng mảnh.

Đài chỉ huy nghiêng 45 độ. Lan Như bị hất văng, hét lên, đầu đập vào vách. Anh hạ sĩ quan quay lui, một tay bám vào thành đài, một tay kéo Lan Như lên. Nàng gượng gạo đứng nhưng rồi đổ gục xuống. Sàn tàu trở thành điểm tựa duy nhất cho nàng. Và cái xô trở thành bạn thân thiết. Nàng há miệng, gục đầu lên miệng xô, lại ụa mửa. Võ Bằng đưa nàng khăn giấy và hai tay cố nâng nàng lên. Nàng lại mửa tiếp như biểu lộ lý do từ chối đứng dậy.

Rồi một con sóng thật cao, vượt hẳn các đợt trước, dựng đứng mũi tàu rồi quật xuống. Đài chỉ huy rung lắc dữ dội. Thân tàu nghiêng sâu, sâu hơn nữa. Con tàu rùng mình, run rẩy như người bị sốt rét. Âm thanh ùng ục từ lườn tàu khiến mọi người lạnh sống lưng.

Con tàu còn đang chênh vênh giữa bờ vực, lại một đợt sóng khác ập tới. Hai chân vịt quay trong không khí, gầm rú ghê rợn trước khi rơi trở lại nước. Rồi đợt khác nữa, ào ạt phủ trắng. Thân tàu biến mất, chỉ còn bọt sôi sùng sục. Vừa ló dạng thì cơn gió lốc tràn tới, cuốn con tàu xoay 90 độ. Võ Bằng hét to ban các lệnh, át mọi tiếng xô bồ.

Trong bóng tối đen ngòm và dài cả giờ, Rạch Gầm phải chịu đựng mọi cuộc tấn công: nó chồm lên, lắc lư, rên siết rồi đón nhận cú va đập của sóng ngầm làm chấn động từ mũi đến lái. Nó hết rung bần bật như người lên cơn sốt rét rồi lao xuống những hố sâu. Nó hứng trọn hàng tấn nước đổ sập như thác mùa mưa lũ, đoạn trồi lên chậm rãi đến tuyệt vọng. Nó tiếp tục gồng mình đẩy khối nước ra và chuẩn bị chờ đòn kế tiếp. Nó như đoàn thủy thủ: kiệt sức nhưng nhất định không đầu hàng.

Riêng Võ Bằng, anh cảm nhận từng cú va đập như thể đánh thẳng vào ngực mình. Anh cũng cảm nhận được nỗi nhức nhối của cái khoảnh khắc con tàu từ đáy vực gắng sức vươn lên dưới sức nặng khủng khiếp của khối nước đại dương. Những lúc đó, anh luôn bám vào nỗi nghi ngờ ghê rợn: liệu Rạch Gầm có còn trồi lên được nữa không? Hay có thể chính anh và tất cả thủy thủ đoàn cùng con tàu chìm sâu dưới đáy biển mà không để lại một dấu vết gì!

Trong niềm ưu tư, Võ Bằng vẫn cố đứng vững. Anh phải lờ đi nỗi sợ, tập trung vào từng mệnh lệnh cứu con tàu. Khối óc mệt mỏi của anh buộc phải cảnh giác mọi tình thế và vẫn tính toán cho được đâu ra đó, kể cả thầm khẩn cầu Phật Trời hộ trì bình an.

Sĩ quan, hạ sĩ quan và các thủy thủ đương phiên mặt mày xanh mét cùng hướng về Hạm trưởng Võ Bằng. Anh làm mặt tươi tỉnh kèm với nụ cười méo mó:

– Cứ yên trí. Rạch Gầm tuy nhỏ mà lỳ đòn. Biển cả cũng sẽ phải chào thua!

Nói vậy để yên lòng mọi người, nhưng chính anh hiểu rõ: Rạch Gầm đã về già. Từ thời đệ nhị thế chiến, hơn 30 năm chịu đòn bão tố, cuồng phong. Nó có thể không chìm nhưng rất có thể bị… gãy đôi.

Cũng may, không có cơn bão hoặc cuồng phong nào dữ dội đến mức kéo dài mãi mãi. Cơn giận điên khùng của chúng chỉ một vài giờ, cùng lắm là vài ngày rồi cũng hạ nhiệt. Trận cuồng phong hiện tại đã tung hoành suốt một giờ, tuy còn hậm hực nhưng đã giảm sức tấn công. Con tàu vẫn lắc lư, loạng choạng nhưng đã hải hành theo hướng ấn định.

Gió thổi những hạt mưa tung bay như tạt nước, không chỗ nào trên đài chỉ huy không ẩm ướt, buốt lạnh. Từng đi biển liên tục năm năm, Võ Bằng đã quen với những trận cuồng phong, nhưng hai năm liền “ngồi bờ” khiến anh càng đuối sức.

***

Vào ba giờ sáng, không chỉ Lan Như mà cả một số thủy thủ không còn gì để mửa thì Võ Bằng mới bắt đầu nôn ọe. Không vì sóng mà vì mùi tanh hôi bám chặt đài chỉ huy. Anh phải chường mặt thở ngoài mưa gió.

Khi thấy khỏe, anh nhìn hải đồ. Chiến hạm đã cách xa hòn Thổ Châu, nhưng phải chờ đến bình minh mới có thể thấy Hòn Khoai. Anh bảo sĩ quan trực:

– Thiếu úy Lũy. Nói Phòng chiến báo cho biết mỗi khi có thay đổi độ sâu.

Lũy chuyển tiếp lệnh. Có tiếng đáp: “Phòng Chiến báo đáp nhận.”

Vào lúc 4 giờ kém 10, Hạm phó xuất hiện tiếp nhận phiên hải hành. Bình thường, Hạm phó được miễn đi phiên. Anh tạm thay thế Thiếu úy Dương Công Đức bị thương trận Bà Lụa.

Hạm phó chào Võ Bằng, nói to:

“Thưa Hạm trưởng, Hạm phó nhận phiên.”

Giọng Võ Bằng sắc lạnh:

– Chấp thuận.

Thiếu úy Lũy đứng nghiêm đưa tay chào:

– Xin phép rời phiên trực.

Giọng Võ Bằng trầm ấm:

– Hoàn thành phiên trực rất tốt. Cám ơn em và chúc ngủ ngon.

Anh nhìn ra ngoài bóng đêm đông đặc. Theo kinh nghiệm, từ giờ đến sáng khó có biến động. Các tàu lạ đang lảng vảng không dại gì xâm nhập ban ngày. Hạm phó lại đang đi phiên, bảo đảm yên trí.

Anh nói với Lan Như còn ngồi bẹp trên sàn, tựa lưng vào trụ la bàn:

– Còn hai tiếng nữa là sáng, có lẽ đêm mai mới có chuyện hấp dẫn cho cô.

Lan Như ngước lên, đôi mắt mệt mỏi nhưng lóe sáng, hỏi dồn:

– Đêm mai còn đụng độ nữa hở anh?

– Có thể lắm! Để tôi đưa Lan Như xuống nghỉ, dưỡng sức cho trận tới.

Nàng không kềm được thắc mắc, hỏi nhỏ:

– Còn anh?

– Tôi cũng nghỉ ngơi đôi chút.

Anh ghi đặc lệnh tuần đêm rồi đỡ nàng đứng dậy và rời đài chỉ huy. Lan Như lặng lẽ theo sau. Phải qua bao vất vả nàng mới đến được khung cửa vào khu phòng ngủ sĩ quan. Võ Bằng đứng lại, nhìn theo dáng mảnh mai chập chững bước dọc hành lang, xa dần rồi khuất sau bức rèm.

Anh quay bước. Trên lối về phòng riêng, bóng dáng nàng như còn in trong không gian. Rồi lạ lùng thay, hình bóng đó biến thành… Như Oanh.

***

Phòng riêng của Võ Bằng, sách vở, hồ sơ, khung ảnh văng tung tóe trên sàn, nhưng anh mặc kệ, nằm lên giường. Anh cố dỗ giấc ngủ mà không sao ngủ được, thân anh lúc nghiêng qua, lúc nghiêng lại, có lúc bị đẩy va vào thanh giường an toàn. Bên tai, tiếng gió hú gào hòa tiếng sóng bập bùng va đập mạn tàu. Tiếng sấm vẳng đưa. Bỗng anh đâm lo. Liệu thân tàu có bị… nứt nẻ gì không?

Phải khó khăn lắm mới ngồi dậy được. Bước vài bước, anh chợt nhớ từ trước cả cơm chiều, cố vấn Mỹ cáo lỗi về phòng và từ đó không thấy mặt. Xem ra, chàng ta không chịu nổi sóng gió. Còn Lan Như, mệnh hệ ra sao khi ói mửa không ngưng nghỉ? Anh lần đến cửa buồng cố vấn, hỏi vọng:

– Hello Bill. Anh khỏe chứ?

Giọng nhề nhệ trả lời:

– Cũng được. Cám ơn Hạm trưởng.

Anh đi vào sâu hơn, gõ vào vách căn phòng cuối cùng. Có tiếng uể oải:

– Ai đó?

– Chỉ thăm hỏi. Cố gắng ngủ đi!

Võ Bằng bám lấy tay vịn dọc theo vách, loạng choạng đi về phía lái. Anh vừa nhìn sàn tàu vừa quan sát vách tàu. Trong phòng ăn đoàn viên, nhân viên nhà bếp đang dọn dẹp đống chén dĩa rơi bể nát. Hai thủy thủ đang gồng mình giữ ly nước để không bay khỏi mặt bàn. Một người một tay ôm ngực, một tay bụm miệng, mặt xanh xao.

Trên hai dãy ba giường chồng lên nhau, mọi người nằm yên như ngủ say. Quản nội trưởng còn thức, chào kính. Võ Bằng hỏi:

– Tất cả anh em ra sao?

– Thưa, vài thủy thủ ói quá nhiều, đuối sức nhưng không sao. Một nhân viên phòng tai đi tuần té bị thương đang được băng bó.

Võ Bằng vào phòng cứu cấp. Một người mang băng quanh ngực, mặt trắng bệch. Y tá nói hai xương sườn bị gãy. Võ Bằng an ủi thương binh và cám ơn đã tích cực trong nhiệm vụ.

Anh nói với Quản nội trưởng và Y tá:

– Lần sau, cho tôi biết ngay khi có người bị thương, bất kể nặng nhẹ.

Anh lần dò xuống phòng máy. Một hạ sĩ quan cơ khí, một thủy thủ điện khí hiện diện trong tình trạng tỉnh táo. Anh hỏi Trung sĩ Hạ:

– Không có gì bất thường chứ?

– Thưa Hạm trưởng, tôi vừa kiểm tra các vách, không thấy rỉ nước.

Anh vỗ vai Hạ:

– Tốt lắm! Tiếp tục.

Trở lên đài chỉ huy, Võ Bằng ngồi ngay vào ghế của mình. Trừ sĩ quan trực và hai nhân viên đương nhiệm, ba người túc trực nằm dài trên sàn. Không ai quan tâm sự hiện diện của anh. Anh như hòa vào con tàu. Phải, anh là Rạch Gầm. Rạch Gầm là anh. Khi sóng đập vào sườn tàu, tim anh đau như bị đấm. Khi động cơ rít lên, ngực anh nhói buốt. Thủy thủ đoàn đặt trọn niềm tin vào anh. Bằng mọi giá, anh phải giữ vững niềm tin ấy.

Hạm phó là người phát giác ra sự hiện diện của Võ Bằng. Trong bộ quần áo ướt sũng, mặt tái xanh, Tiến bước sang cạnh Võ Bằng, lên tiếng:

– Xin lỗi Hạm trưởng, chúng tôi không hay biết…

Võ Bằng cắt ngang:

– Không sao! Tôi mừng thấy các anh vẫn vững vàng…

Càng gần sáng, sóng gió càng dịu đi. Rồi, đột ngột, bầu trời xám lợt tách ra một đường nhỏ. Một cánh quạt tia sáng xé toạc màn đêm. Võ Bằng thấy tỉnh hẳn. Anh mừng rỡ lẩm bẩm: “Thủy thủ đoàn vẫn sống! Con tàu vẫn sống!”

Hạm phó nhìn Võ Bằng. Anh xúc động thấy mắt vị Hạm trưởng đỏ hoe, rơm rớm.

Mặt trời rẽ mây, sưởi ấm Rạch Gầm, hơ khô các bộ quân phục ẩm ướt trọn đêm.

Võ Bằng nâng ống dòm. Phía trước, cả một vùng biển dao động, khi thì xôn xao nhịp nhàng, khi thì tràn tới những đợt sóng hung dữ. Mặt biển xám ánh lên màu bạc lấp lánh.

Hòn Khoai đã hiện xa xa. Anh hít sâu, chuẩn bị cho hành trình đến địa điểm khả dĩ thả neo.

Anh dự trù sẽ neo nghỉ đến chiều. Nhưng thủy đạo dẫn đến điểm neo lại là thử thách cuối cùng. Hai hải lý quanh đảo là vùng đáy cạn đầy san hô. Không khéo nghỉ một ngày, hóa ra Hạm trưởng nghỉ… trọn đời!


Chương 27

Quần đảo Giáng Tiên

Gần 8 giờ sáng, Lan Như tỉnh dậy. Người còn mệt mỏi, bụng đói cồn cào. Đêm qua nàng bỏ bữa cơm tối, lại bị ói mửa. Nàng vào nhà tắm, rửa mặt cho tỉnh táo, thay bộ kaki xanh cuối cùng may riêng cho chuyến đi này. Nàng không định mang áo có chữ Báo Chí nhưng rốt cuộc cũng khoác vào như thói quen đòi hỏi.

Theo lịch trình, còn bốn ngày nữa Rạch Gầm chấm dứt công tác. Nàng sẽ về lại An Thới, rồi bay về Sài Gòn. Bài phóng sự chiến trường lần này quá đặc biệt, chắc chắn nhật báo Ngôn Luận sẽ có thêm nhiều độc giả.

Vào phòng ăn, ba sĩ quan đang dùng bữa sáng. Võ Bằng không có mặt. Dù cố gạt đi, nàng vẫn thấy tâm tư mơ hồ một khoảng trống. Nàng thầm giận chính mình. Bao năm rèn luyện để phớt lờ mọi bóng dáng đàn ông, vậy mà giờ đây hình ảnh Võ Bằng cứ bám tiết tâm trí.

Anh chiêu đãi viên mang cho nàng cháo cá nóng. Nàng húp từng muỗng một cách ngon lành, thậm chí còn muốn ăn thêm nhưng ngại hỏi. May thay, anh mang thêm cho nàng một trái chuối.

Một lát sau, anh đặt trước nàng ly trà gừng:

— Mời chị uống trà gừng. Sau cơn say sóng, uống cà phê dễ làm ói mửa thêm. Uống trà gừng cho ấm bụng.

Nàng nhấp vài ngụm, ánh mắt thoáng ngạc nhiên. Nàng hỏi:

— Trà gừng thơm quá. Anh mua ở đâu vậy?

Anh cười hiền:

— Của mẹ tôi chế ra.

— Mẹ anh còn sống chứ?

— Còn.

Lan Như bỗng nhớ đến mẹ. Nàng uống cạn ly trà, giọng chùng xuống:

— Mẹ tôi mất mấy năm rồi. Khi còn sinh tiền, bà cũng hay uống trà gừng mỗi lúc đau bụng.

— Xin chia buồn với chị.

Anh lặng lẽ quay đi, rồi mang cho nàng ly cà phê.

— Cám ơn anh. Cho tôi gửi lời thăm bà.

— Tôi sẽ chuyển.

Thường ngày, Lan Như uống cà phê thư thả, vừa nhâm nhi vừa viết bài. Nhưng sáng nay thì khác. Những gì nàng trải nghiệm trong mấy ngày qua vượt xa mọi khuôn mẫu của một bản tường trình. Sự kiện quá mới, quá dữ dội. Nàng cảm thấy bất lực trong diễn đạt giống như đêm qua bất lực trước cơn cuồng phong.

Một phần, nàng nôn nóng muốn lên boong, muốn biết Rạch Gầm đang ở đâu, chủ nhân của nó đang làm gì. Nàng tự nhủ: thôi thì chờ về Sài Gòn, tĩnh tâm ghi lại trung thực, đầy đủ.

Lan Như lên boong, chống tay vào dây an toàn mạn phải. Rạch Gầm tiến chậm dưới ánh nắng vừa hé bên trên đám mây đen bám sát chân trời. Sóng còn mang dư âm của trận cuồng phong đêm qua, nhịp vỗ vào mạn tàu như hơi thở còn mệt nhọc. Gió đã hiền hơn, phảng phất mùi phù sa miệt Cà Mau.

Hòn Khoai dần hiện ra. Những tảng đá lớn dựng đứng như những con quái vật rình rập giữa biển. Tán cây xanh rì đan xen dây leo chằng chịt, tạo nên một khung cảnh hoang vu, kỳ bí.

Lan Như trèo từng bước qua thang đứng, rồi từng bước lên thang nghiêng dẫn vào đài chỉ huy. Võ Bằng đang đứng cánh phải ra các lệnh ngắn gọn. Nàng lặng lẽ đứng sang cánh trái, cạnh sĩ quan đương phiên.

Quanh đảo, mặt nước chia thành ba vành tròn đồng tâm: vành ngoài xanh thẫm, vành giữa xám bạc và vành trong ôm sát đảo đục ngầu phù sa.

Bãi Lớn hiện ra như bãi Nha Trang thu nhỏ. Cát trắng mịn, thoai thoải. Tàu đánh cá nhấp nhô theo sóng gợn. Hàng chục mái nhà ẩn dưới rừng dừa, nghiêng nghiêng trong nắng sớm, hoang sơ, yên bình.

Võ Bằng bước sang bàn hải đồ. Những ghi chú độ sâu, những đường vòng đồng chiều sâu so sánh với con số fathometer giúp anh giữ Rạch Gầm trên hải trình an toàn. Anh hiểu rất rõ: chỉ cần lệch tay lái một chút, hoặc một quyết định vội vàng, neo nghỉ có thể biến thành vĩnh viễn nghỉ!

Một chiến thuyền từ phía bờ lướt sóng tiến ra. Đến gần, chiến thuyền quay mũi. Vị đại úy đứng trên mui đưa tay vẫy chào và ra hiệu theo sau.  Võ Bằng mỉm cười hài lòng. Đó là người bạn cùng khóa, tiếp đón quá điệu nghệ. Theo sau, có nghĩa là theo thủy trình an toàn, là nhẹ bớt nỗi lo.

Còn cách bãi biển một hải lý, Đại úy Minh ra hiệu thả neo.

Võ Bằng ra lệnh ngắn, rõ:

— Hai máy ngưng. Nhận còi nhiệm sở thả neo.

Lan Như gương mặt còn tái xanh nhưng đôi mắt tỉnh táo lanh lợi, đang say sưa ngắm bãi biển trước mặt. Hình dáng cũng tựa Bãi Ngự của Thổ Châu, cũng sau rừng dừa là rừng xanh nhưng cảnh quang trầm mặc hơn, như đang chiêm nghiệm vận đời người sắp lên đảo.

Lệnh của Võ Bằng vang lên:

— Hai máy lùi 1.

Khi con tàu bắt đầu lùi, giọng anh dứt khoát:

— Hai máy ngưng. Thả neo.

Trục neo rền lên một tiếng trầm. Sợi xích thép trườn đi, rồi neo sầm sập rơi xuống biển.

Tiếng báo cáo độ dài dây neo xuống nước của Hạm phó:

— Hai mươi mét… hai mươi lăm… ba mươi mét.

— Ngưng thả neo.

Con tàu khựng lại báo hiệu neo đã cắn.

— Nhận còi tập họp.

Tiếng còi vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn nhanh chóng tập trung ở sân sau. Võ Bằng rời đài chỉ huy, đến đứng trước hàng quân. Giọng anh trầm ấm:

— Đêm qua chúng ta đã trải qua một trận cuồng phong kinh hồn. Nhờ anh em đồng tâm hiệp lực, con tàu bình yên vô sự. Tôi thành thật ngợi khen và cảm ơn tất cả.

Anh dừng lại, ánh mắt lướt qua hàng quân:

— Hôm nay chúng ta neo dưỡng sức. Sáu giờ chiều tiếp nối công tác. Trừ anh em trực, mọi người có thể lên đảo. Chuyến chót về tàu là 5 giờ 30.

***

Chiếc Thiên Nga của Chỉ huy trưởng Duyên Đoàn 42 cập vào.  Võ Bằng vội rời đài chỉ huy đến ôm người bạn cùng khóa. Khi buông bạn ra, Đại úy Minh chìa tay cho Lan Như, cười đùa:

— Nào ngờ trên tàu có người đẹp đến thế này!

Lan Như bắt tay vui vẻ:

— Hân hạnh được gặp Đại úy Duyên đoàn trưởng.

Anh xoay qua bắt tay cố vấn:

— How are you? You will see my advisor, soon.

Võ Bằng nhờ bạn cho phương tiện đưa rước nhân viên rồi cùng Cố vấn và Lan Như lên chiến thuyền vào bờ.

Con đường lát đá nhỏ dẫn đến ngôi nhà lớn nằm dưới chân đồi, giữa rừng dừa. Đó là trụ sở Duyên Đoàn 42.  Ngôi nhà khang trang, tường và mái lợp fibro-ciment. Dù là cơ sở quân sự, không khí lại yên ả thanh bình.

Phòng họp rộng. Bục thuyết trình trước tấm bản đồ quần đảo Giáng Tiên treo trên vách. Đại úy Minh giới thiệu cố vấn, các sĩ quan rồi mời tất cả ngồi. Chỉ huy trưởng Duyên đoàn đứng đối diện mọi người:

— Duyên đoàn 42 hân hoan chào mừng quý bạn đến Hòn Khoai. Tên gọi này có hai nguồn gốc. Một là hình dạng của nó giống củ khoai. Hai là từ truyền thuyết, rằng ngư dân mang theo một giống khoai ra đây trồng.

Lan Như giơ tay xin hỏi:

— Thưa đại úy, như vậy cái tên Hòn Chuối cũng xuất phát từ hình dáng giống trái chuối hoặc từ truyền thuyết ngư dân mang chuối ra trồng?

Đại úy Minh lắc đầu:

— Cả hai đều không đúng. Đảo mang tên Hòn Chuối vì có nhiều chuối mọc hoang.

Mọi người cùng cười. Thấy cố vấn tỏ vẻ không hiểu, Võ Bằng nghiêng qua Bill dịch ra tiếng Mỹ. Một nụ cười muộn.

Đại úy Minh chỉ vào hòn đảo lớn nhất:

— Đây là Hòn Khoai. Nó còn có tên Hòn Giáng Tiên. Tên Giáng Tiên do ngư dân đặt từ nét đẹp hoang sơ, huyền ảo, cây lá xanh tươi cùng hai ngọn suối róc rách ngày đêm, chẳng khác chốn bồng lai tiên cảnh, nơi tiên giáng trần.

Thấy Lan Như chăm chú nghe, anh hứng chí tiếp:

— Quần đảo Giáng Tiên gồm năm đảo: Hòn Giáng Tiên, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ.

Lan Như hỏi:

— Thưa đại úy, Hòn Tượng có phải vì nó giống con voi, Hòn Đồi Mồi vì nó giống con đồi mồi?

Đại úy Minh gật đầu:

— Đúng trăm phần trăm. Nhưng với Hòn Sao thì khác. Không phải vì nó giống ngôi sao mà vì đáy biển quanh đảo có nhiều sao biển. Còn Hòn Đá Lẻ, tự tên nó đã giải thích.

— Cám ơn đại úy.

Đại úy Minh vui vẻ đề nghị:

— Để thấy tận mắt vị trí các hòn đảo và quang cảnh tuyệt vời của quần đảo Giáng Tiên, cô nên lên viếng ngọn hải đăng.

Lan Như nhìn Võ Bằng, chưa kịp hỏi xin thì Đại úy Minh hăng hái tiếp:

— Dù Hòn Khoai không lớn bằng Thổ Châu nhưng lại có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng không thua kém. Nó là tiền đồn của vùng biển phía Nam. Ngọn hải đăng sừng sững trên đỉnh đảo, vừa hướng dẫn an toàn tàu bè đồng thời cũng vừa là đài cảnh báo các tàu chiến của đối phương. Đó là lý do toàn bộ Duyên đoàn chúng tôi và một số nhân viên tình báo có mặt ở đây. Và đó cũng là lý do không ngừng diễn ra trận hải chiến trong vùng biển này.

Anh mỉm cười nhìn Võ Bằng:

— Biết chừng đâu anh bạn cùng khóa của tôi đêm nay có dịp trổ tài hải chiến.

Võ Bằng cao giọng:

— Đâu có ngán.

Đại úy Minh hỏi Lan Như:

— Cô “Báo Chí” còn thắc mắc gì không?

Lan Như ngập ngừng:

— Đêm qua thấy hai chiến thuyền của đại úy tham gia hải chiến Hòn Chuối, vậy xin phép hỏi Hòn Chuối có vai trò gì đặc biệt?

Đại úy Minh mỉm cười, giọng thân mật:

— Về phương diện quân sự, Hòn Chuối là đảo tiền tiêu tỉnh An Xuyên, rất quan trọng về mặt an ninh và chủ quyền quốc gia. Nhưng trách nhiệm phòng thủ lại thuộc về chúng tôi. Đảo có rừng rậm như Hòn Khoai nhưng không có dân cư vì không có nước ngọt.

— Xin đại úy cho biết thành tích hoạt động trong năm nay.

— Chưa hết năm nên chưa làm báo cáo chính thức. Tôi chỉ có thể nêu con số tôi nhớ. Tổng kết từ đầu năm Duyên Đoàn khám xét hàng trăm ngư thuyền. Bắt và giải giao cho chính quyền Cà Mau chín chiếc chở đầy súng đạn cùng nhiều người.

— Đánh chìm bao nhiêu chiếc?

Đại úy Minh lắc đầu:

— Chúng tôi không có súng lớn và cũng không chủ trương đánh chìm.

— Đại úy có thể cho biết có bao nhiêu chiếc chạy thoát?

— Khoảng chục chiếc.

Lan Như ngập ngừng hỏi:

— Sao lại để chúng chạy thoát?

— Khi bị phát giác, chúng bỏ chạy ra khơi. Vận tốc tàu của chúng nhanh hơn chiến thuyền.  Chúng tôi bắn theo nhưng không rõ kết quả.

— Duyên đoàn của đại úy có bao nhiêu chiến thuyền?

— Hai mươi ba chiếc.

— Có bao nhiêu nhân số trên một chiếc?

— Tùy loại. Lớn thì 9 người. Nhỏ thì 5.

— Khu vực trách nhiệm của Duyên đoàn 42?

— Duyên hải tỉnh An Xuyên.

— Ở đây có trại gia binh?

— Đường đi xa xôi vất vả. Trên đảo thiếu thốn mọi bề nên không ai muốn đem gia đình ra đây.

— Cám ơn đại úy rất nhiều.

Đại úy Minh mời dùng cơm trưa. Nói là cơm nhưng toàn thức ăn biển: tôm nướng, cua, ghẹ hấp.

Sau bữa ăn đồ biển thỏa thuê, Lan Như và một số nhân viên chiến hạm xin Võ Bằng cho đi thăm hải đăng Hòn Khoai. Võ Bằng định từ chối, nhưng chợt nhớ hôm qua đã từ chối không cho nàng thăm hải đăng Thổ Châu, lại thấy đôi mắt nàng nhìn anh tha thiết, nên đành nói khéo:

— Cũng như ở Thổ Châu, đường đến hải đăng rất xa và trắc trở, nhắm đi nổi thì cứ đi. Nhưng nhớ về trước 5 giờ rưỡi. Tôi không thể bỏ tàu quá lâu và cũng cần tâm sự với bạn…

Trung úy Tín, Chỉ huy phó Duyên đoàn tình nguyện hướng dẫn. Toán sáu người bắt đầu leo núi lên đỉnh Hòn Khoai. Con đường rừng quanh co, hiểm trở, dài hơn hai cây số. Có đoạn phải băng ngang qua suối nhỏ, nước trong veo. Có đoạn đá tảng, đá trứng lổn nhổn. Có đoạn đất đỏ pha cát vàng cam, có đoạn dốc đứng, dốc nghiêng leo trèo vất vả. 

Rừng cây rậm rạp, xanh thẳm. Những cổ thụ trăm năm sừng sững, sáu bảy người ôm không xuể. Nhiều loại cây Lan Như chỉ nghe danh, nay nhờ Trung úy Tín chỉ cho mới thấy tận mắt: bằng lăng, sao, dầu, gỗ lim.

Lan Như thỉnh thoảng dừng lại, lắng nghe tiếng chim ríu rít, hít sâu mùi hương ngọc lan, bàng bạc mùi các loại hoa nhiều sắc màu.

Theo lời Trung úy Tín, chỉ cần nhìn rừng là biết mùa. Mùa Xuân hoa mai nở rực. Mùa hè màu tím bằng lăng. Mùa thu lá nhuộm vàng rừng. Mùa đông, màu trắng hoa cỏ lau.

Gần hai tiếng sau, họ lên tới đỉnh cao ba trăm mười tám mét. Ngọn hải đăng Hòn Khoai hiện ra, khối vuông vững chãi bằng đá hộc và xi-măng, cao mười bảy mét do Pháp xây dựng từ năm 1920. Ánh đèn pha trên đỉnh có thể chiếu xa ba mươi lăm hải lý.

Lan Như gắng leo thang xoắn lên tới đỉnh hải đăng. Hơi thở gấp gáp, chân tay rã rời. Nhưng khi nhìn quanh, nàng chợt có cảm giác như đang lơ lửng giữa trời.

Toàn cảnh Hòn Khoai mở ra hoang dã, thơ mộng. Sóng bạc đầu cuốn nhanh trên mặt biển, chia thành ba màu rõ rệt: màu xanh thẩm, màu xám nhạt, màu phù sa đục nhầu. Xa phía bắc là mũi Cà Mau. Phía đông là Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi như con rùa biển đang bơi. Hòn Tượng phía nam trông như con voi khổng lồ đang tắm nước phù sa. Xa hơn nữa, Hòn Đá Lẻ trơ trọi thi gan cùng tuế nguyệt.

Những chiếc ghe câu vẽ lên mặt biển như những nét chấm phá mong manh.

Lan Như bỗng thấy lòng mình chùng xuống. Lần đầu tiên, không phải súng đạn, mà chính thiên nhiên khiến nàng cảm thấy nhỏ bé và dễ tổn thương đến vậy.

Giọng của Trung úy Tín vang lên giữa lúc mọi người còn mải mê ngắm cảnh:

— Đã đến lúc quay về. Để lỡ có lạc đường, còn đủ thì giờ mò về hậu cứ trước khi trời tối.

Lan Như nghe lạnh sống lưng. Lạc giữa khu rừng rậm thế này khi đêm xuống… chắc chết!

Chương 28

Từ nay mãi mãi không thấy nhau?

Ánh sáng hồng của hoàng hôn kéo một vệt dài trên mặt biển, lao xao như dải lụa mềm tan vào sóng nước. Gió lồng lộng vụt qua dây cờ kêu phành phạch, từng đợt mát rượi phả vào đài chỉ huy mang theo cảm giác an ủi mong manh của buổi chiều sắp tàn.

Rạch Gầm rời điểm neo tiến hành tuần tiễu trục Hòn Khoai – Thổ Châu. Đây là trục kiểm soát mọi tàu bè nhập vào lãnh hải phía tây Miền Nam, một trục then chốt nhưng thầm lặng và thường xuyên tiềm ẩn hiểm nguy. Tuy tầm xa radar mỗi chiến hạm là 30 hải lý, đủ thời gian chuẩn bị ứng phó xâm nhập, nhưng trở ngại lớn là thời tiết và không đủ chiến hạm bao vùng cho một trục dài 140 hải lý. Trong tương lai, hy vọng có thêm nhiều phương tiện …

Khi Rạch Gầm ra khỏi vùng san hô nguy hiểm, Võ Bằng viết nhật lệnh tuần đêm, giao trách nhiệm tuần hành cho Trung úy Đặng Thành Tài rồi rời đài chỉ huy. Theo sau vẫn là Cố vấn và Lan Như, một loài hoa biển lạc vào không gian sắt thép.

Tất cả vào phòng ăn. Bốn sĩ quan hiện diện đứng lên chào. Võ Bằng ra dấu mời ngồi, ánh mắt anh mỏi mệt sau một đêm dài căng thẳng và mất ngủ. Chiêu đãi viên mang đến từng món ăn. Trên bàn, khăn trải trắng tinh phẳng phiu, muỗng đũa inox lấp lánh dưới ánh đèn. Những ly nước đá đọng mồ hôi lạnh.

Hôm nay Lan Như mới có thì giờ nhìn quanh phòng ăn. Không rộng, nhưng trang trọng và ngăn nắp. Trên một vách treo ba bức chân dung: Tổng thống, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội và Tư lệnh Hải Quân. Trên vách đối diện là huy hiệu Trợ chiến hạm Rạch Gầm, hai bên là các Bằng Tưởng Lục, Giấy khen. Vách phía trước là hai kệ sách kỹ thuật dày cộm, xếp ngay ngắn.

Mùi thơm các món ăn khiến Lan Như thấy đói cồn cào. Cái bụng trống trơn sau ói mửa đã sớm thanh toán gọn ba món buổi trưa: tôm, cua, ghẹ. Đó là ba món ăn chơi nàng ưa thích. Nàng ngạc nhiên khi thấy ba món tối nay cũng là ba món ruột cho các bữa cơm ở quán ăn gần tòa soạn: tô canh chua cá ngừ hấp dẫn với sắc đỏ của ớt, xanh của ngò gai; đĩa thịt kho tàu với trứng, nước dừa óng ánh; và đĩa rau muống xào tỏi xanh mướt, thơm lừng. Chẳng lẽ Võ Bằng có thứ năng lực thần giao cách cảm nào đó, biết ý thích của nàng?

Võ Bằng nhìn quanh từng người, cất giọng thân mật:

– Hôm nay chúng ta có một bữa cơm khá hơn mọi ngày, coi như ăn mừng chiến thắng… địch thủ cuồng phong. Mời nâng ly, chúc sức khỏe mọi người, chúc Rạch Gầm luôn vững vàng trên sóng nước.

Các ly thủy tinh chạm vào nhau. Tiếng leng keng lẫn lời chúc tạo bầu không khí cởi mở vui tươi sau những ngày gian nan, vất vả.

Ngay sau khi Võ Bằng mời cầm đũa, Lan Như khen ngợi:

– Đi biển mà được ăn thế này thì các anh nhất thiên hạ rồi!

Võ Bằng cười, nụ cười xóa đi nét nghiêm nghị của giờ phút chỉ huy:

– Cũng thuộc loại… nghìn năm một thuở thôi. Bù cho những chuyến công tác kéo dài, không ghé được bến, chỉ có cơm với nước mắm.

Lan Như nhìn sang chiêu đãi viên, nói lớn:

– Nhờ anh chuyển lời tôi cám ơn anh em nhà bếp. Ba món đều là món ruột của tôi.

– Tôi sẽ chuyển, thưa chị.

Bữa ăn trôi qua trong những câu chuyện vui, các giai thoại sướng khổ đời đi biển, tạo tiếng cười không dứt. Sự khác biệt về cấp bậc, tuổi tác, đời lính chiến hay đời dân thường như tan biến trong không khí chân tình, cởi mở.

***

Rời bàn ăn, thấy Lan Như bước bên cạnh, Võ Bằng nói:

– Lan Như nên nghỉ ngơi. Nếu có đụng trận thì cũng phải vài tiếng nữa. Khi nghe tiếng còi dồn dập thì gom đồ nghề lên đài chỉ huy.

– Lan Như khỏe rồi, muốn lên boong ngắm hoàng hôn trên biển. Nghe nói đẹp tuyệt vời.

Võ Bằng nâng cổ tay xem đồng hồ:

– Bảy giờ rưỡi rồi. Giờ này trời đã tối thui, còn hoàng hôn gì nữa!

– Giờ này còn nhá nhem mà!

– Hoàng hôn phụ thuộc mùa và vị trí người quan sát. Mùa hè vùng này, có thể còn nhá nhem, nhưng chúng ta đang vào mùa đông, mặt trời… ngủ sớm, nhường bầu trời cho trăng sao.

Lan Như vẫn mơ ước có giây phút riêng tư với Võ Bằng nên nói như một lời mời:

– Vậy thì Lan Như lên ngắm trăng sao.

Võ Bằng nhìn nàng thật lâu:

– Một đêm ói mửa, nửa ngày leo đèo, cơ thể cô cần hồi phục. Đi nghỉ đi. Ngày mai hãy ngắm hoàng hôn.

Nàng nuôi chút hy vọng:

– Anh đi đâu?

– Tôi cũng về buồng nghỉ.

Lan Như lặng thinh, quay đi nhanh hơn cần thiết, như muốn trốn khỏi chính cảm xúc của mình. Võ Bằng đứng yên nhìn theo đến khi nàng khuất sau khung cửa. Trong khoảnh khắc ấy, hình bóng Huỳnh Như Oanh chợt hiện ra rõ ràng. Anh lắc đầu, không sao hiểu!

Về phòng riêng, anh tắm rửa qua loa rồi lăn ra ngủ. Chỉ được hai tiếng thì nhân viên truyền tin gõ cửa, trao anh công điện Kín/Thượng Khẩn từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4:

Hai chiếc tàu đáng ngờ xuất hiện phía Tây Nam Hòn Khoai, tọa độ 8°36.57’B – 104°69.27’Đ.  Yêu cầu quý chiến hạm theo dõi ngăn chận xâm nhập. Báo cáo diễn tiến.”

Võ Bằng gọi Hạm phó lên phòng chiến báo. Đọc công điện, Hạm phó cười:

– Hy vọng kiếm thêm vài huy chương nữa.

Võ Bằng nghiêm giọng:

– Trước hết là đáp “nhận hành”. Đừng để lãnh khiển trách thay vì huy chương.

Hạm phó đánh dấu tọa độ lên hải đồ. Hai mục tiêu vẫn còn ngoài hải phận quốc tế. Phải chờ chúng vượt qua ranh giới 24 hải lý mới có thể hành động. Nhưng ý đồ của chúng là gì? Một chiếc vào Thổ Châu, một chiếc về cửa sông Ông Đốc như lần trước? Hay lần này cả hai cùng hướng về một điểm đổ hàng? 

Võ Bằng hỏi:

– Hạm phó dám chơi trò một đánh hai không?

Hạm phó ngập ngừng góp ý:

– Thưa Hạm trưởng, một đánh hai chẳng khác gì hai đánh một. Nghĩa là một thì lúc nào cũng ở thế yếu. Theo tôi, nên giữ hai duyên tốc đỉnh ở vùng Thổ Châu, phòng trường hợp tàu địch tách đôi. Tuy nhiên để đối phó trường hợp hai tàu địch cùng lúc tiến vào bờ, mà duyên tốc đỉnh ở xa không hỗ trợ kịp, tôi đề nghị xin tăng cường thường trực ba chiến thuyền. Như thế ta vẫn ở thế thượng phong hai đánh một.

– Đúng ý tôi.

Võ Bằng liên lạc máy với Duyên đoàn trưởng 42. Đại úy Minh chấp thuận.  Anh giao CIC cho Hạm phó, rồi lên đài chỉ huy. Tiếng hô nghiêm từ cánh trái. Thấy sĩ quan trực, hạ sĩ quan, tài công, quan sát viên đều chú tâm trong nhiệm vụ, anh yên trí ngồi vào ghế chỉ huy. Gió khuya thổi mát rượi, mang hương thơm muối biển, khiến anh thiếp đi lúc nào không hay.

– Hạm trưởng… Hạm trưởng….

Tiếng gọi mơ hồ đánh thức anh dậy:

– Máy điện bị sập. Tay lái bất khiển dụng.

Võ Bằng mở mắt. Đài chỉ huy chìm trong ánh sáng đỏ từ các đèn pin dự phòng trên vách. Anh rà soát biện pháp ứng phó. Mất điện, việc đầu tiên là cho lái tay để giữ con tàu trên đường đi và cũng để tránh con tàu quay ngang gió, bị sóng tròng trành có thể lật úp. Anh hài lòng nghe Hạm phó báo cáo đang ở buồng máy đôn đốc việc phục hồi nguồn điện.

Anh ra lệnh Thiếu úy Lũy đưa nhân viên thành thạo xuống hầm lái tay và chỉ thị Trung úy Tuấn cho ban vận chuyển sẵn sàng thả neo. Võ Bằng bật đèn dự phòng xem hải đồ. Anh yên trí thấy tàu trong vùng độ sâu 20 mét.

Trong CIC, Trung úy Tài bám chặt bàn trận đồ. Hai nhân viên giữ máy DRT và các vật dụng lỏng lẻo. Các điều hành viên ưu tư chờ đợi. Lúc này mà hai tàu địch xuất hiện thì vất vả lắm đây.

Không còn hệ thống điều hòa, lòng tàu bắt đầu nóng lên. Một số thủy thủ lên boong, càu nhàu vì mất giấc ngủ.

Khi hầm lái tay báo cáo sẵn sàng nhận lệnh, bất ngờ, đèn bật sáng. Nhiều tiếng reo vỡ òa. Sóng vỗ mạn tàu như chung niềm nhẹ nhõm.

Thiếu úy cơ khí Ngô Quang xuất hiện, người lem dầu mỡ, vừa thở vừa trình bày:

– Thưa Hạm trưởng, máy điện sập là do cảm ứng điện bị hư, đã thay cái mới.

Võ Bằng đặt tay lên vai anh:

– Giỏi lắm. Cám ơn em.

Mắt Quang sáng lên, lấp lánh niềm tự hào.

Sự kiện mất điện không hề quấy rối giấc ngủ của Lan Như.

***

Đêm kéo dài như không dứt. Ba giờ sáng, cặp Duyên tốc đỉnh và Rạch Gầm gặp nhau trên trục Hòn Khoai – Thổ Châu rồi trở hướng ngược lại. Hai chiếc tàu nghi vấn vẫn ở yên tại chỗ. Có thể là tàu đánh cá Thái Lan, cũng có thể tàu địch chờ ta sơ hở. Biển lao xao như cùng chia sẻ sự nôn nóng, băn khoăn.

Võ Bằng ghi biến cố sập máy điện, nguyên nhân, thời gian sửa chữa vào Nhật ký Chiến hạm rồi trở về buồng riêng. Anh hoàn toàn kiệt sức…

Nhưng chỉ vừa chìm vào giấc ngủ thì tiếng chuông vang lên. Trong khoảnh khắc, Võ Bằng không thể tin nổi là có tiếng đang reo. Anh tưởng mình nằm mơ. Nhưng, khi tiếng reo tiếp tục, khoan sâu vào não, anh choàng tỉnh. Trong cảm giác ngán ngẩm, anh ráng ngồi bật dậy chụp ống nghe:

– Hạm trưởng nghe đây.

– Thưa Hạm trưởng, đây Trung úy Tuấn. Tôi vừa thấy ba trái sáng màu đỏ liên tục được bắn lên.

Võ Bằng lẩm nhẩm: Ba trái sáng màu đỏ. Ba trái sáng màu đỏ. Pháo hiệu kêu cứu. Đâu lẽ một tàu nào đó sắp chìm kêu gọi cấp cứu? Anh hỏi phòng truyền tin:

– Phòng truyền tin, có nhận được tín hiệu SOS?

– Thưa không.

– Rà soát tần số cấp cứu quốc tế 7903 kHz thật kỹ xem.

Một phút sau, phòng truyền tin đáp:

– Đã rà tần số 7903, không thấy tín hiệu SOS!

– CIC, cho biết écho phía nam cách bao xa?

– Hai écho vẫn cách 30 hải lý.

– Xem kỹ đi. Để ý một écho, có thể là điểm mờ.

– Thưa 16 hải lý.

Như vậy cũng không xa lắm, chừng một tiếng là tới nơi – Võ Bằng ngẫm nghĩ – nhưng nếu đó là trò đánh lừa, mình bỏ trống vùng trách nhiệm để địch xâm nhập, đi tù là cái chắc. Anh quyết định gửi công điện báo về Bộ Tư Lệnh Vùng:

“TTKT. Chiến hạm ghi nhận ba trái sáng đỏ báo hiệu cần cứu cấp ở tọa độ 8°24.73’B – 104°57.69’Đ. Xin cho chỉ thị.”

Mười phút sau, công điện trả lời:

“Xác nhận một tàu chở dầu đang chìm tại tọa độ ghi nhận. Y/C khẩn đến cứu vớt thủy thủ đoàn.”

Võ Bằng đáp nhận hành rồi kẻ hải trình mới. Anh lệnh cho ba chiến thuyền bao vùng rồi quay mũi về hướng Nam, chạy hết tốc độ. Tàu xuôi sóng gió, lướt êm. Một giờ sau, chiếc tàu dầu hiện ra dưới ánh hỏa châu. Qua ống dòm, thân tàu trông già nua, sơn trắng bong tróc, loang lổ rỉ sét. Nó chúc mũi lên trời, phần lái gần chìm hẳn. Một số người mặc áo phao màu cam đứng trên boong mũi, hớn hở vẫy tay. Võ Bằng ra lệnh:

– Nhận còi nhiệm sở cứu người.

Tiếng còi, tiếng chân chạy rầm rập đánh thức Lan Như. Nàng vội thay quần áo, chụp máy ảnh chạy lên đài chỉ huy. Nhưng khi bước ra boong, thấy nhiều người lăng xăng bên mạn trái, nàng thắc mắc đứng quan sát.

Trên đài chỉ huy, Võ Bằng cân nhắc sức gió, độ sóng và quyết định áp sát tàu dầu. Anh ban lệnh rọi đèn pha. Hàng chục vỏ xe thả dọc theo hông. Tàu dầu thả năm trái đôn trắng hình trụ.

Khi hai chiếc cặp kè, thay vì nhảy qua, bảy người lần lượt ném xách tay và chuyển từng thùng hàng. Cuối cùng, không còn gì trên boong, họ mới chịu bỏ tàu.

Võ Bằng nhíu mày: tại sao họ coi hàng hóa quan trọng hơn mạng sống? Ký ức về trái bom thời chỉnh của Phan Kim Phượng thoáng hiện. Chỉ một trái bom suýt làm anh tàn đời, nay có đến hai mươi thùng! Dù chứng kiến tận mắt chiếc tàu dầu đang chìm, anh cũng sẽ cho an ninh cẩn thận khám xét.

Lan Như lòng mừng khấp khởi. Diễn tiến việc cứu vớt đã được lưu lại đầy đủ trong máy ảnh của nàng. Đây mới thật là… nghìn năm một thuở.

Rạch Gầm rời tàu dầu, hướng về An Thới. Công điện báo cáo cứu được toàn bộ thủy thủ đoàn bảy người và xin chỉ thị.

Võ Bằng xuống boong, bắt tay từng nạn nhân, cho cấp thức ăn nước uống. Riêng thuyền trưởng được mời vào phòng họp sĩ quan. Lan Như nhường ghế, xuống ngồi cuối bàn. Võ Bằng mời Thuyền trưởng hoặc cà phê hoặc nước lạnh. Thức ăn đến sau. Ông chọn nước lạnh.

Thuyền trưởng người Thái Lan, lớn tuổi nhưng rắn rỏi. Bằng tiếng Anh trôi chảy, ông ngỏ lời cảm tạ được cứu mạng. Ông trình bày chở dầu từ Mã Lai đi Bangkok. Thân tàu bị nứt sau lái, nước tràn vào. Đã dùng mọi phương tiện để lấp kín nhưng không hoàn toàn thành công. Máy điện ngâp nước hư hỏng. Chỉ gọi cấp cứu được vài lần. Đánh đèn SOS cũng không thấy đáp ứng.

Ông uống cạn ly nước, ngập ngừng tiếp:

– Thưa Hạm trưởng và quý anh, hai mươi thùng hàng là rượu XO, xin biếu chiến hạm.

Võ Bằng từ chối. Ông thuyền trưởng gần như van xin. Lan Như nhẹ giọng:

— Thưa Hạm trưởng và quý anh, ông ấy đã có lòng.

Võ Bằng còn ngần ngừ thì công điện của Vùng 4 gửi đến: “Quý chiến hạm đưa bảy thủy thủ tàu dầu về thẳng Sài Gòn. Tòa Đại sứ Thái Lan sẽ tiếp nhận tại cầu C. Đáp nhận hành.”

Võ Bằng đọc lớn cho mọi người nghe. Cả phòng vỗ tay, mừng được về Sài Gòn sớm hơn bốn ngày. Anh đọc riêng cho anh một lần nữa, lòng se thắt. Về thẳng Sài Gòn tức là không trở lại An Thới, là không nhận được lời nhắn của Huỳnh Như Oanh. Từ nay nàng là bóng chim tăm cá, biết đâu tìm. Từ nay mãi mãi không thấy nhau?


Chương 29

Chợt đến chợt đi

Rạch Gầm đổi hướng, tiến về Sài Gòn lúc sáu giờ sáng. Dự trù đúng tám giờ sáng hôm sau tàu sẽ về đến bến.

Khi Hạm phó và Quản nội trưởng sắp xếp xong chỗ tạm trú cho bảy người tàu dầu, trời cũng vừa hửng sáng. Vùng ửng hồng đầu tiên không đến từ mặt trời, mà từ những tia cam nhạt xuyên qua không gian còn u tối. Lan Như đứng trước sân mũi, nâng chiếc Nikon lên chụp liên tiếp, từ lúc mặt trời đỏ au từ từ ló dạng cho đến khi nhô hẳn khỏi mặt nước, rực rỡ như chớm nở tình đầu.

Nàng hít một hơi thật sâu. Gió sớm lành lạnh, phảng phất mùi đại dương thanh khiết lẫn khói dầu khen khét.

Một giọng nói trầm ấm vang lên sau lưng:

– Chào cô Lan Như. Cô làm việc sớm quá.

Lan Như quay lại. Trung úy Tuấn gật đầu chào. Nàng thoáng buồn, đáp:

– Chỉ vì muốn ghi bình minh của ngày chót trên biển.

Tuấn cười:

– Còn với Rạch Gầm thì sao? Đã có gì để lưu niệm chưa?

– Vô số. Nhưng với anh thì chưa. Xin cho một bức ảnh Trung úy Tuấn và bình minh, nghen?

Tuấn lặng thinh, hướng mắt về đốm sáng trắng đang loang dần trong nền cam dọc chân trời. Mặt biển hiền hòa mênh mông. Bên trên là những vệt mây hồng thưa thớt. Qua khung ngắm, Lan Như thấy khuôn mặt hằn nét mỏi mệt của Tuấn nổi bật trên nền sắc trời lộng lẫy.

Tuấn quay lại, bước gần nàng hơn:

– Tôi đã đi biển liên tiếp năm năm, đã nhiều lần ngắm bình minh, hoàng hôn. Điều khiến tôi yêu thích là không ngày nào giống ngày nào.

Lan Như nhỏ nhẹ:

– Tôi tiếc là chỉ tới hôm nay mới thưởng thức được. Đẹp thật. Tôi đang mong chờ hoàng hôn.

– Những ngày ở biển cô có cảm tưởng ra sao?

Nàng hít hơi, thở nhẹ:

– Biển hiền hòa mà cũng rất bạo tàn.

– Còn riêng với Rạch Gầm?

Lan Như cười như mếu:

– Là một mớ hỗn độn. Ngạc nhiên, thán phục, thích thú… và một nỗi buồn mơ hồ. Nếu không xuống chiến hạm, tôi không bao giờ nghĩ các anh sống vất vả và nguy nan đến vậy. Vừa chống chọi sóng gió, vừa đối diện kẻ thù…

– Hôm trước cô nói cô chưa lập gia đình?

– Chưa anh ạ. Nhưng sau chuyến đi này, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đó.

– Chẳng lẽ cô cũng chưa từng yêu ai?

Lan Như lặng thinh. Một tình cảm vừa chớm nở có được gọi là “từng” không? Nàng khẽ lắc đầu:

– Chưa, anh Tuấn ạ. Tôi quá bận rộn với các chiến trường.

Tuấn cười mím chi:

– Tôi nghĩ là cô đang… mở cánh cửa lòng.

Lan Như quay mặt ra biển. Sóng vẫn lao xao. Tuấn nhận xét quá đúng. Rạch Gầm không chỉ xuôi về bến. Con tàu mang theo cả tâm trạng của nàng.

Tuấn chào từ biệt:

– Tôi đùa thôi. Miễn thứ. Rất vui được trò chuyện với cô.

Lan Như thả máy ảnh xuống ngực, hai tay nắm sợi dây an toàn. Gió vờn chiếc áo pullover màu chàm. Biển đã rực sáng, loang loáng xanh. Nàng nghĩ, nếu được tòa soạn cử công tác thường trực trên các chiến hạm, nàng sẽ không từ chối. Nhất là trên Rạch Gầm. Nàng biết, đó là hy vọng mong manh.

***

Mặt trời nhô lên rất chậm, như cố nán lại.

Bất giác Lan Như ngẩng nhìn đài chỉ huy. Nàng chợt rung động. Võ Bằng đang nhìn xuống. Anh vẫy tay, ra dấu sẽ xuống gặp nàng.

Nàng nhớ đêm qua, sau bữa cơm. Nhớ cái nhìn của anh khi từ chối lên boong. Một thẳng thừng né tránh. Khi ấy nàng vô cùng hụt hẫng. Giờ đây nàng hiểu: đó là sự rút lui cần thiết của một người chỉ huy. Thủy thủ đoàn sẽ nghĩ gì nếu thấy hai người bên nhau trong đêm?

Võ Bằng đang đến. Phút giây nàng ao ước. Bao nhiêu buồn phiền tan biến. Nàng nhìn ra khơi, không muốn anh thấy gương mặt mình quá hớn hở.

Võ Bằng mang theo hai ly cà phê. Giọng anh vang lên trước khi dừng bước:

– Chào Lan Như. Thức cả đêm mà giờ này vẫn dậy sớm?

– Chào Hạm trưởng. Câu đó phải để Lan Như nói mới đúng. Cô ấy còn ngủ được vài tiếng, anh thì không!

Anh đưa nàng ly cà phê:

– Sáng đã chụp bình minh, chiều chụp hoàng hôn là đủ bộ.

Nàng đón lấy ly cà phê. Ngón tay họ chạm nhau trong khoảnh khắc. Một chạm điện nhẹ.

– Cảm ơn anh.

Ánh nắng dìu dịu làm lộ rõ nét mệt mỏi trên gương mặt Võ Bằng không khác Trung úy Tuấn. Nàng nâng máy ảnh:

– Xin phép cho Lan Như giữ một kỷ niệm.

Võ Bằng nhìn xa. Kỷ niệm để làm gì, chỉ thêm đa mang. Nhưng từ chối thì không nỡ. Lan Như bấm máy:

– Cảm ơn anh. Rất độc đáo. Chỉ anh và biển.

Anh nói chầm chậm:

– Anh phải nói lần nữa. Lan Như nên đi nghỉ.

– Lan Như không mệt.

Lời thốt ra nhẹ như hơi thở. Cả hai im lặng. Nhấp cà phê. Võ Bằng nhận hiểu ánh mắt ấy – thương yêu, không đòi hỏi. Anh chuyển hướng:

– Sài Gòn chắc nóng lắm. Chưa về mà đã thấy như bước vào thế giới khác.

– Lan Như cũng có cảm tưởng như vậy.

– Nhưng với anh… tệ hơn là không biết về đâu.

– Không biết về đâu? Lạ, người như anh …

Anh lắc đầu:

– Xem vậy mà không phải vậy.

Lan Như không hỏi thêm. Họ lặng lẽ nhìn ra khơi. Rồi Võ Bằng lên tiếng:

– Bài phóng sự, Lan Như viết đến đâu rồi?

– Chỉ mới viết… trong đầu!

– Anh rất nôn nóng muốn đọc.

– Báo in ra, Lan Như sẽ mang xuống tàu.

– Không cần. Anh tự tìm đọc được.

– Lan Như muốn đích thân mang đến. Anh đọc ưu tiên.

Võ Bằng lắc đầu:

– Tàu phải vào Công xưởng sửa chữa. Khó tìm và khó vào.

Nàng nhìn anh, ánh mắt tinh ranh:

– Anh quên Lan Như là nhà báo sao? Thẻ Báo Chí như Sổ Thông Hành.

Cả hai cùng cười, nụ cười không hứa hẹn. Giọng Lan Như trở nên sôi động:

– Lan Như sống với nghề hết mình. Đi. Thấy. Viết. Ngoài ra không có gì ràng buộc.

Nàng ngừng lại, mắt nhìn thẳng mắt anh, giọng êm ái:

– Cho đến khi… gặp anh.

Võ Bằng thoáng chới với trước thổ lộ bất ngờ, còn đang tìm lời hóa giải thì nàng tiếp:

– Lan Như không có ý chiếm lấy tình cảm của anh. Chỉ muốn nói rằng, Lan Như lúc rời tàu không còn là Lan Như lúc lên tàu. Từ lâu, Lan Như tưởng mình đã hóa đá nhưng nào ngờ tình yêu mạnh hơn chủ nhân của nó.

Anh chọn từng chữ:

– Anh trân trọng điều đó. Nhưng…

Lan Như chớp mắt, đợi chờ. Võ Bằng thở hắt, giọng đều đều:

–  Phải chi Lan Như đến An Thới sớm hơn. Chỉ mới đây thôi, chính xác là ba tuần, cũng tại nơi này, anh gặp một người giống giống Lan Như. Tình cảm của anh, cũng tưởng đã hóa đá, nào ngờ từ phút gặp gỡ, hình ảnh đó cứ theo anh đến tận cả phút giây sinh tử.

Lan Như thở dài, im lặng. Võ Bằng tiếp:

– Thôi thì chúng ta hãy coi chuyến đi như một bức hình độc đáo và giữ riêng như một kỷ niệm. Đẹp và không buồn.

Lan Như nhìn anh thật lâu, như nhìn lần cuối:

– Mối tình nào không toại nguyện mà không buồn.

Giọng nàng lạc đi:

– Nhưng Lan Như được chút an ủi. Ít nhất nó được anh trân trọng.

Xa xa, một chiến hạm chạy ngược chiều, một vệt khói vắt ngang không gian. Nàng nghĩ đến biển, mùi dầu, những đêm hải chiến, cuồng phong, những ánh mắt vội vàng giữa ranh giới sống chết. Và nàng cũng thấy rõ, chuyến đi không giản dị chỉ như là một bức hình độc đáo để giữ làm kỷ niệm. Chuyến đi chuyên chở cả một tình yêu đầu đời…

***

Đúng tám giờ, họ cùng nhau xuống phòng ăn sáng. Các sĩ quan hiện diện gần đông đủ. Anh cho mời thuyền trưởng tàu dầu tham dự. Trong lúc ăn, Võ Bằng nêu ra vấn đề 20 thùng quà của tàu dầu tặng. Anh hỏi Trung úy Tuấn kết quả khám xét. Tuấn nói:

–  Thưa Hạm trưởng. Đúng là rượu XO, không có gì nghi ngờ. Tổng cộng có 120 chai.

Võ Bằng quay qua Thuyền trưởng:

–  Thuyền trưởng Jongrak. Đại diện chiến hạm, xin cám ơn các ông tặng quà.

Thuyền trưởng vui vẻ nói, “Không có chi”. Võ Bằng hướng về các sĩ quan:

–  Tôi từng có dịp uống loại rượu này. Rất ngon và khá đắt tiền, là món quà đúng dịp Tết sắp đến. Nhưng nên phân phối thế nào cho hợp lý, ai cũng nhận quà vui vẻ.

Hạm phó Tiến lên tiếng:

–  Tôi đề nghị trên căn bản là mỗi người một chai. Còn lại chia theo cấp bậc. Tôi cũng đề nghị tặng cho cố vấn và cô phóng viên mỗi người một.

Các sĩ quan hoan hô. Hạm phó lấy bút giấy tính toán, rồi nói:

–  Nếu chia theo cách đó, tổng số là 109 chai, còn dư 11.

Võ Bằng nhíu mày:

–  Để công bằng, nên chia thêm một cho mỗi người tiếp chuyển thùng quà qua chiến hạm.

Hạm phó nói:

–  Rất công bằng. Vậy thì còn 4 chai. Tôi đề nghị mình giữ trên tàu, uống mừng ba ngày Tết.

Võ Bằng lắc đầu:

– Tuyệt đối không uống rượu trên tàu. Dù có vẻ nghịch lý nhưng nên dành cho hai chiến hữu bị thương.

Tất cả vui vẻ tán thành. Võ Bằng tiếp:

–  Xong vụ quà. Hạm phó tập họp nhân viên trong ngày hôm nay nêu quyết định phân phối. Mọi việc phải xong trước khi về đến Sài Gòn. Ngay bây giờ, lấy cho tôi hai chai.

Hạm phó mang đến trao Hạm trưởng. Võ Bằng tặng Cố vấn và Lan Như:

–  Happy New Year 1970!

Mọi người rời bàn ăn. Lan Như về phòng riêng. Nàng ngủ say như đã uống cạn chai rượu.

***

Sông Sài Gòn sáng sớm mở ra trước mũi tàu như một dải lụa xám, chảy chậm, mang theo mùi bùn ngai ngái và hơi nóng ngột ngạt của thành phố. Rạch Gầm giảm tốc khi ngang thương cảng. Thương thuyền chiếc cập, chiếc neo. Trên bờ, các kho hàng quét vôi trắng xếp thành dãy. Một khung cảnh quen mà vẫn lạ sau những ngày dài ở biển.

Từ đài chỉ huy, Lan Như say mê ngắm mọi vật liên tục lùi về phía sau. Cái nhìn của nàng lúc này không dành cho nghề nghiệp. Nó hoàn toàn thuộc về khoảnh khắc chia ly.

Tiếng còi tập họp vang lên. Thủy thủ đoàn xuất hiện trong tiểu lễ trắng đứng dọc theo tả hạm. Thành phố đã hiện ra trước mắt, nhộn nhịp mà thờ ơ. Rạch Gầm chầm chậm ngang qua cột cờ Thủ Ngữ, khách sạn Majestic, đường Tự Do.

Sau hồi còi của anh giám lộ, mọi người đưa tay chào Đức Thánh Trần Hưng Đạo, chào Thủ đô Sài Gòn, chào Tư Lệnh Hải Quân. Tiếng còi giải tán khi qua khỏi Bộ Tư Lệnh.

Trong quân phục trắng chỉnh tề, Võ Bằng bình thản ban các lệnh điều khiển con tàu quay mũi hướng hạ dòng tiến vào cầu C.

Con tàu từ từ cập vào, êm ái, nhịp nhàng. Khi dây đã buộc xong, thủy thủ đoàn rời nhiệm sở. Đường Bạch Đằng vắng vẻ. Đường Cường Để lưa thưa xe cộ. Không gian hững hờ, trống trải.

Cầu C không bóng người, không như công điện Vùng 4 thông báo có các giới chức tòa đại sứ Thái Lan hiện diện tiếp nhận bảy nhân viên tàu chìm.

Từ đài chỉ huy, Võ Bằng xuống thẳng phòng ăn. Điểm tâm giản dị: bánh mì, trứng chiên. Anh nhấp vài ngụm cà phê, nhìn Lan Như. Nàng gượng nở nụ cười:

–  Đã đến lúc chia tay! Xin cám ơn Hạm trưởng và thủy thủ đoàn đã tiếp đãi nồng hậu. Lan Như sẽ không bao giờ quên. Xin chúc tất cả luôn vui khỏe, thêm nhiều thành tích và an toàn về bến. Mong có dịp gặp lại.

Trung úy Tài cười nói:

–  Nhớ đừng quên lời hứa!

Lan Như ngạc nhiên:

–  Lời hứa? Tôi đã hứa gì?

–  Cô hứa rằng chừng nào hết thích bay nhảy mà tôi chưa có vợ, cô sẽ ưu tiên chọn tôi.

Lan Như cười tươi:

– À, tôi nhớ rồi! Vậy thì chúc anh sớm có vợ.

Những tiếng cười giòn giã. Võ Bằng cho biết tiếp theo là họp nội bộ. Cố vấn và phóng viên có thể rời tàu.

Cố vấn ra đi trước. Vài phút sau, Lan Như cổ đeo máy ảnh, hai tay hai túi xách bước qua phòng ăn. Võ Bằng chỉ thị chiêu đãi viên hỗ trợ đưa nàng lên hạm kiều.

Các sĩ quan vẫy tay từ biệt. Giọng Võ Bằng trầm ấm:

–  Chia ly bao giờ cũng buồn nên chúc Lan Như luôn được vui. Nhớ là chiến hạm nôn nóng chờ đọc các bài phóng sự.

Lan Như quay đi, bước vào hành lang. Nàng bước đều, không ngoái lại… 


Chương 30

Biết đến bao giờ…

Tiếng chuông báo giờ giải lao vang lên. Trong khoảnh khắc, sân trường rộn ràng các tà áo trắng, bốn hướng rôm rả tiếng gọi tiếng cười.

Huỳnh Như Oanh bước chậm vào phòng giáo sư, rót ly nước lạnh, ngồi vào ghế trống giữa bàn dài. Nàng nghĩ, nếu không có mươi phút xả hơi này, có lẽ nàng đã ngất đi ngay trên bục giảng. Đêm qua, tự dưng nàng mất ngủ, có thể do soạn bài quá khuya rồi quá giấc. Và từ lúc đó, nàng cứ nghĩ ngợi miên man. Muốn xin dạy trường khác mà trường nào? Lấy lý do gì? Võ Bằng đã nhận được thư của nàng chưa? Chừng nào anh về? Khi về có đến nàng không? Cũng may hôm nay chỉ dạy nửa buổi, nàng chỉ cần cố gắng thêm hai tiếng nữa thôi…

Như Oanh khép mắt, thở đều, cố gạt ra ngoài tai những câu chuyện rì rầm quanh bàn: chuyện người yêu, chuyện chồng con, chuyện gia đình. Nhưng đoạn đối thoại của hai cô giáo ngồi đối diện khiến nàng mở mắt.

– Báo hôm nay có bài phóng sự về chuyến công tác của một chiến hạm ở vùng đảo Thổ Châu, Phú Quốc. Tác giả ký tên Lan Như. Lan Như thì hẳn là đàn bà. Đàn bà đi trên tàu chiến! Khó tin quá. Dám ông nào lấy bút danh đàn bà cho thêm phần hấp dẫn!

Như Oanh nhìn sang. Cô bạn đồng nghiệp còn đang đọc. Nàng nôn nóng chờ đợi. Bài viết về chiến hạm hoạt động vùng Phú Quốc, biết đâu… biết đâu có nhắc đến chiến hạm của Võ Bằng. Nhưng mãi đến khi chuông báo hết giờ giải lao, cô bạn mới bỏ tờ báo xuống.

Như Oanh nấn ná chờ cô bạn ra khỏi cửa, vội vàng cầm tờ báo lên. Dòng tựa hiện ra rõ ràng đến nhói tim: “Chiến hạm Rạch Gầm: Pháo đài di động giữa trùng khơi Thổ Châu”.

Mắt nàng dán chặt vào bức ảnh nhỏ chiếm một góc trên trang nhất, chụp Võ Bằng đang nghiêng người chỉ tay về hòn đảo hiện giữa biển mênh mông.

Nàng định đọc tiếp nhưng bài khá dài, vội uống ly nước rồi đi nhanh về lớp. Một cảm giác lẫn lộn tràn ngập: vui mừng, nhung nhớ, lo âu… Nàng ra đề cho học sinh làm bài, rồi ngồi thừ người…

Đúng mười hai giờ trưa nàng rời trường. Trên đường về, nàng ghé sạp báo mua tờ Ngôn Luận.

***

Vào phòng riêng, nàng mở tờ báo đọc không sót một chữ:

“Phóng sự chiến trường đặc biệt của Lan Như.

Ngày 3 tháng 12 năm 1969, tôi đến An Thới sau nửa ngày xe đò từ Sài Gòn và bốn tiếng trên một chiến đỉnh từ Rạch Giá. Tôi được Căn cứ Hải Quân An Thới cấp cho một phòng tạm trú và sáng hôm sau được Đại tá Lương Đình Thám Tư lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên hải tiếp kiến.

Ông nói qua về lực lượng và vùng trách nhiệm của ông. Với mười lăm ngày công tác của tôi, ông chỉ định tôi tháp tùng Trợ chiến hạm Rạch Gầm HQ 266 trong tám ngày đầu. Sau đó tôi sẽ chuyển sang một chiến hạm khác…

Người tôi gặp ở bãi biển một ngày trước đó cho tôi cái cảm tưởng là một tên phất phơ, hóa ra là hạm trưởng chiếc Rạch Gầm. Ông tiếp tôi bằng thái độ dè dặt nhưng tử tế. Tôi được ăn ở trong khu vực sĩ quan, được tự do tiếp xúc thủy thủ đoàn và tìm hiểu chiến hạm.

Chín giờ sáng ngày 5 tháng 12, Rạch Gầm rời quân cảng An Thới. Khi con tàu ra khỏi cửa vịnh, đất liền biến mất rất nhanh. Quanh tàu, mặt nước phẳng lặng, mênh mông, trải dài đến tận đường chân trời. Thỉnh thoảng, một đàn hải âu vụt ngang mũi tàu, lượn vài vòng rồi mất hút.

Gió nhẹ từ hướng đông bắc, biển êm, thuận lợi cho hải trình dài bốn tiếng đến quần đảo Thổ Châu – một vị trí tiền tiêu quan trọng ở cực Tây Nam lãnh hải.

Rạch Gầm là loại trợ chiến hạm thiết kế gọn nhưng trang bị súng lớn nhỏ đủ loại, thích ứng chiến đấu mọi tình huống và hoạt động dài ngày không cần tiếp tế.

Màu nước biển thay đổi rõ rệt. Càng xa đất liền màu càng đậm hơn. Từ xanh nhạt chuyển dần sang xanh thẫm, báo hiệu tàu đã đi vào vùng nước sâu hơn. Sóng và gió tương ứng với độ di chuyển mặt trời. Càng trưa và về chiều, gió mạnh dần, sóng thêm cao.

Từ đài chỉ huy, mệnh lệnh được ban ra ngắn gọn, chính xác. Các ca trực nối tiếp nhau. Tiếng máy tàu gây nên âm nhịp, đều đều kiên trì như hơi thở của chiến hạm.

Các sĩ quan thường xuyên theo dõi vị trí, điều chỉnh hướng đi phù hợp với dòng chảy, độ giạt.

Tôi bắt đầu cảm phục sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ, đòi hỏi mức chính xác và kỷ luật cao. Với người lính biển, đó là công việc thường ngày. Nhưng với tôi, đó là hình ảnh hoàn toàn khác biệt với đời sống trên đất liền: xô bồ, bon chen, ồn ào, hời hợt.

Sau hành trình hơn ba tiếng, hình dáng vài đảo nhấp nhô hiện ra. Rồi một đảo lớn với tháp hải đăng vút lên nền trời: Đảo Thổ Châu.

Khi chiến hạm chạy vòng quanh đảo, tôi có cảm tưởng như đang đi quanh một viên ngọc khổng lồ. Chín đảo nhỏ vây quanh như chín đóa hoa khoe sắc giữa biển khơi…

– Ngày mai: Trận hải chiến kinh hồn ở Hòn Chuối”.

***

Như Oanh đọc mà quên cả thở. Dù không một lần nhắc đến tên Võ Bằng, mỗi chữ gợi bao nỗi nhớ, bâng khuâng. Đã bao lâu rồi, kể từ lần cuối cùng đứng bên anh nơi bãi biển? Chỉ chưa đầy một tháng mà như lâu lắm rồi.

Nàng đứng dậy, nôn nao, bần thần.

Trận hải chiến kinh hồn?

Ác liệt, khủng khiếp đến mức nào?

Võ Bằng có mệnh hệ gì không?

Nàng ngồi thẫn thờ, ý nghĩ chồng chéo. Cuối cùng, Như Oanh quyết định: nàng phải gặp phóng viên Lan Như. Chỉ qua Lan Như, nàng mới có thể biết rõ thêm về hiện trạng của Võ Bằng, mới hy vọng gặp lại. Nhưng nếu Lan Như là đàn ông và tòa soạn không muốn cho gặp…

***

Chiếc xích lô dừng trước Tòa soạn báo Ngôn Luận trên đường Phạm Ngũ Lão. Như Oanh bước vào, hơi ngập ngừng trước không khí bận rộn của tòa soạn. Khi nàng trình bày lý do, cô thư ký chỉ vào chiếc bàn phía trong.

Một thiếu nữ trẻ đang chăm chú đánh máy, Ánh đèn bàn tỏa sáng khuôn mặt trái xoan thanh tú, mái tóc cắt ngắn ôm bờ vai.

Như Oanh nhỏ nhẹ:

– Xin lỗi, chị là phóng viên Lan Như?
Thiếu nữ ngẩng lên. Đôi mắt sáng, thẳng thắn, hơi ngạc nhiên:

– Tôi đây. Có việc gì, hả chị?
Như Oanh hít sâu, rồi thở ra mọi lo lắng, hồi hộp:

– Tôi là Huỳnh Như Oanh. Tôi vừa đọc bài phóng sự của chị. Tôi… tôi muốn hỏi thăm… một người trên chiến hạm Rạch Gầm.

Lan Như ngưng đánh máy, Ánh mắt như xuyên thấu từ từ dịu lại. Linh cảm cho biết người đối diện là ai, nàng nhẹ giọng:

– Chị muốn hỏi thăm về Hạm trưởng Võ Bằng, đúng không?

Như Oanh sững sờ:

– Sao… Sao chị biết?”

Lan Như đứng dậy, giọng êm ái:

– Ở đây ồn ào. Chúng ta đến nơi khác nói chuyện, tiện hơn.

Quán cà phê gần tòa soạn, vắng khách. Nhạc tiền chiến nhẹ vang, êm và ấm.

Hai người ngồi đối diện, lặng lẽ quan sát nhau. Lan Như ngắm kỹ hơn người con gái được Võ Bằng để mắt đến. Gương mặt hiền hậu, đôi mày cong trên đôi mắt to đen. Tóc phủ bờ vai. Vẻ âu lo không che giấu. Một người con gái đủ dịu dàng để Võ Bằng thương yêu.

Như Oanh cũng ngắm Lan Như: mảnh mai, năng nổ, ánh nhìn thẳng thắn, đôi môi gợi cảm. Nếu Võ Bằng có rung động trước người con gái này cũng không có gì là lạ. Đã đến lúc rút lui như đã rút lui với Vinh chăng?

Khuấy đường cho ly cà phê, Như Oanh lên tiếng:

– Sao chị biết tôi muốn hỏi về Hạm trưởng Võ Bằng?

Lan Như mỉm cười:

– Có lần anh ấy nhắc đến chị.

Như Oanh nghe rung động. Lan Như mỉm cười tiếp:

– Không chỉ nhắc mà còn thú nhận là… yêu chị.

Như Oanh giật mình:

– Xin đừng nói chơi…

Lan Như khẽ lắc đầu:

– Tôi nói thiệt.

Như Oanh đi thẳng vào mục đích:

– Chị có biết anh ấy chừng nào về Sài Gòn?

Lan Như lại mỉm cười:

– Về rồi!

Như Oanh cúi đầu, cổ như nghẹn lại:

– Xin chị đừng đùa cợt nữa. Tôi rất cần biết tin tức về anh ấy.

– Tôi nói đứng đắn mà. Anh ấy đã về và đã thú nhận với tôi anh ấy yêu chị.

Như Oanh mắt mở lớn, lắc đầu:

– Chúng tôi chỉ mới quen biết.

Lan Như thẳng thừng nói:

– Anh ấy thú nhận vì muốn ngăn tôi yêu anh ấy!

Như Oanh ngạc nhiên trước một thổ lộ quá mức chân thành đến khó tin. Nàng cúi đầu không biết nói gì thêm.

Giọng Lan Như êm đềm:

– Tôi nghĩ anh ấy chọn… đúng người.

Như Oanh trầm giọng:

– Cám ơn chị dành cho lời tốt đẹp. Nhưng thực tế có thể không được như vậy. Chúng tôi chỉ gặp gỡ gần như là thoáng qua. Còn chị, chị sống bên anh bao nhiêu ngày đêm, nơi mà tôi chưa từng được hân hạnh đặt chân lên.

Một nụ cười nhẹ, mơ hồ trên môi Lan Như:

– Đó cũng chính là niềm chua xót cho tôi. Tôi đã từ chối mọi chàng trai ve vãn cho đến khi gặp Võ Bằng. Mỗi ngày một ít, tôi hiểu anh hơn. Và rồi có cảm tình lúc nào không biết.

Như Oanh lặng nghe, lòng xôn xao. Những điều Lan Như kể, nàng đều có thể hình dung. Xét ra, nàng còn tệ hơn, chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi. Sự việc xem ra rối rắm, mơ hồ. Nàng vẫn thấy trong giọng Lan Như một điều gì chưa thể buông dù đã nghe Võ Bằng thú nhận yêu nàng. Còn với Võ Bằng, biết đâu anh chẳng nghĩ nàng đã có hôn phu mà ngả qua Lan Như. Dù thế nào cũng nên gặp Võ Bằng cho rõ trắng đen. Rồi chia tay không thắc mắc.

Như Oanh hỏi dò:

– Về đây, chắc chị đã có dịp gặp lại anh ấy?

– Chưa. Chưa được gặp.

Nàng hấp tấp hỏi:

– Chưa gặp? Sao chưa gặp? Có phải anh ấy bị thương?

Lan Như xua tay:

– Không. Anh ấy bình an. Tôi nói chưa gặp vì tôi đã tìm nhưng… không thể gặp.

– Sao vậy chị?

– Sáng hôm nay, sau khi báo phát hành, tôi mang xuống tàu tặng anh ấy nhưng họ không cho phép. Họ viện cớ tàu đang được giám định sửa chữa và sau đó vào Hải Quân Công Xưởng. Khu vực cấm dân chính.

Như Oanh vẫn ngờ vực:

– Xin chị kể cho nghe trận hải chiến.

– Tôi đang viết, và cần viết gấp. Muốn biết rõ, chị đón đọc báo ngày mai. Cả báo ngày mốt, kể về trận cuồng phong cũng kinh hồn.

Họ nói chuyện thêm một lúc. Lan Như kể vài chuyện vui trên tàu, về tính cách của những thủy thủ trẻ, về những bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm như trong gia đình. Như Oanh lắng nghe, như được sống trong không khí ấy, như được gần Võ Bằng hơn.

Nàng nói:

– Chị may mắn hơn tôi, có được những kỷ niệm sâu đậm với Võ Bằng. Còn tôi, rất hời hợt, chưa biết gì nhiều về anh ấy.

Lan Như thấy chút an ủi. Quả là nàng hơn Như Oanh về mặt gần gụi Võ Bằng. Chỉ có nàng là được thấy những gì anh thực hiện, được nghe những lệnh anh ban ra khiến cả một khối sắt cũng biết nghe lời.

Lúc hai thiếu nữ ra khỏi quán, chuẩn bị chia tay, Lan Như nghiêm giọng:

– Hãy tin tôi. Đời Võ Bằng thuộc về biển, nhưng trái tim thuộc về chị. Hãy vui lên. Nay mai chị sẽ gặp mà!

Như Oanh gật đầu, mắt sáng lên. Hai người vòng tay ôm nhau. Bàn tay của phóng viên hơi chai sạn, của cô giáo mềm mại, nhưng cùng truyền cho nhau cảm giác ấm áp lạ thường.

Lan Như hướng về tòa soạn. Như Oanh bước trên lề phố đông người. Lần đầu tiên, từ sau ngày đi dạy, nàng không còn thấy mình đơn độc trong nỗi mong chờ dù chưa biết đến bao giờ…

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)