Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

đời thủy thủ 3 (kỳ 9)

0 bình luận ♦ 26.05.2026

Khu trục hạm HQ 1 Trần Hưng Đạo

Chương 41

Đường đến Trường Sa

Vào buổi sáng mùa hè đẹp trời.

Một công điện thượng khẩn từ Bộ Tư Lệnh Hạm Đội gửi cho Trợ chiến hạm Rạch Gầm như tiếng sét giáng thẳng vào đầu Võ Bằng. Anh đọc đi đọc lại ba lần. Tờ giấy mỏng mà nặng như chì. Lưng rịn mồ hôi.

“Quý chiến hạm được biệt phái khẩn cho Bộ Tư Lệnh Vùng 3 Duyên Hải. Yêu cầu trang bị tối đa dầu, nước, đạn dược, thực phẩm và khởi hành trong vòng 24 tiếng. Báo cáo nhận hành.”

Anh buông tờ công điện, đứng dậy, rồi lại ngồi xuống. Tay anh bất giác kéo hộc bàn. Anh mở chiếc hộp nhung đỏ. Chiếc nhẫn đính hôn, đôi bông tai hột xoàn óng ánh như trêu ngươi. Anh mở bóp. Nụ cười của Như Oanh trong ảnh rạng rỡ. Anh đập mạnh tay xuống mặt bàn. Chỉ còn bảy ngày. Bảy ngày nữa là lễ hỏi. Mọi việc đã chuẩn bị xong…

Anh hối hả cỡi Vespa vào Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, gặp Chỉ huy trưởng Hải Đội. Lời xin hoãn công tác nói ra nhanh, gọn nhưng chạm bức tường bê tông cốt sắt. Trung tá đáp lời nhanh gọn không kém:

– Thông cảm nhưng rất tiếc! Chiến trường đang cần.

Trở về tàu, Võ Bằng cho họp sĩ quan. Buổi họp phân công và thời gian về báo gia đình kết thúc trong sự im lặng nặng nề, như sóng ngầm dưới lòng biển sâu. Từng người đứng dậy, chào, bước ra. Không có tiếng đùa. Không một câu hỏi.

Ai cũng mang nặng công việc phải làm cho kịp giờ khởi hành.

Buổi chiều, anh phóng xe ra Bưu Điện gửi điện tín về quê báo tin cho ba má. Xong, anh đến trường đón Như Oanh.

Nàng bước ra cổng, thấy anh, nụ cười vừa chớm thì dừng lại. Có cái gì đó trên gương mặt anh khiến nàng bất an.

Nàng băng vội qua đường, hỏi dồn:

– Chuyện gì vậy anh?

– Tàu phải đi công tác bất thường. Ngày mai.

Nàng cúi đầu. Những ngón tay siết chặt cặp sách.

Một lúc rất lâu. Khi ngẩng lên, mắt nàng đỏ hoe, giọng nghẹn ngào:

– Không chỉ hoãn lễ hỏi… mà suốt mùa hè này… em cũng không có anh.

Võ Bằng gượng cười. Một nụ cười cam chịu:

– Đời hải hồ mà… Ráng tập quen đi em.

Câu giả lả chỉ làm đôi mắt nàng thêm long lanh.

Khi ba mẹ Như Oanh về, nghe tin, ông bà buồn xo. Giọng ông đều đều:

– Quân lệnh trên hết. Chỉ chậm vài tháng thôi. 

***

Buổi sáng khởi hành, Cố vấn Mỹ tháp tùng chuyến đi.

Đến Vũng Tàu, cả hai vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 3 Duyên Hải dự buổi họp hành quân. Bản đồ trên tường đầy những chấm đen kèm tên của các đảo Trường Sa.

Thiếu tá Trưởng phòng di chuyển đầu que vào vùng phía nam:

– Đây là khu vực có nhiều tàu lạ xuất hiện. Ảnh không tuần cho thấy hai tàu không cờ, không số, chở đông người… có thể đổ bộ chiếm đảo.

Không ai lên tiếng. Không khí đặc lại.

– Hiện chiếc tuần duyên hạm Sinh Tồn, HQ 631 đang tuần phòng vùng này. Nhiệm vụ của Rạch Gầm là tăng cường, phối hợp ngăn chận.

Thiếu tá thu hồi que nhôm, cao giọng:

– Nếu vi phạm lãnh hải:  Cảnh cáo bằng loa rồi bằng súng. Không tuân lệnh: được phép triệt hạ.

Không ai hỏi thêm. Cố vấn Mỹ ghi chép.

***

Mười giờ, Rạch Gầm rời cầu Cát Lỡ trực chỉ Trường Sa.

Gió mùa tây-nam: sóng xuôi, gió xuôi.

Ra khỏi mũi Nghinh Phong, Võ Bằng giao phiên cho Thiếu úy Đức, xuống buồng.

Buổi trưa, sau bữa ăn, anh đi một vòng kiểm tra tàu. Tình trạng an toàn tốt. Mọi thứ gọn gàng. Sẵn sàng.

Trở về buồng, anh ngồi viết thư cho Như Oanh. Rồi gửi ngay khi ghé bến.

Chắc nàng đang chờ. Như anh đang chờ.

Anh ngủ một giấc dài.

Chiều xuống. Chuông điện thoại reo. Anh nhấc máy:

– Thưa hạm trưởng, phía trước có nhiều tàu đánh cá.

– Tôi lên ngay.

Võ Bằng bước nhanh lên đài chỉ huy. Vừa đi vừa nghĩ: “Tàu tập trung ở Trường Sa? Không thể! Sớm nhất trưa mai mới tới.”

Anh nâng ống dòm. Một dải đất mờ ở hướng 11 giờ.

Anh hỏi sĩ quan đương phiên:

– Có phải Poulo Cecir de Mer không?

– Thưa phải.

– Anh biết tên Việt của đảo?

– Thưa… không rõ.

Võ Bằng khẽ cười:

– Đảo Phú Quý. Cũng gọi là Cù Lao Thu.

Trung úy Tuấn quay lại:

– Thưa hạm trưởng, sao lại hai tên?

– Poulo… từ tiếng pulau của Mã Lai – nghĩa là đảo. Dân mình lúc dịch là “đảo”, lúc giữ âm thành “cù lao”.

Anh dừng một chút:

– Cù Lao Thu là tên cũ. Do có nhiều cá thu quanh đảo. Năm 1844, vua Thiệu Trị đặt tên Phú Quý… vì thấy nơi này sẽ sang giàu.

Trung úy Tuấn gật gù. Cố vấn Mỹ đứng cạnh, lắng nghe, hơi bối rối.

Võ Bằng quay sang:

– You follow?

Bill cười:

– Chút chút… but interesting.

Trung úy Tuấn lại hỏi:

– Thưa Hạm trưởng, còn ‘hòn’ và ‘cồn’, khác nhau thế nào?

Võ Bằng nói thật chậm, hy vọng cố vấn hiểu:

– Hòn là đảo nhỏ ngoài biển. Chỉ riêng quanh đảo Phú Quý, ta có các Hòn Tranh, Hòn Đen, Hòn Đỏ, Hòn Giữa…

Anh dừng lại, nhíu mày, rồi tiếp:

– Và một hòn, tên gọi Hòn Khô, có ‘hành động’ kỳ lạ là vào năm 1923 đột nhiên nhô cao ba mươi mét rồi ba tháng sau lại chìm mất. Sau đó có lời cảnh giác của nhà làm hải đồ: “Vì nhiều địa chấn trong vùng, cần thận trong khi hải hành. Lời cảnh giác này cũng áp dụng cho vùng Trường Sa, Hoàng Sa.”

Thiếu úy Lũy thè lưỡi:

– Nghe mà ớn!

Võ Bằng giải thích tiếp:

– Còn cồn là bãi đất nổi giữa sông do phù sa hay cát tích tụ. Như miền tây có ‘tứ linh cồn’: Cồn Long – Lân – Quy – Phụng cùng nằm ven sông Tiền. Trong đó Cồn Phụng nổi tiếng nhất.

– Thưa, sao được nổi tiếng?

– Vì là Thánh địa của ông Đạo Dừa.  Nhưng nổi tiếng rồi… mất tiếng. Từ khi là thánh địa, Cồn Phụng mang tên mới: Cù lao Đạo Dừa.

Trung sĩ Huân than thở:

– Lung tung, khó nhớ quá!

Võ Bằng cười:

– Hòn và cồn cũng bị dùng lẫn lộn. Như lần ra bắc vừa rồi, qua vĩ tuyến mười bảy, chúng ta gặp một đảo nhỏ có tên Cồn Cỏ.

– Thưa, Hạm trưởng đảo Phú Quý có sản phẩm gì có thể thành phú quý?

– Trên đảo, người đông nhưng không có sản phẩm gì đắt giá. Nổi bật là ba kiến trúc tâm linh cổ kính, uy nghi. Một là Bảo Tháp Chùa Linh Quang chín tầng, trên ba trăm năm. Hai là đền thờ Công chúa Bàn Tranh bị vua Chàm đày biệt xứ khi dám từ chối làm vợ người do vua chọn. Thuyền của bà giạt vào đảo này. Bà lập nghiệp và giúp dân. Sau khi bà mất, dân trên đảo lập miếu thờ, tôn xưng Bà Chúa Đảo.

Võ Bằng dừng lại, theo dõi Trung úy Tuấn ra lệnh luồn lách tránh ghe. Khi chiến hạm trên hải trình an toàn, anh tiếp:

– Kiến trúc thứ ba từ thế kỷ mười tám là Lăng Vạn An Thạnh, nơi thờ Ông Nam Hải, vị Thần biển Nam hộ mệnh ngư dân. Mỗi khi thấy xác cá ông tấp vào là dân đảo cử hành trọng thể nghi lễ an táng. Đến nay lăng lưu giữ hơn một trăm bộ xương, bộ dài nhất là hai mươi mét.

Bất chợt, mặt biển phía trước nổ tung. Một cột nước trắng xóa bung lên. Một thân cá voi vọt khỏi mặt biển. Ánh nắng chiều vỡ thành các hạt nước tung tóe lấp lánh như kim cương. Thân cá uốn éo như chào mừng chiến hạm. Hay như ngăn cản chiến hạm tiến tới?

Mọi người đứng lặng. Tiếng máy tàu nhỏ đi như tránh khuynh động giây phút lạ thường.

Võ Bằng thầm van vái:

– Xin Ngài Nam Hải cho chúng con bình an.

***

Mặt trời lặn rất nhanh. Vùng trời đỏ, rồi tím, rồi xám, rồi đen tối.

Trăng lên, không tròn nhưng đủ cho biển lấp lánh. Những gợn sóng mang viền bạc mỏng.

Trung úy Tài nhấp một ngụm cà phê nguội rồi lẩm bẩm:

– Biển đêm… lúc nào cũng khác.

Trung sĩ Huân hỏi:

– Khác thế nào, trung úy?

– Khó nói!

Một quan sát viên quay lại, cười cười:

– Chắc khác với biển gần bờ?

Trung úy Tài lắc đầu:

– Không. Nó… mênh mông hơn và… hoang vu!

Hạm phó Tiến hiện diện từ bao giờ, lên tiếng:

– Đang có trăng mà.

Trung úy Tài nhìn xa xa:

– Chính ánh sáng lờ mờ đó… làm cho nó hoang vu.

Võ Bằng gật đầu:

– Tôi đồng ý.

Nói xong anh ngồi tựa đầu vào lưng ghế. Đài chỉ huy như hoang vu một lúc lâu.

Trung úy Tài ngập ngừng lên tiếng.

– Thưa hạm trưởng, trên hải đồ ghi là Spratly Islands, mình gọi là Trường Sa. Xem ra chả có dây mơ rễ má gì với nhau! Vì đâu nên nỗi?

Võ Bằng định chịu bí thì Hạm phó Tiến cứu bồ:

– Tôi được nghe ông cựu hạm trưởng giải thích như sau. Người Việt khai phá vùng hàng trăm đảo và bãi cát này từ thế kỷ 17, nên đặt tên Trường Sa. Đến thế kỷ 19, thuyền trưởng tàu săn cá voi Richard Spratley đến vùng này, đặt tên theo họ của mình.

Trung úy Tài reo lên:

– Cám ơn hạm phó.

Võ Bằng vui vẻ tiếp lời:

– Từ thời Minh Mạng, đã có dựng bia chủ quyền: Vạn Lý Trường Sa.  Đến thời Việt Nam Cộng Hòa, ta tiếp tục khẳng định chủ quyền, dựng bia mới và xây trạm khí tượng trên một đảo tương đối lớn, gọi Trường Sa Lớn.

Trung sĩ Huân bật cười:

– Trường Sa Lớn mà lại tương đối lớn?

Võ Bằng trầm giọng:

– Vì đảo lớn nhất, đảo Ba Bình bị Đài Loan chiếm khi Việt Nam ở vào thời buổi chia cắt đất nước. Đảo Thị Tứ lớn thứ nhì thì bị Phi Luật Tân chiếm.

Hạm phó Tiến nhăn mặt:

– Sao mình không đánh lấy lại những đảo đã mất?

– Nhiều tế nhị về mặt chính trị.

– Nếu sợ như vậy, họ chiếm thêm thì sao?

Võ Bằng mỉm cười:

– Các đảo quan trọng đã có quân phòng thủ. Các đảo nhỏ và các bãi còn lại do Hải Quân bảo vệ. Đó là lý do hôm nay chúng ta… ra đi khi trời vừa sáng.

***

Trăng lên cao hơn. Mặt biển sáng hơn. Những gợn sóng lấp lánh.

Chiến hạm chạy đều. Mũi tàu rẽ nước êm. Thân tàu rung nhẹ theo nhịp máy, quen đến mức không ai còn để ý.

Phiên trực im lặng. Mỗi người đứng đúng vị trí của mình. Nhưng tâm trí có lẽ đang về với người thân, người yêu. Như Võ Bằng đang nhớ từng lọn tóc mai, từng nụ cười, nốt ruồi son trên má Như Oanh…

Anh ngẩng lên. Trời đầy sao. Không gian yên tĩnh đến mức… như không có thật.

Anh chợt thấy đời mình lạ lùng. Từ một học sinh quê mùa trở thành hạm trưởng. Những người quanh anh, đủ hạng. Thầy giáo. Nông dân. Thợ điện. Sinh viên. Tất cả đứng đây – giữa biển. Biển im lìm tiếp nhận. Cái im lặng không phải bình yên mà là ẩn giấu.

Một ký ức chợt hiện. Bên hồ sen Đồng Quê Quán. Như Oanh ngồi đó. Cười và nói. Và bước vào đời anh bằng niềm tin vững chắc. Niềm tin vào một tương lai… không chắc chắn.

Anh đặt bàn tay lên túi áo. Mẩu giấy nhỏ nàng viết khi chia tay anh đã thuộc làu: “Anh đi bình an. Em không khóc, chỉ sợ… Đừng bỏ em một mình.”

Tiếng Thiếu úy Lũy đột ngột vang lên:

–  Thưa hạm trưởng, có ánh đèn phía mũi, mạn phải!

Võ Bằng nâng ống nhòm. Biển đêm trải dài. Một đốm sáng. Rồi tắt. Rồi một chấm sáng khác lóe lên. Biển lại tối. Im lặng. Biến cố lớn có khi từ một điểm sáng nhỏ.

Võ Bằng bảo Thiếu úy Lũy:

– Hỏi phòng CIC có thấy đối vật hướng một giờ?

Tiếng lặp lại vào loa. Rồi có tiếng đáp:

– Radar không thấy echo.

Rạch Gầm vẫn tiến đều trên biển nước mênh mông.

Mỗi hải lý như đi sâu hơn vào cái bẫy vô hình của định mệnh…


Chương 42

Trường Sa lửa đạn

Trợ chiến hạm Rạch Gầm kiên trì vượt biển suốt đêm suốt sáng, không trục trặc và cũng không dừng xét ghe. Nhiệm vụ khẩn: ngăn chặn hai tàu lạ đang dò đường đổ quân lên các đảo Trường Sa.

Khoảng cách còn lại: bốn giờ hải hành.

Ở phía trước, tuần duyên hạm Sinh Tồn đã tiếp cận, đang bám sát mục tiêu.

Khi Võ Bằng bước vào phòng ăn, đồng hồ chỉ đúng ngọ.

Cố vấn Mỹ và các sĩ quan đứng dậy chào. Anh gật đầu, ra hiệu ngồi. Không khí bữa cơm vẫn như thường lệ; thân mật, chút rộn ràng sau những giờ hải hành căng thẳng.

Cà phê được rót. Một khoảng lặng thinh. Rồi Trung úy Tài lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, đêm qua, Hạm trưởng và Hạm phó nói về Trường Sa… quá ít. Nhị vị hẳn đến đấy nhiều lần. Xin cho chúng tôi biết thêm…

Võ Bằng mỉm cười:

– Biết thêm những gì?

– Như địa dư, địa hình, tài nguyên, dân cư.

– Nghe như anh từng là thầy dạy sử địa.

– Dạ đúng.

Võ Bằng quay sang Hạm phó:

– Hạm phó có ý kiến?

Hạm phó Tiến nhấp ngụm cà phê, đặt ly xuống, giọng trầm đều:

– Quần đảo Trường Sa nằm phía nam Hoàng Sa khoảng ba trăm năm mươi hải lý. Cách Vũng Tàu khoảng ba trăm. Chiều dài gần năm trăm hải lý. Diện tích… ba trăm sáu mươi ngàn cây số vuông. Hơn trăm đảo, bãi đá, bãi cạn, rạn san hô…

Trung úy Tài tròn mắt:

– Rộng vậy sao?

– Không chỉ rộng mà còn nhiều điều thú vị. Như các bãi cạn nằm về phía Việt Nam đều đươc đặt tên theo lịch sử. Như các bãi Phúc Nguyên, Phúc Tần – tên hai vị vua nhà Nguyễn. Như bãi Huyền Trân – tên công chúa nhà Trần. Như bãi Quế Đường – tên hiệu của Lê Quý Đôn…

Thấy mọi người lắng nghe, Tiến tiếp:

– Nhưng cho dù mang tên đặc biệt gì đi nữa, cái đáng sợ không phải là rộng. Mà là… nguy hiểm.

Anh đưa tay vẽ một vòng vô hình trên bàn:

– Các bãi vừa kể, cũng như các bãi nổi khác, đều dễ thấy. Còn rạn san hô thì chìm dưới mặt nước mà nhiều vô số, khắp nơi quanh quần đảo. Thành ra khi tuần tiễu là cả một vấn đề. Dù tàu có fathometer mà vẫn luôn nơm nớp lo sợ.

Anh đổi nét nghiêm trang:

– Nói tổng quát, Hoàng Sa, Trường Sa từ xưa đến nay vẫn là vùng biển nguy hiểm. Đã có rất nhiều tàu thuyền bỏ xác tại vùng này. Mùa gió tây nam nếu đi phía trong thì bị đẩy tấp vào rạn san hô. Mùa gió đông bắc, đi phía ngoài thì cũng mắc cạn tương tự. Vì quá xa bờ, việc cứu cấp khó khăn, xác tàu mang theo cả xác người chết đói.

Không khí trong phòng lắng xuống. Thiếu úy Quang hỏi:

– Vậy sao không đi ngược với mùa gió? Nghĩa là nếu gió đông bắc thì đi phía trong, mùa tây nam thì đi phía ngoài.

– Đi như vậy là đi vòng, mất thêm bốn năm tiếng. Lại tốn thêm nhiên liệu.

– Sao không xây hải đăng?

Tiến cười nhạt:

– Hoàng Sa có. Trường Sa… thì không. Hải đăng Hoàng Sa có từ năm 1937, do Pháp xây dựng.

– Sao lạ vậy?

Hạm phó cười:

– Để tôi hỏi chính phủ Pháp.

Mọi người phì cười. Thiếu úy Quang hỏi tiếp:

– San hô có phải là đá đâu mà gây hư hại tàu?

– Nó là loài thủy-sinh-vật, nhưng có hai loại. Loại cứng thì như đá nhưng loại mềm thì uyển chuyển. Cả hai đều có màu sắc rực rỡ, tuyệt đẹp, có thể sống tới hàng nghìn năm. Chúng bám vào đá ngầm, sinh trưởng bằng mọc chồi. Vì là loại sống dưới nước, nên chồi mọc theo chiều cao đến gần mặt nước là ngưng.

– Rất thú vị. Xin tiếp.

– Xét địa hình, tuy quần đảo Trường Sa rộng hàng chục lần Hoàng Sa nhưng độ cao thì thua Hoàng Sa. Đảo Nam Yết cao nhất cũng chỉ được 5 mét từ mặt biển, trong khi ở Hoàng Sa, có đảo cao gấp ba lần. Cây cối cũng vậy. Trường Sa cằn cỗi. Hoàng Sa cây xanh um.

Trung úy Tuấn lên tiếng:

– Tôi đọc báo… nói có mỏ dầu ngoài thềm lục địa. Có phải vì vậy mà các nước cố chiếm các đảo, các bãi của ta?

– Phải. Nhưng đó là chuyện sau này. Trước kia… là vì hải sản. Cá, tôm, cua, bào ngư, vi cá, hải sâm, thứ nào cũng tiền là tiền! Lại thêm ốc xà cừ lóng lánh sắc màu để cẩn bàn ghế, tủ thờ.

– Tại sao mình không xua đuổi?

Mọi người nhìn Võ Bằng. Anh lắc đầu:

– Muốn đuổi thì phải có chiến hạm. Nhiều chiến hạm bao vùng. Hiện thời… quyền lực trên biển của mình chưa đến đâu. Đuổi được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Điện thoại reo. Đài chỉ huy báo tin đã thấy đảo Trường Sa.

Võ Bằng đứng lên:

– Thôi, tạm ngưng. Trường Sa đây rồi.

***

Hai giờ trưa, biển vẫn yên. Gió tây nam thổi nhẹ, mang theo oi bức đầu hè.

Võ Bằng đứng bên cánh phải đài chỉ huy, khuỷu tay tựa lên thành kim loại.
Mắt anh quét trên mặt biển. Mặt trời ngả về tây giúp mắt thường nhìn rõ đáy. Màu nước, sắc long lanh của các rạn san hô thay đổi tùy độ sâu.

Trường Sa… Anh còn nhớ:

Song Tử Tây – cực bắc.
An Bang – cực nam.
Tiên Nữ – phía đông.
Tứ Chính – phía tây.

Và giữa đó… là một mê cung.

Giọng Hạm phó vang lên từ Phòng Chiến Báo:

– Đài chỉ huy, còn cách đảo An Bang 15 hải lý.

Trung úy Tài đáp ‘Rõ’ rồi trình Hạm trưởng.

Võ Bằng gật đầu, nhấc PRC 46:

– Sinh Tồn. Vị trí?

– Gần bãi Thuyền Chài. Hai mục tiêu đang lảng vảng. Có thể chúng chờ tối.

– Giữ khoảng cách. Tôi đến.

Anh đặt máy. Nhìn lại hải đồ. Còn xa 35 hải lý. Nếu không trở ngại, tới đó còn ban ngày, nhiều lợi thế.

Anh nhớ kinh nghiệm tuần phòng thời còn trên Hộ tống hạm Đống Đa ba năm trước. Ở vùng này, chạy vận tốc sáu gút là khá liều mạng. Độ sâu rất bất thường. Nơi thì chỉ vài mét, rồi đột ngột xuống sâu hàng ngàn mét.

Còn đảo An Bang, thật là một hiện tượng thiên nhiên độc đáo.

Đảo có hình dạng như cây nấm khổng lồ giữa bãi cát. Các chiến sĩ canh phòng gọi đây là “bãi cát biết đi”. Do tác động của hải lưu và hai mùa gió, bãi cát này không cố định mà luân chuyển quanh đảo. Mùa gió đông bắc, bãi cát bồi về phía tây nam. Mùa gió tây nam, bãi cát lại chạy sang phía đông bắc.

Chiều dài đảo thay đổi tùy theo cường độ gió và sóng. Bãi cát có lúc bồi thêm đến hơn hai trăm mét, nhưng cũng có lúc bị bão đánh tan còn vài chục mét. Sóng ở An Bang nổi tiếng là dữ dội – sóng lừng – cộng với bãi cát di chuyển đã khiến nhiều tàu thuyền lâm nạn.

Nhưng dù có thế nào, Rạch Gầm cũng phải đến phối hợp với Sinh Tồn.

Võ Bằng nói qua về đặc điểm Trường Sa cho Cố vấn. Anh chàng thích thú ghi chép lia lịa. Anh hỏi cố vấn có ý kiến ra sao về việc ngăn địch đổ bộ. Anh chàng cười gượng: “You know better than me, Captain!”

Tiếng vang từ Phòng Chiến Báo:

— Đài chỉ huy. Có ba echo. Hướng 030… khoảng cách 20 hải lý.

Võ Bằng nâng ống dòm. Vẫn chỉ là biển xanh mênh mông. Nhưng chắc chắn chúng đâu đó.

Một tiếng sau, hình dáng hiện ra. Ba chiếc.

Sinh Tồn — quen thuộc. Hai chiếc kia — lớn, đen, lạ. Nằm yên như đang thả lưới.

Năm phút sau, Phòng Chiến Báo trình:

– Hai mục tiêu di chuyển. Hướng 310.

Võ Bằng nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ đang quay đầu ra khơi. Anh yêu cầu Sinh Tồn bám theo rồi bước tới bàn hải đồ. Hải trình không có bãi cạn. Anh ra lệnh:

— Lái hướng 040. Máy tiến ba.

Chiến hạm tăng máy, rẽ nước hướng về hai tàu lạ.

Anh nói vào PRC 46:

– Sinh Tồn, truy kích. Giữ khoảng cách.

– Nhận rõ.

Anh gác máy, nói với nhân viên lái:

— Lái hướng bắc.

Mũi tàu xoay dần. Tiếng vọng từ Phòng Chiến Báo:

– Khoảng cách 10 hải lý.

Võ Bằng lẩm nhẩm: “Hừm! Sao chúng lại bỏ chạy?”

– Khoảng cách 8 hải lý. Mục tiêu đổi hướng về bãi Ba Kè.

– Nó muốn… kéo mình đi đâu?

Anh bước nhanh tới bàn hải đồ. Đo đạc, làm phép tính.

Anh đập nhẹ xuống bàn:

— Nó dụ mình vào bãi cạn.

Võ Bằng tăng tốc, chạy chận đầu.

Tiếng Hạm phó:

— Khoảng cách 6 hải lý.

Võ Bằng nói to:

– Nhiệm sở tác chiến.

– Khẩu 76 sẵn sàng.

– Các khẩu đại bác sẵn sàng.

– Phản pháo ngay khi bị bắn, không chờ lệnh.

– Rõ.

Phòng Chiến Báo:

— Đài chỉ huy, radar bị nhiễu xạ. Nhiều echo giả. Không xác định được khoảng cách mục tiêu.

Võ Bằng nghiến răng, nghĩ thầm: “Không lẽ nó có máy gây nhiễu?”

Anh giơ tay ra hiệu im lặng tuyệt đối. Chỉ còn tiếng sóng vỗ mạn tàu, tiếng động cơ rền đều, và hơi thở dồn dập của các quan sát viên.

Anh nâng ống dòm. Hai chiếc tàu lạ không giống tàu đánh cá. Dường như có các ổ súng. Tự dưng một cảm giác e ngại ùa về.

Rồi bỗng nhiên…

Một đốm lửa chớp lên từ con tàu địch.

Ầm!

Một cột nước trắng xóa dựng lên sát mạn phải Rạch Gầm, tạt lên boong.

Tiếng một người la hốt hoảng:

— Nó bắn đó!

Tiếng nổ phản pháo từ khẩu 76 ở mũi xé toạc không khí. Khói lửa phụt ra, viên đạn đầu tiên bay vút đi. Tiếng nổ dồn dập của các khẩu đại bác vang lên tiếp nối.

Một viên 76 khác lại vụt ra. Một đốm lửa bùng lên trên thân tàu địch. Tiếng ai đó hét lên.

— Trúng đích!

Nhưng ngay lúc đó, một loạt đạn trả đũa quét tới. Tiếng “keng” kêu ran trên vách đài chỉ huy.

Một quan sát viên ngã xuống. Tiếng la thất thanh:

— Thủy thủ Tạo bị thương!

Đạn tiếp tục rít qua đầu. Nổ sau lái. Nổ sát hông. Không gian vỡ tan.

Võ Bằng nói vào máy nội bộ, giọng điềm tĩnh:

— Y tá lên ngay đài chỉ huy.

Anh nhìn quanh, nói to:

— Giữ vững vị trí!

Bên trái, tuần duyên hạm Sinh Tồn lao vào. Khẩu 40 ly mũi đang nhả đạn như mưa vào chiếc tàu địch thứ hai. Tàu địch bốc khói đen nghịt.

Nó quay đầu bỏ chạy. Lửa bùng cháy ở phần lái. Nó tăng tốc, lao về hướng bắc. Sinh Tồn rượt theo.

Võ Bằng bật máy PRC-46:

– Sinh Tồn! Diệt luôn nó đi!

– Rõ, thẩm quyền.

***

Chiếc tàu địch còn lại vẫn đang nhả đạn.

Rạch Gầm tiến xéo. Khoảng cách rút ngắn.

– 76 ly. Trực xạ phòng lái.

Phát đạn nổ tung. Phòng lái tàu địch vỡ vụn. Khói đen cuộn lên. Tiếng reo hò từ khẩu 76.

Nhưng tàu địch như con thú bị thương. Tất cả hỏa lực dồn lại, nó điên cuồng phản kích.

Một ánh chớp từ mũi.

Một tiếng rít. Một quả đạn lao thẳng.

Đoàng!

Một vầng hào quang lóe lên. Một lực ép mạnh mẽ. Mảnh kim loại văng tứ tung. Hai người ngã sóng soài, lăn lộn trên sàn. Một người nấc lên, máu ộc ra miệng. Một người ôm vai, rên rỉ. Trung úy Tài – bị mảnh đạn cứa vào bắp tay, máu chảy đầm đìa. Cố vấn Mỹ bị rách đùi – vết thương nhẹ nhưng mặt biến sắc.

Hai chân Võ Bằng nhói buốt. Đầu anh như bị đóng búa. Anh lảo đảo, mắt nhòe đi, Nóc đài chỉ huy xoay tròn. Thoảng mùi khói súng, mùi máu. Mọi âm thanh như bị bóp nghẹt.

Tiếng kêu thất thanh như từ đáy nước vọng lên: “Hạm trưởng bị thương!”

Đó là lời cuối cùng anh còn nghe thấy.

Cố vấn Mỹ cố giữ bình tĩnh mở PRC-46 liên lạc với tần số khẩn cấp:

Mayday, mayday! Tàu Rạch Gầm trúng đạn! Hạm trưởng bị thương nặng! Yêu cầu tản thương! Tọa độ: 9°52′07″B 114°18′47″Đ.

Nghe tin báo khẩn, Hạm phó lao vội lên đài chỉ huy. Thấy Hạm trưởng nằm bất động, cảnh tượng đầy máu me, anh đâm hoảng, mặt tái đi, tuy nhiên vẫn cố giữ giọng đanh thép:

– 76 ly. Đánh chìm nó.

Những viên đại pháo liên tiếp nối nhau. Chiếc tàu xâm nhập vỡ tung. Vài thân người bắn lên, rơi xuống biển. Tàu phát hỏa. Nghiêng rồi lật úp.

Anh ra lệnh đổi hướng về Phan Thiết, tốc độ tối đa. Khói đen từ hai bên hông hầm máy phụt ra mù mịt cuốn về đuôi tàu.

Y tá băng bó xong cho các thương binh, lay nhẹ vai Võ Bằng:

– Tỉnh dậy, Hạm trưởng. Tỉnh lại. Cứu thương đang tới.

Võ Bằng cố tập trung. Anh mơ hồ cảm giác mình bị nhấc lên, đặt vào cáng. Anh cũng chập chờn thấy Như Oanh nắm chặt tay anh. Rồi tất cả tối đen.

Hai mươi phút sau, trên bầu trời vọng tiếng cánh quạt vù vù của trực thăng. Một chiếc UH-1 từ Đệ Thất Hạm Đội xuất hiện. Hạm phó cho lệnh ngưng máy Rạch Gầm.

Trực thăng lượn một vòng, giảm độ cao. Gió rít mạnh theo cánh quạt quay vùn vụt. Trên boong sau, các thủy thủ lấy tay che mặt, cố giữ thăng bằng.

Cửa hông trực thăng mở toang. Một chiếc cáng được thả xuống bằng dây cáp. Võ Bằng và ba thủy thủ bị thương, lần lượt được kéo lên. Trung úy Tài và Cố vấn từ chối tản thương.

Thủy thủ đoàn và cố vấn Mỹ vẫy tay. Trực thăng UH-1 nhấc mình, lao vút, xa dần rồi mất hút.

Bên trong trực thăng, không khí thoang thoảng mùi thuốc sát trùng. Y sĩ Thiếu tá Tony Kent đo mạch cho Võ Bằng, ưu tư nhìn đồng hồ, rồi nhanh chóng truyền nước biển và tiêm thuốc trụ sinh.

Hai mươi phút bay vượt biển, chiếc trực thăng hạ cánh xuống boong hàng không mẫu hạm USS Midway.

Đội y tế với bốn cáng cứu thương đã đợi sẵn. Họ nhanh chóng đưa các thương binh vào bệnh xá dưới hầm tàu.

Đèn huỳnh quang trắng lóa. Bác sĩ tháo nón sắt trên đầu Võ Bằng, khám vết thương, rồi hối hả ra lệnh:

– Đưa ngay vào phòng mổ.

Ông ghi vội vào sổ trực bằng nét chữ nguệch ngoạc: Bị thương hai đùi. Một mảnh đạn xuyên nón sắt găm vào xương sọ. Cần mổ lấy ra ngay.


Chương 43

Giờ này anh ở đâu?

Như Oanh ngồi trước bàn ăn mà không thấy đói.

Chiếc bàn tròn phủ khăn trắng. Bốn món ăn được dọn ra trong những tô chén kiểu, dưới ngọn đèn néon tỏa thứ ánh sáng dịu và mát. Không gian vẫn yên bình như mọi tối. Chỉ có lòng nàng là không yên.

Từ mấy hôm nay, một nỗi bất an âm ỉ bám riết lấy nàng.

Nàng ngủ không ngon. Nửa khuya thường chợt tỉnh vì một tiếng động rất nhỏ: cành cây quệt vào khung cửa, tiếng gió lùa qua khe lá, tiếng nước nhỏ đâu đó ngoài hiên. Những âm thanh vốn vô nghĩa, bỗng hóa thành điềm gở. Có đêm nàng ra đứng ở hành lang sau, nhìn khu vườn chìm trong bóng tối, tự hỏi không biết giờ này Võ Bằng đang ở vùng biển nào? Có mưa gió và có được bình an không?

Trên góc tủ thấp gần bàn ăn vẫn còn bức ảnh nhỏ chụp hai người hôm đi dạo ở bến Bạch Đằng. Trước khi ngồi xuống, nàng đã vô thức nhìn nó một lần. Chỉ một lần thôi, mà trong lòng chợt nhói lên một cảm giác rất lạ, như thể có ai vừa gọi tên mình từ rất xa.

Ông Huỳnh Quang Đạo vừa ngồi xuống đã nói chuyện làm ăn như mọi bữa. Giá gạo lên. Lô hàng nhập cảng còn bị kẹt giấy tờ ở bến. Một viên chức nào đó lại hẹn lần hẹn lữa. Bà Đạo vừa ăn vừa nghe, thỉnh thoảng hỏi lại vài câu. Chỉ riêng Như Oanh cầm đũa mà thấy chén cơm trước mặt như thuộc về một đời sống khác, không liên quan gì đến mình.

Nàng cố nuốt vài miếng cho ba mẹ yên lòng.

Sau bữa cơm, ông bà Đạo sang phòng gia đình xem truyền hình như thường lệ. Âm thanh mở hơi lớn, vọng cả vào nhà bếp. Như Oanh đứng rửa chén. Nước chảy qua tay mát lạnh. Những chiếc chén va vào nhau thành những tiếng lanh canh khẽ và rỗng. Nàng nghe loáng thoáng tin chiến sự ở đâu đó, vài con số thương vong, vài địa danh xa lắc. Những bản tin chiến tranh lâu nay vẫn thế, đi ngang đời sống thành phố như một cơn gió nóng: ai không có người thân ngoài mặt trận thì nghe rồi quên.

Bỗng nàng nghe tiếng mẹ gọi, dồn dập khác thường.

– Oanh! Oanh!

Bà Đạo bước nhanh vào bếp, mặt tái đi:

– Mẹ vừa nghe tin có hai chiến hạm đụng trận với hai tàu lạ ở Trường Sa. Một người chết, sáu người bị thương… trong đó có hạm trưởng tàu HQ 266. Có phải tàu của Võ Bằng không con?

Chiếc chén trên tay Như Oanh rơi xuống chiếc tô trên đáy chậu rửa.

Tiếng sứ vỡ khô, sắc, lạnh.

Nàng đứng sững. Nước trong vòi vẫn chảy lênh láng qua những mảnh vỡ. Hai chữ bị thương như xoáy thẳng vào ngực. Trong một thoáng, nàng nghe mọi âm thanh chung quanh lùi rất xa, chỉ còn tiếng tim mình đập gấp.

– Người ta… có nói anh ấy được chở đi đâu không hở mẹ?

Giọng nàng run đến nỗi chính nàng cũng thấy lạ.

– Không. Tin vắn tắt lắm. Chắc đầu giờ tới họ nói lại.

Như Oanh lau vội tay vào vạt áo, bước nhanh sang phòng gia đình. Đôi dép lết trên nền gạch nghe như những tiếng rên khẽ, Trên màn ảnh, bản tin chiến sự đã qua. Chỉ còn một chương trình ca nhạc. Tiếng đàn, tiếng hát vẫn êm đềm, bình thản đến tàn nhẫn, như thể ngoài kia những người bị thương cũng biết thưởng thức.

Nàng đứng giữa phòng, nhìn cha:

– Ba có quen ai ở Bộ Tư lệnh Hải quân không?

Ông Đạo ngước lên. Chỉ thoáng nhìn con gái, ông hiểu ngay nỗi hoảng hốt đang dâng đến mức nào. Bao điều khó chịu, bao dè dặt, bao toan tính hơn thiệt ông từng có với chàng sĩ quan trẻ ấy, trong giây phút này bỗng lùi cả lại phía sau.

– Quen thì có… nhưng giờ này…

– Ba ráng hỏi giùm con. Con phải biết anh Bằng đang ở đâu. Bị thương ra sao.

Ông Đạo không nói thêm. Ông bước tới bàn điện thoại, lật sổ tay, quay số.

Đường dây bận.

Ông quay số khác.

Lần này có người bắt máy. Ông tự xưng tên, nói ngắn gọn lý do, rồi đứng im nghe. Như Oanh nhìn chiếc điện thoại đen đặt trên bàn như nhìn một vật có thể mở ra hay đóng sập số phận mình. Mỗi giây kéo dài như một sợi dây thép căng quanh ngực rút lại.

Ông Đạo hỏi hai ba lần. Vẻ mặt ông đổi khác. Bàn tay cầm ống nghe siết chặt hơn.

Khi đặt máy xuống, ông nói:

– Trung tâm Hành quân cho biết thương binh đã được tàu Mỹ cấp cứu rồi chuyển về Sài Gòn chiều nay.

– Sài Gòn? Bệnh viện nào?

– Họ nói chưa rõ.

Bà Đạo sốt ruột:

– Sao lại chưa rõ? Chở về Sài Gòn thì phải biết đến nơi nào chứ! Ông hỏi lại xem.

Ông Đạo lắc đầu, vẻ bực bội hiện rõ trong mắt. Chính ông cũng khó chịu cái kiểu tin tức nửa vời ấy. Nhưng giây phút này, bực cũng vô ích.

– Người bạn chỉ biết tới đó. Muốn rõ hơn chắc phải đến Bộ Tư lệnh Hải quân.

Như Oanh nghe mà như không nghe. Trong đầu nàng chỉ còn một ý nghĩ: phải tìm ra anh ngay tối nay. Chờ đến sáng là không thể.

Nàng nói rất nhanh:

– Con xin phép đi hỏi thêm nơi khác.

– Trời tối rồi, con đi đâu? – bà Đạo hỏi.

– Con đi gặp chị Lan Như. Có thể chị ấy biết.

Ông Đạo quay lại:

– Lan Như là ai?

– Phóng viên chiến trường của báo Ngôn Luận. Chị ấy có quen anh Bằng, lại biết giới Hải quân.

Không đợi thêm, ông Đạo mở cuốn niên giám điện thoại, dò số tòa soạn. Người trực báo cho biết Lan Như đã về nhà. Ông xin số điện thoại nhà riêng. May sao gọi được.

Ông trao ống nghe cho con gái.

– Chào chị Lan Như, tôi là Như Oanh… chắc chị còn nhớ?

Tiếng trong trẻo của Lan Như bên kia đầu dây:

– Nhớ quá đi chứ. Có chuyện gì gấp phải không?

– Tôi mới nghe tin anh Bằng bị thương ngoài Trường Sa. Chị biết chứ?

Phía bên kia im lặng vài giây:

– Tôi chưa nghe. Bị thương nặng lắm không?

– Tivi không nói rõ. Bộ Tư lệnh Hải quân cũng chỉ nói đã chuyển về Sài Gòn nhưng không biết về đâu.

– Chị đã hỏi Bệnh xá Bạch Đằng chưa?

– Chưa. Bệnh xá ở đâu?

– Đầu đường Cường Để, khu Hải quân.

– Cám ơn chị. Tôi đi ngay.

Lan Như còn dặn thêm vài câu, Như Oanh chỉ vắn tắt “cảm ơn”.

Nàng lấy xách tay. Bà Đạo nói:

– Mẹ đi với con.

Ông Đạo cầm chìa khóa xe:

– Tôi đưa hai mẹ con đi.

***

Chiếc Renault lao vào đêm Sài Gòn.

Thành phố sáng choang. Hàng quán còn đông. Xe cộ vẫn nườm nượp. Những cặp trai gái đi ngang dưới các vòm cây. Tiếng cười, tiếng còi xe, tiếng nhạc từ một quán cà phê nào đó tràn ra lòng đường. Cả thành phố vẫn sống như một đêm bình thường. Chỉ riêng trong chiếc xe ấy, thời gian như đông cứng lại.

Bà Đạo ngồi phía trước, thỉnh thoảng ngoái nhìn con gái. Mấy lần bà muốn nói một câu trấn an, nhưng rồi lại thôi. Sau cùng, bà chỉ lặng lẽ đưa tay ra sau, nắm lấy bàn tay con. Bàn tay Như Oanh lạnh ngắt.

Xe dừng trước cổng Bệnh xá Bạch Đằng.

Như Oanh bước xuống trước khi xe tắt máy hẳn. Trong sân chỉ có vài chiếc xe đậu thưa thớt. Nơi bàn trực sáng đèn. Cô y tá thấy vẻ mặt thất thần của nàng thì dịu giọng hỏi. Nghe xong, cô gọi điện vào trong.

Chốc lát, một y sĩ trung úy đi ra.

– Chào cô. Đại úy Võ Bằng không nhập viện ở đây.

Như Oanh thấy chân mình như hụt xuống.

– Xin bác sĩ cho biết… anh ấy được chuyển đi đâu?

– Cô thử đến Tổng Y viện Cộng Hòa.

– Ở đâu, thưa bác sĩ?

– Gò Vấp. Nhưng đã quá giờ thăm.

Rồi như thấy sắc mặt nàng trắng bệch đi, ông dịu giọng hơn:

– Cô chờ một chút. Để tôi gọi hỏi thêm.

Như Oanh lắc đầu, giọng gấp:

– Xin bác sĩ cho tôi địa chỉ. Tôi muốn đến đó ngay. Nếu anh ấy ở đó, dù quá giờ thăm tôi cũng xin nhìn qua, cho đỡ lo.

Vị y sĩ lật sổ, ghi nhanh vài dòng vào mảnh giấy, trao cho nàng.

– Cảm ơn bác sĩ.

Lúc quay ra xe, bàn tay nàng cầm mảnh giấy địa chỉ run đến mức phải dùng cả hai tay mới đưa được cho cha.

***

Con đường đến Tổng Y viện Cộng Hòa dài như không dứt.

Như Oanh ngồi ở băng ghế sau, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối. Thành phố ngoài khung kính lùi dần thành những dải sáng mờ. Nàng không còn thấy rõ phố xá nữa. Từ lúc nghe tin, dường như nàng không còn sống trong giờ phút hiện tại. Một phần hồn nàng đã bị kéo ra ngoài khơi xa, tới một vùng biển, nơi những con sóng đập vào mạn tàu, nơi Võ Bằng ngã xuống còn khét lẹt khói súng.

Anh bị thương ở đâu? Ở đầu, ở ngực, ở chân? Có đau lắm không? Có ngất đi không? Có biết được đưa về bệnh viện?

Một ý nghĩ lạnh ngắt lướt qua óc nàng: lỡ người nằm trong bệnh viện không còn là Võ Bằng… của ngày nào thì sao?

Nàng nhắm mắt lại. Không dám nghĩ tiếp.

***

Nửa giờ sau, Tổng Y viện Cộng Hòa hiện ra dưới ánh đèn trắng nhạt.

Dãy nhà lớn, nhiều cửa sổ sáng, im lìm giữa đêm khuya, trông như một con tàu khổng lồ đang thức. Ông Đạo lái xe vào sân. Vừa bước xuống, cả ba đã nghe tiếng trực thăng.

Chiếc trực thăng tản thương từ đâu hạ thấp dần xuống khoảng đất trống cạnh sân cờ. Cánh quạt chém phần phật vào không khí, dữ dội và lạnh lẽo. Âm thanh ấy đập thẳng vào ngực Như Oanh. Nàng đứng sững một giây, tưởng như chính trái tim mình cũng bị lưỡi quạt kia xé rách.

Biết đâu Võ Bằng cũng đã được chở tới đây như vậy.

Qua trạm gác, nhờ tấm thẻ giáo sư và vẻ mặt hoảng hốt của gia đình, người quân cảnh chỉ đường vào phòng trực. Y tá trực mở sổ dò tên. Khoảng chờ đợi chỉ mấy phút ấy đối với Như Oanh dài dằng dặc như một hình phạt. Cuối cùng, cô y tá reo lên:

– Đại úy Võ Bằng, HQ 266, Nhập viện 16:00G… Nhưng đã ngoài giờ thăm. Xin ngày mai trở lại.

– Vui lòng cho chúng tôi gặp một chút thôi.

– Không được, cô.

– Tôi chỉ nhìn một chút. Tôi là…

Nàng nghẹn lại một thoáng rồi mới nói được:

– Là… vợ sắp cưới của anh ấy.

Người nhân viên trực nhìn nàng, nhìn ông bà Đạo, rồi dịu giọng:

– Phòng 305, cuối dãy bên trái. Nhưng chỉ được nhìn từ cửa phòng. Tuyệt đối không vào trong.

Như Oanh đi gần như chạy.

Vừa qua khỏi khúc hành lang rẽ, mùi thuốc sát trùng đã ập đến. Lẫn trong đó là mùi máu, mùi mồ hôi cũ, mùi vải băng, mùi kiệt sức của thân thể con người. Trên mấy băng ca đặt dọc hành lang, vài thương binh nằm bất động, người quấn kín ngực, người cụt một chân, người mặt mày còn lem bụi khói. Có tiếng rên la từ một phòng nào đó. Bác sĩ và y tá hối hả bước…

Thế giới nàng vẫn sống bấy lâu — bục giảng, những bài văn câu thơ, những bài bình giảng — bỗng lùi vào bóng tối. Trước mặt chỉ còn xác thịt bị chiến tranh xé nát và những nỗ lực mong manh để giữ con người tồn tại cuộc sống.

Đến trước phòng 305, nàng dừng lại.

Rồi trố mắt nhìn.

Võ Bằng nằm đó.

Như Oanh không nhận ra anh trong giây đầu tiên.

Người thanh niên có nước da sạm nắng, có đôi mắt sáng và nụ cười điểm chút ngỗ nghịch từng làm tim nàng xao động, giờ chỉ còn là một hình hài nằm im như xác chết. Băng quấn ở đầu, và ở chân. Da mặt tái nhợt. Môi khô. Cánh tay năng động giờ bất động với những ống truyền dịch cắm vào. Bên cạnh giường, máy trợ thở nhả ra những nhịp đều đều, vô cảm.

Như Oanh thấy cổ họng mình thắt lại.

Phía sau, ông Đạo bước tới. Nhìn những con số nhấp nháy trên màn hình, nhìn ống thở, ông bỗng cảm thấy trong lòng trào lên một nỗi xót xa nặng nề. Lần đầu tiên ông thấy rõ chiến tranh đã bước hẳn vào cuộc sống yên ấm của gia đình mình. Không còn là những bản tin nghe qua loa sau bữa cơm chiều. Nó đang nằm đây. Trong thân thể băng bó kia. Trong đôi vai run run của con gái ông.

Ông khẽ nói với vợ, gần như chỉ mấp máy môi:

– Có cả máy trợ thở…

Bà Đạo không đáp. Bà chỉ chậm chạp đưa tay lên ngực, như muốn giữ trái tim mình khỏi rơi xuống.

Như Oanh không còn nghe gì nữa.

Nàng bước thêm một bước, môi mấp máy:

– Anh Bằng… em đây.

Tiếng gọi nhỏ quá, chính nàng cũng không chắc mình đã phát ra thành tiếng.

– Anh Bằng ơi… đừng bỏ em. Đừng quên đám hỏi của chúng mình.

Nước mắt tràn xuống lúc nào nàng không biết. Mọi hình ảnh nhòe đi. Những thương binh rên rỉ ngoài hành lang làm nàng đau nhưng người nằm bất động trong phòng này lại là nỗi đau không gì so được. Anh ở đây. Rất gần. Mà xa như ở tận bên kia một vùng biển khác.

Nàng giơ tay vẫy gọi. Đúng lúc ấy, nàng chợt thấy một ngón tay của Võ Bằng động đậy. Rất nhẹ. Nhẹ đến nỗi nếu chớp mắt, có lẽ nàng đã tưởng mình nhìn lầm.

Nhưng chỉ chừng đó thôi cũng đủ làm trái tim nàng thắt lại, rồi bừng lên một tia hy vọng mỏng manh. Nàng ôm lấy mặt, nước mắt rơi lặng lẽ.

Chiến tranh chưa cướp anh đi hẳn.

Nó chỉ quật anh ngã. Nhưng anh không gục.

Nàng thì thầm:

– Em đã thấy tín hiệu của anh. Em sẽ chờ…

Chương 44

Em vẫn đợi…

Ngày thứ ba sau khi được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hòa, các chỉ dấu trên những máy đo đều thuận lợi, Võ Bằng được rời phòng cấp cứu, chuyển đến phòng điều trị yên tĩnh hơn. Anh nằm chung với một thương binh khác đã hồi tỉnh nhưng thân nhân chưa ai hay biết. Còn anh thì chưa tỉnh.

Vào ba giờ chiều, Tư lệnh Hải quân, Trưởng Phòng Xã Hội vào thăm.

Ông đứng bên giường, nhìn người sĩ quan trẻ mà ông quý mến.

Võ Bằng nằm thiêm thiếp. Khăn trắng phủ lên tận cổ. Đầu anh quấn một mảng băng phủ gần nửa vầng trán. Gương mặt sạm nắng nhợt nhạt, đôi môi khô ngậm ống thở, bất động. Cái dáng người vốn quen đứng thẳng trên đài chỉ huy, quen đưa ống dòm nhìn ra biển, quen ban khẩu lệnh dứt khoát giữa tiếng gió và tiếng máy, giờ nằm im giữa mùi thuốc sát trùng và ánh đèn bệnh viện lạnh lẽo.

Tư lệnh khẽ thở dài. Ông cúi xuống nắm bàn tay Võ Bằng đang đặt xuôi theo giường như muốn truyền nghị lực. Ông nói nhỏ:

– Tôi đến thăm anh đây, Võ Bằng. Và mang đến anh tin vui.

Bà Trưởng phòng nâng chiếc khay nhỏ phủ nhung vàng. Trên đó trang trọng đặt một cặp cầu vai mới và cuống huy chương long lanh.

Tư lệnh cầm cặp cầu vai, giọng chậm rãi:

– Anh được thăng cấp tại mặt trận kể từ hôm nay. Chúc mừng Hải quân Thiếu tá Võ Bằng.

Ông đặt cặp cầu vai hai vạch kim tuyến kẹp một vạch nhỏ đặt lên ngực Võ Bằng. Rồi ông lấy cuống huy chương óng ánh ba ngôi sao bạc, vàng và nhành dương liễu. Ông nói nhỏ:

– Quân đội cũng ân thưởng anh huy chương Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu.

Ông đặt huy chương lên ngực trái.

Trong đời binh nghiệp, không phải lần đầu ông gắn huy chương cho thuộc cấp. Nhưng hiếm khi một buổi tưởng thưởng lại không có tiếng kèn, không có hàng quân danh dự, không có lời hô nghiêm, không có tiếng vỗ tay như lần này. Chỉ có tiếng máy đo nhịp tim đều đều, hơi thở nhọc nhằn. Nhưng ông lại hãnh diện nhất.

Ông cúi xuống gần hơn:

– Hải quân Thiếu tá Võ Bằng, tôi rất hãnh diện vì anh, Hải quân hãnh diện vì anh. Chiếc Rạch Gầm cũng được thưởng Anh Dũng Bội Tinh và vẫn tiếp tục công tác dưới quyền một Hạm trưởng tạm thời. Anh hãy yên tâm dưỡng thương.

Ông ngừng một chút. Giọng ông bỗng dịu xuống, không còn là giọng của một vị chỉ huy nữa, mà là lời của một người thân:

– Tôi vẫn đang chờ làm chủ lễ tiệc cưới của anh.

Bà Trưởng Phòng Xã Hội quay mặt đi, rơm rớm nước mắt. Bà đã chứng kiến bao nhiêu buổi lễ tưởng thưởng nhưng vẫn không sao ngăn được xúc động.

Tư lệnh quay sang vị y sĩ vừa bước vào:

– Theo bác sĩ, chừng nào Thiếu tá Bằng hồi tỉnh?

Y sĩ Đại úy nhìn màn hình các máy đo rồi đáp:

– Thưa Đề đốc, tất cả chỉ dấu cho thấy Thiếu tá Bằng đang ở tình trạng ổn định. Việc hồi tỉnh chỉ còn là vấn đề thời gian.

– Nhưng… chừng nào?

Vị y sĩ ngập ngừng:

– Thưa khó thể xác định. Nhưng rất nhiều hy vọng.

– Vết thương ở đầu…

Vị y sĩ gật đầu:

– Thiếu tá may mắn. Mảnh đạn chưa chạm vào não. Tình trạng hôn mê phần lớn do tiếng nổ quá gần và chấn động não. Anh ấy có thể tỉnh lại bất cứ lúc nào.

Đề đốc đưa tay ra bắt tay vị bác sĩ:

– Sĩ quan ưu tú của tôi. Trăm sự nhờ bác sĩ.

– Thưa Đề đốc, chúng tôi sẽ tận lực.

Tư lệnh nhìn Võ Bằng thêm một lần nữa. Ông tin một người năng nổ như thế không dễ gì chịu nằm yên lâu.

Ông khẽ nói:

– Biển luôn cần anh. Và một người đang tha thiết chờ anh.

Phái đoàn của Đô đốc vừa khuất ở cuối hành lang, khoảng lặng trước cửa phòng bệnh chưa kịp trở lại, thì một nhóm người với vẻ mặt hớt hải xuất hiện.

Đó là ông bà Hảo và các anh chị của Võ Bằng. Bà Hảo khư khư xách cái giỏ nhỏ như thể trong đó có tất cả những gì một người mẹ có thể đem theo để cứu con mình.

Dừng lại trước cửa phòng, ông Hảo nhìn sững người nằm trên giường.

Một lúc lâu, ông không bước nổi. Người ta đã nói với ông đó là con trai ông. Nhưng ông vẫn không tin ngay ở mắt mình. Hình ảnh thằng con xăng xái mới gặp tháng trước, giờ đây nằm im, dưới lớp chăn trắng toát, đầu quấn băng, mặt hốc hác như một người xa lạ.

Ông rón rén bước, đôi bàn tay chai sạn nắm chặt thành giường. Ông nhìn khuôn mặt vàng vọt của con rồi dừng lại ở cặp cầu vai ba vạch và cuống huy chương.

Ông hỏi vị bác sĩ:

– Sao… sao có những thứ này trên ngực con tôi?

Vị bác sĩ nhỏ nhẹ:

– Thưa bác, đó là cấp bậc Thiếu tá và Anh Dũng Bội Tinh. Tư lệnh Hải Quân vừa đến thăm và ban thưởng anh ấy.

Ông Hảo ngẩn ngơ: “Không lẽ cấp bậc của nó bây giờ ngang với ông quận trưởng quê mình?”

Một tia sáng tự hào vụt qua đôi mắt mờ đục. Nhưng rồi nó vụt tắt. Ông sợ, sợ những thứ lấp lánh ấy được đánh đổi bằng mạng sống của con trai mình.

Bà Hảo thì chẳng thấy gì ngoài khuôn mặt xanh xao của Võ Bằng. Bà lặng lẽ mở giỏ xách, lấy chai dầu cù là, nhẹ nhàng xoa lên lòng bàn chân lạnh ngắt của con. Bà vừa xoa vừa khóc: “Con ơi mau tỉnh lại. Ba má anh chị lên thăm con đây.”

Vị y sĩ nhìn hành động đầy mê tín. Trong y khoa, chẳng có phương thuốc nào tên là dầu cù là có thể đánh thức người đang hôn mê. Nhưng nhìn cử chỉ xoa bóp đầy tình mẫu tử, ông quay mặt đi không ngăn cản.

Anh chị của Võ Bằng bước gần nắm tay đứa em. Người chị thút thít:

– Chị mang bánh ít bánh tét em thích. Ngờ đâu em ra nông nỗi này.

Cả căn phòng chìm trong tiếng khóc nhỏ, tiếng máy thở đều đều và mùi dầu cù là cay nồng lẫn với mùi bệnh viện.

Đúng lúc đó, Như Oanh xuất hiện ở ngưỡng cửa.

Nàng mặc áo dài màu xanh nhạt, dáng người thanh mảnh hơn sau mấy ngày mất ngủ. Khuôn mặt hằn rõ vẻ mệt mỏi, lo âu. Đôi mắt nàng đỏ, nhưng không còn vẻ hoảng hốt của ngày đầu.

Nàng bước vào, cúi đầu chào ba má Võ Bằng và anh chị. Bà Hảo gật đầu, tay vẫn xoa dầu. Cảnh tượng khiến nàng rơi nước nước mắt.

Nàng bước đến bên giường,

Đầu anh vẫn quấn băng trắng, gần kín nửa trán, bên trên có một đốm đỏ nhạt. Gò má sạm, đôi môi khô, cánh tay nằm ngoài chăn gầy hơn trước. Cái dáng người vốn quen đứng thẳng trên boong tàu, quen đưa ống dòm nhìn vùng biển xanh, giờ nằm bất động suốt ngày đêm.

Trong trí nàng, Võ Bằng đang ở đâu đó ngoài khơi, trên một vùng biển xa. Và con tàu đã đi quá tầm mắt, chưa chịu quay về. Có thể đang đụng trận. Cũng có thể đang truy kích. Nhưng nàng biết, dưới quyền chỉ huy của anh, Rạch Gầm không bao giờ trôi giạt vô định…

Nàng cúi xuống, thì thầm vào tai anh:

– Em biết anh nghe được. Anh đi xa quá rồi đó. Nhớ quay về, em đang đợi.

Rồi nàng chăm chăm nhìn các ngón tay của anh.

Nàng ngồi xuống chiếc ghế cạnh giường, đặt bàn tay nàng lên bàn tay anh. Bàn tay ấy mới ngày nào từng nắm tay nàng trên bãi biển An Thới. Và cũng chính bàn tay ấy từng viết cho nàng những lá thư tình từ biển.

Vậy mà giờ đây nó nằm bất động trong tay nàng. Một ý nghĩ đen tối khiến nàng không ngăn nổi nước mắt đầm đìa tuôn.

***

Một tháng trôi qua, từ hôm Võ Bằng nhập viện.

Cũng từ ngày đó, chương trình mỗi ngày của Như Oanh thay đổi. Sau giờ dạy học, nàng bỏ cơm chiều với ba mẹ để đến với anh.

Nàng không nói gì nhiều. Có ngày nàng kể chuyện trong lớp. Có ngày nàng đọc lại một đoạn thư cũ của anh. Có ngày nàng thẫn thờ nhớ quán Sóng, Đồng Quê quán, Có ngày nàng chỉ ngồi yên, nhìn ngực anh lên xuống khẽ khàng.

Nhưng chiều hôm nay, khi Như Oanh từ trường về nhà, chuẩn bị thay áo để vào bệnh viện thì người giúp việc báo ba mẹ muốn gặp nàng.

Nàng khựng lại. Một linh cảm không lành báo động. Nàng muốn rời nhà, muốn đến với Võ Bằng đang chờ, nhưng không thể chối từ.

Khi nàng bước vào phòng gia đình, ông Đạo đã ngồi sẵn trên chiếc ghế bành gần cửa sổ. Bà Đạo ngồi bên cạnh, hai bàn tay đan vào nhau. Trên bàn, tách trà của ông Đạo đang bốc hơi.

Như Oanh vừa ngồi lên ghế, ông Đạo lên tiếng:

– Sáng nay, ba với mẹ vào thăm Võ Bằng.

Nàng ngẩng lên rất nhanh, chờ đợi.

Ông Đạo nhìn con gái một lúc, rồi nói tiếp:

– Nó vẫn vậy. Vẫn mê man bất tỉnh.

Chữ “mê man” làm Như Oanh nhói lên. Nàng đau vì sự thật, nhưng còn đau hơn vì cách cha nàng nói sự thật ấy như nói về một món hàng chỉ còn đáng bỏ đi.

Nàng giữ giọng bình thản:

– Bác sĩ có nói gì khác không, thưa ba?

– Ông ấy vẫn chỉ vắn tắt: có thể hồi tỉnh bất cứ lúc nào, mà cũng có thể là chẳng bao giờ.

Bầu không khí nặng nề. Như Oanh bỗng thấy mình như đang đứng trên một bờ vực mà ba mẹ nàng đã quay lui, còn nàng thì vẫn bước tiếp. Ông Đạo lại nói, từng chữ gọn và chắc:

– Ba mẹ không phải người vô tình. Ba mẹ đã bằng lòng cho hai đứa thành hôn. Nhưng ở đời, có những việc phút chót phải xét lại.

Như Oanh mở to mắt, lắng nghe. Bà Đạo chen vào, giọng mềm hơn:

– Con đừng nghĩ ba mẹ nhẫn tâm. Chỉ là hôm nay nhìn cậu Bằng như vậy… ai cũng xót thương.

Như Oanh cười rất nhẹ. Gần như chỉ là một cử động ở khóe môi:

– Mẹ! Mẹ xót thương, mà sao vẫn muốn… xét lại?

Bà Đạo lặng im. Ông Đạo không né tránh:

– Phải. Ba mẹ muốn con bình tâm suy xét. Sự thật không thể chối cãi: nó bất tỉnh. Con đã đợi một tháng. Nó vẫn bất tỉnh. Con có thể đợi một năm, hai năm. Nhưng nếu là mười năm?

Như Oanh cúi mặt, lơ đãng nhìn sàn nhà. Nàng không muốn nói mà cũng không muốn nghe thêm.

Thấy con lặng thinh, bà Đạo nghẹn ngào:

– Mẹ chỉ sợ… nó tỉnh dậy mà không còn là người con yêu nữa.

Như Oanh hít một hơi, thở ra, giọng nhỏ nhẹ:

– Thưa ba mẹ, trước khi ngỏ ý muốn tiến tới hôn nhân, anh Bằng ân cần khuyên con nên đắn đo suy xét. Anh báo một sự thật hiển nhiên: lấy chồng lính, coi như khăn tang đã may sẵn. Hoặc nếu không tử thương thì cũng về với tấm thân tàn phế. Con đã trả lời: “Nếu anh chết em chịu tang. Nếu anh tàn phế, em sẽ là đôi chân của anh.”

Ông Đạo cười nhạt, tung đòn quyết định:

– Lãng mạn! Hãy thực tế con ạ!

Như Oanh bình thản tiếp:

– Hôm gia đình Võ Bằng đến dùng cơm, khi con tiễn ra về, ông Hảo nói với con, rằng trước tương lai mịt mù của Võ Bằng, ông bà hoàn toàn thông cảm nếu con rút lui. Và con đã trả lời, con muốn cùng Võ Bằng bước qua những ngày hoạn nạn.

Ông Đạo to tiếng:

– Ba má thằng Bằng cho con quyền chọn lựa, sao lại chọn ngõ cụt?

Như Oanh lặng thinh. Nàng biết có nói nữa cũng chỉ làm ba nàng thêm nổi nóng.

Bà Đạo dịu dàng lên tiếng:

– Con à, không phải ba mẹ không thương cậu Bằng. Nhưng như ba con nói… thời thế đổi thay. Nói thẳng ra là con nên rút lui từ bây giờ. Cha mẹ Võ Bằng cũng đã đồng ý.

Nàng vẫn lặng thinh. Bà Đạo hăng hái tiếp:

– Thằng Vinh nó vẫn hỏi thăm con, vẫn mong con trở lại. Nó nói với mẹ, nếu con chịu làm vợ, nó sẽ đưa con qua Mỹ ở.

Tiếng thằng Vinh, tiếng qua Mỹ ở rơi vào căn phòng như những vật lạ. Rồi biến nhanh.

Như Oanh bước chậm về phía cửa sổ. Sài Gòn đã lên đèn. Ánh sáng đô thành không giống ánh sáng ngoài biển. Ánh sáng ngoài biển như dát kim cương, long lanh, êm đềm.

Nàng trở lui, đứng khoanh tay, giọng nhỏ nhẹ:

– Thưa ba mẹ, với anh Vinh, tuy bên nhau bốn năm, không lúc nào con cảm thấy tha thiết làm vợ anh ấy. Cho nên việc ở Sài Gòn làm bà bộ trưởng hay ở Mỹ sống đời ấm no, con sẽ mãi như một cái bóng dật dờ. Con nghĩ ba mẹ đâu muốn con gái út của ba mẹ phải trải qua cuộc đời dở khóc dở cười như thế.

Ông Đạo gằn giọng:

– Nhưng mà… còn đỡ hơn với thằng dở sống dở chết!

Như Oanh như không nghe, tiếp giọng trầm buồn:

– Con ước gì ba mẹ nhận ra con mình đã trưởng thành, đã có thừa khôn ngoan để tự định đoạt đời mình.

Ông Đạo quát to:

– Hỗn hào!

Nhìn mặt con gái trắng bệch, đôi mắt long lanh, bà Đạo vội lên tiếng:

– Oanh, đừng giận ba con. Chỉ vì tương lai của con…

Nàng rớm nước mắt, nghẹn ngào:

– Con ước gì ba mẹ dành chút cảm thương cho người con yêu bị bắn thập tử nhất sinh! Và ước gì ba mẹ tìm thấy câu trả lời: vì sao mà bị bắn?

Bà Đạo ôm con:

– Con, đừng quá xúc động!

Nàng tức tưởi:

– Mẹ bảo con đừng xúc động? Anh ấy nằm đó, sống chết phó mặc số trời. Lại còn phải nghe khuyên bảo… bỏ nó đi!

Ông Đạo hằn học:

– Con đã bỏ thằng Vinh được thì với thằng Bằng có khó gì!

Như Oanh thở hắt, lắc đầu:

– Thưa ba, nói ra thì lại bị mắng là hỗn hào. Nhưng cho con nói hết ý: ba thì lúc nào cũng xét về mặt có lợi hay không lợi. Còn con, con chỉ xét về mặt hạnh phúc hay không hạnh phúc.

Ông Đạo quắc mắt, mỉa mai:

– Hạnh phúc gì với một thằng…

Nhìn con cúi mặt, nước mắt rơi thành dòng, ông Đạo đổi giọng, giảm gay bớt gắt:

– Ba hiểu con thương xót nó. Nhưng thương xót cũng đâu phải là nền móng của hạnh phúc.

– Con không thương xót mà con yêu anh ấy. Con yêu trước khi anh ấy… bị thương. Xin phép được hỏi. Ba yêu mẹ. Mẹ đau, ba thương thêm hay bỏ rơi?

Căn phòng lặng đi. Bà Đạo khẽ thở dài. Ông Đạo nâng tách trà, uống như để nhâm nhi lời của con gái. Rồi đặt tách trà xuống, giọng trầm:

– Oanh con, hãy tưởng tượng, trường hợp Võ Bằng mất trí, hoặc tê liệt. Chừng đó, con không còn là vợ, mà là một y tá, một điều dưỡng viên. Là giáo sư trường Gia Long danh tiếng, lẽ nào hằng ngày lại chôn vùi tuổi xuân trong mùi thuốc sát trùng và những lời lảm nhảm vô hồn? Ba mẹ chỉ muốn con có một chỗ dựa vững chãi, khi còn kịp…

Như Oanh ngước mắt lên, giọng rắn rỏi:

– Thưa ba mẹ, con từng dạy học sinh nhân phẩm không nằm ở địa vị. Nếu chính con chạy theo địa vị, bỏ người hoạn nạn, thì con còn đáng là giáo sư?

Căn phòng im lặng đến nghẹt thở.

Ông Đạo đứng dậy, bước ra ban công. Trong vùng sáng tỏa lên bầu trời âm u, ông chợt nhớ ngày ông cưới bà. Bà là giáo sư, gia đình khá giả. Ông chỉ là một công chức nghèo. Cha mẹ vợ ngày ấy cũng chê bai: “Thằng này không có tương lai.” Và bà đã nói: “Nếu ba mẹ cấm cản, tụi con tự làm đám cưới.”

Bây giờ, con gái ông cũng khăng khăng bám lấy một thằng không tương lai.

Ông quay vào, mắt đỏ:

– Ba mẹ đã hết lời.

Ông dừng lại, đổi giọng ngọt ngào:

– Tùy con.

Như Oanh òa khóc, chạy đến ôm cha. Bà Đạo cũng bước tới, ôm cả hai cha con.

Trở về buồng riêng, Như Oanh mở ngăn kéo lấy ra lá thư cuối cùng Võ Bằng viết từ Trường Sa. Nàng nằm lên giường, ép lá thư lên trái tim. Những dòng chữ thuộc làu hiện ra. Nước mắt tuôn rơi tới dòng cuối cùng: “Từ ngày gặp em, anh không còn thấy cô đơn. Đại dương mênh mông, đâu đâu cũng là hình dáng em…”

Nàng lặng yên nghe tiếng chuông chùa Xá Lợi vọng đến, môi mấp máy những lời khấn nguyện.

Rồi nàng nói rất khẽ, như nói với người đang nằm mê man trong bệnh viện:

– Anh yên tâm tịnh dưỡng. Em vẫn đợi…

Hai năm sau…


Kết

Từ chiều ngày 25 tháng 6 năm 1972, công viên trước Câu Lạc Bộ Hải Quân bên sông Sài Gòn đã rợp cờ đủ màu.

Gió từ mặt sông thổi lên làm những dây cờ phất phơ dưới ánh nắng còn sót lại của buổi chiều. Một bàn rượu, nước ngọt và mấy bàn bánh trái được bày biện ngay lối vào. Bên cổng, tấm biển lớn đề hàng chữ:

Dạ Tiệc Tân Hôn Võ Bằng – Huỳnh Như Oanh

Tấm biển ấy, dưới ánh đèn mới bật, bỗng có vẻ trang trọng lạ thường. Nó không chỉ báo hiệu một buổi tiệc cưới, mà như còn đánh dấu chặng cuối của một con đường nhiều thử thách: những ngày chờ đợi, những lời phản đối, những nỗi lo âu trong bệnh viện, những lần Như Oanh tự hỏi lòng mình có đủ can đảm để đi trọn đời với một người lính biển hay không.

Bảy giờ ba mươi, khách mời lần lượt đến.

Người hướng dẫn chương trình, trong bộ tuxedo đen lịch lãm, tươi cười mời quan khách dùng nước giải khát trong khi chờ khai mạc. Tiếng chào hỏi, tiếng cười, tiếng ly chạm nhẹ vào nhau hòa với tiếng gió sông, tạo nên một không khí vừa sang trọng vừa thân mật.

Phóng viên chiến trường Lan Như tình nguyện làm nhiếp ảnh viên tiệc cưới.

Đúng tám giờ, một xe van đỗ lại bên lề công viên. Tám sĩ quan trong quân phục đại lễ, đeo kiếm, bước xuống. Họ chỉnh lại hàng ngũ, rồi lặng lẽ xếp thành hai hàng đối diện nhau trên lối vào câu lạc bộ.

Dưới ánh đèn, những thanh kiếm đeo bên hông phản chiếu từng vệt sáng lạnh.

Mười phút sau, đoàn xe hơi sang trọng lăn bánh đến. Đô đốc Tư Lệnh Hải Quân, trong quân phục đại lễ, ngực đeo bốn hàng huân chương, bước xuống cùng phu nhân. Cha mẹ hai bên cũng lần lượt rời xe. Ông Võ Hảo, thân phụ chú rể, có vẻ xúc động nhưng cố giữ nét nghiêm trang. Ông Huỳnh Quang Đạo, thân phụ cô dâu, bước chậm hơn thường lệ; gương mặt ông vừa hãnh diện vừa bồi hồi, như người sắp trao đi phần quý nhất của đời mình.

Toán danh dự đứng nghiêm chào phái đoàn đi qua.

Cuối cùng, từ chiếc xe kết hoa hồng, Võ Bằng bước ra. Anh mặc quân phục đại lễ, cặp lon thiếu tá óng ánh trên vai, hai hàng huy chương rực sáng trên ngực áo. Vẫn dáng người thẳng, vẫn vẻ bình thản của một hạm trưởng quen gió mưa, nhưng đêm nay đôi mắt anh tỏa ánh dịu dàng. Tiếp đến là Như Oanh. Tà áo dài cưới trắng muốt buông mềm theo dáng nàng. Nàng vòng tay qua cánh tay Võ Bằng. Tim đập nhanh.

Võ Bằng nghiêng đầu hỏi nhỏ:

– Hồi hộp?

Như Oanh gật đầu. Nàng muốn nói chỉ là cảm giác ngỡ ngàng của một người đang bước tới ngưỡng cửa đổi đời. Trước mặt nàng là vòm kiếm, là cha mẹ. Phía sau nàng là quan khách, là bạn bè, là đại gia đình Hải Quân. Và bên cạnh nàng là người đàn ông mà nàng tưởng là không còn dịp bên nhau.

Một sĩ quan hô to:

– Chào kiếm. Chào!

Tám thanh kiếm đồng loạt rút khỏi vỏ. Tiếng thép vang lên trong trẻo, dứt khoát. Những lưỡi kiếm giơ cao, chéo vào nhau, tạo thành một vòm kim loại lấp lánh dưới ánh đèn.

Ban nhạc trỗi bản “Đám Cưới Nhà Binh”, nhộn nhịp mà trang nghiêm.

Quan khách bỗng lặng đi.

Võ Bằng đưa Như Oanh bước qua vòm kiếm. Từng cặp kiếm hạ xuống khi họ bước qua. Mỗi bước chân của nàng như đi qua một lớp đời cũ. Nàng nhớ khi nghe tin Võ Bằng bị thương nặng. Nhớ tiếng rên ở hành lang bệnh viện. Nhớ gương mặt anh như xác chết, băng trắng quấn quanh đầu. Nhớ cả những đêm nàng ngồi bên anh, tự hỏi liệu tình yêu của nàng vẫn vững bền theo năm tháng?

Bước chân đêm nay chính là câu trả lời.

Đến cặp kiếm cuối cùng, hai thanh kiếm bất ngờ hạ xuống chặn đường.

Một sĩ quan cầm kiếm gằn giọng, cố ra vẻ nghiêm nghị:

– Muốn qua, phải hôn nhau.

Cả đám đông bật cười. Như Oanh đỏ mặt cúi xuống. Võ Bằng nhìn nàng, ánh mắt vừa vui vừa biết ơn. Rồi anh nghiêng người, đặt nhẹ môi mình lên môi cô dâu.

Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò vang lên rộn rã.

Một tay kiếm khác hô lớn:

– Hải Quân chào mừng Thiếu tá Võ Bằng và phu nhân!

Đôi kiếm mở ra.

Đôi tân hôn tiến đến gia nhập toán của vị chủ lễ và cha mẹ hai bên. Một tràng pháo tay nồng nhiệt nở rộ, phá tan không khí trang nghiêm.

Người hướng dẫn cho lệnh toán danh dự giải tán. Anh trân trọng mời mọi người tiến vào sảnh lễ.

Đôi tân hôn và cha mẹ hai bên dừng ở cửa câu lạc bộ, chào đón quan khách và chụp hình.

Trong phòng tiệc, những bàn tròn phủ khăn trắng muốt được điểm bằng những bình hoa cát tường vàng, hồng và trắng. Ánh đèn pha lê từ những chùm đèn tỏa xuống, phản chiếu lên ly thủy tinh, bộ đồ sứ trắng và những hàng huy chương trên ngực áo các sĩ quan. Tiếng nhạc êm dịu len giữa tiếng nói cười, khiến cả căn phòng như được phủ bằng một lớp ánh sáng ấm áp.

Bàn danh dự đặt chính giữa: Cha mẹ hai bên, ông bà Tư Lệnh Hải Quân và đôi tân lang – tân giai nhân. Bàn bên phải là thân nhân nhà trai, bên trái là thân nhân nhà gái. Dãy bàn kế tiếp cho thượng khách, bạn cùng khóa của chú rể, các giáo sư Gia Long. Những bàn còn lại dành cho quan khách và thân hữu. Điều đáng tiếc nhất là thiếu vắng sự hiện diện của thủy thủ đoàn Rạch Gầm: tàu bận công tác.

Sau khi mọi người đã an vị, người hướng dẫn chương trình bước lên sân khấu, giới thiệu cô dâu chú rể, gia đình hai họ và các vị khách danh dự.

Tiếng vỗ tay vang lên nhiều lần. Nhưng với Như Oanh, âm thanh ấy lúc gần lúc xa. Nàng nghe tên mình được xướng lên bên cạnh tên Võ Bằng, bỗng thấy sống mũi cay cay. Bao nhiêu ngày tháng chờ đợi như dồn lại trong khoảnh khắc này. Từ nay, tên nàng không còn đứng một mình.

Người hướng dẫn mời đại diện nhà trai phát biểu.

Ông Võ Hảo chậm rãi bước lên sân khấu. Ông đã trải nghiệm hai lần nhưng đêm nay, ông vẫn hồi hộp. Nghi thức hôn nhân ở thành phố trang trọng quá. Giọng nói của ông có hơi run nhưng chân chất:

– Kính thưa Đô đốc Tư Lệnh Hải Quân, kính thưa quý quan khách. Tôi là Võ Hảo, thân phụ của chú rể Võ Bằng, xin đại diện gia đình nhà trai gửi tới quý vị lời chào trân trọng nhất.

Ông ngừng một chút, nhìn về phía gia đình nhà gái:

– Trước hết, gia đình chúng tôi xin cảm ơn ông bà thân sinh của cháu Huỳnh Như Oanh đã tin tưởng gửi gắm cô con gái út cho gia đình chúng tôi. Chúng tôi xin hứa sẽ thương yêu cháu như con ruột.

Ông quay xuống dãy bàn bạn cùng khóa của chú rể. Mắt ông thấp thoáng ánh hân hoan:

– Với các cháu bạn cùng khóa của chú rể, bác xin nhờ các cháu nhắc nhở Võ Bằng, nếu có khi thấy đồng môn của mình… lạc đường lạc nẻo.

Cả phòng bật cười. Võ Bằng cúi đầu cười theo, liếc Như Oanh.

Ông Võ Hảo tiếp:

– Thay mặt gia đình, tôi xin cảm tạ Đô đốc Tư Lệnh và phu nhân đã dành thì giờ quý báu đứng ra chủ lễ cho hai cháu. Xin cảm ơn quý vị đã đến chung vui. Kính chúc toàn thể quý vị dồi dào sức khỏe, thăng tiến và hạnh phúc. Kính chào.

Tiếng vỗ tay vang lên ấm áp.

Kế đó, ông Huỳnh Quang Đạo bước lên bục.

Ông vốn quen ăn nói, quen thương trường, quen những buổi tiệc lớn nên giọng nói tự nhiên nhiều xúc cảm:

– Kính thưa Đô đốc Tư Lệnh Hải Quân, thưa anh chị thông gia, thân nhân nội ngoại cùng toàn thể quý khách. Thay mặt gia đình nhà gái, tôi xin chân thành cảm ơn sự hiện diện của quý vị. Đây là món quà quý giá nhất dành cho hai cháu, và cũng là niềm vinh dự lớn lao cho gia đình chúng tôi.

Ông quay sang phía ông bà Tư Lệnh, cúi đầu nhẹ:

– Lời đầu tiên, tôi xin dành để tạ lỗi cùng Đô đốc và phu nhân vì lời thách cưới với chú rể đã làm rộn đến nhị vị. Xin bao dung niệm thứ. Nhưng cũng chính nhờ sự hiện diện của nhị vị hôm nay mà chúng tôi được thêm một rể quý Hải Quân.

Ông dừng lại. Tiếng cười nhẹ nổi lên rồi lắng xuống.

Giọng ông bỗng trầm hơn:

– Kính thưa quý vị, bậc cha mẹ nào cũng mừng vui khi thấy con tìm được người bạn đời, nhưng cũng lắm bồi hồi khi biết con mình sắp rời xa vòng tay gia đình.

Ông hướng vào chú rể:

– Này Võ Bằng, từ hôm nay, ba mẹ chính thức giao Như Oanh cho con. Bao nhiêu thử thách con đều vượt qua, cho ba mẹ niềm tin rằng con là điểm tựa vững chắc cho nó suốt cuộc đời.

Võ Bằng cúi đầu. Giữ cho người bạn đời niềm tin đã chọn không lầm người quả là khó khăn không thua gì thi hành một mệnh lệnh hành quân.

Ông Đạo nói tiếp, giọng thiết tha:

– Các con của ba mẹ. Cuộc sống hôn nhân không chỉ có những ngày nắng đẹp, mà còn có mưa dông, có khi là biển động. Những lúc ấy, ba mẹ mong hai con hãy nhớ lại những ngày đầu hai đứa thương nhau.

Giọng ông Đạo nhiệt thành:

– Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn anh chị thông gia đã tôi luyện Võ Bằng thành một người đàn ông bản lĩnh cho con gái tôi gửi gắm cuộc đời.

– Cuối cùng, đại diện hai gia đình cùng cô dâu chú rể, chúng tôi xin cảm tạ quý vị đã đến chung vui. Xin mời nhập tiệc.

Tiếng vỗ tay vang lên.

Món khai vị là súp hải sản đặc biệt của nhà hàng Thanh Thế, nóng hổi thơm ngon. Những món ăn kế tiếp được dọn ra trong tiếng nhạc êm dịu. Quan khách vừa thưởng thức vừa râm ran trò chuyện. Các sĩ quan cũ gặp nhau, nhắc chuyện quân trường, chuyện những chuyến hành quân đặc biệt. Các giáo sư Gia Long ban đầu còn giữ e dè, rồi cũng hòa vào niềm vui chung.

Chương trình ca nhạc của Ban Văn Nghệ Hải Quân làm không khí càng thêm rộn ràng. Những bài hát về biển cả, về người lính, về những cuộc tình chờ đợi vang lên trong phòng tiệc. Vài giọng ca quan khách chen vào tiếng hát Giao Linh, Phương Dung.

Võ Bằng và Như Oanh đi từng bàn chào khách.

Bàn nào cũng mời uống. Ban đầu, Võ Bằng lấy cớ thương tích chỉ nhấp môi. Nhưng khi đến bàn cùng khóa, đồng môn cứ đòi dô dô làm anh phải mềm môi. Như Oanh nhắc chồng:

– Anh uống ít thôi.

Võ Bằng đứng nghiêm, đáp:

– Tuân lệnh, thưa sếp.

Nàng bật cười. Tiếng cười nhẹ, nhưng lòng ấm cúng. Người đàn ông từng nằm bất động suốt năm trong bệnh viện, đêm nay bên nàng, lại còn biết đùa. Chừng ấy thôi cũng đã là một ân phúc.

Bữa ăn vừa chấm dứt, người hướng dẫn chương trình trân trọng mời vị chủ lễ phát biểu.

Đô đốc Tư Lệnh Hải Quân đứng lên. Ông gõ nhẹ vào ly. Âm thanh trong trẻo khiến cả phòng tiệc dần im lặng.

Ông mời cô dâu chú rể cùng lên sân khấu.

Đô đốc nhìn chú rể, giọng ấm áp:

– Thiếu tá Võ Bằng, từ giờ phút này, thiếu tá không chỉ chịu trách nhiệm với Hải Quân, mà còn chịu trách nhiệm với người bạn đời đồng hành. Truyền thống Hải Quân không chỉ đòi hỏi một sĩ quan giỏi điều khiển chiến hạm, mà còn phải giỏi tạo dựng hạnh phúc gia đình. Thiếu tá hứa giữ truyền thống ấy chứ?

Võ Bằng đứng thẳng:

– Xin hứa, thưa Tư Lệnh.

Tiếng vỗ tay và huýt sáo vang lên. Lần này nồng nhiệt hơn.

Đô đốc quay sang Như Oanh:

– Giáo sư Huỳnh Như Oanh, giáo sư thừa biết làm vợ lính biển là làm bạn với nỗi chờ mong. Thế mà giáo sư vẫn không ngần ngại chấp nhận làm bến cảng yêu thương cho Võ Bằng. Đó là một tấm lòng can đảm rất đáng ngợi khen.

Như Oanh nghe tim mình đập chậm lại.

“Làm bạn với nỗi chờ mong”. Câu nói đi thẳng vào lòng nàng. Đó không là một ý thơ văn. Đó là đời sống thật, là những đêm nghe tin thời tiết, tin chiến sự; những sáng đọc tường thuật các trận đánh có người chết, kẻ bị thương.

Đô đốc hắng giọng, nói lớn:

— Nhân danh Tư Lệnh Hải Quân, tôi long trọng tuyên bố: Giáo sư Huỳnh Như Oanh, phu nhân của Thiếu tá Võ Bằng, kể từ hôm nay được chấp nhận là thành viên của đại gia đình Hải Quân.

Tiếng vỗ tay và tiếng reo hò lại vang lên.

Như Oanh cúi đầu. Nàng không khóc, nhưng mắt long lanh. Một người con gái khi lấy chồng là bước vào gia đình chồng. Đêm nay, nàng bước thêm một bước vào cả một quân chủng. Và quân chủng ấy, vừa trang nghiêm, vừa thương yêu, đang dang tay nhận nàng.

Đô đốc ra hiệu cho hội trường yên lặng.

– Thưa quan khách và các chiến hữu. Hai năm trước, Thiếu tá Võ Bằng bị thương nặng trong một trận đụng độ. Mãi sau một năm anh mới rời bệnh viện. Và thêm một năm nữa, anh mới được xác nhận hoàn toàn đủ điều kiện lập gia đình.

Một tràng cười nhẹ nổi lên. Đô đốc mỉm cười, tiếp:

– Như vậy cũng có nghĩa là anh thừa điều kiện để trở về với hải nghiệp. Vì vậy, nhân tiệc cưới hôm nay, tôi có một món quà đặc biệt dành cho vị cựu hạm trưởng xuất sắc và nàng dâu mới của quân chủng. Món quà đó là: đôi tân hôn được phép chọn bất cứ đơn vị nào trong Hải Quân để phục vụ.

Cả hội trường xôn xao.

Ai cũng nghĩ Võ Bằng sẽ chọn một đơn vị ở Sài Gòn. Hoặc cùng lắm là ở một thành phố biển đông vui, nhiều tiện nghi, gần trường học. Ai cũng đồng ý anh xứng đáng có một bến đỗ bình yên.

Võ Bằng quay sang nhìn vợ.

Trong khoảnh khắc ấy, Như Oanh cũng hiểu, người đàn ông bên cạnh nàng chỉ thật sự là Võ Bằng khi còn nghe tiếng máy tàu, còn dạn dày sóng gió, còn bên thủy thủ đoàn.

Yêu anh, nàng không thể chỉ chọn phần bình yên của anh. Nàng phải chọn cả phần biển khơi. Với nàng, vừa để ghi nhớ nơi ngày đầu gặp gỡ vừa để dứt khoát nghĩa tình nơi được dạy học.

Như Oanh nghiêng người, thì thầm vào tai chồng:

– Về An Thới, nghe anh.

Võ Bằng nhìn nàng, thoáng vẻ sửng sốt, rồi lắng xuống thành niềm xúc động. Anh hướng về Đô đốc:

– Xin cảm tạ lòng ưu ái của Đô đốc. Chúng tôi xin chọn về An Thới, Phú Quốc.

Một giây im lặng. Rồi tiếng vỗ tay bùng lên.

Lần này, tiếng vỗ tay không chỉ là chúc mừng. Đó là sự thán phục. An Thới, nơi cách biệt xa xôi, nơi sơn cùng thủy tận, không phải là nơi dành cho lựa chọn.

Đô đốc nhìn hai người, ngạc nhiên:

– Cho phép chọn lại.

Võ Bằng lại nhìn vợ. Nàng nói:

– Thưa Đô đốc, vẫn An Thới.

Đô đốc nhìn Đại tá Lương Đình Thám:

– Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải có ý kiến gì chăng?

Đại tá Thám đáp ngay:

– Thưa Đô đốc, tôi hân hoan tiếp nhận.

Phu nhân của ông – cũng là chị của cô dâu – nghiêng sang cười nói:

– Cám ơn ông xã.

Đô đốc đổi giọng mệnh lệnh:

– Lệnh thuyên chuyển Thiếu tá Võ Bằng về Vùng 4 Duyên Hải có hiệu lực ngay sau tuần trăng mật.

Ông vừa dứt lời, từ phía dưới hội trường, một nhóm mười sĩ quan và bốn phu nhân cùng tiến lên sân khấu. Một thiếu tá trao cho cô dâu bao thư đỏ, nói bằng giọng trang trọng:

— Hai bạn tân lang, tân gia nhân. Nhân danh niên trưởng của khóa Bảo Bình, tôi đại diện anh em trao cho hai bạn Lệnh hành quân đặc biệt.

Như Oanh trao cho Võ Bằng. Anh mở bao thư, chỉ thấy một xấp tiền.

Anh niên trưởng trịnh trọng tiếp:

– Vì là hành quân mật nên chỉ có khẩu lệnh. Thi hành trước, khiếu nại sau.

Thời gian hành quân: Tuần trăng mật.

Địa điểm hành quân: tự do lựa chọn.

Chiến thuật hành quân: tự do tác xạ.

Cả hội trường bùng nổ tiếng cười.

Những tiếng vỗ tay, huýt sáo, tiếng cụng ly vang lên rộn rã. Võ Bằng xúc động ôm từng người bạn cùng khóa. Như Oanh nghẹn ngào cảm ơn các đồng môn của chồng và các phu nhân. Nàng bỗng hiểu thêm một điều: lấy Võ Bằng, nàng không chỉ lấy một người chồng. Nàng còn có những chiến hữu dễ thương của anh.

***

Khi chiếc bánh cưới nhiều tầng được đưa ra, bản “La Vie en Rose” vang lên nhẹ như một làn sương.

Người hướng dẫn chương trình mời cô dâu chú rể cắt bánh. Anh nói vài câu vui về ý nghĩa những tầng bánh, về con dao cùng cầm, về miếng bánh đầu tiên trao cho nhau

Võ Bằng và Như Oanh cùng cầm dao.

Lưỡi dao đi xuống lớp bánh trắng. Tiếng vỗ tay vang lên. Rồi họ đút bánh cho nhau. Quan khách cười, nhưng Như Oanh đã hiểu một điều rất thật: từ nay, ngọt bùi hay đắng cay đều không còn là của riêng ai.

Đến lúc rót sâm banh, đôi tân hôn cầm ly, vòng chéo tay nhau.

Người hướng dẫn nói lớn:

– Xin mời tất cả đứng lên, cùng nâng ly chúc phúc.

Cả phòng tiệc đứng dậy. Những chiếc ly sáng lên dưới ánh đèn.

– Dô! Dô! Chúc trăm năm hạnh phúc!

Tiếng chúc vang khắp phòng. Bánh cưới được đưa đến từng bàn từng người.

Khi dàn nhạc cất lên đoạn dạo đầu của bản “Dòng Sông Xanh”, ánh đèn dịu xuống. Người hướng dẫn chương trình trân trọng nói:

– Xin mời cô dâu chú rể khai mạc dạ vũ.

Võ Bằng đặt tay lên eo Như Oanh, dìu nàng bước ra sàn nhảy.

Trái với vẻ cứng rắn của người chỉ huy, anh di chuyển mềm mại, chừng mực, tự nhiên. Những bước chân của anh chắc mà không nặng, như cách anh điều khiển con tàu lách qua rạn san hô trong vùng nước cạn.

Như Oanh theo nhịp chồng. Tà áo dài lụa trắng của nàng bồng bềnh theo mỗi vòng xoay, tựa một dải mây mỏng trôi qua ánh đèn. Có lúc tà áo tung lên như lớp sóng trắng vỗ nhẹ vào mạn tàu.

Họ nhìn vào mắt nhau. Những ngày bệnh viện, những đêm thức trắng, những lời phản đối, những nỗi sợ tan biến. Tiếng cười, tiếng nhạc, tiếng vỗ tay bỗng lùi xa. Thế giới chỉ còn hai người…

Hai phút sau, người hướng dẫn mời phù dâu, phù rể và quan khách cùng tham gia. Bản valse chấm dứt, ban nhạc đổi sang điệu pasodoble.

Đô đốc Tư Lệnh mời cô dâu. Cả hội trường vỗ tay. Ông nhảy đĩnh đạc, vừa nghiêm trang vừa thân mật.

Sàn nhảy đông hơn, nhộn nhịp hơn. Những bộ quân phục trắng và những tà áo dài đủ màu xoay tròn trong ánh đèn. Không khí mỗi lúc một rộn ràng hơn.

Kết thúc bản nhạc, Đô đốc đưa cô dâu về bàn.

Điệu nhạc chuyển sang slow. Đô đốc mời phu nhân. Ba mẹ cô dâu cũng ra sàn trong tiếng cổ vũ. Như Oanh tế nhị mời ba chồng. Võ Bằng mời mẹ. Ban đầu, ông bà Hảo ngượng nghịu, lúng túng, nhưng cô dâu chú rể khéo léo dìu bước nên êm xuôi.

Rồi ban nhạc đổi sang điệu cha cha cha, tango, bebop…

Bản cuối cùng, các sĩ quan và thủy thủ đoàn đứng vòng quanh cô dâu chú rể, đồng hát “Tình Ca Người Đi Biển”. Tiếng hát không thật đều, có người lạc giọng, có người quá to, nhưng chính sự vụng về ấy làm bài hát thêm vui nhộn.

Đang nhún nhẩy, Võ Bằng đột ngột đặt lên môi vợ một nụ hôn dài. Như Oanh đỏ mặt, nhưng không tránh. Nàng đứng yên, hạnh phúc đến mức không biết giấu vào đâu.

Tiếng đồng ca vừa dứt, Đô đốc Tư Lệnh một lần nữa bước lên bục.

Cả phòng tiệc yên lặng.

Ông nói chậm, giọng ấm:

– Cùng gia đình hai họ, cùng quan khách, cùng các chiến hữu. Đêm nay, chúng ta tham dự một đám cưới, đồng thời chứng kiến buổi lễ hạ thủy một con tàu thương yêu tách bến khởi hành.

Ông đưa cao ly rượu:

– Nào, xin cùng cạn ly, cùng chúc đôi uyên ương mãi mãi thuận buồm xuôi gió!

Tiếng ly chạm nhau. Tiếng chúc phúc vang dậy khắp phòng.

Rồi bản nhạc chia tay cất lên.

Quan khách lần lượt ra về. Tân lang và tân giai nhân đứng bên cửa, cảm ơn từng người. Những cái bắt tay, những nụ cười, những cái ôm lưu luyến.

Khi vị khách cuối cùng rời xa, Võ Bằng đưa Như Oanh ra hiên Câu Lạc Bộ.

Trước mặt họ, sông Sài Gòn lấp lánh ánh đèn. Dòng nước đen thẫm lặng lẽ trôi về phía biển. Xa xa, một chiến hạm tách bến, hú lên một hồi còi…

Như Oanh tựa đầu vào vai chồng, thì thầm:

– Em hạnh phúc quá!

Võ Bằng cúi xuống hôn lên tóc vợ.

– Anh hứa giữ cho em hạnh phúc này mãi mãi.

Như Oanh ngước nhìn anh, giọng rất êm:

– Mình trọn đời cùng giữ, nghen anh!

Vũ Thất

bài đã đăng của Vũ Thất

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)