Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Du Lịch, , Sang Việt ngữ Email bài này

Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar – Chương 10: Chuyến xe lửa đêm đi Jodhpur, Chuyến Mandore Tốc hành


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 2.12.2021

(Trích Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar)

 

 

Chương 10

Chuyến xe lửa đêm đi Jodhpur

Chuyến Mandore Tốc hành

 

 

Không cần ai nói, tôi tự biết xe lửa đi Jodhpur sẽ rời thềm ga 16; cứ nhìn hành khách đang đợi là biết ngay. Phần lớn mọi người trên thế giới mặc y phục tương tự nhau, quần jean xanh, áo thun, và giày vải. So với cách ăn mặc đơn điệu trên toàn cầu thì nông thôn Ấn là một trong vài ngoại lệ, và tỉnh bang Rajasthan đứng riêng ra, tự tin và sặc sỡ. Nhìn y phục phụ nữ trên thềm Ga Delhi Cũ ta có thể biết họ đang đợi chuyến Mandore Tốc hành đi Jodhpur.

Phục sức và sơn phết như vậy thì họ còn đi đâu nữa? Áo vàng và sari đỏ, khăn choàng đỏ nhạt thêu viền vàng hay viền son, tấm khoác dài màu nghệ, khăn che mặt lấp lánh, nữ trang vàng nặng trịch, hạt to bằng đầu ngón tay xâu thành chuỗi, vòng đeo tay đeo chân, bàn tay bàn chân sơn đỏ đậm, bộ cánh xưa ngàn đời, tươi sáng và sặc sỡ. Họ là tộc người thuộc tỉnh bang sa mạc bát ngát Rajasthan, nơi có những căn nhà Jodhpur xanh lơ, mặt tiền và cung điện Jaipur hồng, và khăn đàn ông đội đầu đỏ thẫm. Như để tách biệt mình với màu bụi bặm chung quanh, dân Rajasthan trang điểm rực rỡ. Nhưng dân sa mạc nói chung đều như thế, với họ đồ trang sức bằng vàng là giàu sang, và ý thức màu sắc đáng nể của họ dường như bảo đảm họ khỏi bị đồng nhất hay lạc vào đám đông.

Mandore Tốc hành là chuyến xe lửa chạy qua đêm tới Jodhpur – tôi chưa bao giờ tới đó – trên đường tôi đi Jaipur, tôi đã viết về Jaipur nhiều năm trước. Thành phố Jodhpur có hai nghề truyền thống là dệt và đóng bàn ghế, kể cả làm giả đồ cổ. Dân Ấn biết về Jodhpur như một nơi sản xuất rất khéo đồ giả gửi đi khắp các chợ và tiệm tạp hoá và tới các viện bảo tàng cả tin ở nước ngoài – đồ sành, đồ sứ, đồ đồng, tượng, tranh thờ, gươm, dao. Jodhpur cũng có cung điện lớn bằng Vatican của maharajah, nay đã biến thành khách sạn, và ông hoàng vẫn sống ở đó – cưỡi ngựa chơi polo và tự hào với biệt hiệu “Bapji”.

Bản liệt kê danh sách hành khách và chỗ trong toa máy lạnh hạng hai được dán keo lên bên hông xe lửa. Tôi tìm thấy tên mình, nhưng trước khi xe lăn bánh khỏi nhà ga tôi thấy có vài chỗ trống trong toa hạng nhất. Tôi yêu cầu trưởng toa cho tôi đổi lên. Ông nhận tiền, viết biên nhận số tiền tôi trả thêm trên ba bản sao, đưa tôi một bản, và chỉ cho tôi đến một khoang có bốn giường. Ở đó đã có hai người ngồi, một thanh niên đang đọc tạp chí Debonair và đối diện anh là một thiếu phụ đang the thé tiếng Ấn lẫn tiếng Anh vào cái điện thoại di động. Người phụ nữ giọng dữ tợn này có cái mũi khoằm đáng chán và cặp mắt lạnh của một kẻ đanh đá. Cô là thí dụ cho thấy làm cách nào mặt một người trở nên xấu xí khi cự nự ầm ĩ; cô giống cái đầu quỷ đeo kính gọng sừng ở miệng máng xối.

Trong lúc cô rít róng, người đối diện là Rakesh cho tôi biết anh làm nghề chào hàng và xuất cảng khăn choàng khăn quấn. Anh đi Jodhpur, nơi nhuộm và in vải của anh bằng những màu Rajasthan sặc sỡ.

Rakesh nói: “Cứ vài tuần tôi lại đi chuyến xe này. Cách này là tốt nhất. Tôi đến Jodhpur sớm, làm việc nguyên ngày, rồi về thẳng trên chuyến xe đêm. Như vậy tiết kiệm cho tôi khỏi phải trả vé máy bay đắt tiền và phòng khách sạn.”

Rồi anh mời tôi vài món ăn của anh: đậu trắng cay, một túi hạt điều, vài cái bánh bao và bánh rán không rõ là gì.

Người thiếu phụ chớp mắt nói: “Tôi có phải lặp lại không? Tôi đang đi xe lửa. Tôi điên tiết lên đây. Tất cả bọn nó chống lại mình! Ba đứa bộ trưởng, ba đứa bí thư. Bộ trưởng Tài chính là đứa tệ nhất.”

Tiếng trả lời lao xao trong điện thoại lại làm cô cau có.

“Tôi mặc kệ! Mình phải cứng!”

Tiếng bép xép làm cô trợn mắt và gãi cánh tay lông lá.

“Anh không thấy bản tóm tắt sơ bộ à? Càn rỡ[1] thật!”

Tôi mỉm cười, cảm phục, vì tôi nhớ chưa bao giờ nghe lỏm được một người nói tiếng Anh dùng chữ “càn rỡ” trong lúc đối thoại.

Rồi cô bắt đầu nói như vị tướng ngoài mặt trận: “Nhưng mình có thể thắng! Mình phải thắng! Mình sẽ tập hợp lại. Mình sẽ trả đũa. Thôi được!”

Cô tặc lưỡi át tiếng trả lời.

Cô nói: “Đủ rồi, đủ rồi. Gọi tôi qua điện thoại di động khi tôi tới Jodhpur,” rồi xỉa một ngón tay làm cái máy im bặt.

Thật là một thí dụ đáng ngạc nhiên về sự bất cần biết kẻ khác đang để ý tới mình. Tôi thường nghĩ người ta quát vào điện thoại di động là để cảnh cáo người tình cờ nghe rằng chúng tôi là nhân vật quan trọng đấy; quát cái điện thoại di động là để gây sự với kẻ nghe lỏm hơn là nói với người bên kia máy.

Là kẻ lang bạt ở Ấn Độ, tôi cám ơn mọi người hay mọi điều tôi gặp lúc đi đây đó tìm người lạ giữ một vai trong câu chuyện của tôi. Ở đây hoàn toàn tình cờ, tôi vào chung khoang với một anh chào hàng dễ thương mời tôi thức ăn và một cô cục súc ăn lông ở lỗ xỉ vả vào cái điện thoại di động của cô ta.

Cô quay cái mũi khoằm qua tôi, chanh chua: “Phiền ông chứ? Hôm nay tôi mệt.”

Cô muốn nói cái giường tôi đang ngồi là chỗ của cô và cô muốn nằm. Tôi được xếp chỗ tầng trên. Đây là một trong những điều tế nhị trên xe lửa Ấn Độ, nhất là trong khoang có cả nam lẫn nữ: tôi phải leo vào giường mình. Trời vừa chập tối, và chúng tôi còn đi trên chuyến xe này 12 tiếng nữa, nhưng cô ta muốn ngủ. Dù vậy, điều lý thú khi đi xe lửa là một du khách nhàn rỗi như tôi có thể lọt vào chỗ ngủ của một thiếu phụ trung niên bản xứ và (nếu muốn) có thể nhìn xuống xem cô ngáy và cau có trong mơ.

Tôi vâng lời. Tôi leo lên thang vào giường mình và bắt đầu đọc cuốn The Great Mutiny của Christopher Hibbert[2] kể rõ và dẫn chứng đầy đủ tài liệu về cuộc Binh biến năm 1857 của người Ấn. Cuộc nổi dậy (lính Ấn say máu) và hậu quả (lính Anh say máu) là một trong những vụ xung đột chủng tộc dữ dội nhất lịch sử Ấn, nhưng lời kể sống động và thú vị bất ngờ. Một nhân sĩ Anh sống ở Delhi tên Thomas Metcalfe “không chịu nổi khi thấy phụ nữ ăn phó mát”, và đuổi họ ra khỏi phòng để họ ăn phó mát cứng của họ; và Huân tước Macaulay tóm tắt ý ông coi thường thành tựu của dân Ấn bằng câu “Giáo trình y khoa sẽ làm bác sĩ thú y người Anh xấu hổ. Khoa thiên văn ở trường nội trú của học trò con gái Anh sẽ bị chế nhạo. Lịch sử nhan nhản các ông vua cao 10 mét và các triều đại 30.000 năm. Và Địa lý có biển mạch nha và bơ.”

Trong bóng tối, chiếc xe lửa lách cách liên hồi qua đêm sa mạc mát lạnh, khua trên đường ray. Tôi ngủ, hình như quay tròn, như một người trải qua điều mà các nhà viết tiểu thuyết khoa học giả tưởng gọi là “biến đổi chất”. Đến sáng, lại thấy cô xấu tính, ngáp nhe răng nanh và há hốc cằm như chó rừng, tôi nhớ lại câu mô tả trong The Great Mutiny của Hibbert về một bà “có cặp mắt to, đen và cay nghiệt.”

Nhưng đây là Rajasthan, tôi được xem một cảnh bình minh đẹp mê hồn. Lúc chúng tôi vào một nhà ga, một thiếu nữ lộng lẫy, sari tím phất phới quanh tấm thân mảnh mai của cô – một phụ nữ đẹp như tài tử điện ảnh, hết sức quyến rũ, và đĩnh đạc – đôi chân xinh xắn lướt nhẹ qua tôi trên thềm ga, ôm rổ cà chua mới hái. Tôi ra khỏi toa để xem cho rõ hơn. Tôi nhìn cô băng qua thềm ga tới chiếc xe lửa khác để bán cà chua, khi ấy một bà cụ tươi cười cầm bình cà phê váng sữa tiến đến tôi, rót cho tôi một tách. Tôi đứng đó trong buổi sáng rực rỡ, phấn khích vì những gì đang thấy. Xe lửa rúc còi và chúng tôi lại lên đường, ngang qua tấm bảng Xin đừng khuyến khích hành khất, tôi về khoang của mình.

Anh bán khăn choàng còn ngủ, nhưng cô cau có đã thức và đang ngồi nhìn ra cửa sổ, đưa lưng lại tôi. Tiếng xe lửa lách ca lách cách băng qua sa mạc tương phản với khung cảnh: tiếng sống động, cảnh vắng tanh. Cây cối èo uột đây đó như cây non chết yểu giữa sỏi đá và bụi của nước Ấn phẳng lì trống vắng.

Tôi nhìn qua cửa sổ và nói: “Cảnh này đẹp. Sau Delhi là hoàn toàn vắng.”

Cô nói: “Chẳng vắng tí nào đâu.”

“Tôi thấy đúng là vắng tanh.”

“Chỗ nào cũng có người, nếu ông nhìn.”

Tôi nhìn, nhưng chẳng thấy ai.

Cô cười, khinh bỉ khịt cái mũi đáng nể của cô: “Ông nghĩ là vắng. Không vắng đâu!”

Đúng mà, đây là mép sa mạc Marusthali, ở tỉnh bang Rajasthan nắng cháy, và trống trơn.

Nhưng cô ta nói: “Trồng trọt dày đặc. Cày cấy khắp nơi.”

Tôi thấy vài luống cày thành rãnh và vài cọng lúa héo hon, có lẽ là lúa mì, và nói: “Cũng có một ít.”

“Đầy ra đó! Ông không thấy à?”

Người đàn bà này rất khó chịu, một kẻ gắt gỏng, mới bảy rưỡi sáng đã rít róng gây sự.

“Cây gì vậy, lúa mì à?”

Cô khịt mũi, nói: “Mấy người này không ngu tới nỗi trồng lúa mì. Họ trồng thứ gì cần ít nước. Họ trồng kê.”

“À tôi hiểu.”

“Còn mấy cái cây mà ông bỏ qua. Nó giữ nitro cho đất. Nó có lợi.”

“À tôi hiểu.”

Với giọng kiêu căng hạ cố, cô ta chỉ tỏ ra khiếm nhã, và sự khiếm nhã của cô khôi hài như tự châm biếm. Điều cô nói có thể thú vị, nhưng giọng chì chiết làm câu cô nói biến thành lăng mạ. Tôi ngờ rằng người phụ nữ Ấn này nghĩ cô ở chung khoang với một người khác là anh bán khăn choàng, nhưng lại thấy kẻ thứ ba, một gã ngoại quốc to lớn xăm mình không thể chấp nhận được, nhìn cô đăm đăm qua kính mát và viết hí hoáy vào cuốn sổ. Cô định làm tôi cảm thấy khó chịu, và tôi ghi lại điều ấy trong sổ, viết thêm rằng mình sẽ phải thấy điều này trên nước Ấn mới, tráng kiện và cả quyết, nước Ấn của bọn quan liêu cáu kỉnh luôn ám ảnh về tập cấp.

Tôi hỏi: “Cô là luật sư?”

“Tôi là ký giả. Về môi trường. Tôi đi dự hội nghị về nước ở Jodhpur.” Cô quay lại cửa sổ. “Hoàng tử Charles sẽ đọc diễn văn trong hội nghị của chúng tôi về bảo tồn nước.”

“Hoàng tử Charles đang ở Jodhpur à?”

“Ở Umaid Bhawan. Tôi đã nói là để nói chuyện trong hội nghị chúng tôi.”

Lý do đó khó mà đúng. Tôi thấy tên ông trên báo ở Delhi; ông du lịch tới Ấn với Camilla, nữ công tước xứ Cornwall, chồng trước là Parker Bowles, họ cha là Shand, bây giờ là bà Charles Windsor – lần đầu tiên bà tới nước này.

“Có lẽ cô sẽ có cơ hội gặp hoàng tử.”

Cô nhún vai và nhăn mặt: “Tôi không cần.”

“Cũng to chuyện đấy chứ?”

Tuy cô nom nhếch nhác sau một tối trên xe lửa và đang mặc bộ áo ngủ nhăn nheo, cô vẫn cố ngạo mạn, nói: “Tôi có đủ hoàng tộc lắm rồi.”

Tôi thấy cô chỉ cố hạ nhục tôi, vì thế tôi càng mê. Tôi không ngại nếu cô lầm tôi là tay du lịch bụi, một tên ma cà bông lục lọi, một du khách lười nhác – cũng khá đúng. Điều cô không biết là khi cô quay mặt đi, tôi đã viết xong vào cuốn sổ của mình, gắt gỏng – bộ đồ ngủ nhăn nhúm – mắt trũng sâu – tôi có đủ hoàng tộc lắm rồi. Và vì tôi cũng định ở Umaid Bhawan Palace, có lẽ cả bọn tôi có thể gặp nhau uống trà – người phụ nữ cáu kỉnh, Hoàng tử xứ Wales, và tôi.

Tôi nói: “Thật là tình cờ. Tôi cũng tới đó.” Câu này không làm cô chú ý. Tôi hỏi: “Cô viết cho ai?”

Cô liếc qua vai, nói tên tờ tạp chí, rồi quay lại cửa sổ, vì thế tôi chỉ thấy đôi vai gầy và bộ áo nhàu nát của cô. Có lẽ cô ngờ rằng ban đêm tôi đã chúi ra khỏi giường của tôi để nhìn xuống thân hình vặn vẹo của cô, lúc cô phì phò tiếng ngáy thối mồm.

Anh bán khăn choàng thức giấc, nhìn ra cửa sổ, và hình như chỉ cần thấy hình dáng vài ngọn đồi khô cũng đủ để anh nói: “Nửa tiếng nữa tới Jodhpur.”

Chúng tôi tán chuyện trong khi cô kia cau có lẩm bẩm vào điện thoại. Anh cũng đi xem trận cricket ở Delhi. Tôi nói: “Người chơi cricket trước kia vỗ tay và nom chán phèo hoặc phớt tỉnh. Họ bắt đầu ôm nhau và lăn trên sân từ hồi nào vậy?”

Anh nói: “Khoảng 10 hay 15 năm trước. Dân Úc đầu têu. Họ làm nó giống như Mỹ. Đổi sắc thái, thương mại hoá – thay đổi hẳn môn thể thao.”

Cô kia vừa chen qua chúng tôi vừa nói: “Phiền hai ông.” Chúng tôi đang vào Ga Jodhpur, nhưng cô vội xuống xe lửa tới nỗi đã chen lấn – thúc cùi chỏ – để tới cuối toa và tới hội nghị nước của cô, tuy rằng nhìn cô thì bạn sẽ tưởng rằng cô đi dự hội nghị phù thủy.

Cảnh hỗn loạn luôn luôn xảy ra khi xe lửa đến một ga lớn ở Ấn: một đoàn phu khuân vác, cu li, phu xe cút kít và xe hành lý, xe nước, kẻ bán thức ăn, tài xế tắc xi, phu xích lô, đám dắt mối khách sạn và nhà ngủ chạy ùa tới. Họ dồn lên thềm ga, choán cửa ra vào để là kẻ đầu tiên.

Để họ vây lấy thiếu phụ cau có, tôi lẻn qua, đi nhanh tới dãy tắc xi với cái túi nhỏ không có gì đáng chú ý của mình.

Gần trung tâm Jodhpur xe tôi bị các ông to lớn nghiêm nghị khiêng mấy tấm bảng đồng vây quanh. Những tấm bảng lấp lánh và nặng, họ giơ nó lên, hình như quơ về phía tôi, ra hiệu cho tôi quay cửa xuống.

Tôi hỏi tài xế: “Mấy ông này là ai vậy? Họ muốn gì vậy?”

“Lễ Navratri, sar. Họ mừng lễ.”

Tôi mở cửa sổ, nghĩ họ xin vài rupee cho tấm bảng đồng của họ, nhưng không: một người bước tới, dí ngón tay vào bột đỏ, ấn một chấm lên trán tôi.

Trên đường tới Umaid Bhawan, anh tài xế cho tôi biết lễ Navratri mới bắt đầu – chín đêm tuyệt thực và khấn nữ thần Durga. Vị nữ thần này là vị dữ dằn nhất trong đền thần Ấn giáo, có thể nhận ra dễ dàng qua rất nhiều cánh tay cầm vũ khí và trên cổ đeo đầu lâu – bà dễ sợ hơn các nam thần, và có quyền năng sáng tạo cũng như hủy hoại. Durga nghĩa là “Không thể tới gần”. Tôi nhớ tới thiếu phụ cáu kỉnh trên xe lửa, một hoá thân của Durga tru vào chiếc điện thoại di động của cô, và trong suốt chuyến đi không cho phép tôi tới gần.

Anh tài xế nói: “Lễ Navratri cũng hệ trọng đối với thần Surya.”

Tôi đã tới các đền thờ Surya. Surya là thần thái dương trong vũ trụ Ấn giáo, được sùng bái ở Rajasthan hơn bất cứ nơi nào khác, về sau tôi mới biết lý do là hoàng tộc Rajput – thị tộc Rathore cai trị vùng Rajasthan – được coi là hậu duệ của thần thái dương, suryavanshis.

Xui xẻo cho lễ Navratri và hình ảnh thái dương năm nay là nhật thực xảy ra hôm trước ở vùng này của Ấn Độ, và mặt trời tối sầm lại ở Jaipur.

Một bà ở Umaid Bhawan Palace bảo tôi: “Ngày xấu”, và ở Jodhpur tin này quan trọng hơn việc Hoàng tử Charles và bà công tước của ông đến. Nhật thực vào ngày lễ tôn giáo này là điềm gở.

Trong tiền sảnh của Umaid Bhawan (cả đời tôi cộng lại chưa bao giờ thấy nhiều hổ báo nhồi bông như trên vách và trên thềm ở đây), tôi bỗng hy vọng được trò chuyện với Maharajah xứ Jodhpur. Ông nội ông là Maharajah Umaid Singh đã cho xây lâu đài này năm 1928. Hồi đó vương quốc sa mạc Marwar trong vùng Rajasthan này bị đói kém và hạn hán. Ông xây công trình này, mất 15 năm mới xong, để con dân đói kém và tuyệt vọng của ông bận rộn và có việc làm. Đây là một trong những lâu đài cuối cùng, và hiển nhiên là lâu đài vĩ đại cuối cùng, được dựng lên ở Ấn Độ thời quân chủ. Công trình hoàn tất, bằng cẩm thạch và sa thạch nâu đỏ của Rajasthan, ngự trên đồi ven thành Jodhpur, là toà lâu đài khổng lồ màu hồng thẫm với mái vòm lớn lấp lánh, với nét Gothic và art-déco tươi vui, và các ngọn tháp Hồi giáo, hàng hiên cầu kỳ, và nét kiến trúc đồng bóng quái dị của vùng Rajputana. Nó có thể được xây để tạo việc làm cho dân Marwar, nhưng nó đứng đó để gây kinh ngạc.

Ông hoàng hiện nay sống đường bệ bên một cánh có tên là Biệt điện Hoàng gia. Hoàng tử Charles ở trên lầu, trong một phòng lớn với bà công tước hiện thời của ông, đoàn tùy tùng ở gần đó. Người dự hội nghị nước cũng ở trên lầu, họ tìm câu trả lời cho thảm hoạ sinh thái không thể tránh ở Ấn Độ – khô hạn và đói kém hơn. Bên cánh khách sạn xa xỉ là loại khách khác: kẻ đi hưởng tuần trăng mật, du khách, người hâm mộ nước Ấn, vài kẻ may mắn, và một tên nhàn rỗi hành lý gọn nhẹ, nhăn nhở ghi chép vào cuốn sổ – tôi, đang nói chuyện với một bà người Ấn sốt sắng.

Tôi hỏi: “Điềm gở. Phải đốt nhang chứ?”

“Không, nghiêm trọng hơn thế. Một người trong hoàng gia bảo tôi là ‘Đừng nhìn mặt trời. Đừng ra ngoài.’ Tôi nói, ‘Nhưng tôi có việc phải làm.’”

Bà nói nếu muốn biết thì tôi có thể đến dự lễ Navratri tổ chức long trọng bên kia Jodhpur, trên thành phố sơn xanh dương, trong Mehrangarh Fort, một pháo đài trên đỉnh đồi, uy nghi tới nỗi Rudyard Kipling gọi nó là “công trình của thiên thần và người khổng lồ”. Các tu sĩ và hoàng gia, hoàng hậu và đích thân hoàng đế, sẽ dẫn đầu puja – lễ tụng kinh.

Bà ta nói: “Điểm chính là làm cho nữ thần Durga nguôi giận, vì nhật thực.”

Buổi lễ sẽ bắt đầu chín ngày tuyệt thực và cầu nguyện. Và một số người (“ở nhà quê”, theo lời của dân kẻ chợ tự mãn ở Ấn) sẽ cúng một con dê.

“Thiêu nó?”

“Không. Chặt đầu dê cho máu chảy.”

Một hôm rất nóng ở Jodhpur, tôi theo đám rước của hoàng tộc Rajput băng qua thành lũy tới cái pháo đài tường vách sừng sững. Đền Durga (ngôi đền lâu đời của hoàng tộc Jodhpur) là một đền cũ trong pháo đài – pháo đài có niên đại vào giữa thế kỷ 15 – tràn ngập kẻ mộ đạo và đám thần dân hơi kích động của ông hoàng, hậu duệ hiện thời của thần thái dương.

Theo sau ông hoàng giữa cái nóng của pháo đài nắng cháy này là đoàn người lê bước, cầm sáo, chuông, chiêng, trống, và vòng hoa, tất cả cùng tụng “Durga Mata ki jai!” – Vinh danh Mẹ Durga.

Đối với tôi, nghi lễ quan trọng không vì vẻ thiêng liêng mơ hồ của nó, mà vì nó là những cử chỉ tiết lộ nội tâm của người trong cuộc và nghi thức huyền ảo của họ. Đứng dưới tấm bạt, tôi ngước nhìn buổi lễ, cố nghe lời thì thầm, cảnh vẩy nước, lễ lạy. Các tu sĩ vừa phục tùng vừa tự cao tự đại, phục vụ ông hoàng đang puja dưới cái nhìn chăm chú của thần dân trung thành đang tụng niệm. Tại đây, yếu tố kịch nghệ được thêm vào yếu tố sùng bái.

Phút đau khổ nhất là lúc con trai ông hoàng đến, Shivraj Singh, thái tử xứ Jodhpur và là kẻ kế vị ông. Người ta xì xào rốt cuộc thái tử có thể xuất hiện, vì thế khuấy lên rất nhiều lời đồn đoán, vì họ biết thái tử bị thương nặng.

Thái tử 31 tuổi, rất đẹp trai, và nổi tiếng chơi polo từ lâu – cưỡi ngựa giỏi, ghi điểm nhiều – một nhà vô địch của môn thể thao đã làm Jodhpur nổi bật từ nhiều thế kỷ[3]. Nhưng mới một năm trước – tháng Hai 2005 – thái tử bị tai nạn khi chơi polo. Lúc anh quay gắt ngựa lại, nó vấp, thái tử ngã xuống, và con ngựa đè lên anh. Sau một tháng hôn mê, rốt cuộc anh chập chờn tỉnh lại. Sau một thời gian làm thể lý trị liệu quyết liệt – chữa trị cho anh là một thiếu phụ Mỹ – anh đã tạm dùng được tay chân, và lúc này anh hiện diện ở đây, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng từ ngày xảy ra tai nạn khủng khiếp ấy.

Đội khăn, áo khoác trắng, quần dài, quấn vòng cúc vạn thọ, với người hầu hai bên, anh gắng gượng đứng thẳng, tiến đến ngôi đền qua lớp lớp cánh hoa hồng dày đặc rắc trên thành lũy. Nhìn bước chân loạng choạng của anh khó mà kềm lòng, nhưng anh là kẻ đã từ cõi chết trở về.

Điều cảm động về lễ Durga là nó đánh dấu chu kỳ sống-chết, nó tôn vinh sự tái sinh, vì thế mọi điều xảy ra ở đây dưới mặt trời chói chang trong pháo đài, tiếng ngân nga của chuông trống và lời tụng Durga, có tầm quan trọng đối với chàng trai què quặt này, anh là biểu tượng sống động về sự trợ giúp của mẫu thần.

Các tu sĩ điểm phấn lên trán anh, buộc sợi chỉ thiêng vào cổ tay anh, vẩy nước, và chuyền bánh kẹo, giữa tiếng tụng niệm inh ỏi và tiếng sáo tiếng cồng.

Durga Mata ki jai!

Thái tử được đưa tới cái ghế mạ vàng dưới một vòm vải trắng gần ngôi đền, maharajah bệ vệ bên cạnh anh, maharani mặc áo lụa tím, kẻ tùy tùng bưng khay bánh kẹo, tu sĩ và hàng trăm, có lẽ hàng ngàn tín đồ, chen lấn nhau để được thấy vị vua thần của họ.

Tôi đứng phía sau vòm vải, cố giữ bàn chân trần trên chỗ gạch mát trong bóng râm. Thái tử ra hiệu muốn uống nước. Cái nóng giáng xuống như cây búa lấp lánh. Tôi nhìn anh hết sức cố gắng cầm ly nước rồi nghiêng nó để uống. Anh rõ ràng không khoẻ, nhưng anh cương quyết làm việc này mà không cần giúp. Cuối cùng khi anh được đưa đi, có vẻ mệt mỏi, sự cương quyết càng hiện rõ trong cử động của anh. Anh là người có sức mạnh nội tâm; tôi nghĩ anh đã vượt một đoạn đường dài và ý chí anh sẽ đưa anh đi xa hơn nữa. Trong buổi lễ hài hoà và thơm ngát này tư thế anh trở nên kiên quyết và vững vàng hơn.

Sự hiện diện của hoàng gia làm bầu không khí rộn ràng, rung động, râm ran, làm nhịp tim dân chúng dồn dập. Chắc nó không khác lắm với sự hào hứng trên thảm đỏ của đêm trao giải Oscar, nhưng nó được tăng thêm bằng tình cảm tha thiết gắn liền tôn giáo với hoàng gia. Rõ ràng trên pháo đài này, toàn bộ hoàng gia Jodhpur hiện diện, vẻ sùng đạo và che chở khi thần dân vui mừng nhìn họ – say mê vị maharajah bệ vệ có vẻ đáng tin cậy, bà hoàng hậu yêu kiều của ông, người con trai bị thương của ông, hình ảnh mẫu thần lem luốc phấn lễ, lửa nhảy nhót trên ngọn đèn dầu, và tiếng cồng tiếng chuông vang dội.

Tôi ở bên khu khách sạn của lâu đài Umaid Bhawan, khó mà tin vận may của mình khi là khách của một chỗ như vậy. Tôi đi thăm một vòng chợ Jodhpur và các tiệm bán đồ cổ, tìm báu vật và cố phân biệt đồ thật với đồ giả. Nhưng chẳng quan trọng; điều tôi thích nhất trong chợ Ấn Độ chỉ là đi từ sạp này tới sạp khác, từ tiệm này tới tiệm khác, len lỏi giữa đàn lạc đà nặng nhọc và phu xích lô và đàn bò nhai cỏ trong một thành phố không có gì mang vẻ hiện đại.

Vài ngày sau, dao động vương giả lại làm cho Umaid Palace rì rầm: sinh hoạt căng thẳng, nhiều động tác nín thở, một sự sôi nổi chưa từng thấy. Sau bữa ăn trưa, tôi thấy người ta trải cuộn thảm đỏ ra.

Một ông trải thảm quỳ trên sàn cẩm thạch bóng loáng của tiền sảnh, vừa kéo thẳng mép thảm, vừa nói: “Hoàng tử Charles sắp đi.”

Tôi muốn xem rõ bà vợ mới của Hoàng tử Charles, vì thế tôi nấn ná gần cổng vòm lớn của lâu đài.

Một ông mật vụ hỏi: “Ông cần gì, sar?”

“Tôi chờ Hoàng tử Charles. Tôi muốn chào ông ấy.” Ông mật vụ đeo huy hiệu và cây dùi cui. Tôi nói thêm: “Có lần tôi đã gặp ông ấy.”

Tôi đứng ở chỗ của mình tại cuối hàng người đang chào tạm biệt: quản gia, hầu phòng, gia nhân, đầy tớ, mã phu, nhân viên khách sạn, thư ký, bồi, và tôi.

Tất cả khách trong khách sạn đã tụ tập lại để xem tạm biệt; tất cả mọi người tham dự hội nghị nước cũng ở đó. Tôi nhìn mặt họ để tìm và thấy người thiếu phụ cáu kỉnh trên xe lửa. Cô ta nhỏ, giống con quỷ lùn, vai tròn, bên kia phòng. Cô không thấy tôi cho đến khi hoàng tử tiến tới hàng của tôi, và khi bắt gặp mắt cô, tôi nháy mắt. Ha ha! Cô sa sầm theo kiểu tôi đã biết. Tôi nhớ cách cô khạc ra chữ “càn rỡ” vào điện thoại.

Hoàng tử và bà công tước đi dần tới cuối hàng, cám ơn từng người, và khi đến lượt tôi, tôi nói: “Paul Theroux. Ông có đến dự buổi chiếu ra mắt bộ phim phỏng theo cuốn truyện The Mosquito Coast của tôi ở Luân Đôn hai chục năm trước. Tôi chắc ông không nhớ.”

Ông mỉm cười nắm lấy tay tôi và nói: “Tôi nhớ chứ.” Ông có màu da hồng, tóc thưa, dáng điệu đúng đắn, và nụ cười bối rối của một kẻ tin rằng mình chưa bao giờ được coi là quan trọng. Ông nom có vẻ trẻ con và hơi rụt rè hơn là một ông hoàng đường bệ.

Bà công tước sát phía sau ông, có vẻ xốc xếch, già hơn và có dáng bà mẹ theo kiểu hơi thô tục của các bà mẹ mê đám con trai to lớn vụng về của mình: thân thiện, lếch thếch, hơi gù, bé nhỏ và chắc nịch, bụng bự trong bộ áo khoác và váy đen bó sát – quá trịnh trọng trong cái nóng sa mạc này, thích hợp với bữa tiệc ngoài vườn bên Anh hơn, có lẽ bà nghĩ bữa tiệc của maharajah cũng giống như vậy. Điều này có thể tha thứ cho một người chưa bao giờ đến Ấn Độ.

Bà chạm cánh tay hoàng tử và nói hơi mơ hồ và dễ thương: “Phiền thật, tôi quên cái kính râm.”

Có ai đó nghe được và bước nhanh đi để ra lệnh phải tìm kính.

Hoàng tử Charles nói với tôi: “Ông làm gì ở đây?”

“Đi du lịch thôi, thưa ông. Trực chỉ hướng nam.”

“Ông có đang viết gì không?”

“Cố viết, thưa hoàng tử. Hí ha hí hoáy.”

Điều này làm ông cười. “Tôi cũng hí hoáy. Nhưng không viết sách. Và chẳng để xuất bản, dù đôi khi tôi muốn…” Và thay vì nói hết câu, ông lại cười.

Tháng trước, vài phần trong nhật ký Hong Kong của hoàng tử bị lộ ra công chúng. Ông kín đáo in nó và lưu hành trong số bạn bè. Nó đầy những nhận xét sống động và một số điểm nhức nhối, và những nhận xét sâu sắc bất ngờ của ông trở thành tin hàng đầu trên báo Luân Đôn. Ông đã chế nhạo buổi lễ trao trả Hong Kong, gọi một vài yếu nhân Trung quốc là “hình nhân bằng sáp”, nói về “bài diễn văn tuyên truyền” của chủ tịch Trung quốc, và chê lính Trung quốc đi như ngỗng. Ông cũng than phiền bị ngồi ghế hạng thương gia thay vì hạng nhất trên đường về: “Tôi thở dài, đế quốc cáo chung như thế.” Điều này chứng tỏ là dù ông có thể không bao giờ làm vua Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, ông vẫn có thể sống tươm tất như một nhà văn viết du ký với những câu khái quát hoá sống động như thế.

Ông nói: “Chúc ông đi bình an”. Khi ấy một nhiếp ảnh gia bắt kịp ông, và ông đứng chụp hình với toàn thể nhân viên. Lúc đang chụp hình ông nói với ánh đèn chói loà của máy ảnh: “Anh có chắc là muốn tôi làm điều này chứ?”

Rồi người ta tìm thấy kính râm của bà công tước, hoàng gia lên máy bay riêng của họ. Họ có đoàn tùy tùng 26 người, kể cả đầu bếp riêng của hoàng tử.

Tôi trêu một ông kể với tôi là ông ta đã giúp tổ chức chuyến viếng thăm của hoàng gia: “Hoàng tử rõ ràng không thích món ăn của ông.”

Ông ta nói: “Ồ, ngài rất câu nệ về bữa ăn của ngài,” rồi thình lình ra vẻ quan trọng và nghiêm nghị, như thể nhớ ra. “Có một vụ khá rùm beng ở đây là đi tìm nguyên liệu để làm loại bánh mì nâu mà hoàng tử thích ăn. Mấy thứ hương liệu nào đó. Cuối cùng họ tìm thấy mấy thứ ấy đâu đó ngoài chợ.”

*

Một hôm khác tôi dùng trà với Maharajah Gai Sing II. Ông là trưởng tộc thứ 38 của dòng Rathore ở Marwar và là Maharajah xứ Jodhpur, 58 tuổi nhưng nom già hơn, diện mạo dày dạn nắng gió của một chiến sĩ đứng tuổi. Ông lên ngôi và nhận tước hiệu maharajah lúc bốn tuổi, khi cha ông băng hà. Ông nổi tiếng là không kiểu cách. Ông có thể là hậu duệ của Surya, thần thái dương, nhưng ông khuyến khích mọi người gọi ông là Bapji – Cha thân yêu. Thế thôi. Người Anh chưa bao giờ cho phép mình tỏ ra cảm kích dòng dõi á thần. Trong thời Victoria, Hiệp hội Huy hiệu[4] tuyên bố: “Tước Aga Khan[5] được truyền cho những người thừa kế là hậu duệ trực tiếp của Thần. Các công tước Anh được quyền ưu tiên.”

Bapji cho phép sửa một phần Umaid Bhawan Palace thành khách sạn, giống như một số quý tộc Anh túng tiền đã làm với lâu đài và cơ ngơi uy nghi của họ, biến nó thành bảo tàng và quán trà, sửa nó thành điểm du lịch vườn hồng và khu động vật hoang dã và sân chơi croquet, để họ có thể tiếp tục sống trong một bên cánh và có tiền trả các chi phí. Năm 1969, Indira Gandhi sửa hiến pháp, thẳng tay lột hết quỹ đen của các hoàng tộc Ấn. Để đối phó, một số ông hoàng trở thành doanh gia, một số làm địa chủ, và nhiều ông bán đồ gia bảo. Dân buôn đồ cổ ở Ấn thường mở những bọc dao găm hoặc ly pha lê khắc chạm huy hiệu và nói: “Hoàng tộc xứ Cooch Behar, thưa ông. Loại khỏi bộ sưu tập, thưa ông. Tôi mua được toàn bộ lô hàng đẹp, thưa ông.”

Nhiều người biết đến Bapji khi ông làm đại biểu quốc hội Ấn và đại sứ. Để gây quỹ, ông cộng tác với Tập đoàn Taj lập một khách sạn xa xỉ. Toà lâu đài đã hư nát theo thời gian vì thiếu tu sửa, nhưng giờ đây nó phục hồi lại được vẻ huy hoàng ngày trước. Nó cũng có bộ sưu tập linh tinh thập cẩm những con thú đã mãn phần – đầu cọp nhe răng trên gần hết các vách tường, báo nhồi bông trong dáng uyển chuyển trên bệ và trên đầu cầu thang, trâu, sừng nai, những cặp ngà voi khổng lồ trong phòng giải trí và thậm chí trong các buồng riêng – chiến lợi phẩm phủ bụi trưng bày những con đực đầu đàn, và hình chụp những ngày đáng nhớ: người đi săn đứng thẳng ôm khẩu súng dài, giày ủng của họ đạp lên con cọp chết và con báo chết.

Bapji nói lúc tôi vào văn phòng ông: “Chào ông, mời ông ngồi.” Ông vạm vỡ, mặc y phục Rajasthan truyền thống giống như bộ áo ngủ trắng, áo dài kurta và quần bó sát – đúng vậy, quần cưỡi ngựa, jodhpurs. Và ông đi chân trần. Căn phòng là chỗ chứa hình ảnh gia đình, sách và hồ sơ, và trên cái bàn uống trà trước mặt tôi có băng cassette phim Godzilla, Great Journeys, và Yes, Minister. Máy truyền hình ở góc phòng đang chiếu trận cricket, vẫn tiếp tục chiếu, Bapji thỉnh thoảng liếc nhìn trong suốt buổi trò chuyện.

“Mọi thứ đã yên trở lại. Ông cũng biết là chuyến viếng thăm của hoàng tộc khá bận rộn. Nhưng đó là chuyến đi riêng.”

“Thế còn đi kiểu nào khác nữa?”

“Đi thăm chính thức. Khi đó nhà nước sẽ tài trợ. Hoàng tử sẽ có một ngày nghỉ – đại khái là một ngày ngoài nghi thức trong cuộc viếng thăm trang trọng. Nhưng chuyến đi này ông ấy tự chi trả.”

“Ông ấy có vẻ khá vui nhộn.”

“Ông ấy vui. Bà ấy cũng vui.”

Tôi thấy có vẻ Bapji và Charles cùng độ tuổi. Tôi hỏi: “Ông với ông ấy có thể nào tình cờ học cùng trường với nhau không?”

“Tôi học ở Eton. Rồi Oxford – trường Christ Church, tôi là người đầu tiên trong gia đình học ở Oxford. Ông ấy học ở Gordonstoun.” Bapji mỉm cười. “Chỗ đó ghê lắm – cực kỳ khắc khổ. Nếu học ở Eton thì ông ấy chắc vui hơn. Hai con của ông ấy học ở đó.”

“Ông có gặp nữ công tước bao giờ chưa?”

“Tôi biết em trai bà ấy, Mark Shand. Và bà ấy có em gái là Annabel. Tôi không biết bà ấy.”

Người hầu mang trà và bánh quy. Tôi hỏi Bapji về gia tộc ông – liệu có đúng như tôi nghe nói gia đình ông là hậu duệ của thần thái dương.

Ông nói: “Đúng, chúng tôi có liên hệ với Surya. Không thờ mặt trời như bình thường đâu, mà lạy theo thế surya namaskar như lúc tập yoga. Gia đình tôi có nguồn gốc từ trường thi Ramayana[6]. Chúng tôi thuộc tập cấp kshattriya – tập cấp chiến sĩ.”

Nói một cách tế nhị: gia tộc ông nhận là hậu duệ của Thần Rama có liên hệ với mặt trời. Ngược lại, Thần Krishna liên hệ với mặt trăng.

“Chuyện đó có tài liệu cả chứ?”

“Ồ, có chứ. Gia phả của chúng tôi được ghi kỹ lưỡng. Tổ tiên tôi đến vùng này năm 1211. Trước đó, cháu nội của Jai Chand cai trị, vì thế gia đình tôi truy ngược mối liên hệ tới gia tộc Rashstra Kuta, đầu thế kỷ thứ 10.”

Ông kể gia phả đi ngược về quá khứ hàng ngàn năm, từ ngọn tới gốc.

“Tôi nhớ hình như tôi có đến một đền thờ mặt trời.”

“Jaipur có một đền.”

Lần trước tôi đã đi thăm lên tận đỉnh hẻm núi Galta, gần đó có một đền ở ngoại ô thành phố.

“Ông có nhịn ăn nhân lễ Navratri không?”

“Tôi gắng hết sức. Cách nhịn ăn là tùy mình. Một số người không ăn chút gì trong chín ngày – chỉ uống nước. Một số khác ăn một bữa. Một số ăn trái cây. Thị tộc Rajput có người giết con dê – để prasad, cúng tế. Rượu cũng được cúng. Vâng, có người uống rượu.”

“Tôi không biết là mỗi người làm một kiểu.”

Ông nói: “Tôi sẽ kể cho ông.”

Tôi nói: “Tôi hy vọng là ông không phiền nếu tôi ghi xuống. Tôi thấy chuyện này hay.”

Ông lúc lắc đầu kiểu Ấn, theo nghĩa, Okay. Lúc này tôi nhận ra nét dễ mến của ông, sự đáng tin và không ra vẻ mô phạm của ông là từ đâu: tật phát âm sai âm sz, nói hơi ủy mị, cằm xệ một bên, khiến ông có vẻ giống như đứa bé trai, mặc dù có bộ ria mép rậm.

“Mỗi loại thức ăn có một giá trị riêng tùy theo từng nhóm người. Tập cấp Brahmin cấm cái gì làm ông dũng mãnh và sôi nổi, vì họ có truyền thống khổ hạnh. Nhưng một sadhu, thánh nhân khổ hạnh, có thể hút hashish” – và ông giơ tay hút một điếu thuốc tưởng tượng. “Nhưng không hút bhang. Bhang được giã thành bột rồi trộn với kem sữa thành món thandhai.”

“Trộn với những thứ gì?”

“Sữa, nước, hạt hạnh nhân xay, và thêm vài thứ nữa. Dĩ nhiên có cả bhang trong đó – ông gọi nó là cannabis, cần sa, phải không? Nó làm ông mê mẩn.”

“Tôi phải thử mới được.”

Bapji nói: “Có người cười. Văn hóa của chúng tôi cũng có ăn thuốc phiện. Nó thành tục lệ ở phía tây Rajasthan. Hồi trước ăn thuốc phiện là bình thường.”

“Giáo luật không cấm à?”

“Không. Nó là truyền thống. Tập cấp kshattriya chúng tôi có thể ăn thịt và uống rượu, dù trong nội bộ tập cấp kshattriya có một số khác biệt. Nhất là ở hai cực của tập cấp, ông có thể nói những người cấp cao ở một cực, và dân bộ lạc và tầng lớp thua thiệt ở cực bên kia.”

Tôi nói: “Tôi cứ nghĩ nói chung là ăn chay.”

“Có một điều sai sự thực bị lưu truyền rộng rãi đó là đa số dân Ấn ăn chay.” Ông cười bác bỏ và ngọ nguậy ngón chân. “Sai. Một người Anh đã nghiên cứu thấy là đếm kỹ thì Ấn Độ có nhiều người không ăn chay hơn người ăn chay.”

“Ông ăn thịt chứ, thưa ông?”

“Chúng tôi à, vâng, chúng tôi là dân ăn thịt! Chúng tôi có truyền thống săn bắn. Và có tục giết dê trước đền thờ.” Ông dùng một bàn tay ra dấu cắt xoẹt cổ. “Hôm trước tôi thấy ông trong buổi puja ở pháo đài. Hồi trước ở đó có cúng dê.”

“Trước lâu không?”

Ông nói: “Trong đời tôi vẫn còn.” Không lâu – ông sinh năm 1948. “Hồi còn nhỏ tôi có thấy giết dê. Tôi sửng sốt ghê lắm. Nhưng mẹ tôi nói ‘Muốn lớn thì phải biết. Nếu máu làm con khó chịu thì con không thể là chiến sĩ.’”

Tôi mến sự thành thật của ông, ông có thể nói mọi điều, chăm chú giải thích các chi tiết vụn vặt trong việc dùng ma túy và cúng dê. Ông chồm tới, sốt sắng kể chi tiết mới.

“Ông thấy nhé, có nhiều điều tế nhị. Nhìn bên ngoài nếu con dê không run sợ thì nó không được nhận để cúng. Con thú phải sợ hãi, sợ một cách đích đáng để đứng yên, nhưng thấy rõ là nó sợ. Nếu không, ông đem nó đi và đeo vòng vào tai nó. Con thú đó không tinh khiết.”

Tuy Bapji không nói, về sau tôi nghe khách hành hương nói là ở đền Kali – hình như đền rất thiêng – tại Kolkata và Gauhati, thì dê (luôn luôn là dê đen) bị chặt đầu lấy máu để cúng mỗi ngày, có khi tới 15 hay 20 con. Sau đó xác được xẻ thịt, nấu trong bếp của đền, xong rồi phát món cà ri cho người nghèo.

Phía sau đầu ông là một hàng kệ trưng ảnh. Tôi nhận ra Rajmata xứ Jaipur, nguyên là Gayatri Devi, một mỹ nhân thời ấy. Rajmata nghĩa đen là hoàng thái hậu. Bà trải qua nhiều gian khó – không chỉ vì chồng và con trai bà mất sớm, mà còn vì bị bà Gandhi thù hằn nhốt tù khá lâu khi bà không chịu phục tùng bản hiến pháp bị sửa đổi một cách độc đoán. Nghiện nặng thuốc lá, nổi danh sành whiskey lúa mạch, hoàng thái hậu sống ở Jaipur giống như Bapji đang sống, trong một cánh của toà lâu đài khổng lồ của bà.

Bapji giải thích sự liên hệ: “Người vợ đầu của Maharajah xứ Jaipur là em gái ông nội tôi. Theo thoả thuận là cháu gái của ông nội cũng sẽ lấy maharajah. Vì thế dì và con gái” – đúng vậy, tôi đoán là chị và con gái của chị – “đều cưới chung một người. Người dì lớn hơn maharajah tám hay chín tuổi – ông biết mà, ông ấy chỉ mới 15.”

Tôi không hiểu rõ lắm giải thích này, và không chắc về năm tháng, nhưng mối liên hệ phức tạp khêu gợi tới nỗi không cần hiểu rõ. Tôi giục ông nói tiếp.

“Vị giám hộ người Anh của ông không cho họ sống chung. Bà nổi cáu bỏ ra khỏi phòng ngủ. ‘Lấy chồng làm gì nếu không được ngủ trong đó?’ Ha ha!”

Ông đứng lên, duỗi người, rồi chúng tôi bước tới cái lan can rộng màu hồng nhìn xuống vườn của lâu đài, xa xa một mái điện cẩm thạch trắng lấp lánh trên bãi cỏ xanh. Ông nói: “Tôi sinh ra trong lâu đài này. Đây là ngôi nhà duy nhất của tôi. Ông bao nhiêu tuổi?”

Tôi cho ông biết.

Ông nói: “Ông nom trẻ hơn tôi.”

Nhưng đời ông nhiều biến cố hơn, không chỉ vinh dự được sinh ra là hậu duệ của thần Rama, lễ nghi không ngớt, cúng dê, giả định tiên tri của mẹ ông là hoàng hậu đang trị vì: “Con phải là chiến sĩ”. Mà ông còn trở thành maharajah lúc bốn tuổi, sau khi cha ông mất lúc mới 28 tuổi trong một vụ rớt máy bay. Cuộc đời hoàng tử nhiều đặc quyền của ông bị bà Gandhi đảo lộn. Dù vậy, khi mới ngoài tuổi hai mươi, ông đã là nhà ngoại giao, cao ủy Ấn Độ ở Trinidad. Và vụ tai nạn thảm khốc của con trai ông lại càng làm ông già đi.

Như thể chưa đủ rắc rối, người em trai điên loạn của ông – con hoang và thù nghịch – đã vài lần định chặt đầu Bapji. Có lần đạo diễn Ismail Merchant làm một phim ở lâu đài này, có mặt và kinh hoàng thấy người em điên cuồng nhào vào một bữa tiệc và khoa gươm chém khách. Merchant kể cuối cùng người em điên rồ mất quyền thừa kế này bị chặt đầu và tùng xẻo. Bapji hình như thanh thản chịu đựng tất cả.

Bapji nói: “Chắc tôi đi tập yoga,” rồi bóp bụng mình dưới áo kurta.

“Ông có thích cuộc sống ngoại giao không?”

“Tôi thích. Tôi giao thiệp rất tốt với dân gốc Ấn ở Trinidad. Họ thận trọng, tôi cũng thế. Giống như đi dây. Nhưng tôi bảo họ là tôi không phải là cao ủy của họ. Họ là công dân Trinidad, đúng không? Tôi cho họ thấy rõ là tôi không chơi bóng cùng phe với họ.”

Có lẽ trận đấu cricket trên TV làm nhớ lại chuyện cũ và dẫn ông tới cách nói bóng gió.

“Vị tiền nhiệm của tôi là một nhân sĩ già Hồi giáo, ông ấy thảo một văn kiện nói ông ấy muốn cấm các cuộc thi đấu cricket giữa Ấn và Trinidad, vì nó làm người ta nổi nóng.” Ông cười nhớ lại. “Một ông Trinidad đen đến nói với tôi, ‘Chúng tôi muốn đấu cricket! Chúng tôi muốn xem Gavaskar!” – một cầu thủ giỏi – “Nếu có rắc rối gì xảy ra giữa chúng tôi thì là chuyện của bọn tôi.”

Bapji ngưng kể để xem màn cuối của trận đấu cricket, và khi chắc chắn Ấn sẽ không thể nào thua, ông nói về truyền thống quân sự ở tỉnh bang ông. Được ca tụng ở Ấn, nhưng là anh hùng vô danh trên thế giới, quân đội Ấn đã anh dũng trong cả hai cuộc thế chiến. Bapji kể trong một trận đánh quyết định tháng Chín 1918, đoàn Kỵ binh Cấm vệ Jodhpur dẫn đầu với kỵ binh Hyderabad và Mysore hai bên sườn tấn công vào Haifa, làm ngạc nhiên và đánh bại liên quân Đức-Thổ cố thủ trên núi Carmel.

“Họ lao thẳng vào súng máy. Lên đồi – cưỡi ngựa cừ khôi, cực kỳ can đảm. Dalpat Singh dẫn đầu cuộc tấn công và chết trận.” Bapji lại quơ tay. “Thẳng tới, vào lằn đạn. Dĩ nhiên chết nhiều, nhưng họ giết 400 người và chiếm Haifa. Họ can đảm lắm.”

Ông nhìn ra bãi cỏ xanh bát ngát ngoài cửa sổ phía sau Umaid Bhawan. Ông kéo thẳng rồi vặn đầu ria mép.

Ông gật gù: “Dân tôi can đảm. Anh hùng.”

Ông hỏi tôi ở đây bao lâu. Tôi nói tôi sắp ra nhà ga và tối hôm đó tôi sẽ lên xe lửa.

“Ông sẽ thấy ông nội tôi ở đó.”

Ông không nói gì bí ẩn cả. Ông nhắc tới bức tượng Umaid Singh cưỡi ngựa trước ga xe lửa Jodhpur.


Chú thích:

[1] “audacious”.

[2] Christopher Hibbert (1924-2008), sử gia người Anh.

[3] Chữ “jodhpurs” có nghĩa là quần cưỡi ngựa, may rộng bên trên và bóp ống từ đầu gối đến mắt cá chân; “jodhpur shoe” hay “jodhpur boot” là giày ống mặc với “jodhpurs”.

[4] “College of Heralds”, còn gọi là “College of Arms”, là tổ chức của hoàng gia phụ trách về những vấn đề liên quan đến huy hiệu và phả hệ ở Anh, Wales, Bắc Ái Nhĩ Lan và một số vùng trong khối Commonwealth.

[5] Chữ “aga” có gốc Trung Á và Mông cổ, nghĩa là “anh” hay “anh cả”; chữ “khan” nghĩa là “vua”. “Aga Khan” có thể dịch là Đại Vương.

[6] Trường thi Ramayana, dài gần 24.000 câu tiếng Sankrit, kể câu chuyện hoàng tử Rama đi cứu vợ là Sita khỏi tay quỷ vương Ravan.

bài đã đăng của Paul Theroux

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)