Trang chính » Dịch Thuật, Du lich, Đi,Mùa Hè, Ký Sự, Sang Việt ngữ Email bài này

Paul Theroux: Chuyến xe đò tốc hành Mekong Express (2003)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 22.08.2019

 

(Chương 24 – Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar (2008, nxb Houghton Mifflin Company, New York, 496 trang)

 

ghost.train.to.the.eastern.star.cover

 

Chuyến xe đò tốc hành Mekong Express

Du lịch lý tưởng nhất khi không còn là địa điểm phải đạt tới, mà trở thành đồng nghĩa với cuộc sống ta đã chọn cho đời mình.

Một sáng ở Phnom Penh, khoảng tám giờ, tôi rời khách sạn, bước dọc theo dòng sông, trên bờ đê đường A Cha Xao tới một góc phố nào đó, đón xe đò đi Sài Gòn. Chuyến đi chỉ 150 dặm, nhưng mất nguyên một ngày vì phải lên chiếc phà cà rịch cà tang chở hành khách qua sông Mekong, thường xuyên bị trễ cả mấy tiếng, tới biên giới vào Việt Nam, qua hai trạm kiểm soát xuất nhập cảnh. Bên hông xe đò sơn hàng chữ Mekong Express loè loẹt. Hành khách phần lớn là người Việt và Cam Bốt, với cặp vợ chồng người Anh đeo ba lô, tất cả đều tươi cười, trong khi bốn du khách trung niên người Pháp càu nhàu vì phải nói tiếng Anh (Cam Bốt gần như không còn ai nói tiếng Pháp nữa) và phải trả mọi chi phí bằng đô la Mỹ.

Mekong Express

Hai sông Tonle Sap và Mekong từ phía bắc chảy xuống gặp nhau ở Phnom Penh, rồi lại tách thành hai nhánh chảy về phía nam: dòng Bassac và tiếp tục dòng Mekong. Phnom Penh nằm ở mạn tây của chữ X do các dòng sông này tạo thành, người Pháp gọi là Quatre-Bras để chỉ bốn nhánh sông lớn.

Chúng tôi băng qua sông Bassac trên cầu Monivong, theo hướng nam tới biên giới. Vừa qua cầu là những xóm nghèo, làng quê phẳng lì bát ngát, nhà sàn trên đầm lầy, trâu bò, trẻ chăn trâu, chó què, và đồng lúa bao la không dứt. Tôi không thể đọc hay ghi chép trên xe đò. Tôi nhìn chăm chú dân lao động Cam Bốt, họ đã bị phạt một cách bất công trong nhiều thập niên, qua nhiều chế độ liên tiếp và vì lợi ích ngoại bang, kẻ kém may mắn vẫn phải vật lộn để sống còn, tôi càng buồn hơn vì phong cách lịch sự của họ.

Sau vài giờ trên con đường xấu chúng tôi lại gặp sông Mekong, chờ chuyến phà Neak Luong (không lớn hơn phà Edgartown chở được ba chiếc ô tô), rồi lái lên phà và băng qua dòng sông cuồn cuộn. Vài giờ sau, mặt đường tốt hơn gần thị trấn Bavet, gần biên giới bên đất Cam Bốt. Chúng tôi xách hành lý đi bộ qua cái cổng hoành tráng – xuất cảnh và quan thuế. Không ai kiểm tra: tôi có thể mang theo cả kho tàng. Rồi lại đi bộ một quãng dài, băng qua biên giới tới chỗ nhập cảnh và quan thuế Việt Nam, trong thị trấn Mộc Bài, lúc mặt trời lặn. Và qua một cái cổng nữa, tới một thế giới khác.

Đoạn đường này lập tức có vẻ chững chạc. Đường sá Việt Nam tráng nhựa tốt, và nhà cửa giữ gìn kỹ hơn, kích thước lớn hơn đáng kể. Đèn đóm tốt hơn, nhiều sinh hoạt hơn, và nhất là, như tiếng tru hy vọng, dòng xe gắn máy lớn nhỏ chen chúc, ào ào bên cạnh xe đò, làm thành một luồng sáng náo nhiệt, người lái luồn lách, không ai đội mũ an toàn. Đoàn xe gắn máy len lỏi trên đường, tám chiếc sánh hàng, cách nhau vài phân. Mức đậm đặc áp đảo của dòng xe máy như đưa chiếc xe đò nhỏ của chúng tôi tới trung tâm thành phố. Đường vào trung tâm Sài Gòn mất cả giờ, hàng dãy cửa hiệu, chợ và nhà máy nối nhau không dứt, xác minh phần nào điều mà nhiều người Thái đã nói với tôi: “Chúng tôi lo Việt Nam sẽ lấy doanh nghiệp của chúng tôi.”

Vì đây là chuyến đi tình cảm, và để tôi có thể định hướng, tôi yêu cầu được xuống ở một nơi nào đó gần sông Sài Gòn. Sau đó tôi đi bộ về hướng tây đến chỗ quen: Khách sạn Continental, rạp Rex, Khách sạn Caravelle, cái công viên nhỏ, và bưu điện trung ương.

Những gì tôi nhớ về Sài Gòn năm 1973 là rác và phố vắng, mặt tiền thời thuộc địa của bưu điện và toà đô chính kiểu Pháp, Nhà thờ Đức Bà gạch đỏ với hai ngọn tháp, vài người đi xe đạp, và ban đêm gần như không người, trừ vài cô điếm kiếm khách, lảng vảng dưới ánh đèn trên vỉa hè gập ghềnh ở góc đường. Những thứ ấy, cùng nỗi lo lắng và sợ hãi vì chiến tranh, tựa như mùi hôi thối trong bầu không khí u ám khói.

Bây giờ trái lại, người đông hỗn tạp và xe cộ inh ỏi lúc 10 giờ đêm. Hầu như điều tôi thấy trước tiên là một đám rất đông trên vỉa hè, cha mẹ và con nhỏ, mặt họ rạng rỡ, xếp hàng vào “Candyland”, một cửa hàng sáng sủa bán bánh kẹo trong siêu thị: trẻ con mặc y phục như người tí hon, kẹo, nhạc, các bà mẹ hạnh phúc, các ông bố tươi cười láp nháp trên điện thoại di động, mọi người đều diện. Nếu có hình ảnh nào trái ngược với Chiến tranh Việt Nam[1], hay bất kỳ cuộc chiến nào – hoà bình, thịnh vượng, trẻ trung – thì hình ảnh đó là đây.

Giờ đây Cam Bốt chìm vào ký ức mơ hồ về thời hỗn mang đã lắng, và khác với người Cam Bốt có xu hướng bám theo và nhỏ nhẹ nài nỉ, những người Việt này dửng dưng với tôi. Họ có việc khác phải làm.

Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi. Nhưng đêm sau, trong lúc thả bộ về khách sạn trên con đường nhộn nhịp, một thanh niên trên chiếc gắn máy sà đến gần và nói: “Mister, you want massage? You want girl? Nice girl?” và tôi biết rằng có nhiều thứ không đổi.

Sau đó, nhiều tay dắt mối đi gắn máy chào mời gái và mát-xa, và hình như hăm hở muốn lôi tôi đi mát-xa, hay có lẽ lôi đi để cướp.

Tái sinh, cuồng nhiệt, không đẹp nhưng đầy sinh lực, Sài Gòn là thành phố cuốn trong công việc, đồng tiền và giới trẻ, một nơi của thời cơ, lớn và sáng và ồn, nhưng trật tự và ngăn nắp một cách lạ lùng. Trước kia tôi đã thấy nó dưới vầng trăng xấu; tôi có thể nói nó đã tái sinh. Một trong những mặt hay nhất của Việt Nam mới là lòng trắc ẩn, không ác ý hay trả đũa. Trong văn hóa Việt, trách móc, than van và năn nỉ bị coi là yếu đuối; trả thù là lãng phí. Trong chiến tranh họ thắng chúng ta vì họ kiên trì, đoàn kết, tháo vát, và đó cũng là cách họ xây dựng kinh tế.

Hiệu quả của tư tưởng tích cực thấy rõ trong cách họ làm việc và cách họ nhìn về tương lai. Phần lớn là Phật tử trên danh nghĩa, người Việt hình như không duy tâm hơn các dân tộc khác mà tôi gặp. Họ thực tế và có hiệu quả và làm việc với nhau tốt. Tôi tự giới thiệu mình là người Mỹ (vì người Việt thường hỏi), khi đi hết chiều dài đất nước này không ai nói: “Hãy xem các ông đã làm gì đối với chúng tôi.” Nhưng thiệt hại do chiến tranh vẫn thấy khắp nơi: mìn rải rác trong rừng, hố bom, nhiều người cụt tay chân khập khiễng trong các thành phố, và lặng lẽ chết trong làng và nhà thương là hàng ngàn nạn nhân ung thư vì hàng triệu lít chất độc da cam mà chúng ta đã xịt trên cây cối của họ và trên họ.

Người Việt lớn tuổi nhớ hết. Tôi hy vọng gặp được một người, và tôi gặp ông ta. Một hôm đang đi bộ trong thành phố, một cách lộ liễu – một người Mỹ tản bộ giữa người Việt đang vội – tôi đụng một ông tóc bạc mở miệng chào.

Ông ta hỏi: “Ông đi đâu?” Ông là người Việt, nhưng nói giọng Mỹ. Thấp khoẻ, cục mịch, thô thiển theo kiểu thân mật, ông nói ông có xe gắn máy – tôi có muốn đi đâu không?

Tôi nói tôi muốn kiếm một quán có bán “bia tươi”.

“Ông không muốn xem bảo tàng chiến tranh hay mấy thứ khác à?”

“Lúc khác.”

Vì ông có vẻ cùng tuổi với tôi nên tôi muốn nghe chuyện ông, nhưng tôi không nói ra. Ông đưa tôi đến Trung tâm Bia Tươi, một quán trong toà nhà giống như doanh trại trên một khuôn viên có rào vây quanh. Tới đó chúng tôi uống bia và ăn chả giò cho tới khi tôi đứng hết nổi.

Ông không cho tôi biết tên Việt của ông. Ông nói mọi người gọi ông là Omar, như ông tự đặt cho mình, “vì trong phim Doctor Zhivago, Omar Sharif có một vợ và một nhân tình – tôi cũng vậy. Ba con bồ – bốn mươi bốn, ba mươi mốt, và hai mươi mốt. Ông thấy sao?”

Nhưng tôi không hỏi.

“Viên Viagra hình thoi màu xanh, ông biết chứ?”

Tôi hỏi: “Hồi chiến tranh ông có đi lính không?”

“Ừ. Đi lính cho Mỹ. Tôi là thủy quân lục chiến. Sư đoàn 9 bộ binh, ở vùng châu thổ. Rồi họ đưa tôi tới Đà Nẵng.”

Tôi nói: “Tôi có ở Đà Nẵng sau khi Mỹ rút. Chỗ dễ sợ.”

Omar nói: “Tưởng tôi không biết hả? Sau khi Sài Gòn sập, tôi bị bắt nhốt vô tù. Con gái tôi bị ung thư vì chất da cam. Tôi muốn đi Mỹ, nhưng toà đại sứ nói tôi ở tù không đủ lâu, có bốn tháng. Anh rể tôi ở tù từ 1975 tới 84.”

“Rồi anh ta ra sao?”

“Mỹ lo cho mấy người như ổng. Họ giữ lời hứa. Họ nói ‘Okay’ rồi cho ổng hộ chiếu. Ổng ở Houston. Một người bà con khác ở Portland. Một người ở L.A. Gia đình tôi có 47 người ở Mỹ, trừ tôi. Bây giờ tôi già quá rồi đi gì nữa.”

“Tại sao ông bị tù?”

“Tụi nó tóm tôi vì tôi đi lính với Mỹ. Tôi bị đưa vô một trại gần biên giới Cam Bốt. Như cứt. Tụi tôi lao động suốt ngày, học tập suốt đêm.” Rồi ông hát, “Lenin-Marx-Hồ-Chí-Minh, Lenin-Marx-Hồ-Chí-Minh.”

Ông vừa gật gù vừa hát, một tay giơ vại bia tươi, tay kia cầm chả giò.

“Tụi nó nói, ‘Đầu óc mày thúi. Nhốt. Tụi tao sẽ sửa cái đầu mày.’”

“Vậy là ông bị cải tạo.”

Ông cười chếnh choáng: “Ông muốn gọi như vậy cũng được. Ông nghĩ ông sẽ ở đó mấy ngày, rồi thành mấy tuần. Rồi mấy tháng. Có người mấy năm. Anh rể tôi làm cho CIA. Vì vậy ổng lãnh chín năm.”

Ông nói chuyện đó xảy ra sau khi Sài Gòn sập, toà đại sứ bỏ trống và người Mỹ cuối cùng ra đi bằng trực thăng, có người bám theo càng trực thăng.

Ông kể về đám Việt Cộng chiếm thành phố: “Tụi nó biết ra tôi làm gì. Tụi nó nói, ‘Cho mày vô tù.’ Giống như River of No Return. Ông biết phim đó chứ? Phim hay – Gary Cooper, hay John Wayne.”

Thật ra chẳng phải hai tài tử đó. Về sau tôi kiểm lại thì thấy Robert Mitchum và Marilyn Monroe là diễn viên trong phim. Thật lạ là Omar, một anh tự nhận là lăng nhăng với nhiều phụ nữ, lại quên Marilyn.

Ông nói vẫn còn một số trong tù. Ông bắt đầu liếc quanh đại sảnh bia, nhạc mở lớn, TV chiếu một video ca nhạc, và người ta đang nốc bia và hút thuốc.

“Nhưng khác với Cam Bốt. Bên Cam Bốt tụi nó giết ông trong tù. Ở đây tụi nó bắt ông lao động và học chính trị. Tụi nó không giết ông.”

Ông trở nên dè dặt, tâm sự hết sức kín đáo, kiểu mấy người say thường làm, nhưng luôn luôn lộ liễu, thì thầm một cách khoa trương và làm vẻ mặt ngớ ngẩn khi họ nghĩ họ thận trọng.

Ông quay đầu nhìn người bồi bàn đang đổ gạt tàn thuốc lá: “Mình đi. Tôi phải cẩn thận. Người ta nghe.”

Bây giờ ông đã say, và như nhiều người say rượu, ông trở nên hơi sỗ sàng theo kiểu thân mật, lằng nhằng nài tôi uống thêm bia và đi với ông tới Chợ Lớn để kiếm gái. Ông cũng huênh hoang về George W. Bush mới tới Việt Nam với Bộ trưởng Ngoại giao Condoleezza Rice. “Bả là bồ của ổng! Tôi biết! Tôi thấy. Tôi hiểu đàn bà!” Trong khi đó, quán rượu trở nên ồn và đông, và cảnh hỗn loạn này còn được phụ hoạ bằng hình ảnh chiếu trên TV về trận bão làm chết hàng ngàn người ở Phi Luật Tân và đang tràn qua Việt Nam.

Hôm sau Omar khá hơn, nhưng vẫn cường điệu, và thỉnh thoảng nói bóng gió với vẻ mặt phóng đại về những trò nham hiểm của nhà nước Việt Nam hiện thời. Về mặt này ông hơi khác mọi người. Người ta phần lớn coi chính trị là trò tào lao bịp bợm và cứ làm việc riêng của mình.

Chúng tôi đứng bên ngoài một hiệu nhỏ bán đồ cổ, tôi hỏi người phụ nữ đang đưa tôi xem một món đồ chạm trổ rằng bà nghĩ gì về chính quyền.

Omar nói: “Chính trị! Đừng nói gì hết! Người ta nghe!” Ông nói đủ lớn để người bên kia đường nghe được.

Trên đường tới Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (tôi đề nghị đi – ông đã bảo “toàn là tuyên truyền”), ông nói ông sinh ra ở Hà Nội và vào Nam từ khi còn nhỏ, vì cha ông là lính trong quân đội Pháp. Chúng tôi tạt ngang toà lãnh sự Mỹ, có một đám đông người Việt đang xếp hàng chờ xin hộ chiếu vào Mỹ. Bên cạnh họ là tượng đài tưởng niệm 168 lính Việt Cộng bị giết tại đó trong lúc giao tranh hồi tháng Giêng 1968.

Omar nói: “Bây giờ mọi người phải coi họ là anh hùng. Bia ghi như vậy.”

“Tôi muốn biết chính xác lời lẽ ghi gì.”[2]

“Mình không được dừng lại. Cớm khắp nơi. Tụi nó sẽ hỏi giấy tôi nếu thấy ông viết xuống.”

Đó là một điều khác nữa. Người Việt lứa tuổi Omar đa nghi và bồn chồn. Người trẻ không biết ngày tháng và tên tuổi, bất cần, không quan tâm.

Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh kể lại bằng hình ảnh con đường đi đến độc lập của Việt Nam – con đường đẫm máu đầy xác chết và mìn trong gần hết thế kỷ 20 và bắt đầu với cuộc chiến tranh chống Pháp. Hồ Chí Minh viết: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập,” và ông đọc lớn câu này trước đám đông hoan hô ở Quảng trường Ba Đình năm 1945. Thách thức này khiến người Pháp bôi dầu máy chém của họ (cũng được trưng bày), nhưng chưa tới 10 năm sau quân Pháp bị đánh bại nhục nhã ở Điện Biên Phủ. Sau đó tới lượt chúng ta.

Hình ảnh khủng khiếp này, tra tấn, tàn sát, bom trải thảm, thuốc diệt cỏ, thuốc khai quang, khủng bố, máy bay xịt chất dioxin, lính Việt Cộng bị đẩy ra khỏi trực thăng hay bị kéo lê tới chết, thường dân bị giết, xe vận tải chở bom xăng đặc do lính Mỹ tươi cười lái có ghi chữ The Purple People Eater – mười phòng trưng bày những hình ảnh lên án ghê khiếp, đáng sửng sốt hơn nữa vì đa số là tác phẩm của nhiếp ảnh gia Mỹ và ngoại quốc. Trong đó có Larry Burrows, Robert Ellison, Sean Flynn, Oliver Noonan, Kyoishi Sawada và Henry Huet, hình ảnh của họ dữ tợn hơn của các nhiếp ảnh gia nhà nước Việt Nam. Trong ảnh của họ lính Mỹ bị cô lập, dằn vặt hay bị thương, cố thủ và rút lui, trong khi các bức ảnh Việt Cộng cho thấy những nhóm lính Việt hăng hái, năng động, tập thể, ít cá nhân.

Một số phòng bảo tàng dành cho hoạt động chống Chiến tranh Việt Nam, không chỉ ở Mỹ (có vụ nổ súng ở Đại học Kent State), mà cả ở Anh, Hoà Lan, Tây Đức, Thụy Điển và các nơi khác.

Omar nói: “Tôi nói rồi. Tuyên truyền.”

Tôi chỉ một bức ảnh và nói: “Tôi đó.”

Đó không phải là tôi, nhưng có thể đúng: cũng tóc bù xù và kính gọng sừng, mặt cũng nhợt nhạt thiếu nắng, lúc tôi biểu tình dưới mưa ở Toà Bạch Ốc với vài trăm người nữa. Và ký ức tôi hiện lên một cảnh sinh động và khó chịu.

Ông anh bực bội của tôi nói: Mày phí thời giờ, lẽ ra mày phải ở Amherst [3].

Bà vợ giễu cợt và hiếu chiến của anh thốt lên: Anh nghe Paul mới nói gì không? Rồi chị cười rú lên sau khi nghe tôi lặp lại một câu thơ trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh: “Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

Nước Mỹ từ đầu đến giữa thập niên 1960 coi kẻ chống chiến tranh là phản bội, nhưng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tưởng nhớ và ghi lại mọi chi tiết về thời điểm ấy. Tôi thích ở trong phòng này để nhớ lại những người phản kháng, những người cầm biểu ngữ, la hét và hát hò chống lại chính sách dẫn đến tàn sát người Việt và đưa lính Mỹ tới chỗ chết. Nó nhắc tôi rằng, để đáp lại, tôi đã gia nhập Peace Corps, và ở lại Phi châu làm giáo viên. Tôi chả có gì hối tiếc.

Omar nói: “Mình đi uống bia.” Và ở quán bia ông nói: “Ông có biết là ông tức cười lắm không?”

“Nói tôi nghe tại sao.”

“Suốt lúc trong nhà bảo tàng, tôi thấy ông ghi vô cuốn sổ tay của ông.”

“Vậy thì sao?”

Ông ta cười: “Ông nghĩ người ở đây quan tâm à? Chẳng ai muốn nghe về nó.” Ông uống thêm, rồi đăm đăm nhìn cái ly cạn như thấy có con nhện dưới đáy. “Có thể vì vậy tôi thích ông. Khủng khiếp lắm, ông ơi. Khủng khiếp.”

Ông nói ông già quá rồi không muốn đi đâu nữa. Tôi không muốn nhắc ông rằng mọi thứ rốt cuộc đâu vào đấy.

Tôi nói: “Tôi đọc đâu đó là bảy triệu tấn bom đổ xuống Việt Nam.”

“Khủng khiếp.” Ông vẫn đăm đăm nhìn cái ly cạn của ông. “Tôi có thể đi Bangkok. Tôi có thể sống ở đó. Nhưng nó là River of No Return.”

Ông đang già trên đất nước mà người trẻ không nhớ gì về chiến tranh – không cay đắng và ít ý thức về lịch sử – họ là lực lượng chính. Omar nói đúng. Khách đến các bảo tàng chiến tranh (còn một cái nữa, nhà bảo tàng thành phố, ghi lại cuộc sụp đổ của Sài Gòn) phần lớn là du khách ngoại quốc, không phải người Việt. Như nhiều người thuộc lứa tuổi ông, Omar đã bị hút vào nỗ lực chiến tranh của người Mỹ, như cha ông đã phục vụ người Pháp. Và trong khi ông nghiền ngẫm về thất bại và sự phản bội, thì người trẻ nghĩ về tương lai.

Các bức ảnh có thể cho thấy một trong những mục đích của tướng lãnh Mỹ là san bằng Việt Nam, đốt rụi để lùa Việt Cộng ra – cơn thịnh nộ, sự trả thù, nỗi tuyệt vọng, tính phi lý, chủ nghĩa hư vô chế ngự người chiến binh mất tinh thần khi anh ta thấy không có lối ra. Và chúng ta thất bại.

Người Việt trả thù qua hình thức chủ nghĩa tư bản hung hăng, vụ lợi và cơ hội nhất. Vi phạm bản quyền, sao chụp Mickey Mouse, đồng hồ Rolex giả, hàng hiệu nhái, sách, CD, DVD nhạc thịnh hành và phim ăn khách in lậu – cái gì cũng nhan nhản, như chuyện nối gót sản xuất hầu hết mọi thứ mà từ trước đến nay chúng ta đã chế tạo. Nghịch lý đáng sửng sốt là sau khi chúng ta không thể hủy hoại ước mơ của họ về một thiên đường xã hội chủ nghĩa, chia rẽ tình yêu nước của họ, và gieo rắc tàn phá lên họ vì lợi ích của chúng ta, họ đã trỗi lên – dù chúng ta cố đủ cách để đánh đổ họ – và họ trở thành các thương gia và nhà doanh nghiệp. Sài Gòn là tiệm tạp hoá khổng lồ của chủ nghĩa tư bản man dã, của kiếm tiền điên cuồng, đánh bại chúng ta trong chính cuộc chơi mà chúng ta đã đặt ra.

Tôi tới Chợ Lớn, chỉ để xem. Một hôm tôi ăn trong Khách sạn Continental – “hành lang Continental,”hàng hiên chúng tôi đã say trước khi Sài Gòn sập, nhìn khói bốc lên từ ngoại ô thành phố, nay đã bị quây lại và là một quán ăn Ý.

Hình ảnh nước Việt Nam mà tôi đã thấy vào năm 1973 không còn hiện hữu. Và đối với đa số giới trẻ miền Nam, chiến tranh thậm chí chẳng nằm trong ký ức. Một lý do là trong tất cả những năm chiến tranh, từ lúc chúng ta bắt đầu hiện diện như cố vấn quân sự năm 1961 đến khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975, chúng ta không dựng lên một công trình lâu bền nào. Người Pháp để lại một số nhà thờ cũ thanh thoát, trường thuộc địa, biệt thự đẹp, và các toà hành chính uy nghi, nhưng nước Mỹ không để lại một toà nhà hữu dụng nào sau 14 năm và hàng tỉ đô la. Ngoài mìn bẫy và hố bom và người cụt tay chân, hình như chúng ta chưa bao giờ hiện diện ở đó.

Một lần ăn sáng ở Sài Gòn, tôi đọc một cột trên tờ báo tiếng Anh, Vietnam News, tựa đề “Ngày này trong lịch sử”: “Năm 1976, Đường sắt Xuyên Việt chính thức tái khởi động sau 30 năm chia cắt đất nước. Tuyến đường dài 1700 km đã làm xong từ năm 1936.”

Năm 1973, tôi đã đi xa hết sức lên phía bắc trên chuyến xe lửa từ Sài Gòn, dù vài đoạn bị bom phá hỏng. Tôi đã đến cuối tuyến đường, thành phố Huế ảm đạm và tù túng, gần bờ biển. Sau đó là một số căn cứ hỏa lực ở tiền tuyến và khu phi quân sự – vùng cấm lai vãng.

Ăn sáng xong, tôi mua hai vé xe lửa. Anh Liên nói tiếng Anh lưu loát giúp tôi mua vé. Anh sinh năm 1973, tháng 11, lúc đó tôi còn ở đây. Anh nhanh nhẹn, hiệu quả, lạc quan, và tếu – vai anh không mang vết sứt mẻ. Một vé giường nằm đi Huế, nơi trước kia tôi đã đến, vé kia từ Huế đi Hà Nội, nơi tôi chưa từng đến.


[1] Vì tác giả là người Mỹ nên ông gọi cuộc chiến tranh có người Mỹ tham dự ở Việt Nam là Vietnam War, chứ không phải các cuộc chiến khác cũng ở Việt Nam có sự tham dự của người Pháp, Nhật, Khmer Đỏ hay Tàu…

[2] Câu khắc chữ vàng trên tấm bia đá đỏ: “Tổ quốc mãi mãi ghi công, nhân dân đời đời nhớ ơn các chiến sĩ biệt động khu Sài Gòn Gia Định, đã chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng trong trận tấn công Tòa đại sứ Mỹ ngày 31-1-1968, Tết Mậu Thân, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc”. Bia không ghi bao nhiêu đặc công tham dự trận đánh này.

Báo cáo mật của E. Allan Wendt, nhân viên ngoại giao trực tại toà đại sứ tối hôm đó, viết ngay sau trận tấn công, The Wall Street Journal đăng lại tháng 11-1981, cho biết có 19 lính Việt Cộng chết, không nói rõ số bị bắt sống, nếu có, và số phận họ ra sao.

Trang mạng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ngày 18-10-2016 đăng bài viết kiểu giai thoại hơn là báo cáo hay tài liệu có thể dùng để tham khảo: “Hơn 10 đồng chí đã hy sinh… chỉ huy Ba Đen bị ngất trong khi chiến đấu và bị địch bắt … đến năm 1973, Ba Đen được trao trả tù binh theo Hiệp định Pa-ri…” Loại giai thoại này thường được biến chế lại trên nhiều báo ở Việt Nam, và đôi khi có chi tiết trái ngược.

[3] Theroux tốt nghiệp cử nhân Anh văn tại University of Massachusettes Amherst, 1963.

bài đã đăng của Paul Theroux


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)