Trang chính » Dịch Thuật, Du lich, Đi, Mùa Hè, Ký Sự, Sang Việt ngữ Email bài này

paul theroux: chuyến xe lửa ban ngày đi hà nội (2003)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 29.08.2019

 

(Chương 26 – Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar (2008, nxb Houghton Mifflin Company, New York, 496 trang)

 

Ga Hanoi 2017
Nhà ga Hà Nội ngày nay

 

Nhà Ga Hà nội circa 1902
Nhà ga Hà nội đầu thế kỷ 20

Ngay cả hồi chiến tranh, lúc tôi đi du lịch ở đây, tôi đã nghĩ nếu Việt Nam không đẹp như vậy thì chúng ta đã không cướp lấy nó, và người Pháp cũng chẳng bận tâm lập thuộc địa và bóc lột nó. Núi non mát mẻ, dốc đứng, nhấp nhô, thung lũng rậm rạp, rừng mây phủ đổ dốc qua các cánh đồng phì nhiêu tới cái nóng miền duyên hải của bãi biển cát trắng cây cối sum suê; người dân nhã nhặn, chăm chỉ và ân cần; hơi ấm nhiệt đới vây bọc như biến nó thành vườn địa đàng. Dĩ nhiên ngoại nhân muốn chiếm đất và người, dù phải dội bom nó tan tành. Nhưng người Việt kiên trì, bình tĩnh và chiến thắng.

Tới lúc này tôi chưa thấy Hà Nội, một nơi trịnh trọng như một khu ở Paris, theo như dự tính hồi nó là thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp. Người Pháp thua trận nhục nhã, hàng ngàn lính đầu hàng, bị bắt sống, và bị đuổi đi; nhưng ít nhất họ đã để lại những đại lộ dài với những dinh thự uy nghi. Chúng ta chẳng để lại gì ngoại trừ vô số vết sẹo và chấn thương từ việc làm hoàn toàn thảm hại, mười năm kinh hoàng và bảy triệu tấn bom.

Chúng ta đã ở Huế nhưng chẳng cải thiện gì nơi ấy. Nhà ga xe lửa nhỏ sơn hồng và trắng, nằm như cái bánh sinh nhật cũ trên tuyến đường của chính nó, là sản phẩm của thuộc địa Pháp. Lần trước tôi thấy nó điêu tàn. Bây giờ nó hoạt động lại, chật ních người, hữu hiệu, phòng đợi sạch và các chuyến xe đều đặn. Tôi có vé cho chuyến đi 12 tiếng tới Hà Nội, một điều tôi đã muốn làm từ bao nhiêu năm qua.

Giờ đây tôi ngồi trên chuyến xe chở hành khách, lách cách về hướng bắc trên đường ray dọc theo Con Lộ Buồn, như người Pháp rút lui gọi nó, qua những đồi cát và đầm lầy u ám gần biển. Khu phi quân sự hồi trước dọc sông Bến Hải, thuộc tỉnh Quảng Trị ngay phía bắc Huế, vẫn còn rải rác bom mìn chưa nổ và nhiều xe tăng hỏng và vỏ đạn mà dân chúng vùng này vẫn bới lấy sắt vụn.

Thị trấn Đồng Hới có nhà mới và mái ngói tươi màu vì một lý do: nó lại trỗi lên sau khi cháy rụi. (Sách du lịch: “Nó bị bom Mỹ xóa khỏi bản đồ.”) Đây đó giữa các biệt thự hồng và nhà trệt, người ta đốt lò nung khói um trong khi kẻ khác chất gạch, thị trấn vẫn đang xây dựng lại. Thị trấn Vinh cũng thế, bom Mỹ biến nó thành tro bụi, bây giờ nó đang trỗi dậy. Đa số nhà tôi thấy bên kia vĩ tuyến 17 là nhà mới, nhà cũ đã bị cháy hay nổ tung.

Nhưng Việt Nam cũ vẫn tồn tại giữa cái mới. Người lún tới đầu gối dưới bùn ngoài ruộng lúa, đang cày trâu, một vẻ hài hoà giữa mảnh ruộng vuông và cái nón lá tròn của họ, với những đường cày thẳng sũng nước.

Lát sau, chúng tôi chợt đi ngang những gò núi đá khổng lồ, vách thẳng đứng, đỉnh tròn. Anh bảo vệ trên xe lửa bảo tôi đó là Quảng Bình. Gò đá đó kéo dài hàng dặm. Nhìn thấy vòm giáo đường lớn từ xa, trưởng toa làm dấu thánh giá để cho tôi biết đó là nhà thờ Công giáo.

Nghe chúng tôi nói chuyện, một thanh niên đến chào và giật lấy kính râm của tôi. Anh ta đeo lên làm hề, chế nhạo tôi, với các bạn anh.

Anh ta reo lên: “CIA! CIA!”

Tôi hỏi: “Anh nghĩ thế à?”

Anh ta chỉ ngón tay vào tôi và nói: “Ừ. Ông CIA!” Nhưng anh ta cười. Rồi anh đeo ngược cái kính râm và lại làm trò hề, các bạn anh cười.

Trong lúc các bạn anh thử đeo kính của tôi và nhăn nhó, trưởng toa hỏi tôi từ đâu đến, và sau khi tôi nói, ông hỏi: “Ông nghĩ gì khi ở Việt Nam?”

“Mừng là thịnh vượng, và buồn vì chúng tôi đã bỏ bom.”

Ông nói: “Tôi cũng nghĩ vậy.” Vẻ mặt ông khá nghiêm, và ông biết bất cứ nơi nào chúng tôi đi trên tuyến đường này đến Hà Nội cũng đều có hố bom. Và một sự kiện hiển hiện khác của chuyến đi là màn ảnh TV trên toa xe đang chiếu phim hoạt hoạ Tom và Jerry[1], lồng tiếng Việt.

Chuyến xe đầy người Việt, một số xuống các trạm nhỏ, phần lớn đi tới thủ đô. Họ xem phim hoạt hoạ, họ ngủ gà gật, họ đọc, họ tán gẫu. Hộp thức ăn đưa cho mỗi hành khách, gồm cơm, bắp cải muối, đậu phụ, và một miếng xam xám dai như cao su có thể là thịt nhưng cũng có thể là miếng vá ruột bánh xe. Bên ngoài, mỗi khi qua cánh đồng đều thấy người đang làm việc, cắm cúi, cuốc, đào, cày. Mọi thứ tôi thấy đều là hiện thân của hoà bình và hy vọng.

Ngay cả anh chàng nghịch cái kính của tôi cũng làm tôi hy vọng. Anh ta thốt lên “CIA!” lúc tôi đi để giãn chân ngang hàng ghế của anh. Nhưng anh ta vô hại – tôi thường xem trêu chọc là một dạng của tin cẩn và trìu mến. Khi chúng tôi gần đến Hà Nội, cũng anh ta bảo giúp tôi những gì tôi phải xem: múa rối nước, mấy cái hồ, khu phố cổ, lăng ông Hồ.

*

Nắng đã gần tắt lúc xe lửa đến Hà Nội, nhưng đèn đóm chói loà và các đại lộ treo đèn kết hoa khiến cho thành phố có vẻ chững chạc hơn rất nhiều, bí ẩn của bóng đêm, trong đó những hồ nước lộng lẫy và ngôi nhà hát khổng lồ ngự trị, và khi ấy tôi thấy nó lạ kỳ, một thứ Paris Á châu.

Tôi không biết. Nhưng làm sao tôi phải biết? Thành phố quý phái luôn bị người Mỹ coi là thủ đô thù địch, ổ chuột của bọn gian ác, và bị chúng ta tuyên truyền dè bỉu, tốt hơn là nên bị bom và xoá trên bản đồ. Đó là một bài học nữa trong cách biện minh xuyên tạc của chiến tranh: bọn người ác quỷ sẽ đáng chết hơn, các thành phố cặn bã đáng bị phá hủy hơn. Xem họ như thấp hèn hay đáng mắng nhiếc hay thù nghịch một cách bệnh hoạn, thì họ tan biến đi cũng không mất mát gì lắm.

Vẻ quyến rũ Parisien có một chiều kích khác. Tôi tìm thấy một khách sạn trong hẻm ở khu phố Tây, gần Metropole nổi tiếng nhưng quá đắt. Tôi tản bộ lúc đã khuya và thấy giữa các quán cà phê và nhà hàng và các biệt thự trang nhã, giữa tất cả nét Tây này, cũng có tiệm phở, gánh hàng rong và người bán dạo tụ tập gần các điểm bán bia tươi và cá xông khói. Trong cái thành phố lớn, nhìn giản dị, Âu hoá, có một thành phố khác đông hơn, phức tạp hơn kiểu Á châu, và rẻ hơn khá nhiều.

Thả bộ về khách sạn, cảm thấy vui, tôi dừng lại bên một gốc cây để xem xe đạp và xe máy chạy ngang thì một chiếc gắn máy nhào lên vệ đường cách vài bước, lao thẳng tới tôi. Tay khuỳnh trên cần lái, một thiếu nữ vẻ mặt dâm đãng, tóc dài, găng trắng, ủng cao tới đùi, rồ máy và hôn gió tôi.

Get on! You come me!” Cô nhích tới để có chỗ cho tôi trên yên xe.

I come with you?

Me madam. Come my hotel. Get on!

Mơ ước rập khuôn của phái nữ là được một hiệp sĩ đẹp trai hốt lên ngựa. Tương tự như vậy, mơ ước của nam giới mà bạn không bao giờ dám nghĩ tới: chạm trán trong ngõ tối với một cô tóc dài ngồi dạng chân trên xe gắn máy và được hốt lên xe. Dù vậy, tôi lưỡng lự.

You want boom-boom?

“Ừ tôi muốn,” tôi cười ngưỡng mộ sự bất ngờ và thẳng thắn. “Nhưng tối nay không được.”

Cô nói: “Bốn chục đô.” Fotty dolla, kiểu phát âm Boston.

Tôi phải từ chối, không phải vì tôi không muốn, nhưng vì tôi là ông già có gia đình hạnh phúc và đang muốn tìm một quán cà phê internet để gửi điện thư cho vợ hơn là nhảy lên xe hai bánh để được đưa qua cánh cửa tình ái. Chuyện này xảy ra hai lần nữa, không tìm mà gặp, khi người đẹp cưỡi xe lao lên vỉa hè và mỉm cười sốt sắng, rồ máy xe, mời tôi phóng đi. Lần nào họ cũng hứa cùng một thứ.

Get on! You want boom-boom?

*

Hà Nội là thành phố trang trọng với những đại lộ rộng, cây cối cắt tỉa thái quá và dinh thự thuộc địa khoa trương, các biệt thự ăn ảnh với vòm tròn và mái hai mảng, các toà nhà hành chính bệ vệ – đủ loại mặt tiền kiểu Pháp hoa lệ, trong đó có nhà hát thế kỷ 19 – và nhiều tiệm ăn ngon. Đồng thời Hà Nội cũng là thành phố tự phát với các khu hôi hám, phố xá mê cung, quán phở, chợ trời ầm ĩ tiếng người rao chói lói và trái cây bị dẫm nhoe nhoét. Nó cũng là thành phố của các công viên trang nghiêm và hồ nước được tô điểm quanh bờ. Thủ đô Pháp hoá thân thành thủ đô Việt không có một dấu hiệu nào chứng tỏ Mỹ có dính vào. Dĩ nhiên chúng ta không dính vào: chúng ta đã bỏ bom Hà Nội và thả mìn phong toả cảng Hải Phòng, vì thế quá khứ của chúng ta ở Hà Nội là hành vi bạo động ô nhục và ác ý được thực hiện từ trên không.

Tôi liên tục ngạc nhiên là phần lớn người Việt sẵn lòng tha thứ, hay bỏ qua, khi chạm tới đề tài chiến tranh. Một ngoại lệ là trận bom mùa Giáng sinh ở Hà Nội trong ký ức của người phải gánh chịu. Hành động diệt chủng rõ ràng này của đầu óc cực kỳ độc ác xảy ra vào tháng 12/1972, chỉ vài tuần trước khi ký kết ngưng bắn, như cú tát hằn học cuối cùng, nhưng nó không chỉ là một cú tát mà là trận bom lửa ồ ạt nhằm đốt rụi và doạ cho người Việt sợ.

Nixon ra lệnh bỏ bom vào giữa tháng 12, và trong 11 ngày bầu trời thủ đô đen nghịt oanh tạc cơ B-52. Trên đường bay, máy bay rải bốn chục ngàn tấn bom mìn từ Hà Nội tới cảng Hải Phòng, giết khoảng 1.600 người Việt. Máy bay Mỹ bị bắn rơi 23 chiếc, và chúng ta tức giận vì phi công sống sót bị tù. “Mục tiêu quân sự” là lời bào chữa của chúng ta do Nixon và Kissinger đưa ra lúc ấy, nhưng điều dối trá này rõ ràng là tuyên truyền. Lấy thí dụ, trong một khu phố cổ ở Hà Nội, mọi nhà trên Phố Khâm Thiên bị đánh sập, nhiều thường dân chết – gần như toàn là phụ nữ và trẻ em, vì chồng và cha họ đang chiến đấu ở xa.

Vào ngày thứ hai của tôi ở Hà Nội, một ông nhắc tới chuyện này với tôi. Ông khoảng ngoài 50, và khi nhớ lại, ông chỉ nói “Tệ lắm.”

Tôi thấy hình ảnh trận bom đó và những thứ khác trong Bảo tàng Quân đội. Một lần nữa, hình do nhiếp ảnh gia Mỹ chụp gây sửng sốt hơn hình của người Việt.

Trong sân bảo tàng, giống như xếp đặt của nghệ nhân, có các mảng máy bay Mỹ, một chiếc được dựng thẳng đứng, cao bốn tầng lầu, mũi máy bay giống như tháp nhà thờ. Toàn bộ thân, cánh, đuôi và huy hiệu ráp lại có vẻ phình ra. Tấm bảng bên cạnh nó ghi 40.000 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1973. Giọng điệu có ý thiên lệch và con số có thể phóng đại, nhưng không thể không thấy tác phẩm này giống như điện thờ máy bay bị bắn rơi và sự vô ích của chiến tranh.

Tất cả đều quen thuộc đối với tôi, và nên với tất cả mọi người Mỹ thế hệ tôi. Nón sắt và giày, huy chương và đồ dùng cá nhân của lính Mỹ bị bắt; câu trích trong nhật ký của Tổng thống Johnson nói lên nỗi thất vọng về diễn tiến của cuộc chiến, và tấm ảnh kèm theo cho thấy sự lo lắng của ông, nét mặt phệ và cái mũi lố lăng của ông; gương mặt Âu-Mỹ trong ảnh nơi Phòng triển lãm Phong trào Hoà bình – loại ảnh trưng bày trong viện bảo tàng nào ở Mỹ có khu dành cho thập niên 1960, hình ảnh sinh viên cầm biểu ngữ, diễn thuyết, biểu tình và chống đối. Nó trình bày chuyện của người, hơn là quân sự của quốc gia, và nó trình bày mà không chút hả hê, khiến cho toàn bộ càng khó chịu hơn.

Một tấm vải vuông lớn in cờ Mỹ ghi tám thứ tiếng, kể cả tiếng Việt, Tàu, Lào và Cam Bốt: Tôi là một người Mỹ. Tôi không nói được tiếng Việt. Gặp bước không may tôi phải nhờ quý ông giúp đỡ, kiếm thức ăn, chỗ ở và nhờ quý ông bảo vệ tôi. Rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa tôi đến một người nào có thể che chở cho tôi và đưa tôi về nước. Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông. [“I am a citizen of the USA. I do not speak your language. Misfortune forces me to seek your assistance in obtaining food, shelter and protection. Please take me to someone who will provide for my safety and see that I am returned to my people. My government will reward you”.]

Lời năn nỉ này nhằm giúp lính Mỹ bị cô lập hay phi công bị bắn rơi ở Việt Nam. Giọng điệu bơ vơ và lời năn nỉ vô vọng nhằm làm mủi lòng người lạ hay thậm chí cả kẻ thù. Tôi cố tưởng tượng hiệu quả của câu in ấy đối với thời nay, tại bất kỳ nơi nào ở Mỹ, nếu nó ghi “Tôi là một người Iran” hay “một thành viên của Al Qaeda” hay “một công dân Palestine”, và cũng có lời yêu cầu thống thiết ấy, với lá cờ kẻ thù phất phới trên đó.

Đa số khách đến bảo tàng là người Việt. Họ và nhân viên bảo tàng thấy tôi, mỉm cười chào tôi, hỏi tôi từ đâu đến.

“Mỹ.”

“Chào ông.”

Tôi muốn gặp ai ở Hà Nội đã sống qua thời bị bom. Hà Nội là thành phố đi bộ được. Tôi tản bộ loanh quanh vài ngày, trong Phố Cổ và giữa các hàng quán chen chúc và đền đài và xuyên qua khu chợ lớn. Tôi xem múa rối nước, lăng ông Hồ, và bảo tàng về cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ.

Thay vì ăn một mình trong tiệm ăn đàng hoàng – một việc đáng nản ở mọi nơi, ngồi và ngó đăm đăm – tôi lang thang, nhâm nhi, nhấm nháp, ăn phở và súp, tán gẫu với mọi người trong quán bia tươi và tiệm cà phê, để tìm nhân chứng.

Luôn luôn xảy ra lúc đi bộ, một cô nường cưỡi xe gắn máy sà đến bên cạnh và bảo tôi leo lên phía sau cô.

You come! Boom-boom!

Chuyện này xảy ra ngay cả ở các khu tu viện, biệt thự, đền đài và toà đại sứ gần Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nơi một hôm tôi đến xem các bức tranh lụa và đồ đồng.

Ở đó tôi đã tìm thấy chứng nhân mà tôi hy vọng gặp, một bà hồi bỏ bom mùa Giáng sinh còn là thiếu nữ. Bây giờ bà là mẹ hai đứa con gái. Đeo khăn lụa mỏng làm nổi bật gương mặt xương xương và cặp mắt sáng, bà đẹp kiểu Việt Nam, thân mình thon như vũ nữ, mảnh mai gần như xương xẩu, nhưng có vẻ không thể hủy hoại. Nét mặt thanh tao dường như mỏng manh – và hình như mọi phụ nữ Việt Nam tôi gặp đều như thế – trái nghịch hoàn toàn với tinh thần mạnh mẽ và cử chỉ nhanh nhẹn và đồng cảm của bà. Điều này nhắc tôi rằng 30 năm chiến tranh bảo vệ tổ quốc đã cho người Việt niềm tự tin không thể lay chuyển và khiến họ cảnh giác và tháo vát một cách bất thường.

Bà tên Vương Hoà Bình, con ông Vương Như Chiêm đã mất, trước kia là giám đốc bảo tàng, nơi bà làm việc và là nơi tôi gặp bà, hoàn toàn tình cờ. Bà dễ mỉm cười, bà nói lưu loát, và bà đã sống trong và gần Hà Nội suốt cuộc chiến.

Bà đã hỏi: “Ông người nước nào?”

Tôi nói. Bà chào tôi. Tôi hỏi: “Bảo tàng này có bị hư hại hồi chiến tranh không?”

Bà nói: “Nó bị bom. Dĩ nhiên cả thành phố bị bom.”

Cha bà hồi đó là giám đốc, đã lập kế hoạch chuyển các tượng Phật cổ, bia đá, tranh lụa, đồ sứ, đồ vàng, và các cuộn sách đến chỗ an toàn.

Bà nói: “Cụ giấu hết dưới hầm để khỏi bị bom Mỹ làm hư hại. Cha tôi trông nom việc phân tán và cất giấu. Ông cất nhiều nơi, để nếu chỗ nào bị bom thì chỗ khác vẫn còn nguyên vẹn.”

Ông Vương cũng dùng lý luận đó để phân tán gia đình, rải năm đứa con ông tới năm chỗ khác nhau trong và quanh Hà Nội, để gia đình có cơ hội sống còn.

“Nếu chúng tôi ở chung chỗ, bố tôi sẽ mất hết chúng tôi, nếu bom rơi trúng. Hà Nội bị bom B-52 suốt. Nhưng tất cả chúng tôi sống sót!”

“Hồi đó bà biết máy bay B-52 như thế nào à?” Tôi ngạc nhiên khi một bé gái Việt Nam 12 tuổi nhận ra từng loại máy bay. Khó có thể tưởng người Mỹ trưởng thành có thể biết một điều như vậy, thế thì làm sao bà ta biết?

Bà nói: “Ai cũng biết chiếc máy bay này. Chúng tôi sợ lắm, ngay cả trong hầm tránh bom.”

“Bà có nhớ trận bom Giáng sinh không?”

Bà lấy ngón tay thon kéo sát khăn choàng lụa và nói: “Tôi nhớ hết. Tôi nhớ ngày bom rơi ở Phố Khâm Thiên. Hôm đó là 19 tháng 12. Hôm đó một ngàn người chết, đa số là phụ nữ và trẻ con. Nhà cửa sập hết. Xem thật kinh khủng.”

“Bà thấy à?”

Bà nói: “Vâng. Cô tôi và mẹ tôi dẫn tôi đi xem thiệt hại. Chúng tôi thấy rất nhiều cratères – vâng, hố bom – hố lớn trên phố. Và người chết, lửa cháy. Tôi sợ lắm. Nhưng cô tôi và mẹ tôi nói, ‘Mình phải chứng kiến cảnh này.’ Bây giờ trên phố đó có đài tưởng niệm.”

“Dạo ấy bà sống gần đó à?”

“Chúng tôi sống ngay bên ngoài Hà Nội.” Bà ngập ngừng, rồi dường như nhớ lại và nói, “Chúng tôi không có gì nhiều để ăn. Thật ra, trong chiến tranh chúng tôi có rất ít lương thực. Lúc nào chúng tôi cũng đói. Ngay cả sau khi chiến tranh chấm dứt chúng tôi có rất ít gạo. Và gạo mốc – gạo cũ.”

“Vì bị tàn phá à?”

“Không. Vì Mỹ cấm vận, và Trung quốc xâm lăng.”

Chúng ta đã ngăn không cho thực phẩm tới họ. Tôi không nói, dù bà Vương chắc chắn biết, rằng Trung quốc đã xâm chiếm các tỉnh phía bắc lúc chúng ta thân thiện với Tàu, và người Mỹ thích thú khi thấy người Việt tơi tả vì đói kém.

“Chúng tôi nghe nói mục tiêu dội bom là các căn cứ quân sự.”

Bà cười buồn và nói: “Cái gì cũng là mục tiêu. Cả thành phố. Nhất là đường sá và cầu cống. Cầu của chúng tôi bị bom B-52” – cầu Chương Dương ngang qua sông Hồng trên đường đi Hải Phòng. “Nhưng chúng tôi sửa lại. Nhà máy bị nhắm, bất kể là sản xuất gì. Bom liên tục nhiều năm. Cái gì cũng bị bom.”

Bà nói không chỉ Phố Khâm Thiên mà cả đường xe lửa, hồ, chùa, dinh thự, nhà tập thể, lều lán, bảo tàng, Văn miếu thế kỷ 11, nhà thờ Công giáo thế kỷ 18, nhà hát lớn, Quốc tử giám với các bia đá và tượng và đền thờ Khổng tử, chợ, ngoại ô – mọi nơi. Trong hàng triệu tấn bom chúng ta đã thả, thành phố của bà chịu rất nhiều. Năm 1968, khi có nửa triệu lính Mỹ chiến đấu ở Việt Nam, sử gia người Anh J. M. Roberts đã viết, “số tấn bom dội trên Bắc Việt nhiều hơn tổng số bom bỏ ở Đức và Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai.”

Bên ngoài nhà bảo tàng, mưa bắt đầu rơi. Hà Nội nổi tiếng về thời tiết xấu thường xuyên, những ngày mây mù và mưa phùn. Hạt mưa tí tách trên cửa sổ chảy xuống tấm kính, và gió hút trên khung cửa sổ làm kính kêu lách cách.

Bà Vương nói: “Mẹ tôi có người bạn, chồng làm trong nhà máy bị bom. Bà ấy chạy vội đến nhà máy khi nghe tin. Bà ấy thấy khói – xưởng cháy rồi. Bà ấy chẳng thấy gì cả. Nhưng bà ấy muốn tìm chồng, dù cho ông ấy đã chết. Nhưng không thấy ông ấy ở đó. Chỉ có đổ nát. Bà ấy băng qua chỗ khói và tro, và thấy một ngón tay giữa đám than cháy dở. Một ngón tay đeo nhẫn. Nhẫn cưới của họ! Bà biết chồng bà đã chết. Bà mang ngón tay về nhà rồi đem chôn. Bà giữ lại chiếc nhẫn. Năm nay bà ấy cho con trai cái nhẫn, lúc anh ta cưới vợ.”

Tôi nói: “Câu chuyện thật là.”

Bà nói: “Thời đó có nhiều chuyện. Chúng tôi nghèo và không có thức ăn, nhưng chúng tôi có esprit. Các anh tôi muốn đánh Mỹ. Họ muốn nhập ngũ. Chín mươi chín phần trăm thanh niên miền Bắc muốn vào bộ đội. Đi bộ đội là điều vĩ đại nhất. Không ai do dự. Tinh thần của họ như thế.”

“Thế các anh bà là bộ đội à?”

Bà lại mỉm cười nói: “Một chuyện khác nữa. Một anh của tôi xin nhập ngũ. Anh ấy về khóc, vì không đủ tuổi và trọng lượng. Anh ấy chỉ là đứa bé – nhỏ quá. Anh ấy cứ khóc, ‘Con muốn làm bộ đội!’ Một anh khác của tôi được nhận. Anh ấy mừng quá vì có dịp tham chiến.”

“Cha mẹ bà nghĩ sao?”

“Họ mừng. Mẹ tôi mừng tới nỗi cụ nhắng lên để tìm đúng vật liệu làm nem rán cho anh ấy. Hồi đó ở Hà Nội không dễ tìm! Cụ phải tìm khắp nơi. Chúng tôi làm tiệc. Mọi người vui, anh tôi vui nhất, mừng là rốt cuộc anh được là bộ đội. Anh ấy chừng mười bảy tuổi.”

Chúng tôi đứng bên dãy cửa sổ lớn của nhà bảo tàng, tượng Phật và đồ sứ phía sau, ngoài cửa sổ là một trong những phố trang trọng và nom hoàn toàn Âu châu. Nước mưa loang trên tấm kính làm các toà nhà kiểu Pháp cổ bên kia sân mờ nét và có màu lặng như tranh ấn tượng.

Tôi nói: “Thành phố đẹp.”

Bà Vương nói: “Hà Nội đang mất vẻ đẹp của nó. Trước kia nó im lắng. Nhỏ hơn. Chỉ có xe đạp. Không xe máy. Bây giờ ồn ào, và người không phải người Hà Nội. Họ từ vùng quê vào. Họ không biết thành phố.”

Bà suy nghĩ một lát, rồi nói thêm: “Và chúng tôi đang thay đổi. Trước kia chúng tôi nghèo nhưng có tinh thần. Tôi biết cha tôi rõ lắm. Tôi biết cuộc đời cha tôi. Tôi biết cha tôi cần gì. Các con tôi không biết những gì chúng tôi đã trải qua. Tôi cố kể cho chúng. Chúng không thể nào hiểu. Tôi không giải thích được cho chúng.”

“Nhưng bây giờ không tốt hay sao?” Tôi nghĩ đến chợ búa đầy hàng tiêu dùng, đầy thức ăn. Tôi cũng nghĩ đến sức sống của nước này, niềm kiêu hãnh tột cùng, không thấy cảnh nghèo – không giống cảnh đổ nát và người dân thoái chí ở Cam Bốt hiện nay.

“Vâng, có nhiều tiền hơn, nhiều thức ăn hơn, nhưng kém tinh thần. Tôi đọc sách, nhưng hai con gái tôi chỉ dùng máy tính. Chúng không đọc. Chúng thích phim Mỹ.” Rồi với vẻ ngạc nhiên và cam chịu, bà nói, “Chúng muốn đi Mỹ.”

Tôi nói, nhưng lắp bắp: “Bây giờ đi Mỹ dễ.” Tôi đang nghĩ tới bom, đói, chết, ngón tay đứt đeo nhẫn, tiệc mừng bộ đội, có nem rán đặc biệt trên đĩa, đưa tiễn một thiếu niên lên đường đánh Mỹ.

Bà Vương nói: “Thế giới nhỏ.”

Tôi hỏi: “Bà có thù ghét tôi không?” và biết rằng lúc nói điều này tôi đang nhoà nước mắt, chắc cũng tựa như buồn nôn, tự khinh bỉ mình.

Bà Vương nói: “Không, tôi không thù ghét ông,” nhưng như thế lại làm tôi cảm thấy khó chịu hơn.

Bà có vẻ thanh thản, như lúc tôi mới gặp bà, một vẻ người thon nhỏ trong bảo tàng, như vũ nữ. Nhưng lúc này bà hơi lơ đãng, có thể đang nghĩ đến hai đứa con gái trước cái máy tính.

“Thời đó khác.”

*

Tối trước khi rời Hà Nội, đi ngang nhà hát opera tôi thấy người tụ tập trên bậc cấp nơi trình diễn, vở kịch được quảng cáo là Huyền Thoại Cuộc Sống (Myth of the Living) của Lê Quý Dương, nhà biên kịch người Việt.

Thấy phòng vé đóng cửa, tôi đi vòng phía ngoài để xem tại sao. Người nói tiếng Anh duy nhất là một thanh niên cao ráo, tươi cười, mặc vét đeo cà vạt. Anh có vẻ như một người có vé. Anh cười rạng rỡ trên bậc cấp cao nhất trước nhà hát lớn sáng đèn.

Tôi hỏi: “Làm sao tôi có vé xem vở kịch này?”

Anh nói: “Không có đâu. Chỉ có vé mời thôi.”

“Tiếc quá. Nhạc kịch hả?”

“Có nhạc. Có phim. Kết hợp nhiều thứ.”

“Nói tiếng Việt hả?”

Anh nói: “Không. Diễn qua điệu bộ.”

Tôi nói: “Tôi muốn xem. Ai là Le Quy Duong?”

Anh nói: “Tôi là Lê Quý Dương.”

Tôi nói: “Vậy thì sao không mời tôi tới xem kịch của anh? Tôi cũng là nhà văn mà.”

Anh ta có vẻ thích thú vì sự trơ tráo của tôi và đưa tôi một phong bì bên trong có tấm vé.

Như anh nói, vở kịch của anh kết hợp nhiều thứ, đầy chiêng trống, đèn đóm chói mắt, điệu bộ, mặt nạ, và khói bồng bềnh. Nhà hát lớn đầy nghẹt. Tôi ngồi thoải mái, cố hiểu huyền thoại sáng tạo giữa cảnh múa gươm, các bộ xương đi nghênh ngang, và câu chuyện tình. Vở kịch sôi nổi và đầy sự sống, đầy các biến cố đáng ngạc nhiên và âm nhạc vang động, tới nỗi không cần giải thích.

Sau đó, lúc tôi ra tiền sảnh, một ông hỏi: “Tôi phỏng vấn ông được chứ?”

“Ông biết tôi là ai à?”

“Ông là người …” Ông ta ấp úng, rồi nói, “Lê Quý Dương nói ông nói tiếng Anh.”

“Chính tôi. Tôi nói tiếng Anh.”

Tôi khen vở kịch rồi ra đường, và cách nhà hát lớn chưa tới hai chục thước một chiếc xe máy sà tới ngừng bên cạnh tôi. Người đẹp trên xe rồ máy, nhích lên phía trước để lấy chỗ cho tôi, và nói: “You want boom-boom?

Tôi cám ơn cô và tiếp tục bước đi.

*

Năm 1973 tôi mơ đi xe lửa lên phía bắc rồi đi tiếp qua Trung quốc. Nhưng tình hình xáo trộn! Chiến tranh Việt Nam chỉ là một. Cách mạng Văn hoá gây chấn động khắp nơi ở Trung quốc. Du lịch tới những nơi ấy là bất khả. Vì thế hồi đó tôi đã bay từ Sài Gòn tới Tokyo, nơi tôi lại tiếp tục chuyến đi Railway Bazaar của mình.

Nhưng các quốc gia mở và đóng. Thời gian trôi qua. Chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Và ngay sau khi Mao chết, năm 1976, Cách mạng Văn hoá kết thúc. Trung quốc mở ra cho khách du lịch tò mò khoảng năm 1980, năm tôi đi thuyền xuôi dòng Dương tử. Mỹ bỏ cấm vận năm 1994, kinh tế Việt Nam khởi sự tiến triển. Giờ đây mọi biên giới đã mở.

Tôi lấy hộ chiếu đi Trung quốc. Tôi mua vé chuyến xe lửa đêm từ Hà Nội tới Lào Cai, trạm cực bắc trên tuyến đường, sát biên giới Trung quốc. Chuyến đi này không có gì đáng nói. Tôi rời Hà Nội khoảng 10 giờ trên chuyến xe đêm. Ngoài người Việt còn có vài người mang ba lô và du khách lên Sapa, một thị trấn nghỉ mát vùng núi phía trên Lào Cai, nơi dân thiểu số sống – Hmong Đen và Dao Đỏ và Tày.

Trong một tiệm phở ở Lào Cai sáng hôm sau, lúc đang ăn bữa điểm tâm quen thuộc của mình – một ụ cơm chiên với trứng phía trên – một anh lái xe máy đi ngang hỏi tôi có muốn chở ra biên giới. Tôi nói muốn, anh đặt hành lý của tôi lên đùi, chở tôi qua thị trấn tới một toà nhà và cổng vòm trên bờ sông Hồng. Tôi đi bộ qua, đóng dấu sổ thông hành, rồi tiếp tục đi bộ qua một cổng vòm nữa, vào Trung quốc.

Sự hỗn loạn ở Trung quốc hiện ra lập tức trên thị trấn Hà Khẩu ở biên giới, ngay cả vào lúc sáng sớm. Tất cả hàng hoá xuôi nam, qua cầu; phố xá dày đặc xe tải. Từ Hà Khẩu tôi vẫn có thể thấy khói bốc lên từ các căn nhà thấp bên Việt Nam. Lào Cai là thị trấn quê mùa của những người thân thiện; Hà Khẩu là thị trấn hiện đại của kẻ chụp giựt.

Tôi lên xe đò đi Côn Minh. Chuyến đi mất nguyên một ngày, vòng vèo giữa rừng của tỉnh Vân Nam, ở đó tôi thấy xa lộ tám làn xe đang xây qua các ngôi làng người Mèo đội mũ hồng và mặc tạp dề hồng, và các dân tộc thiểu số khác đeo cầu vai sặc sỡ. Cái xa lộ đang xây được nâng lên trên các trụ xi măng băng qua thung lũng và đồn điền cao su và rừng tre. Kỹ sư Trung quốc đã khoét một rãnh khổng lồ giữa rừng phía nam Vân Nam, để lại một vết xấu xí trên cảnh quan, dời chỗ dân chúng, dựng bảng, san bằng khu rừng nguyên sinh. Chưa tới 30 năm trước quân lính đã đi qua đây để đánh Việt Nam, nhưng trong một khía cạnh nào đó lần này tệ hơn chiến tranh, vì nó san bằng vĩnh viễn.

Côn Minh là thành phố nhỏ sống được mà trước kia tôi đã có lần đến thăm và viết về nó, bây giờ là một đống cao ốc Trung quốc xấu xí với bốn triệu dân. Tôi đến được Côn Minh bằng đường bộ – từ Singapore, 2000 dặm. Giàu có nhờ thuốc lá và sản xuất, Côn Minh có cửa hàng Louis Vuitton khổng lồ, đại lý bán xe Maserati và kẹt đường và các cô điếm dai dẳng. Tiếng Hoa để chỉ đĩ bợm là gai, “gà”.

“Mày là gai vì mày thích đàn ông phải không?”

“Không. Tao không thích đàn ông. Tao thích tiền.”

Trung quốc hiện hữu trong dạng hiện nay vì người Tàu muốn tiền. Hồi xưa có lần nước Mỹ như vậy. Có lẽ vì vậy tôi muốn bỏ đi. Không phải vì phản ứng bốc đồng, mà vì sự khó chịu chán ngắt càng lúc càng tăng khi nghe người ta tỏ ý muốn có tiền, nói rằng họ sẽ làm bất cứ cái gì ra tiền. Ai mà muốn nghe người ta khoác lác về lòng tham và thói bừa bãi của họ? Tôi bỏ qua Nhật, trong thâm tâm mừng rỡ vì mình đã xong với Trung quốc – cảnh nhà máy xấu xí, bầu không khí không thở được, các chính ủy cứng nhắc, và những kẻ quang quác mới hoá thân thành tư bản. Xấu xí và vô hồn, Trung quốc đại diện cho nỗi kinh hoàng của lời cầu nguyện được thoả mãn, giấc mơ làm giàu tham lam của nông dân. Tôi vui mừng bỏ đi.


[1] Loạt phim vẽ, ngắn và vui nhộn của Mỹ, về con mèo tên Tom và con chuột Jerry, được sản xuất từ năm 1940 đến 1967.

bài đã đăng của Paul Theroux


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)