Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Du Lịch, , Sang Việt ngữ Email bài này

Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar- Chương 9: Chuyến xe lửa tốc hành Shan-E-Punjab đi Delhi


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 1.12.2021

Paul Theroux, Ghost Train to the Eastern Star – On the Tracks of the Great Railway Bazaar (nxb Houghton Mifflin Co., New York, 2008), phần nói về Ấn Độ, tr. 146-236.

 

Lời người dịch

Ấn Độ là quê hương của con số 0 thông thái, của kinh Veda huyền diệu, của trường ca MahabharataRamayana thần kỳ kéo dài đến những vần thơ Tagore bình dị, của Tất Đạt Đa tìm con đường thoát khổ cho mỗi cá nhân, và của Mahatma Gandhi điềm tĩnh mà cương quyết giải quyết vấn đề cho toàn thể dân tộc.

Nhưng Ấn Độ cũng là nơi của nghịch lý, của một dân tộc có ba quốc gia không đội trời chung – Ấn và Pakistan và Bangladesh, của bạo loạn tôn giáo chực chờ bùng nổ, của niềm kiêu hãnh đại cường và khối dân cùng khổ khổng lồ, của tâm lý chủ-nô và hàng rào tập cấp cha truyền con nối, của đặc khu công nghiệp hiện đại và nhà ổ chuột, của phố thị xây cất bụi mù và thôn quê lam lũ, của yogigurucoolieuntouchable, của tỉ phú và kẻ ăn xin và bò thiêng bới tìm thức ăn nơi bãi rác, của ước mơ và của tuyệt vọng.

Paul Theroux nhận thấy nếu muốn đi trên đất Ấn thì phải biết cách ngước nhìn tới các lâu đài và các cao ốc đang mọc lên đằng xa, đừng nhìn cận cảnh, vì sát bên cạnh là những điều có thể làm người ta bật khóc.

  1. M. Roberts nhận xét như sau (A Concise History of the World, Oxford University Press, New York 1995, trang 64):

“At the beginning of this century, many Indians still lived as all our primeval ancestors must once have lived, by hunting and gathering. The bullock-cart and the potter’s wheel of many villages today are, as far as can be seen, identical with those used four thousand years ago.”

“Ở đầu thế kỷ này [t.k.20], nhiều người Ấn vẫn sống như tổ tiên thượng cổ của chúng ta đã sống, bằng săn bắn và lượm hái. Chúng ta có thể thấy chiếc xe bò và bàn xoay thợ gốm ở nhiều thôn làng ngày nay vẫn giống hệt như bốn ngàn năm trước.

Tháng 9/2017

Phạm Văn

 

 

Chương 9

Chuyến xe lửa tốc hành Shan-E-Punjab đi Delhi

 

Vì Amritsar là thành phố thiêng liêng nên đây đó từng đoàn người hỗn độn, phần lớn là kẻ hành hương, kêu réo điếc tai, trẩy dọc theo các phố và ngõ hẻm. Đường sá nắng cháy đầy bụi nồng nặc và lưu thông hôi hám, và lưu thông gồm có bò thiêng, chó ba cẳng, ô tô cũ, xe đạp méo mó, xích lô máy, xích lô đạp, xe ngựa hai bánh chạy lóc cóc thường thấy – xe thổ mộ và xe ngựa thồ – và xe buýt rỉ sét. Các đống rác đã được phân loại và bới móc. Lề đường đầy thợ thuyền với đồ nghề cổ lỗ xỉ của họ – lưỡi dao cạo gỗ, đục, dùi thợ giày, hàn sắt, máy may đạp chân. Khói thải xanh, dầu nhớp nhúa, cứt ướt, bồn nước giữa con đường bẩn thỉu có tấm bảng Amritsar Improvement Trust (Quỹ Cải thiện Amritsar). Đền đài thu hút hành khất vì vùng đất thiêng khuyến khích bố thí. Và tiếng kèn inh ỏi loan báo ảo tưởng giản dị nhưng chắc nịch của người Ấn rằng bấm còi sẽ làm tăng tốc độ lưu thông.

Điểm đáng chú ý về đám khách hành hương phấn khích ở chốn thiêng liêng là họ choáng váng chỉ vì đang hiện diện ở đó. Hoặc là hơn cả choáng váng – nói lảm nhảm, quàng xiên, rúc rích, trợn mắt mê mẩn ngắm tổ đình của đạo Sikh, đàn ông đội khăn và đàn bà dập dìu vội vã tới Đền Vàng…

Chào bạn đến với Ấn Độ và chứng giám “Ấn Độ lớn hơn thế giới”, như Borges[1] đã có lần viết. Bề ngoài Amritsar không thay đổi. Từ những gì tôi nhớ được, đất nước này không khác với những gì tôi đã thấy ba thập niên trước. Viễn ảnh này làm tôi mừng, cảm thấy nhẹ nhõm, vì đó là một Ấn Độ cởi mở cho mọi người, ít áp đặt – tựa như nhà thương điên hơi một chút vô chính phủ, nhưng là chỗ trú an toàn mở vòng tay cho khách lạ, ngay cả cho kẻ tọc mạch như tôi. Ở đó mọi thứ đều có thể xảy ra được, thời tiết thường dễ chịu, thức ăn cay nồng làm thông mũi. Phần lớn nước Ấn nói lên câu châm ngôn của Blake[2]: “sinh lực là lạc thú vĩnh hằng”. Chúng ta chỉ cần có một dạ dày khoẻ mạnh, một ít tiền, và chịu được đám đông. Và biết cách nhìn ngước lên cao rồi tiến tới, để khỏi thấy cận cảnh – cận cảnh ở Ấn Độ thường dễ sợ. Thực tế là Amritsar, như mọi thành phố khác ở Ấn, có vẻ do bàn tay con người làm ra, những bàn tay gầy guộc, vì thế nó có vẻ tùy hứng, khiếm khuyết, mong manh, và chưa hoàn tất.

Sự kinh hoàng có thể thật, hay có thể tất cả chỉ là ảo giác, như một số người Ấn tin, và vừa cười vừa nói: “Thực và phi thực, sar[3]. Anekantavada[4], sar. Nhiều mặt của sự thực, sar.”

Tình trạng lờ đờ khắc khổ của các nước Stans[5] đã làm tôi mệt mỏi – chế độ cảnh sát trị đa nghi và khô khan, không lộ ra dấu hiệu đấu tranh nào, một kiểu đành chấp nhận đáng nản. Người Ấn không có thói chấp nhận. Không người Ấn nào chịu nghe câu trả lời “không”: cảnh sát bị chế nhạo, quyền lực được tồn tại để bị thách thức, vách tường được dựng lên để bôi bẩn, và mọi người đều nói, thường là nói tiếng Anh. Trẻ đánh giày, phu xích lô, tài xế tắc xi, hành khất, thương gia, chủ tiệm, và anh chàng Surinder (“tôi là đại lý, sar”) Singh với cái chân cà nhắc và câu nói liến thoắng quen miệng, tất cả đều yêu cầu được chú ý. Surinder cam đoan mua được vé đi Delhi cho tôi, mặc dù xe lửa đã đầy. Anh có đường dây, tuy rằng bộ quần áo rách rưới của anh khó gây tin tưởng.

Khi tôi nhận xét Amritsar không đổi, người Ấn tặc lưỡi hay chép miệng khó chịu. Họ cả quyết là nó hiện đại hơn. Tôi chẳng thấy hiện đại ở đâu hay cách nào. Amritsar là thành phố biên cương, cách biên giới Pakistan chỉ vài dặm, vì thế không phải là chỗ để đầu tư. Ngoài ra, Ấn Độ đầy thánh địa, vì bản năng dân Ấn thích hành hương, thích nghi lễ, thích được khích lệ tinh thần, thích bạn hành hương, mà thường là đông kinh khủng, thích chuyến xe lửa đường dài, âm nhạc huyên náo, và các món ăn.

Tôi đứng ở ga chính với Surinder.

Anh hỏi: “Ông bao nhiêu tuổi?”

“Đoán coi.”

“Làm ơn cho tôi biết đi, sar.”

“Cứ đoán đi. Anh nghĩ là bao nhiêu?”

Anh cắt ngang trò bông lơn của tôi: “Nói đứng đắn mà, sar. Ông phải cho tôi biết ngay.”

Tôi nói tuổi cho anh.

Anh nói, giọng uất ức: “Ông hên lắm. Hôm nay hên lắm.”

“Sao mà hên?”

“Ông đủ tiêu chuẩn ngoại lệ để mua vé Cao niên.”

Nghĩa là vé đi Delhi được bớt 100 rupee thay vì giá 400 rupee, 7 đô rưỡi thay vì 10 đô, vì tôi trên 60 tuổi. Và thêm 25 rupee để có ghế ngồi, nhưng phải điền một tờ đơn dài thành ba bản – bản sao màu xanh trên giấy có lỗ châm kim để xé. Trong thời đại máy điện toán – mà tôi nghe nói người Ấn rất giỏi điện toán – nhiều mẫu đơn của nhà nước vẫn phải viết tay thành ba bản trên xấp giấy khâu dính lại dày cộm, giấy mỏng có tờ giấy than lót ở giữa, dùng bút chì tròn đầu, với câu in căn dặn Đè mạnh.

Tôi tìm những điểm thay đổi trong xã hội. Quán cà phê nhớp nháp có bán bánh ngọt của Joginder bây giờ là quán cà phê internet nhớp nháp có bán bánh ngọt của Joginder, và có vẻ cũ kỹ 200 năm. Và nhà ga xe lửa xây gạch trước chiến tranh, mà tôi đã thấy hồi 1973, bị bôi lem luốc kinh khủng bằng chữ Ấn và chữ Anh to tướng. Tôi nhận ra chữ Zindabad – đình công, một chữ thường nghe ở Ấn – và nghe nói cả toà nhà bị vẽ nguệch ngoạc trong vụ đình công tháng trước, nhưng vì vẽ quá xuất sắc nên câu khẩu hiệu giận dữ đó giống câu quảng cáo mời gọi – thì đúng là kêu gọi quần chúng ngồi lì. Đình công đã dứt.

“Nhưng sẽ lại đình công nữa. Vì vậy giữ lại câu viết.”

*

Ấn Độ là ngoại lệ trong một thế giới biến đổi. Ai cũng nói về bước nhảy vọt của Ấn, sự hiện đại của Ấn, các triệu phú Ấn, và “ông phải thấy Bangalore biến đổi.” Câu nói rổn rảng khoác lác “Phép lạ Ấn Độ” in trên mọi tờ báo và tạp chí Âu châu, nhưng Amritsar là bằng chứng cho thấy lời khẳng định đó là láo toét, không những nó là câu nói đùa vô duyên mà còn là lời mai mỉa độc ác. Đối với tôi thì thay đổi rất ít, ngoại trừ dân số, một khối 1,3 tỉ người không thể nuôi ăn, không thể cung cấp chỗ ở, không thể kìm hãm. Nhiều người trong số họ không nói “Bây giờ chúng tôi hiện đại rồi”, vì hơn một phần ba làm việc cả ngày được một đô la. Người Ấn khoe khoang phép lạ, nhưng khi tôi nói với các doanh gia về 400 triệu dân đang sống dưới mức nghèo, họ chỉ gục gặc đầu lẩm bẩm hoặc im lặng, sa sầm bực bội vì tôi đã nêu vấn đề, và không chịu cho tôi biết họ trả lương cho nhân viên bao nhiêu.

Nhưng nước Ấn vẫn chạy, theo kiểu lách cách của nó, mọi thứ vá víu và chắp nối lồ lộ, và cái vẻ hỗn loạn ở Ấn thật ra là một kiểu trật tự, tựa như những hạt nguyên tử quay cuồng. Surinder Singh có vẻ chỉ là anh dắt mối chớp cơ hội. Thật ra anh là một phần của hệ thống mua vé phức tạp ở Ấn. Lúc tôi đang tự lấy làm sung sướng là đã chắc chắn có chỗ ngồi 10 đô la trên chuyến tốc hành tới Delhi, anh ta lại xuất hiện, xin thêm khoảng 10 đô nữa.

“Để làm gì?”

Baksheesh, sar.” Hối lộ.

Nhưng anh giữ lời.

Không ai ở Ấn Độ có thể thành công mà không bóc lột, lừa gạt, ngồi trên đầu, bẻ tay kẻ khác, bắt hắn làm việc với giá 12 xu một giờ. Tin tức chỉ nói về kẻ thắng cuộc – các đại doanh nghiệp, tổng đài điện thoại, nhà máy sản xuất, xưởng dệt, vân vân. Nhưng để có kẻ thắng lớn ở Ấn Độ thì phải có kẻ thua lớn. Cơ chế là như vậy.

Ai chia phần giàu có ấy? Ở tỉnh bang Punjab, tôi nghe nói một luật sư Ấn có thế lực kiếm 1,5 triệu đô mỗi năm mà vẫn trả cho tài xế của ông 20 đô một tuần và 25 xu tiền đánh giày. Sau đó trong chuyến đi tôi gặp một bà luật sư được một công ty Mỹ hứa trả 1 triệu đô mỗi năm cộng với tiền lời trên hợp đồng, nhưng bà ta đòi cao hơn và cuối cùng làm cho một công ty đối nghịch trả bà gần 2 triệu đô. Người Ấn nói như vậy đâu có gì sai; đó là vận hành của thị trường, và câu trả lời thường lệ kiểu Ấn là các đại gia đó là những người cực kỳ nhân đức. Sự ngược ngạo ở Ấn Độ: mặc cả hết sức, trả lương rẻ mạt, điều khiển nô lệ cho tập đoàn công ty, rồi sau đó bố thí cho đám nhân viên tuyệt vọng này.

Kẻ thua cuộc ở Ấn có cách trả thù của họ, như tôi vẫn thấy ở khắp Amritsar: ngoài chuyện đình công, ngồi lì và lãng công để dày vò chủ nhân, điều thấy rõ là chiếc ô tô dài ngoằng, to nhất, nhanh nhất, phải lết như rùa phía sau đoàn xe ngựa và đám phu xích lô gầy trơ xương. Đó là một sự thật khác về nước Ấn, nó chính là bài học đạo đức, một bộ ảnh minh hoạ đơn giản; nó chính là biểu tượng sống động, đàn bò và xích lô và phu xe làm chậm bước tiến của xe du lịch và xe vận tải đi giao hàng. Xe tải có thể giao máy điện toán, có trời mà biết, nhưng máy điện toán sẽ không đi nhanh hơn anh đẩy xe cút kít chở mười bao đậu.

Tôi tình cờ biết Amar Singh. Ông có chiếc xe hơi. Trong nhiều năm ông đã chỉ đường dẫn lối cho đám ký giả. Ông nói: “Bây giờ chúng tôi là đại cường.”

Tôi hỏi: “Đại cường kiểu nào?”

“Khá hơn trước. Mạnh hơn nhiều.”

“Thí dụ tôi nghe coi.”

Ông nói: “Bây giờ chúng tôi giống như Mỹ.”

Ở Amritsar câu này còn phải bàn cãi, nhưng tôi cảm phục sự tự tin của ông. Không ai nói như thế 30 năm trước. Nhưng để nói được điều ấy phải phớt lờ đàn bò ghẻ lở, phố xá kẹt cứng, dân ở lậu, kẻ ăn xin, đám đông, bụi bặm, bẩn thỉu.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì Amritsar không khác lắm. Tôi thích hiện trạng của nó – tiến bộ, dĩ nhiên, nhưng đắm chìm trong quá khứ và lòng mộ đạo tới nỗi nó không thay đổi gì nhiều. Vì Amritsar là thành phố thiêng liêng nên khách đến thăm dễ dàng chịu đựng những phiền phức: bụi bặm, xa xôi, ồn ào là cái giá phải trả cho sự thiêng liêng và phúc lành.

Tôi đi bộ một lát, nhưng rồi gọi tắc xi, và chính Amar Singh chở tôi rề rề qua đám đông. Chúng tôi đi ngang tấm bảng ghi Phục vụ nhân loại là phục vụ thần thánh.

Tôi chép lại câu đó trong cuốn sổ của mình.

Amar Singh hỏi: “Ông là ký giả?”

“Đại khái vậy.”

Chúng tôi tới Đền Vàng, nhưng người đông tới nỗi không có cách nào để xe hơi tới gần. Tôi bỏ Amar Singh lại để đi bộ nửa dặm cuối cùng với đoàn hành hương nói lung tung – những yatris vui tính và sinh động, vì họ sắp đến đích sau một chuyến yatra hành hương dài. Một số cởi giày dép ở cổng đền, rón rén trên lối đi lót gạch cháy bỏng trong ngày nóng bức này; kẻ khác ném khăn choàng vào cái thùng lớn, hay chọn khăn trong đó để quàng lên đầu.

Tôi hỏi: “Cái gì vậy?”

Một ông nói: “Tục lệ phải vậy.”

“Tục lệ gì thế?”

“Vải đội đầu khi vào đền.”’

Một ông khác nói thêm: “Không được để đầu trần. Không có ngoại lệ.”

Ông ta muốn nói: không có ngoại lệ cho ferringhis – người ngoại quốc. Nhưng tôi đang đội mũ.

Một bà Punjab chen vào nói: “Noón ông chép nhẹng được.”

Miếng nhãn trên mũ tôi của hiệu Traveler, ghi chữ Thợ mũ Locke, St James, London W1 – chắc chắn thích hợp để đội ở Tổ Đình Thiêng Liêng?

Tôi bước cùng đám bộ hành qua máng nước để thanh tẩy bàn chân, nhưng vì hàng ngàn khách hành hương đã bước qua đó nên nước hôi thối – xanh lục và nhơn nhớt, như nước đầm lầy. Chuyện này bình thường – nếu vũng hay thùng hay máng được coi là thiêng liêng thì nước đọng cũng không thành vấn đề. Vũng nước càng thiêng thì mùi càng hôi.

Không sao. Đây là Ấn Độ mà tôi nhớ, và tôi mừng là mình đang ở đây. Đền Vàng có vẻ vàng hơn, rực rỡ hơn, rạng ngời hơn. Tôi bước xuống bờ đê cẩm thạch nóng bỏng cùng với khách hành hương hạnh phúc, nhưng vì tôi không có đức tin, nên ngôi đền chỉ là một toà lâu đài lấp lánh của tín đồ đạo Sikh ồn ào, một thắng cảnh, một tiết mục để xem – tôi chú ý đến đám đông hơn là những mái vòm vàng và các tu sĩ đang tụng kinh.

“Lại đây!” và “Hay quá, Má!”

Người Sikh nói giọng Mỹ, người Sikh giọng nhừa nhựa phía tây Luân Đôn, người Sikh ở California, người Sikh ở Scotland và Canada. Tôi lượn quanh lối đi bộ nóng bỏng một lát, đi một vòng ao thiêng, tìm đường trở lại cổng và giày của mình, rồi đi ra xe.

Ông tài xế Amar Singh hỏi: “Ông có biết Mark Tully không?”

Mark Tully, dân Ấn gọi ông là Tully Sahib[6], là phóng viên BBC nhiều năm ở Ấn Độ – một người rất được yêu mến vì những bài tường thuật có sự thông cảm và chi tiết, chân thật, và vì ông yêu mến đất nước này.

Tôi nói: “Tôi có lần gặp ông ấy. Ông ấy là ký giả tài ba và là bạn của Ấn.”

Amar Singh nói: “Tôi chở ông ấy đi quanh đây hồi Chiến dịch Blue Star.”

Thế thì ông lái tắc xi này mà tôi tình cờ gặp ở nhà ga xe lửa hoá ra là một trong những tay chân tháo vát trong vụ khủng hoảng Amritsar năm 1984.

Chiến dịch Blue Star là vụ tấn công của quân đội Ấn vào Đền Vàng – người Sikh nói đó là hành động ô uế hết chỗ nói, không thể biện minh, đối với ngôi đền linh thiêng nhất của đạo Sikh. Thảm hoạ: pháo kích dữ dội vào một thị trấn nhỏ chật ních. Chuyện xảy ra vì bọn người Sikh quá khích chiếm các ngọn tháp, tầng hầm và quán hàng của đền thờ. Họ thuộc phong trào phục hưng đòi lập một nước Sikh riêng gọi là Khalistan (“Đất Thanh khiết”). Một thầy giảng tên Sant Jarnail Singh Bhindranwale là lãnh tụ, và tín đồ Sikh khắp thế giới để ý kỹ vụ này. Bhindranwale (một số người Sikh coi ông ta là đấng tiên tri, gần như mọi người khác coi là đồ sâu bọ) là kẻ gây rối. Ông ta kêu gọi giết tín đồ Ấn giáo và người Sikh ôn hoà. Râu hắn dài tới eo, người ta nói hắn có sức lôi cuốn, trang bị đầy đủ, và sẽ không rút khỏi ngôi đền mà hắn đã cùng môn đồ với rất nhiều vũ khí chiếm vào tháng Năm 1984.

Tháng Sáu năm đó, sau nhiều ngày thương thuyết vô hiệu quả, thủ tướng Indira Gandhi ra lệnh trục xuất Bhindranwale và đồng bọn. Quân lính kéo tới Amritsar rất đông, đặc công áo đen tràn vào đền. Bọn Bhindranwale dùng súng máy bắn gục họ. Một số lính bắn lại từ xa, nhưng chỉ làm chết thường dân và làm đổ một góc đền. Cấp chỉ huy Ấn xin tiếp viện, nhất quyết đòi dùng xe tăng. Sau khi bị từ chối lúc đầu – vì nguy hiểm cho thường dân – lời yêu cầu được chấp thuận. Mười ba chiếc xe tăng dàn hàng và bị súng chống tăng và hoả tiễn bắn trả. Hàng trăm người chết.

Dù vậy, Bhindranwale bị vây, chẳng mấy chốc hắn sẽ hết đạn. Hắn quyết định một phút huy hoàng rồi chợt tắt. Từ khi bị vây hắn đã trở thành đấng cứu thế, có người kể rằng hắn nói với đồng bọn: “Ai muốn tử vì đạo hãy theo ta.” Hắn vừa ra khỏi chỗ nấp vừa ria súng máy, và bị bắn chết như rạ cùng với 50 đồng bọn. Hai phía chết 600 người.

Chuyện đến đó chưa dứt. Người Sikh nổi giận vì Đền Vàng bị xâm phạm vì vụ tấn công, và bà Gandhi bị trách cứ. Chuyện kể là lính Ấn chiếm ngôi đền đã uống rượu trong đó, và tệ hơn nữa là đã hút thuốc. Người Sikh tối kỵ thuốc lá. Bà Gandhi lánh mặt, được một số cận vệ bảo vệ. Nhưng bốn tháng sau người Sikh trả được thù. Vào tháng Mười, bà Gandhi (không chịu nghe lời cảnh cáo) bị hai cận vệ người Sikh giết chết. Một sáng ở Delhi, trong lúc đang canh gác cho bà, họ rút súng bắn bà chết.

Với cái khăn quấn lộ liễu trên đầu, bộ râu rậm, vòng đeo tay bằng bạc đặc trưng, đàn ông Sikh thuộc loại dễ nhận biết nhất trong số các tín đồ trên thế giới. Sau vụ ám sát Indira Gandhi, người Sikh bị tín đồ Ấn giáo truy lùng và tấn công tứ phía – bị lôi khỏi xe lửa và xe buýt, bị đâm trong chợ, bị đốt khi cố thoát ra khỏi xe hơi của họ. Có lẽ ba ngàn người bị giết – không có con số chính xác, chỉ có số tròn về một thảm hoạ không ai quên.

Amar Singh nói: “Khủng khiếp. Rất nhiều người bị giết.”

“Nhưng cái rắc rối Bhindranwale cũng hết phải không?”

“Đúng là hết rắc rối. Nhưng nguy hiểm rình rập chúng tôi khắp mọi nơi.”

“Ông nghĩ bà Gandhi thế nào?”

Ông nói: “Bà ấy tốt,” nhưng ông chỉ lịch sự. Ngay cả bạn thân nhất của Indira Gandhi cũng không nói người đàn bà mị dân mánh khoé này là người tốt.

“Người ta còn nói về nước Khalistan không?”

“Vài dân làng còn nói. Dân thành thị thì không.”

Nhưng Khalistan, “tổ quốc Sikh ao ước”, có văn phòng ở Washington, phát tin cho báo chí, truyền đơn vận động, bài diễn văn huênh hoang thịnh nộ, và hình lá cờ Khalistan.

Tối hôm ấy tôi ghi chép trong phòng của một khách sạn rẻ tiền ở Amritsar, ở đây không có khách sạn tốt. Tôi chợt thấy tại sao Đền Vàng trông vàng hơn, rực rỡ hơn và giữ gìn tốt hơn hồi tôi thấy lần đầu. Vì vụ tấn công làm hư hại và sự quả quyết của người Sikh, ngôi đền được tân trang, mạ vàng lại cho tới khi chói loà.

Hôm sau tôi gọi Amar Singh chở ra ga xe lửa và chào từ biệt. Ông nhắc tới các ký giả mà ông đã chở đi khắp nơi. Ngoài Mark Tully có Satish Jacob, tôi cũng đã gặp ông nhiều năm trước – Tully và Jacob đã tường thuật đầy đủ về Chiến dịch Blue Star.

“Và David Brown của tờ Guardian – tôi lái xe cho ổng. Bây giờ ổng ở Jerusalem. Tôi có giúp ổng.”

Amar Singh nói ông vẫn nghe đài BBC. Ông theo dõi tin tức thế giới và luôn mong tin về các ký giả mà ông đã chở. Tôi khen tính ham hiểu biết và sự giúp đỡ của ông.

Ông nói: “Mục đích của tôi là phục vụ hết lòng.”

Nghe như sáo ngữ, nhưng không. Câu nói nghiêm trang và thành thật, và tôi cảm động vì người tài xế già này, kẻ có cuốn sách và tờ báo trên ghế phía trước của xe ông, kẻ đã sống cuộc đời chung quanh nghề báo, kẻ đã theo dõi tin tức. Đó là một phần niềm vui tôi cảm thấy khi trở lại Ấn Độ, nơi mọi người hình như có khả năng vượt xa việc họ đang làm. Mặc dù lời họ nói có thể làm bực mình và họ đòi hỏi quá đáng, tôi yêu sự lưu loát của người Ấn. Đám đông hình như quá đông, nhưng tôi vui lòng trở lại nồi cà ri Ấn Độ.

*

Nhà ga trung ương Amritsar xây năm 1931, niên hiệu khắc trên mặt tiền gạch đỏ. Nét quái dị cổ xưa cũng là một điều thú vị ở Ấn. Vào nhà ga, tôi cảm thấy mình có thể đi ngược về quá khứ, ngang qua tiệm ăn lớn tối tăm của nhà ga và mấy cái quạt trên trần, bọn trẻ đuổi nhau trên thềm ga, người Sikh trong bộ áo nâu và khăn xanh đội đầu, một ông mặc áo ngủ cũ rích ngủ dựa lên đống bao đay. Và đám lăng xăng trong nhà ga, đa số là trẻ con, bán soda chai đựng trong cái chậu lớn, hay kem cây đựng trong thùng gỗ, hay quàng bộ đồ đánh giày một bên vai gầy, cả bọn nói lưu loát tiếng Anh, nhưng mù chữ.

“Cái bảng đó nói gì vậy?”

Thằng bé khoảng 13 tuổi, và tôi chỉ câu khẩu hiệu xe lửa đình công bôi lem luốc nom dữ dội hơn mấy cái khác.

“Con không biết. Con không đi học.”

Các vị khổ hạnh sadhu gần như loã lồ, các thánh nhân cầm chĩa ba bằng sắt và cái túi nhỏ chứa tất cả đồ đạc của họ; các nhóm phụ nữ gọn gàng và thanh thản giữa cảnh nhếch nhác; một ông khạc ngay dưới tấm bảng Cấm khạc nhổ; các mệnh phụ có ria mép nom dữ dằn và bọn con gái nhỏ, gần như tất cả phụ nữ quấn sari hay mặc áo Punjab dài tới đầu gối, tất cả đàn ông đội khăn. Đây có thể là thập niên 1930, hay năm 1973 lúc tôi đi chuyến Railway Bazaar[7]. Nhìn bề ngoài không có gì thay đổi như thể thời gian đứng yên, tôi thấy phấn khích như mình trẻ lại.

Ông trưởng toa hỏi: “Ông đi xe nào?”

Tôi nói và ông chỉ chỗ ngồi của tôi. Chuyến xe lửa ban ngày, 7 tiếng tới Delhi, không sang trọng cũng không nhanh như Chuyến tốc hành Shatabdi, nhưng thoải mái, đúng giờ, có phục vụ bữa ăn, và chẳng mấy chốc sẽ lăn bánh rầm rập qua đồng lúa mì Punjab – cách Pakistan chỉ mấy dặm về phía tây.

Tôi đã định đi xe lửa đến Lahore[8], nhưng tin tức bên Pakistan làm tôi nản. Bạo động mới xảy ra ở nhiều thành phố Pakistan, kể cả Lahore, sau vụ tuần này toà xử một ông ở gần thủ đô Kabul của Afghanistan, một ông Abdul Rahman nào đó bị đưa ra toà vì tội cải đạo sang Kitô giáo. Tội “bội giáo”. Một trong các kinh Hadith nói rõ tín đồ Hồi giáo bỏ đạo phải nhận án tử hình. Nhưng khi ông ta được tha mạng, thì bạo loạn bùng nổ, đám đông hò hét “Đả đảo tụi Kitô!”

“Đả đảo Mỹ!” và “Xử tử Abdul Rahman!” Trong khi đó, các quan toà xét việc cải đạo của ông ta nói: “Tâm thần của Rahman sẽ được thẩm định.”

Luật Koran này được áp dụng ở Afghanistan và Pakistan, trên lý thuyết là hai nước đồng minh của Mỹ. Nhưng tôi biết là không an toàn. Ký giả Daniel Pearl mới bị bắt cóc và bị chặt đầu ở Pakistan, và người Âu hay bị đe doạ trong chợ. Đây là kết quả của hàng tỉ đô la và nhiều sinh mạng tiêu phí trong nỗ lực phù phiếm của chính phủ Mỹ nhằm dựng lên chính quyền ở mấy nước này.

Bộ trưởng ngoại giao Mỹ bình luận: “Đây là nền dân chủ còn trẻ,” khi mạng sống Abdul Rahman treo lơ lửng vì tội bội giáo, và Afghanistan cần kẻ biện hộ.

Vì thế tôi không thăm lại Pakistan nữa. Thay vào đó, tôi nhắm hướng nam và dự tính cứ đi cho tới khi nào đến mũi cực nam của Ấn Độ.

Nhiều người lên xe lửa ở Ludhiana[9], trong số đó có Kuldeep và Kumar ngồi ghế bên cạnh tôi. Cả hai không đội khăn, nhưng tôi đoán họ có thể là người Sikh – đã Âu hoá ở Anh quốc, cả hai nói họ sống ở Ilford, tỉnh Essex. Kuldeep tới Anh lúc 10 tuổi; Kumar sinh ra ở đó. Cả hai về thăm họ hàng ở Ludhiana. Trong hai người Kuldeep nói nhiều hơn.

Tôi hỏi anh: “Anh có thể sống ở đây nổi không?”

Anh nói: “Tôi là dân Punjab, tôi sống ở đây dễ dàng. Nhưng vợ tôi sinh ở Anh. Cô ấy thấy khó thích hợp được với làng mạc.”

“Cô ấy thấy thế nào?”

“Có lẽ là quá yên tĩnh. Nhưng ông phải biết là đời sống trong làng tốt. Thức ăn dồi dào, vật giá thấp, không căng thẳng. Tôi không cần hộp đêm. Tôi thích làng.” Hình như anh hơi buồn vì trở về Anh. “Nước Ấn này khác với nước Ấn hồi tôi đi. Một số người đang trở về.”

“Xây nhà?”

“Nhiều lắm. Biệt thự lớn. Amritsar không nhiều, vì là thị trấn biên giới. Chẳng ai muốn liều mạng sống gần Pakistan. Nhưng Ludhiana yên tĩnh và an toàn. Jullundur cũng vậy. Kìa, ông thấy không?”

Chúng tôi đang đi ngang một khu nhà có tường bao bọc.

Kumar nói: “Chúng tôi trồng hai mùa. Ông có thấy lúa mì đó không?” Tôi thấy, không thể nào quên, màu xanh diệu kỳ, mượt mà dưới nắng. “Vài tuần nữa sẽ gặt. Rồi sẽ trồng lúa, rồi mưa tới tưới đầy ruộng lúa.”

Kuldeep nói: “Cả vùng này có điện thoại. Nông dân có vẻ quê mùa tỉnh lẻ, nhưng họ đều có điện thoại di động. Ít người dùng loại có dây.”

Tôi hỏi: “Cái gì là điều làm họ lo lắng?”

Anh nói: “Họ cũng như tôi lo về dân chủ. Thí dụ tầng lớp thua thiệt[10].”

Tầng lớp thua thiệt mà anh nói là các tập cấp[11] thấp nhất ở Ấn – tập cấp Dalit, bị coi như Untouchable, nếu chạm tới họ thì sẽ bị ô uế, Mahatma Gandhi gọi họ là Harijan, Con của Thần thánh. Kuldeep đang nêu vấn đề về một hệ thống tương tự như các chương trình nâng đỡ người thiểu số ở Mỹ, và sự chống đối dai dẳng của công chúng đối với chính sách ưu đãi cho họ.

“Bây giờ họ khá hơn chúng tôi. Họ có quá nhiều lợi thế. Các lợi thế này được viết thành luật, để nâng họ lên, và các đạo luật này không bao giờ bị hủy bỏ. Vấn đề là ở đó.”

“Có bao nhiêu người được lợi thế?”

“Một nhóm lớn – có thể 30 phần trăm dân số.”

“Anh còn có mối lo nào nữa?”

Kuldeep nói: “Sự phân chia nam bắc – rất nhiều đụng chạm. Punjab và Haryana nuôi cả nước. Nguồn nước của quốc gia từ vùng này ra. Đổi lại chúng tôi nhận được gì?”

Thật thú vị, anh này ở Ilford, Essex, thiết tha và uất ức vì tài nguyên ở Punjab. Anh không sống ở đây, nhưng tấm lòng anh đặt nơi đây.

“Điều đáng tiếc ở Ấn là đường xấu – xấu vì rất nhiều lý do. Chúng tôi không bằng các nước khác về mặt đường sá. Tham nhũng, quản lý ẩu. Đi một chuyến ngắn cũng mất nhiều giờ. Mọi thứ khác tiến bộ, trừ việc làm đường.”

Kumar nói: “Còn dân số nữa. Nhìn kìa.”

Toa xe đầy người – đầy cứng: mọi chỗ ngồi đều có người, nhiều người đứng, hành lý chồng chất lên tới trần, và mỗi lần quẹo gắt hay dừng lại bất chợt thì hành khách bị ngã nhào. Các thềm ga trên tuyến đường đông nghẹt. Người đeo ngoài cửa sổ. Người ta xô đẩy, và có hành khách trên mui – một điều bình thường. Mọi người đều lịch sự, nhưng không thể thoát khỏi đám hỗn tạp.

Dù nói đủ thứ về sự hiện đại, nhưng tình trạng xe lửa vẫn bê bối – rất bẩn, ghế gãy, phòng vệ sinh dơ dáy, dây kẽm lòng thòng trên lối đi, sơn tróc, và mùi hôi thối quen thuộc.

Nhưng cuộc sống cứ tiếp diễn giữa hỗn loạn và đám đông, các ông trưởng toa bấm vé, hành khách gọi điện thoại, kẻ bán thức ăn len lỏi qua các toa, rao “Thịt nướng! Thịt nướng!” hay “Kà lem! Kà lem!” hay “Lước! Lước xoài!” hay “Cơm gà!” hay “Pani! Vutta! Pani! Vutta! Buttle vutta.”

“Anh lo nhất chuyện gì?”

Kuldeep nói: “Sự cách biệt giàu nghèo đang tăng. Bây giờ đã quá lớn mà càng lúc càng tệ hơn. Nhiều người có đủ thứ, nhưng nhiều người chẳng có cái gì. Làm sao sửa?”

Để đổi đề tài, anh nói anh đang ngóng xem trận cricket giữa Anh và Ấn ở Delhi. “Ngày mai đấu. Ông nên đi xem.”

Tôi nói: “Có thể tôi sẽ xem. Tôi nên để ý tới ai?”

“Ông ném bóng Harbhajan Singh. Người ta gọi ổng là Bhaji – ổng cừ lắm.”

Lúc đó tôi biết chắc Kuldeep là người Sikh. Anh không có râu, không đội khăn, không đeo vòng thép. Anh đã bị Anh hoá, nhưng vẫn ủng hộ Ấn Độ, vẫn trung thành với chủng tộc và tôn giáo của mình: anh chỉ nhắc đến thể tháo gia người Sikh trong đội.

Đi cho giãn chân trên thềm ga giữa các toa xe, hít thở khí trời, tôi gợi chuyện với Mohinder Singh. Ông là thương gia, sống ở Ludhiana, nhưng đang trên đường đi Delhi. Tôi kể tôi vừa mới từ Uzbekistan qua.

Ông nói: “Chúng tôi bán nhiều hàng len Ludhiana qua các nước Stans – Uzbekistan, Kazakhstan. Áo len chui đầu, khăn choàng, găng tay. Họ mua của chúng tôi. Chúng tôi xuất cảng khắp nơi. Phụ tùng xe hai bánh. Ludhiana là nơi sản xuất xe đạp lớn nhất theo Sách kỷ lục Guinness. Nhờ kỹ nghệ xe đạp thành công nên công ty xe gắn máy Hero Honda đặt ở đó.”

Jullundur cũng là nơi sản xuất lớn và xuất cảng dụng cụ thể thao. Banh túc cầu, gậy cricket, banh cricket, gậy hockey. Vì lý do tôn giáo, nhiều tín đồ Ấn giáo sẽ không làm bất cứ món gì dùng da, họ cho là ô uế. Người Sikh không bị giới hạn ấy đã gom hết thị trường.

Ông nói: “Nhiều đất nông nghiệp đang đổi thành khu nhà ở. Thị trường nhà đất bùng nổ ở Punjab. Không những dân địa phương mà cả người Ấn từ Canada và Anh quốc cũng đầu tư vào địa ốc. Nông dân nhỏ bán đất, dùng tiền gửi một đứa con trai qua Anh hay Canada, di cư và cố gắng làm việc. Hy vọng con họ sẽ thành công và gửi tiền về.”

Ông hỏi tôi đã bao giờ đến Ấn Độ chưa. Tôi kể tôi đã đến Punjab 33 năm trước.

Ông hỏi: “Ông nghĩ sự khác biệt lớn nhất là gì?”

Tôi nói: “Là điều ông đang làm. Nói về tiến bộ và ca ngợi kinh tế Ấn Độ. Tin tưởng và tự trọng. Trước kia tôi không nghe như thế.”

Ông đồng ý: “Và điện thoại. Hồi tôi sống ở Simla[12], cha tôi thuộc tổ chức bán quân sự. Hai chục năm trước gần như không thể nào có điện thoại. Tôi nhớ hôm được báo tin là chúng tôi được gắn điện thoại, chúng tôi rất mừng!”

“Ông phải đợi bao lâu?”

Ông nói: “Hai năm. Bây giờ điện thoại không còn là dấu hiệu của địa vị nữa. Ngay cả phu xích lô cũng có điện thoại di động.”

Chúng tôi đứng trên hành lang lộng gió của chuyến xe lửa tốc hành nhìn Punjab đi qua. Đồng lúa mì, phụ nữ quàng khăn, đàn ông đội khăn, xe đạp trên đường phố bụi bặm, vùng quê vẫn như những gì tôi đã thấy bao nhiêu năm trước. Nhưng thái độ tin tưởng của Mohinder Singh và tính tình vui vẻ của Kuldeep và Kumar là mới. Ký ức của tôi về Ấn Độ là dân tộc nhìn về quá khứ. Giờ đây tôi ngạc nhiên vì gặp những người Ấn nhìn về tương lai.

Tôi hỏi: “Ông nghĩ vấn đề của Ấn Độ là gì?”

Mohinder Singh nói: “Vấn đề nan giải của Ấn là quá đông dân. Ngay khi chúng tôi vừa xây xong một cơ sở hạ tầng nào thì nó đã trở nên không đủ vì,” ông nhún vai, “chúng tôi có quá nhiều người.”

*

Nhưng sau đủ chuyện nói trên chuyến Shan-e-Punjab Tốc hành (Hào quang Punjab) về sự thành công của Ấn Độ, sự giàu có của Punjab, sự tái sinh của đất nước, mọi kẻ lạc quan ra khỏi xe lửa trong bóng tối của Ga New Delhi để thấy một Ấn Độ cũ bướng bỉnh bám lấy cuộc sống. Hàng ngàn hành khách xuống xe, mang nặng bao túi, va ly, trẻ con, bà nội bà ngoại, và thùng bơ lỏng, để gặp hàng ngàn người nữa đang đợi chuyến xe sắp tới dưới ánh đèn chói loà – đèn ở Ấn sáng hơn bất cứ nơi nào tôi đã đến, ánh sáng hoa mắt khiến ta không thấy gì.

Dân sống thường trực ở nhà ga nằm duỗi dài trong chăn. Mark Twain thấy đám du khách và dân ở lậu ấy, ông viết hai trang trào phúng mô tả nhà ga xe lửa tại một thành phố lớn ở Ấn Độ trong cuốn Following the Equator (1897). Rồi ông đánh rơi tính vui nhộn của mình; ông lúng túng và bối rối vì dân ở lậu: “Đám đông lặng lẽ này ngồi đó với mấy cái gói khiêm tốn, rổ rá và ít đồ bếp núc chung quanh họ, kiên nhẫn đợi – đợi gì?” Người ở lậu vẫn còn đó, vẫn đợi, khung cảnh không đổi, câu viết của Twain bây giờ vẫn đúng như một thế kỷ trước. Người ta ngủ, hàng trăm người, trùm kín mít, lớn nhỏ, một số như xác chết trong túi đựng xác, một số như đi cắm trại, một số như xác ướp; nằm thành từng gia đình dưới ánh đèn bên Cổng Ajmeri của nhà ga.

Mọi kẻ lạc quan từ Punjab đến, ra khỏi xe lửa với tôi, bước qua đám vô gia cư đang ngủ, đám hành khất, đám ở lậu. Cảnh khốn cùng, một sự thật khác của cuộc sống Ấn, hiển nhiên tới mức không ai nhắc tới, thậm chí chẳng liếc nhìn.

Trong mùa khô này bầu khí quyển Delhi là đám mây đã lắng của bụi, khói, khói xe, là bức màn sương ram ráp nhức mắt, và nhất là mùi hôi ngòn ngọt của quá nhiều người, y phục đi đường của họ bốc mùi làm nghẹt mũi. Đó không phải là mùi thành phố, mà là dấu hiệu của phá rừng và sa mạc và gạch vụn và bếp củi, mùi người cũng chính là mùi sự chết. Ngay cả dưới bóng tối mịt mù của một trong những vụ cúp điện thường xuyên ở Delhi, bạn vẫn biết mình đang ở một chỗ quá đông dân, một chỗ tồn tại trong khủng hoảng vì lỗi thời.

Tôi trọ ở khách sạn Delhi nơi tôi đã ở lần trước. Ngày nay nó sang trọng. Tội nghiệp nhớ lại về chính mình, tôi nhớ đã lâu lắm rồi ở đây tôi cố gọi điện thoại cho vợ ở Luân Đôn và chỉ thấy hoang mang – giọng cô ấy không rõ và có lẻ lảng tránh, không ân cần lắm, rồi đường dây bị nhiễu. Người trực tổng đài khách sạn bảo “Nói lớn lên” qua tiếng ồn như sóng vỗ trên đường dây. Ngày nay điện thoại không khó. Như người ta nói: “Ngay cả phu xích lô cũng có điện thoại di động.” Từ cửa sổ phòng mình, tôi có thể thấy đám bụi đêm đã biến thành màn sương nặng hạt lơ lửng trên thành phố lớn phẳng lì – không nhà chọc trời, chỉ có những nấm mồ, vòm mái, đài tưởng niệm, nhà thờ Hồi giáo, đền đài, đồn lũy ven sông, tường thành cổ, và tháp vuông, tất cả cuộn trong hơi người.

Tôi bỏ đầy thùng các thứ áo khoác, găng, áo gi-lê len, các tranh tượng tôi đã mua, và mấy tấm bản đồ Georgia và Turkmenistan. Tôi gửi hết về nhà, bớt gánh nặng cho mình. Đổi mấy lần xe lửa, đã vào mùa hè, và khi nào đến Nhật tôi mới gặp lại thời tiết lạnh. Với cái túi nhẹ, trong đó chỉ có một bộ quần áo thay đổi, và cái cặp nhỏ đựng giấy tờ, tôi nao nức lên đường.

Quay lại Ga New Delhi để mua vé xe lửa đi tiếp, tôi tìm thấy phòng bán vé quốc tế. Hồi xưa cũng như ở Amritsar vừa rồi, tôi đã thuê một người Ấn đứng xếp hàng cho mình. Nhưng nơi này tổ chức tốt – xếp hàng không dài, và tôi có thể trả bằng đô la. Một số chỗ ngồi trên xe lửa được dành riêng cho người nước ngoài, như một cách khuyến khích ngành du lịch tương đối nhỏ ở Ấn Độ. Tiểu bang Hawaii có 7 triệu du khách, đông gấp đôi tổng số du khách đến Ấn.

Thấy tờ đơn của tôi, ông Sharma nói: “Ông là nhà văn.”

“Vâng. Bao nhiêu năm rồi mới trở lại.”

Ông đứng vụt lên nói: “Tôi có thể giúp ông việc gì?”

“Mua vé xe lửa thôi.”

Tôi cho ông xem lộ trình sẽ đưa tôi đi suốt Ấn Độ cũ và mới, Ấn Độ nghèo và Ấn Độ của phép lạ, Ấn Độ của các maharajah (ông hoàng), Ấn Độ của The Great Railway Bazaar: Delhi – Jodhpur – Jaipur – Bombay – Bangalore – Madras – Rameswaram, từ bắc xuống nam.

“Mời ông gặp bà Matta, sếp tôi.”

Bà Matta là một phụ nữ trung niên quấn sari xanh. Bà ngồi ở bàn làm việc trong văn phòng phía sau với đồ đạc kiểu Ấn: một khay đầy ắp hồ sơ chưa giải quyết, một tách trà, hình chụp mấy đứa trẻ tươi cười, khung ảnh thủ tướng, bản đồ treo tường vẽ mọi tuyến đường hoả xa ở Ấn, và một chỗ thờ thần Ganesh đầu voi với ánh đèn thờ nhấp nháy trong cái đĩa màu vàng.

Ông Sharma nói: “Nhà văn nổi tiếng. Trở lại.”

Bà Matta mời tôi trà và đưa cuốn sổ du khách, nói: “Xin ông ghi tên. Viết lời bình. Kể những điều ông hài lòng, nếu có thể.”

Tôi viết: Ấn Độ hoạt động nhờ đường xe lửa hoạt động.

Tôi đã tin như thế trong lần viếng thăm đầu tiên; bây giờ tôi vẫn tin như thế. Nhờ mạng lưới bao la của Hoả xa Ấn Độ, tôi có thể đi bất cứ nơi nào trong nước. Tôi có thể ngủ thoải mái trên xe lửa; trên xe tôi có thể ăn, đọc sách, ghi chép; tôi có thể nói chuyện với bất kỳ ai. Ấn Độ có xe buýt, tắc xi, xe hơi sang trọng. Nhưng như Kuldeep đã nói với tôi trên xe lửa: Điều ái ngại ở Ấn là đường xấu … Mất nhiều giờ chỉ để đi một chuyến ngắn. Có nhiều hãng hàng không mới, nhưng chắc chắn sẽ bị trễ, kiểm soát an ninh khó chịu, và phi trường giống như pháo đài, đầy lính và hành khách nôn nóng, đầy người và thiếu nhân viên. Vì các nhà ga xe lửa ở Ấn đã có từ lâu, nên nó tổ chức tốt và hiệu quả. Và ở Ấn Độ, xe lửa là phương tiện duy nhất chắc chắn khởi hành đúng giờ và đến nơi an toàn. Một số người nói xe lửa chậm, nhưng ở Ấn Độ vội vàng là dại dột và nhảm nhí – và thường là thói xấu.

Sau khi bắt tay ông Sharma và cái đầu gục gặc chấp thuận của bà Matta, tôi ra khỏi phòng vé với tất cả vé xe, biên nhận, phiếu dịch vụ, hoá đơn vé phụ trội. Sự bừa bộn và cột hồ sơ bụi bặm và ghế ngồi thiếu tiện nghi trong phòng làm việc Ấn Độ trái ngược với sự hiệu quả của nó. Từ đống hỗn độn của sổ hoá đơn, giấy than, máy điện toán nhấp nháy, và những cọc hồ sơ dày cộm buộc ruy băng đã phai màu, hiện lên sự quyết đoán và hiệu quả rõ ràng, dù cho bạn không đọc được chữ viết và ngón tay bạn lem luốc mực khi cầm các tờ giấy ấy.

Tôi ngạc nhiên về những thành tựu mình đã đạt được trong một buổi sáng ở Delhi: các vé xe lửa tôi cần, đúng cuốn sổ tay tôi đang tìm, một ít thuốc bệnh đau khớp (mua indomethacin ở Ấn không cần toa thuốc), và tấm vé khó mua nhất, vé xem trận đấu cricket giữa hai đội tuyển quốc gia Anh và Ấn.

*

Tôi đã xoay xở sống được 17 năm lưu vong ở Anh quốc vì tôi không phải là người hâm mộ nước Anh – người hâm mộ nước Anh không trụ lâu ở Anh quốc, và sự dửng dưng của tôi khiến tôi không mê môn cricket. Tôi không biết luật của nó, nói gì đến những cái lắt léo khác, nhưng ném bóng, đánh bóng, chặn và ném trả bóng là những thứ dễ thưởng thức, dễ thích xem. Điểm chính tôi muốn đến xem trận cricket này vì nó là biến cố quan trọng trong tuần và vì tôi muốn xem 50.000 người Ấn ở cùng một chỗ.

Tôi mừng vì đã đi xem. Các trận cricket ở Anh nổi tiếng là buồn ngủ, vài tiếng vỗ tay yếu ớt, một hai tiếng reo, tiếng gậy bôm bốp, tiếng bóng ném bồm bộp, và thỉnh thoảng tiếng lách cách của ba thanh chắn ngã xuống. Nhưng tiếng huyên náo trên sân Ferozeshah Kolta phía bắc Delhi là một thế giới khác – khán giả la ó, cờ Ấn, tu huýt, còi, sáo, kèn, ca hát ầm ĩ. Khán giả cricket Ấn (tôi nghe nói) nổi tiếng tru tréo – chửi bới lỗi lầm, la lối trọng tài có quyết định đáng ngờ, và thỉnh thoảng tỏ ra thiếu nhạy cảm về chủng tộc, hò hét “Khỉ! Khỉ!” (Bandar! Bandar!) với các cầu thủ da đen của Anh hay vùng Caribbean.

Ông phía trước tôi đã biến lá cờ Ấn lớn thành cái áo choàng chui đầu để mặc nó vào. Ông bên cạnh ông ta đang thổi cây kèn trận. Mọi người la rú. Tôi đến xem sau bữa ăn trưa. Ấn được 209 điểm và đang đổi bên. Tới phiên Anh đánh bóng, và họ phải vượt số điểm đó. Điểm của Anh là 124, và họ còn hai người đánh bóng giỏi nhất.

Anh khán giả bên cạnh tôi là Vikram – “cứ gọi tôi là Vicky” – nói anh 19 tuổi và anh đã gọi tới sở để cáo ốm như mọi kẻ khác – doanh nghiệp ở Delhi im lắng và thiếu nhân viên vì trận đấu này. Tôi bình phẩm về kích thước sân bóng.

Vicky nói: “Rộng thênh thang.[13]” Một trong những cái thích ở Ấn là nghe những chữ như vậy trong lúc trò chuyện bình thường. “Ổng là Pietersen. Ổng lẫy lừng trong mùa tranh cúp Ashes[14] hồi hè năm ngoái.”

Tôi hỏi: “Ổng khá không?”

“Tay khoẻ nè. Đúng lúc nè.” Vicky nhìn đầu bên kia đường ném bóng. “Flintoff đó. Ổng đánh bóng khá lắm.”

“Vậy thì Anh có khả năng thắng.”

“Tôi nghĩ không thắng nổi đâu. Phe tôi có mấy người ném bóng tài tình. Coi Bhaji Singh kìa. Ổng cừ lắm.”

Nhưng hai cầu thủ Anh đang ghi điểm. Vicky dịch các câu reo hò tiếng Ấn: “Ấn thắng!” và “Xanh cứt!” – đồng phục Anh màu xanh – và “Bhaji-Bhaji-Bhaji!” Cả vận động trường gầm lên, dù lác đác có tiếng vỗ tay khi Flintoff đánh một cú đẹp. Ngay cả ủng hộ viên bóng đá náo loạn nhất cũng không bằng đám la ó này, và chính các vận động viên cũng khen nhau mỗi khi có một cú bắt bóng hoặc một lần ghi điểm, bằng cách ôm nhau và lăn trên cỏ ở đường ném bóng.

Tôi nói: “Hôm nay là ngày trọng đại.”

Vicky nói: “Cricket là Thần ở Ấn Độ. Hơn cả Thần.”

Rồi anh tiếp tục diễn giải trận đấu cho tôi: “Coi kìa, sơ suất quất lơ là cú ném mạnh … À, bắt đẹp cú bóng đánh sâu … Flintoff nghe xúi bậy quất một cú ném thẳng … Ổng bị loại rồi. Chân đặt trước khung thành[15] … Harbhajan sẽ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc… Nào, vận động viên mới.”

“Có bất lợi không?”

“Có thể nói là cú ném hiểm.”

Tiếng reo hò “Ấn thắng!” khiến tôi nghĩ đây là biểu thị của một nước Ấn mới. Vận động trường rộng lớn, lời đồng thanh phản đối Anh quốc, đám đông khổng lồ, và sự quả quyết. Và cũng có nét thương mại thô bỉ của tân thế kỷ với những bộ đồng phục gắn huy hiệu quảng cáo.

Buổi chiều tàn dần Vicky nói: “Ấn có thể thắng. Phe tôi phải loại năm đấu thủ nữa.”

Pietersen quất một cú mạnh, bóng bay lên sàn trên của khán giả.

Vicky nói: “Sáu điểm.”

Nhưng một cú đánh mạnh của anh ta bị một cầu thủ trên sân bắt được ở đường biên.

Vicky rú lên: “Fare-thee-well!”[16]

Các cầu thủ đánh bóng kế tiếp bị loại nhanh: bóng bị bắt được, phạm lỗi, chân đặt trước khung thành, và chẳng mấy chốc Ấn Độ có vẻ nắm chắc phần thắng. Chắc thắng, Vicky nói qua chuyện khác: Tôi có con cái gì không? Tôi làm nghề gì? Mỹ có chơi cricket không? Tôi có thích Ấn Độ không?

Thoả mãn với các câu trả lời của tôi, anh quay lại trận đấu. Bây giờ tôi có thể thấy Ấn Độ sẽ thắng và trong phút chốc 50.000 ủng hộ viên đắc thắng sẽ xô ra khỏi sân Ferozeshah Kotla, tìm bọn ferringhis nhợt nhạt như tôi để chế nhạo. Vì thế tôi chuồn, vội vàng đi qua đám nhân viên an ninh, hàng rào sắt, máy dò kim loại, và hàng hàng lớp lớp cớm cầm lathis – khúc cây dài để đánh lùi đám đông hỗn loạn. Những người nom dữ dằn này đã tập trung ở lối ra.

Tôi không phải là kẻ duy nhất vội vã. Một ông người Ấn vạm vỡ, y phục chỉnh tề, áo vét trắng đang dẫn bà vợ qua máy dò kim loại. Ông có thể là một đại gia, bà có thể là một maharani, bà hoàng. Bà làm máy dò kêu lên, nhưng được vẫy tay cho qua, đi tới chiếc xe hơi sang trọng đang đợi có tài xế mặc đồng phục riêng – bà chậm chạp, nặng nề, cố theo kịp ông chồng béo phệ. Bà đeo vòng tay vòng chân, cái vòng cổ dày nặng, và khuyên tai lủng lẳng. Viên kim cương trên mũi bà lớn như hạt quả sồi.

Ra đến ngoài sân vận động tôi vẫn nghe tiếng đám đông. Trong một nước có ý thức đẳng cấp, đầy chia cách, toàn thể đám khán giả xem đấu cricket đồng thanh reo hò, như thể rất đoàn kết – biểu lộ sự tự trọng, vui mừng, quả quyết, tự mãn, như tiếng vọng hả hê khàn khàn của Amar Singh đã nói với tôi ở Amritsar: “Bây giờ chúng tôi là đại cường.”

Tối hôm đó, như thể xảy ra đúng lúc mong đợi, một bà Mỹ và chồng vào sảnh đường khách sạn tôi ở, tôi tránh qua một bên để họ đi qua. Họ vừa mới về sau một chuyến đi ngắm cảnh ở Delhi, bao gồm mộ Humayun[17] và điện Red Fort[18] và tháp Qutub Minar[19] và cảnh nhiều người Ấn không được chia phần phép lạ kinh tế của đất nước. Bà làm tôi nhớ đến lời căn dặn là đi du lịch ở Ấn không dành cho kẻ yếu lòng, mắt bà đỏ vì khóc, và bà thổn thức, chấm nhẹ cặp mắt sưng húp của bà. Bà đẫm nước mắt liếc tôi, rồi quay đi, lẩm bẩm: “Tôi bất cần. Ngày mai tôi không đi đâu cả.” Rồi, nửa cường điệu, nửa thành thật, nhưng chắc chắn là bực bội: “Walter, thấy họ sống như thế lòng dạ nào chịu nổi.”

 

 

[1] Jorge Luis Borges (1899 – 1986), nhà văn Argentine, nổi tiếng về những chiêm nghiệm triết lý và huyền ảo. [Mọi chú thích của người dịch]

[2] William Blake (1757 – 1827), nhà thơ người Anh.

[3] Một số người Ấn phát âm “sar” cho chữ “sir”.

[4] “Anekantavada” là “phi tuyệt đối”, một trong những nguyên lý cơ bản của đạo Jain, cho rằng sự vật có tính tương đối và đa nguyên, chủ trương chân lý và hiện thực có thể được nhìn thấy qua nhiều góc khác nhau, và không có cách nhìn nào là đúng tuyệt đối.

[5] Tác giả đã đi qua các nước Turkmenistan, Uzbekistan trước khi đến Ấn.

[6] Sahib: tiếng Ấn dùng để gọi một người đàn ông đáng kính.

[7] Kể trong cuốn Great Railway Bazaar, xuất bản năm 1975.

[8] Thủ phủ tỉnh Punjab của Pakistan, và là thành phố đông dân thứ nhì của Pakistan, sau Karachi.

[9] Thành phố lớn nhất tỉnh Punjab của Ấn Độ, cách biên giới Pakistan độ 170km.

[10] “Scheduled classes”, tầng lớp được Hiến pháp Ấn chính thức xác nhận là bị thua thiệt.

[11] “Caste”, địa vị xã hội có tính cha truyền con nối và không thể thay đổi trong Ấn giáo, gồm có bốn tập cấp chính: tăng lữ Brahman; vua, chiến sĩ Ksatriya; bình dân Vaisya, như nông dân, địa chủ hay thương gia; và tiện dân Sudra hay Dalit bị coi là ô uế, làm những việc như thuộc da, dọn rác hay thiêu người chết.

[12] Thủ phủ của tỉnh bang Himachal Pradesh phía bắc Ấn Độ.

[13] “capacious”.

[14] Giải cricket giữa hai đội giỏi nhất của Anh và Úc.

[15] “Leg before wicket” khi bóng đáng lẽ đụng khung thành nhưng bị cầu thủ đánh bóng dùng thân mình (ngoại trừ bàn tay cầm gậy đánh bóng) cản lại.

[16] “Farewell”: từ biệt.

[17] Humanyun, tên thật Nasir-ud-Din Muhammad (1508 Kabul – 1556 Dehli), hoàng đế thứ hai của Đế quốc Mughal (1526 – 1857), cai trị vùng đất ngày nay là Afghanistan, Pakistan và một phần của Bắc Ấn.

[18] Cung điện từ năm 1639 đến 1857 của triều đại Mughal, xây bằng sa thạch đỏ.

[19] Tháp đền thờ Hồi giáo, xây bằng sa thạch đỏ và cẩm thạch, cao 73 mét, đường kính đáy tháp 14,3 mét.

bài đã đăng của Paul Theroux

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)