Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Du Lịch, Ký Sự, Sang Việt ngữ Email bài này

Ghost Train – Chương 12: Chuyến xe lửa đêm đi Mumbai; Chuyến tốc hành “Siêu Nhanh”


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 17.12.2021

 

 

Chương 12

Chuyến xe lửa đêm đi Mumbai

Chuyến tốc hành “Siêu Nhanh”

 

 

Du khách thấy trung tâm yêu kiều của Jaipur, một kinh thành hồng với đền đài và cung điện – voi bôi màu, pháo đài kỳ diệu, tất cả đều bụi bặm nhưng đẹp, như phụ nữ Rajasthan quấn lụa lộng lẫy và đeo khăn che mặt viền vàng. Nhưng hành khách đi xe lửa thấy một Jaipur khác, để rồi bắt đầu hiểu tầm vóc thật của thành phố. Thành phố lan tới chân trời, ba triệu dân, đa số sống trong nhà một hoặc hai tầng. Ba mươi phút sau khi rời ga, và đã cách xa phi trường, chúng tôi vẫn băng ngang mép ngoại ô thị trấn Sanganer xa xôi – đổ nát nhưng vẫn là nơi đầy đền đài với cổng tam quan. Vài giờ sau, xe lửa chạy qua một cánh đồng vàng, phẳng và khô ngút tầm mắt, thỉnh thoảng có cây. Một số đã cày bừa, chờ trồng trọt, và những đàn dê ăn cỏ. Và thật là một vùng quê bao la bát ngát. Trên đất nước hơn một tỉ dân này – khung cảnh vắng hoàn toàn.

“Siêu Nhanh” có thể là gọi nhầm tên cho chiếc xe lửa này – chạy 18 tiếng, rời Jaipur lúc 2 giờ trưa, đến Mumbai lúc 8 giờ sáng hôm sau – nhưng nói trại cho hoa mỹ cũng tiện. Tôi phải ghi chép cho kịp, và tôi trở nên mê mải với cuốn The Great Mutiny. Chuyến đi này dài 720 dặm.

Ông Gupta ở cùng khoang với tôi, bị công ty viễn thông của ông thuyên chuyển tới Mumbai.

Ông Gupta nói: “Thuyên chuyển bất ngờ và căng thẳng lắm. Tôi đi xe lửa vì tôi cần nghỉ ngơi. Máy bay rắc rối. Ông vội vội vàng vàng rồi ông đợi. Nhiều khi máy bay bay vòng vòng nửa tiếng. Thật là lố bịch.”

“Ông có chỗ ở trong Mumbai chứ?”

“Tôi sẽ ở khách sạn một tháng. Khi đó tôi tìm chỗ, rồi vợ con tôi sẽ theo.” Ông nói lúc đang gọi điện thoại cho vợ, và khi cúp máy ông nói: “Ông thấy Ấn Độ thế nào? Thân thiện chứ?”

“Ồ vâng. Không gặp rắc rối gì.”

“Đây là Sawai Madhopur. Gần đây có khu bảo tồn cọp, ở Ranthambore.”

Về sau tôi được biết “Khu bảo tồn” là có thể nói hơi quá: chỉ có độ 20 con cọp, con số ngày càng nhỏ vì bọn săn lậu hoạt động liên tục. Vùng này hồi xưa là đất săn riêng của hoàng gia Jaipur, và nhiều con thú rốt cuộc bị nhồi bông và nhìn lom lom từ trên vách tường hoa mỹ ở Rambagh Palace và Amber Fort.

Chúng tôi lao vào dãy đồi dài, nhấp nhô, nâu khô và trụi cây, giáp ranh các thung lũng trồng cấy. Phụ nữ mặc sari đẹp, màu vàng và cam, làm vườn với cái cuốc nặng và đội vại nước trên đầu, chững chạc bước trên lối hẹp, qua đàn dê và gà, giống như hình trong các bản in khắc đồng cổ xưa.

Đến xế chiều nhiều nhóm người tụ tập trên ruộng lúa mì để gặt, kẻ cúi gập người cắt lúa, kẻ khác buộc nó thành bó – không một dấu hiệu cơ giới hoá nào. Tất cả có vẻ cổ xưa. Và nơi đây cách Ga đầu mối Kota chỉ vài dặm, tuy làng mạc bao quanh là những ngôi làng tầm thường nhất tôi đã gặp ở Ấn, nhưng bản thân Kota là thành phố kỹ nghệ, có nhà máy nguyên tử không xa lắm, và hiện đại tới mức cực kỳ ô nhiễm (sách du lịch: năm 1992 “mức phóng xạ cao hơn mức ‘an toàn’ rất nhiều”). Đó là một phần của toàn cảnh: buổi chiều nóng bức kéo dài ở miền quê Ấn Độ, với lưỡi cày cổ xưa, lúa mì gặt bằng tay, vại nước mang từ giếng làng về, và kế cận là nhà máy điện nguyên tử rỉ phóng xạ.

Chẳng bao lâu chúng tôi tới gần đất cày và người gặt, và trong ánh nhá nhem một nhóm lao động đang puja, cầu khấn, như một phiên bản kiểu Ấn của bức tranh The Angelus của Millet.[1]

Ông Gupta nói: “Dân ở đây làm việc rất cực nhọc.”

Chúng tôi đi ngang một ông đang cày. Tôi nói: “Họ nhìn về phía trước. ‘Ai đã cầm cày mà còn ngoái nhìn lại thì không xứng với Thiên quốc.’”[2]

“Ai nói vậy?”

“Jesus. Trong Thánh kinh.”

“Hay lắm.”

Đêm xuống trên thung lũng bát ngát, đây đó tôi thấy ngọn lửa nến trong các căn chòi nhỏ. Một người bán thức ăn vào khoang mời tôi mua một món chay đặc sản giá 45 rupee – một đô la. Thế là ông Gupta và tôi mỗi người mua một khay. Trong lúc chúng tôi ăn và trò chuyện, một hành khách nữa vào rồi lên tầng trên. Anh ta bán khăn choàng, trên đường đi Mumbai để chào hàng.

Điện thoại ông Gupta reng liên tục. “Ông thứ lỗi cho tôi nhé? Xin lỗi đã quấy rầy, nhưng con bé bốn tuổi của tôi nhớ tôi quá. Tôi phải an ủi nó.”

Ông nói chuyện với đứa con gái nhỏ của ông ba lần nữa trước kia đi ngủ. Ông là một trong những thanh niên tỉnh lẻ đến nhập với 20 triệu dân Mumbai.

Dưới ngọn đèn nhỏ trên giường, tôi đọc The Great Mutiny, rồi thiếp ngủ và lao vào giấc mơ đẫm máu bắt nguồn từ trận binh biến ấy, cuồng tín tôn giáo, trả thù, và tình trạng vô chính phủ.

Đến sáng, ông Gupta và anh bán khăn choàng thức dậy thu dọn hành lý. Họ xuống xe ở Santa Cruz, tôi tiếp tục đi hết chặng đường đến trung tâm thành phố.

*

Những người cuồng nhiệt theo đuổi sự nghiệp ở Mumbai thường nói huyên thuyên về cách nơi ấy phất lên, như thể bỏ cái tên Bombay cũ của nó là họ đã lập nên một thành phố mới. Niềm hãnh diện trì độn của họ thật kỳ lạ trong một đất nước đắm say quá khứ, ám ảnh với sự phức tạp của chính nó, nơi lòng hoài cổ là tình cảm chỉ đạo. Nhưng hơn một tỉ dân Ấn khao khát muốn hoà nhập với thế giới rộng lớn hơn – và không chỉ hoà nhập, mà còn muốn thế giới có ý khen họ, có ấn tượng tốt về lịch sử của họ, về bản chất đạo đức và tính cần cù của họ, về niềm vui không ngượng nghịu khi họ nói tràng giang đại hải, ý thích dạy đời oang oang, và phong tục đặc dị lâu đời của họ: cách họ tránh giết con bọ chét, cách họ thờ lingam (“con cu đó, sar”), cách họ uống nước sông Hằng, cách họ xoa dịu nữ thần Lakshmi để làm giàu, cách họ đồng ý thiêu quả phụ và mai mối hôn nhân, cùng lúc đó họ kể tiến bộ của họ trong việc đầu tư tư bản, phần mềm vi tính, lò phản ứng nguyên tử, hay ngành vật lý thiên thể.

Một bà Ấn ở Mumbai, mắt bà loé lên thách thức, nói với tôi: “Đây là Arun, chồng tôi. Chúng tôi cưới nhau không vì tình. Cha mẹ chúng tôi xếp đặt. Chúng tôi chẳng biết gì về nhau. Chúng tôi rất hạnh phúc. Chúng tôi có ba đứa con. Chúng tôi sẽ dàn xếp hôn nhân cho chúng, dĩ nhiên sau khi hội ý với chiêm tinh gia.”

Bà khoe khoang, cố đánh bẫy tôi. Tôi đã định nói: “Buồn cười ghê, tôi kiếm vợ trong quán rượu,” lúc chồng bà bắt đầu huyênh hoang là Ấn Độ dẫn đầu thế giới trong việc thu gom các công ty thép trên thế giới lại. Tôi không nói: “Tại sao thuê các nhà phân tích thị trường ở Ấn Độ làm gì, khi ông có thể nhờ thầy bói và chiêm tinh gia?”

Mumbai là niềm kiêu hãnh của Ấn Độ, là hình ảnh nó muốn thế giới khâm phục. Tôi thấy thành phố lớn hơn. Ranh giới Mumbai rộng ra hàng dặm. Lần đầu tôi đến nó mới tới Mahim; bây giờ nó nới thêm 13 dặm về phía bắc, tới Thana và Mahisa. Nhưng Mumbai hoành tráng cũng là chỗ cho khu ổ chuột lớn nhất Á châu. Đi xe buýt và xe lửa từ ngoại ô vào Mumbai có thể mất hàng giờ. Hai phi trường của nó bị tràn ngập vì phát triển, chúng gần trung tâm Mumbai làm ta hiểu lầm về kích thước của một thành phố đang lan ra phía bắc và phía đông, tràn vào khu ngoại ô rộng thấp với các căn chòi ven bìa quận Colaba nhộn nhịp, nơi có các toà cao ốc, nhà thờ, và toà thị chính có kiến trúc Ấn-Saracenic kỳ lạ của thời Raj[3], vốn bị chế giễu là “kiểu Gothic thất bại.”

Một doanh nhân Mỹ nói với tôi: “Khi tôi từ New York trở lại Mumbai tuần trước, tôi thấy một toà nhà mới dựng lên. Mumbai không phải là Thượng Hải, nhưng nó phát triển nhanh. Về cơ bản cứ mỗi tuần là có một cao ốc mới.”

Thật sửng sốt khi đi từ vùng quê, nhất là từ các tỉnh sa mạc phía bắc, tới thành phố lớn nhất Ấn Độ và cũng là một trong các thành phố lớn nhất thế giới. Từ đồng bằng vàng cháy qua các làng nhỏ bụi bặm tới hải cảng khổng lồ này, đầy cứng người, đường phố tối tăm chen chúc xe cộ bấm còi. Dân số chính thức là 17 triệu; không chính thức hơn 20 triệu, và còn tăng. Và vì nóng và phần lớn cuộc sống ở ngoài trời, lồ lộ, Mumbai như một thành phố không tường.

Một bà Ấn làm cấp quản trị của một công ty lớn bảo tôi: “Người nước ngoài đến toàn nói về dân nghèo. Tôi muốn hỏi ‘Còn dân nghèo ở nước ông thì sao? Ấn Độ có nhiều thứ hơn người nghèo.”

Đúng, nhưng Ấn Độ có người nghèo. Dù sao đi nữa, thống kê của Ấn khổng lồ và không hiểu nổi, giống như con số của Trung quốc. Khi người Ấn nói, như một người bảo tôi: “Có 250 triệu người Ấn trung lưu, tốt lắm, nhưng 400 triệu sống dưới mức nghèo,” thì làm sao trả lời? Hai trăm năm trước, nhà văn Pháp Chamfort viết một câu súc tích mô tả Paris là “thành phố của trò giải trí, lạc thú, vân vân, trong đó bốn phần năm cư dân chết vì túng thiếu.” Bạn có thể nói tương tự với bất cứ thành phố nào ở Ấn Độ.

Nếu ngoảnh mắt khỏi các khách sạn mới hay tổng đài điện thoại mới, Ấn Độ nom vẫn nghèo như xưa. Tôi nhớ câu của V. S. Naipaul[4] viết trong An Area of Darkness (1964): “Ấn Độ là nước nghèo nhất thế giới. Do đó, thấy cái nghèo của nó là nhận xét chẳng có giá trị gì.” Nhưng điều ấy không còn đúng nữa.

Đúng hơn phải nói cảnh nghèo ở Ấn hiện nay là một loại thịnh vượng éo le: nửa tỉ người kiếm một đô la mỗi ngày để sản xuất thực phẩm thặng dư cho Ấn Độ; thợ thuyền lam lũ trong nhà máy là xương sống của kỹ nghệ dệt; và nhân viên rẻ mạt là lực lượng lao động của khu vực kỹ thuật cao. Toàn bộ nền kinh tế Ấn Độ vận hành được nhờ người nghèo, lương thấp, và dĩ nhiên nhờ sự tận tâm nghề nghiệp ghê gớm của họ, vốn là kỷ năng sinh tồn và bản năng ở Ấn. Orwell viết: “Mức sống cao chúng ta được hưởng ở Anh quốc tùy thuộc vào việc nắm vững Đế quốc. Để nước Anh có thể sống thoải mái, thì 100 triệu dân Ấn phải sống gần bờ vực chết đói.”[5] Sự tuyệt vọng của dân trong khu ổ chuột có thể gây choáng váng. Khi Naipaul đến thăm một chawl, chung cư ổ chuột, để viết cuốn India: A Million Mutinies Now (1990), ông ghi: “Tôi thối chí, nghẹt thở, bao tử nhộn nhạo, vì mùi ở lối vào, vì rác nhoe nhoét và mèo mẹ mèo con bới tìm thức ăn trên một hiên nhỏ, rồi thình lình trong hành lang tối, mùi cống nghẽn nồng nặc làm tắc cuống họng tôi …” Vân vân, nói ra cũng thừa. Ông choáng váng, kinh hoảng, gần như bất tỉnh vì điều ông thấy, và hình như đã đổi ý khi bàn về người Ấn nghèo. Nhưng ông là một trong ít người viết du ký đã đi lại dấu chân mình trong các cuốn sách viết sau đó về Ấn Độ.

Khác với người nghèo ở Âu châu hay Mỹ châu hay ngay cả Trung quốc, người nghèo ở Ấn luôn luôn hiện diện. Ở đâu người ta dựng lều vải nhựa trên vỉa hè của một phố chính – không phải một hay hai lều mà nguyên một rừng lều và chòi? Họ sống ở nhà ga xe lửa, ngủ ở ngưỡng cửa, lom khom dưới cầu và rầm xe lửa. Họ sống như thế cho an toàn và cũng thuận tiện, vì họ không phải là kẻ ăn bám hay lười biếng mà họ là công nhân lương rẻ mạt, thật ra nhiều người ở lậu làm việc ở Mumbai. Trong số những người nghèo nhất là dân Koli, con cái của những cư dân đầu tiên (thành phố mang tên vị thần bảo hộ của họ, Mumbai-Devi). Đa số dân Koli là ngư phủ sống ven biển trong các lán nhà đen đúa tả tơi, gần một trong những quận đắt tiền nhất Mumbai.

Với sự nghèo đói hiển nhiên và sờ sờ trước mắt, người ngoại quốc đôi khi bật khóc, cho tới khi họ học được mẹo của người Ấn là chỉ nhìn hậu cảnh, nơi các toà nhà mới đang cao dần. Khi tôi ở Mumbai, hội đồng thành phố phát động “chiến dịch dẹp sạch lều lán khỏi đường phố và lối đi bộ.” Ngày đầu tiên một ngàn chỗ ở như vậy bị kéo đổ và người sống trong đó chạy tứ tán. Trong một buổi sáng hơn sáu ngàn người không còn chỗ ở.

Một trong các nạn nhân nói: “Chúng tôi đi đâu? BMC[6] cào nhà chúng tôi.”

“Nhà chúng tôi” là chữ đáng chú ý. Nhà làm bằng cành cây, nhánh cây, gỗ phế thải, dây buộc, miếng nhựa dán viền cạnh, vải, chăn, giấy bìa, ván ép giập nứt, vải bạt mòn nhẵn; mỗi cái có một ngọn đèn lồng lấp lánh và bếp nấu ăn.

Dân ở lậu sống thường trực ở mọi thành phố Ấn, lán lều có vẻ tạm bợ của họ giống như tổ chim, cũng được hoá trang, đan chặt, và cũng phức tạp; và họ có người đồng cảnh ngộ trong mọi thành phố trên thế giới. Một bà Ấn bảo tôi: “Còn dân nghèo ở nước ông thì sao?” Ồ, đúng. New Orleans là một thí dụ sống động về một nơi người nghèo ẩn nấp và không thể tiếp xúc. Hình như trước khi họ bị nước lụt của trận bão Katrina lùa ra thì không ai biết họ hiện hữu, và người ta cũng chẳng biết làm gì với họ.

Có một cuốn du ký buồn thê thảm viết về người nghèo ở Mỹ. Vấn đề là làm cách nào xâm nhập vào thế giới ấy? Cuốn sách gần như không viết được, trừ phi người viết thực sự sống ở đó – nhưng sống trong một khu ổ chuột chưa chắc đã cho phép người ta đến viếng hay sống trong một khu ổ chuột khác. Người nghèo ở Mỹ sống trong những nơi nguy hiểm. Vì ngờ vực, hay để tự vệ, hay vì cảnh sát làm ngơ hay vì băng đảng quấy rối, nên chính họ đã tạo ra sự nguy hiểm này, để cách ly họ khỏi nhà cầm quyền hay người ngoài, bất cứ ai tò mò sẽ bị coi là kẻ thù (có lý do). Tôi chưa bao giờ thấy cộng đồng nào ở Ấn tuyệt vọng, hay kín đáo về sự nghèo khó của họ, hay hung hãn đe doạ, hay buồn bã và khó chịu, như ở thị trấn đổ nát East St. Louis, tiểu bang Illinois, mà bên kia sông Mississippi là thành phố trù phú St. Louis, thuộc bang Missouri. Nhưng tôi có thể hình dung nhiều người ở St. Louis sẽ khóc khi thấy sự nghèo khó ở Ấn Độ. Họ không dám băng qua dòng sông của họ để thấy tình trạng đổ nát và sự khốn cùng tự khép kín trên bờ bên kia.

Chúng ta có thể tới với người Ấn nghèo, trò chuyện với họ, thường là tương đắc và thân thiện, và nói chung không đe doạ. Không ai có thể đi du lịch giữa dân Mỹ nghèo như cách tôi đi giữa người Ấn nghèo, hỏi những câu tọc mạch. Ông bà tên gì? Ông bà sống chỗ này bao lâu rồi? Ông bà làm việc ở đâu? Kiếm được bao nhiêu tiền? – những câu du khách thường hỏi. Tôi được nghe trả lời, thậm chí nhận được lòng hiếu khách. Trong một chỗ tương tự như thế ở Mỹ – khu đổ nát ở Jackson, bang Mississippi, xóm Roxbury ở Boston, phố Anacostia ở Washington, D.C., và nhiều nơi khác – tôi sẽ bị đe doạ hay bị cướp hay bị xua đuổi vì dám hỏi những câu đó. Mày muốn gì? Là câu trả lời có thể hiểu được. Nhưng ở Ấn Độ tôi được đón tiếp một cách không ngờ tại những nơi như khu ổ chuột, lều ở lậu, chung cư chawl hôi hám, xóm nghèo bustee nồng nặc.

Một thanh niên tên Kartik nói với tôi trong khu Dharavi ở Mumbai: “Đây là khu ổ chuột lớn nhất Á châu – báo nói như vậy.” Cái tên Dharavi trên thực tế đồng nghĩa với tuyệt vọng: 210 hecta giữa thành phố, 600.000 dân và những số thống kê tàn nhẫn, và Dharavi lừng danh “800 người có một phòng vệ sinh công cộng” – thử hình dung một hàng người rất dài nhấp nhổm không đợi được – là tin bịp bợm, vì tôi thấy hôi hám rõ tới nỗi nhiều người ở Dharavi coi phòng vệ sinh công cộng là vật dị thường thừa thãi.

Dharavi lên báo, vì sự phồn vinh mới của Mumbai khiến cho đất khu ổ chuột trở nên có giá. Mumbai thực ra chiếm gần hết hòn đảo Salsette khổng lồ, và hầu hết đất đã có chủ. Đang có dự tính giật sập Dharavi để xây nhà đắt tiền cho tầng lớp đang lên của Mumbai mới. Ý định phá hủy Dharavi là thí dụ điển hình về lòng tham xảo trá của bọn đầu cơ bất động sản, vì chữ “khu ổ chuột” không thật sự mô tả nó. Dharavi không là khu vực hôi hám tuyệt vọng, mà là khu tự cung tự cấp của nội thành, thật ra bản thân nó là một thành phố, và nhiều nơi ở đó trông không khác lắm với các chỗ khác ở Mumbai. Chẳng hạn, khu chợ Chor cũng xiêu vẹo và tồi tàn, nhưng đầy nghẹt cửa hàng sầm uất và nhà cửa hỗn loạn và băng đảng Ấn. Băng đảng Ấn, ở đây cũng như các nơi khác, là bọn thanh thiếu niên the thé hình như điên rồ vì muốn làm anh hùng hay bị đè nén dục tính – nhưng phần lớn là bị đè nén dục tính và tìm cách xả, bằng bàn tay ham hố, cặp mắt say sưa, và khuôn mặt hăm hở chửi mắng và bọn thủ dâm.

Gia phả Kartik là tiêu biểu. Cha anh từ tỉnh bang Tamil Nadu phía nam lên hồi ông 15 tuổi. Ông có họ hàng sống ở Dharavi. Ông ở chung một phòng nhỏ với năm đứa con trai khác và làm trong khách sạn, dọn bàn, lương chừng 2 đô la một tháng – tình cờ khi đó cũng là lúc tôi đi chuyến Railway Bazaar năm 1973. Khoảng một năm sau, cha Kartik tìm được một việc tạm bợ với Hoả xa Ấn Độ, dọn toa, lương 4 đô la một tháng. Việc này đưa tới một việc khác đúng nghĩa, và ông được dạy nghề làm thợ ống nước, trông coi mấy thùng nước trên đường ray. Ông vào nghề với lương 900 rupee một tháng (khoảng 20 đô) và bây giờ kiếm được khoảng 7.000 rupee (150 đô). Trong thời gian đó, hơn 30 năm, ông cưới vợ và gầy dựng gia đình, nhưng chưa bao giờ dọn ra khỏi khu ổ chuột Dharavi.

Kartik nói: “Ổng vui. Ổng no bụng. Ổng không xin ai. Nhưng chúng tôi nghèo, và chúng tôi vẫn nghèo. Anh tôi thất nghiệp. Tôi có việc làm vì tôi xoay xở đậu bằng lái xe hồi 16 tuổi. Mumbai có rất nhiều việc cho tài xế đáng tin cậy và thành thật.”

Chúng tôi ngồi trên ghế đẩu trước căn chòi do cha anh xây dựa vào một chòi khác. Kartik không muốn cho tôi xem bên trong. Anh nói anh đang đợi người đến sửa lại nó, nhưng tôi hiểu là anh ngượng vì kích thước của nó, thật như cái chuồng gà, chung quanh dơ bẩn và tiếng ồn không thể tưởng tượng làm tấm vách mỏng của nó phập phồng.

Anh nói: “Nhưng kỹ sư phần mềm cũng sống trong khu ổ chuột Dharavi này. Họ làm cho IBM, kiếm 40.000 rupee mỗi tháng” – 900 đô la. “Bạn tôi cưới một cô ở Mỹ. Nó là dân Tamil, tên Shekhar. Cô ta thuộc gia đình giàu. Của hồi môn của cô ta là một ký lô vàng và hai trăm ngàn rupee” – 4.500 đô – “và chiếc xe gắn máy.”

“Tương lai vợ con của anh thế nào?”

“Số không. Tôi muốn gặp một cô như vậy.”

Sống ở một chỗ chật chội như vậy cũng có những hậu quả khác. Theo tờ Hindustan Times, một nghiên cứu mới đây về 3.600 cô gái ở Delhi cho biết trong 8 cô có một cô bị người trong gia đình hãm hiếp, và ba phần tư các cô sợ bị người trong gia đình hãm hiếp.

Tôi từ biệt Kartik và đi bộ tới khu lành mạnh hơn ở Mumbai, cứ đi theo các ngõ hẻm vì đám đông chen chúc và xe cộ trên đường chính. Khi tôi đến khu Church Gate, cắt qua một đường rộng cấm xe, một bà già quấn sari xanh bước nhanh để bắt kịp tôi và hỏi tôi từ đâu đến. Khi tôi nói, bà nói: “Chào ông.”

Ba đứa nhỏ đi cùng với bà: một đứa con gái độ 10 tuổi, một đứa con trai độ 14, và một đứa con gái gày gò lớn hơn, có lẽ 16. Chúng đều có vẻ thiếu ăn, khó đoán tuổi chúng. Đứa con gái lớn bắt mắt tôi vì nó duyên dáng và mặc váy sa dày của dân Gypsy. Đáng chú ý nhất là cánh tay trái của nó bị cụt.

Bà già nói: “Có lẽ chúng tôi giúp được ông. Ông tên gì?”

“Tôi là Paul. Đây là con bà?”

“Tôi là cô của chúng.”

Tôi hiểu bà ta nói gì. Trời vừa chập tối, hơi mát và bóng đêm toả xuống, và tôi muốn biết bà ta mời gì. Du khách khác kẻ lữ hành ở điểm này. Du khách sẽ đến đền đài hay viện bảo tàng; tôi đến khu ổ chuột, và tò mò tản bộ với Mistress Overdone[7] gạ gẫm, chủ chứa, và ba đứa trẻ có vẻ sa đoạ của bà.

Tôi hỏi: “Bà muốn gì?”

“Nói chuyện thôi, thưa ông.”

“Cứ nói đi.”

“Mình nên vào trong đó nói chuyện” – bà chỉ một quán trà.

Thế rồi bà ta đi trước vào quán, vào đó tôi ngồi trong một ngăn bên cạnh đứa con gái gày gò một tay, bà già và hai đứa kia ngồi đối diện bên kia bàn.

Bà ta nói với người bồi: “Trà sữa, trà sữa.”

“Mấy đứa muốn gọi món gì khác không?”

Đứa con gái nhỏ gọi kem, đứa con trai thích bánh samosa[8], đứa con gái một tay nói trà là được rồi, và nó rụt rè nhấp từng hớp, nhích lại gần tôi.

Bà già chỉ ra cửa sổ quán trà và nói: “Chúng tôi ở gần đây thôi, năm phút.”

Tôi liếc đứa con gái một tay đang mỉm cười lo lắng nhìn tôi. Đôi mắt trũng sâu của nó vàng một cách lạ lùng, như mắt của con thú đêm, và làn da cánh tay nguyên vẹn của nó, ép bên tay tôi, rất khô và nhiều lông, cho thấy thiếu ăn.

Tôi chắc chắn nơi vắng vẻ này rất tốt để bà già gạ gẫm bán dâm ba đứa trẻ. Đây là một quận khá ở Mumbai, và bà ta hẳn đã may mắn níu kéo nhiều người ngoại quốc như tôi, nếu không bà ta đã không tự tin như thế. Tôi muốn bà ta nói với tôi những gì bà ta đang nghĩ – việc gì, giá bao nhiêu, bao nhiêu lâu, bà ta hứa hẹn gì.

Bà ta đã nói là sống gần đây; bây giờ bà ta bắt đầu cho tôi biết chỗ đó sạch sẽ và kín đáo. “Yên tĩnh lắm, thưa ông. Toà nhà rất tốt.”

Tôi có nhiều câu hỏi. Nhưng người ra vào quán làm tôi không hỏi được. Quán là một thứ nhà hàng bán thức ăn nhẹ, đĩa thức ăn bày trong tủ kính – bánh bao và samosa và bánh mì kẹp thịt. Chúng tôi ngồi gần lối vào, và mọi người ra vào – đa số là đàn ông – đều nhìn tôi đăm đăm. Lúc đó khoảng sáu rưỡi chiều. Tôi là người ngoại quốc duy nhất trong quán, và tôi ngồi trong một ngăn với mụ tú bà và hai đứa nhỏ vàng ủng có vẻ trụy lạc và một cô điếm vị thành niên.

Tôi muốn hỏi, Bao nhiêu? Câu chuyện thế nào?

Tôi định hỏi tên chúng, nhưng tôi thấy nếu tôi hỏi thì người chung quanh sẽ nghe và lập tức biết chuyện gì đang xảy ra. Tôi cố giả vờ chúng tôi là bạn cũ.

Tôi nói: “Nó đói thật! Muốn ăn kem nữa không?”

Ba thanh niên nom dữ dằn bước qua, rồi chọn chỗ ngồi trong ngăn đối diện, nơi họ có thể nghe và thấy hết.

Tôi khép nép, nghĩ mình như thế nào. Tôi muốn nói: Tôi là người đi đường. Tôi đang viết một cuốn sách. Tôi chỉ hỏi thôi. Tôi không có ý định gì với mấy đứa trẻ này!

Bà già có lẽ nhận ra tôi cảm thấy ngượng nghịu, nói: “Mình đi.”

Tôi nói: “Này, tôi sẽ ở quanh đây khoảng một tuần. Lúc này tôi bận lắm. Mình có thể gặp lại.”

Bà già nói: “Khi nào? Ở đâu?”

Tôi nói mập mờ: “Bất cứ chỗ nào.”

Bà ta nói: “Ngày mai, mấy giờ?”

“Bất cứ lúc nào. Tôi sẽ tìm bà – ở đây,” rồi tôi đặt xuống 200 rupee. “Để trả tiền thức ăn.” Rồi tôi thì thầm, “Tôi phải đi.”

“Ông Paul!” người đàn bà gọi lúc tôi len ra khỏi chỗ ngồi. Lúc này mọi người đăm đăm nhìn tôi, nghĩ, Thằng điếm đàng! Tôi vội ra cửa, lẩm bẩm, “Mình dông khỏi chỗ này.”

Nhưng nhiều ngày sau tôi cứ nghĩ về hai đứa nhỏ, đứa con gái một tay, chúng đói, chúng gục đầu nhấp trà và ăn một cách chăm chú và đói khát, với niềm vui thú vật. Tôi không gặp lại chúng – tôi có đi tìm. Chắc chúng đã tìm được một người ngoại quốc khác.

*

Giết thời giờ ở chợ Chor, Chợ Kẻ Cắp, tìm tranh vẽ ngược trên kính ở dọc Phố Mutton, phần lớn là người Hồi bán kính, đồ sứ, đồ bạc và đèn, tôi lang bang vào một hẻm nhỏ để xem tiền xu cũ và gặp một ông nói ông ngưỡng mộ George Bush. Nấn ná và ba hoa để ông bán đồ cổ cảm thấy thoải mái, thường khiến ông ta sẽ mở tủ và ngăn kéo cho tôi xem nhiều món đồ, nhưng không bán, chỉ để thấy nó lạ nó hiếm – một món đồ gốm cổ, miếng ngói sứ, viên ngọc trắng, một bình vôi hình dáng âm hộ, mặt dây chuyền sọ khỉ từ tỉnh bang Nagaland, cái sọ người từ Tibet.

Ông bán hàng Rajendra vừa mở nắp cái hộp thuôn vừa nói: “Xem món này nè, đồ Ba Tư.”

Ông cho tôi xem con dao găm dài ba tấc, bằng bạc khảm vàng, khắc tỉ mỉ bài thơ tiếng Ba Tư, có cái cán lớn bằng ngà. Mở chuôi dao, Rajendra rút ra một con dao nhỏ hơn – một con dao mỏng cán ngà cũng có vết vàng.

“Lưỡi dao Damacus. Rất cổ. Rất hiếm. Rất đắt.”

Một trong các giai thoại đẫm máu về lưỡi dao Damacus là sau khi nung và rèn nó được làm nguội bằng cách đâm vào một người sống, để sức mạnh của kẻ bị giết truyền cho lưỡi dao. Tôi kể chuyện này cho Rajendra.

“Tôi không biết chuyện đó, nhưng …” Ông để ánh nắng nhảy múa trên chi tiết của lưỡi dao và vết vàng trên chuôi và vân ngà. “Vàng ròng. Răng cá voi.”

“Bao nhiêu?”

Ông nói: “Mười triệu! Mười triệu! Nhưng không bán,” rồi sán gần lại, giọng giận dữ, “Tôi muốn đưa nó cho Đại sứ Mỹ ở Delhi. Ông ta có thể cất trong viện bảo tàng, hay tặng Tổng thống Bush, hay bán nó rồi tặng tiền cho các gia đình lính Mỹ chết ở Iraq.”

“Ông muốn tặng con dao găm này cho Bush hả?”

Ông quơ con dao và nói: “Bush là vĩ nhân. Bush đúng! Lịch sử sẽ chứng minh ông ấy đúng.”

“Đúng về cái gì?”

“Hồi giáo! Tính hung ác của nó!” Ông chỉ ra ngoài, chợ Chor đầy cửa hàng của người Hồi bán đồ cũ và sửa xe hơi và sửa đồng hồ. “Bush phải làm. Đọc lịch sử mà xem. Aurangzeb[9] giết cha.”

Ông cũng giết anh em ông. Ông là kẻ cố chấp lừng danh, kẻ xây đền, ông vua tập cấp chiến sĩ. “Chuyện đó, hồi nào, cỡ bốn trăm năm trước?”

“Bọn họ giết thú vật. Bọn họ ăn thịt thú vật. Ông có thấy họ giết dê chưa? Khủng khiếp.”

“Tín đồ Ấn giáo ở Jodhpur giết dê trong lễ tôn giáo. Mấy tuần trước họ giết dê dịp lễ Navratri.”

Rajendra nói: “Nhưng tụi Hồi lấy máu lúc nó còn sống! Chúng tôi cứ gặp rắc rối với tụi Hồi. Đọc lịch sử Ấn mà xem! Hai chục năm trước một maharajah tới tôi mua mấy món. Tôi bảo ông ta, ‘Mấy thứ này nghĩa lý gì. Ông cứ lấy đi. Nhưng tôi cho ông biết Hồi giáo sẽ là vấn đề rắc rối chính của thế giới. Lý do chính của mọi phiền hà trên thế giới.’”

Maharajah nói sao?”

“Ổng đâu có nghe. Nhưng Bush biết. Người ta nói và cả các bạn tôi cũng nói Bush sai. Nhưng không, Bush hết sức đúng. Không có Bush thì thế giới tiêu!” Lúc này ông cầm con dao bằng cả hai tay, như dâng nó. “Tôi muốn tặng con dao này cho những người đã chết. Có lẽ ông có thể nói cho ai đó biết.”

“Ở Mumbai có tổng lãnh sự Mỹ. Cứ gọi cho ông ta nói là ông muốn gì.”

Rajendra cất cây dao găm vào cái hộp lót lụa. Ông nói: “Nếu tôi làm vậy thì người ta sẽ nổi giận, vì thế tôi do dự. Họ sẽ nói, ‘Nó là ai? Một thằng bunniah [nhà buôn]’, nhưng tôi biết tôi đúng. Tôi biết Bush đúng.”

Trong chuyến đi 28.000 dặm và qua hàng trăm cuộc gặp gỡ, tôi gặp hai người ủng hộ tổng thống Mỹ: một ông ở Baku, thủ đô Azerbaijan, muốn Mỹ xâm lăng Iran, và Rajendra. Không còn ai khác.

*

Mọi người ở Ấn – và cả ở Mỹ – nói về hợp đồng với nước ngoài. Ấn Độ may áo, đóng giày và làm đồ điện tử, và khu vực phát triển là IT (information technology, tin học), BPO (business process outsourcing, chuyển giao quy trình doanh nghiệp), và KPO (knowledge process outsourcing, chuyển giao tri thức). Những doanh nghiệp cần nhiều lao động này đã giúp Mumbai bành trướng tới tầm vóc 20 triệu dân ngày nay, khiến xe lửa tràn ngập người đi làm, khách sạn và quán ăn chật cứng, buộc giới địa ốc nhòm vào khu ổ chuột Dharavi để tìm cơ hội. Hàng trăm triệu dân Ấn sống dưới mức nghèo – tỉ lệ tự tử ở nông thôn cao bất thường – nhưng hàng trăm triệu người cũng đang làm ra tiền.

“Phép lạ Ấn Độ,” nhiều người Ấn nói với tôi khi chúng tôi lái qua đường phố ở Mumbai, ngang qua khu ổ chuột, người ngủ trên vỉa hè, người què cụt và khập khiễng. Tôi tự hỏi: Phải chăng phép lạ chỉ là ảo tưởng?

Tôi làm phiền bạn bè giới thiệu tôi với những ai làm ra tiền. Công ty tin học lớn nhất Ấn Độ là Tata Consultancy Services [TCS, Dịch vụ Tư vấn Tata]. Vào lúc tôi đến thăm văn phòng TCS ở Mumbai, công ty trị giá 4 tỉ đô la. Nó có hơn 80.000 nhân viên trong 74 thành phố trên khắp thế giới,[10] nhưng văn phòng ở Mumbai là một trong những nơi lớn nhất, vì gia đình Tata xuất thân từ Mumbai, văn phòng này có lẽ là trung tâm và tổng hành dinh của công ty.

Thay vì đi xe lửa, tôi nghe lời khuyến cáo rằng xe hơi sẽ nhanh hơn. Nhưng xe hơi lâu gấp đôi – một tiếng rưỡi mới đến Vikhroli, trong khu ngoại ô lan rộng của Mumbai. Công ty TCS nằm bên trong bức tường cao, kẹt xe và tuyệt vọng nằm ngoài, bên trong thanh thản, cây cao bóng mát và ngăn nắp, như khuôn viên đại học. Đây là Godrej & Boyce Industrial Garden, và mặc dù Tập đoàn Godrej sản xuất xà phòng, chất tẩy, thuốc nhuộm tóc, dầu chải tóc, tã, “khăn ăn tiệc cưới hợp thời trang”, dụng cụ máy móc, và bàn ghế, nhưng miếng đất rộng sẵn có của nó đã biến nó thành chốn thiên đường để làm hợp đồng cho bên ngoài. Hàng chục công ty Mỹ cũng nằm trong bức tường của khuôn viên rợp mát này.

Ông Burjor Randeria, tổng giám đốc chi nhánh TCS này, nói: “Chào ông.” Ông 61 tuổi, gốc Parsi[11], rất hiếu khách và ân cần. Ông là tín đồ Bái hoả giáo – một ngọn lửa lập loè trên đĩa trên bàn làm việc của ông, nơi có tấm ảnh tôi nghĩ là Ahura Mazda[12]. Ông Randeria nói: “Chúng tôi gọi ngài là Asho Farohar.” Bên cạnh vị thần hộ mệnh râu ria này là chân dung guru tóc xù Sathya Sai Baba, và một bức tượng nhỏ thần voi Ganesh, và một tráp thần chú Ganesh to bằng hộp diêm lớn ngày đêm ngân nga tụng niệm.

Ông Randeria nói: “Nó tạo ra lực thần thông Ganesh. Tôi lúc nào cũng bật nó lên.”

“Nhưng ông theo Bái hoả giáo.”

“Tôi thấy nó dễ chịu.”

Chúng tôi nói về cộng đồng Parsi. Gia đình Tata gốc Parsi, nổi danh làm việc thiện, đã xây nhiều bệnh viện, trường học, trường dạy nghề, và cô nhi viện. Ông Randeria nói trên thế giới chỉ có 73.000 người Parsi, phần lớn ở Mumbai. Dòng dõi họ chết dần.

“Chúng tôi lập gia đình trễ. Chúng tôi ít khi có hơn một hay hai đứa con. Và tín đồ Bái hoả giáo không cải đạo người khác. Ông phải sinh ra là Parsi.”

Ông sinh ra ở Sanjan, tỉnh bang Gujarat. Đó là nơi người Parsi đầu tiên đổ bộ sau khi bị tín đồ Hồi giáo bức hại trong nhiều cuộc thánh chiến từ thế kỷ thứ 8 đến 10, rốt cuộc gần như tất cả người Parsi bị đuổi khỏi Ba Tư. “Parsi” nghĩa là Persian, người Ba Tư.

Trước kia ông Randeria làm việc cho Swissair. Sau nhiều năm tìm nơi ký hợp đồng làm kế toán thu nhập cho Swissair – vì mức lương ở Thụy Sĩ quá cao – năm 1995 ông mở công ty cung cấp dịch vụ hỗ trợ tài chính cho các hãng hàng không. Tata có cổ phần trong công ty này, và Tata cũng có cổ phần hoặc là đồng chủ nhân của nhiều công ty. Cái tên Tata gắn lên phía sau hầu hết xe buýt, xe tải và xe hơi của Ấn Độ. Tata làm chủ công ty Trà Tetley và nhiều cửa hàng bán lẻ. Chuỗi khách sạn Taj do Tata làm chủ, kể cả khách sạn Pierre ở New York và Ritz-Carlton ở Boston hồi trước. Các công ty viễn thông, thép, phần mềm vi tính, điện nước, internet, và bảo hiểm đều có trong tập đoàn Tata.

Một trong những điểm lạ của công ty, do Jamsetji Nusserwanji Tata (1839 – 1904) sáng lập, là một phần đáng kể trong số lợi nhuận khổng lồ của Tata đi vào các nhóm từ thiện. Ngay từ đầu công ty đã tài trợ các viện nghiên cứu và bệnh viện. Ratan Tata, tổng giám đốc hiện thời của toàn bộ doanh nghiệp, là một ông độc thân hơn 60 tuổi, ít ai biết về ông ngoài việc ông sống rất khiêm tốn. Ông tiếp tục xây dựng công ty của ông, mua nhà máy thép và các tập đoàn viễn thông, và gần đây sản xuất xe hơi vừa túi tiền gia đình – và vẫn tìm cách tốt nhất để tặng hầu hết số tiền của ông. Năm 2006, năm tôi thò mũi vào xem Tata Consultancy Services, doanh thu của tập đoàn lên tới 24 tỉ đô la.

Bước qua hành lang cẩm thạch của toà nhà khổng lồ, tôi hỏi ông Randeria ai là đối thủ cạnh tranh của ông.

Ông nói: “Microsoft, Infosys, nhiều công ty khác nữa. Nhưng khẩu hiệu của chúng tôi là ‘Top Ten by 2010’, đứng trong 10 công ty hàng đầu vào năm 2010. Chúng tôi sẽ đạt mục đích đó bằng nhiều cách. Tăng trưởng cả trong lẫn ngoài. Quy tắc hành xử. Văn hoá. Đạo đức. Bành trướng. Cả mua các công ty khác nữa – chúng tôi mới mua Pearl Insurance và nhóm ngân hàng và tài chính Comicron ở Chile. Chúng tôi rất nghiêm túc. Chúng tôi có một văn phòng ở Budapest phục vụ cho các thứ tiếng Âu châu.”

“Tôi có đi ngang Budapest. Tôi nghĩ nhiều người Hungary đang tìm việc.”

“Nếu họ muốn làm việc và có khả năng thì chúng tôi sẽ thuê họ.”

Tôi nói: “Nghe chuyện đó từ một công ty Ấn Độ thật là ngộ.”

Ông Randeria nói: “Nhưng hãy xem các lợi thế của chúng tôi. Tiếng Anh, di sản từ thời Anh cai trị. Và giáo dục. Nói chung chúng tôi là một nước có trình độ học vấn rất cao.”

“Thế thì mọi thứ đều lạc quan.”

Ông biết tôi đang bẫy ông, nhưng ông điềm tĩnh. “Không. Tôi chấp nhận luật chơi, nhưng mọi người đều biết Ấn Độ có tham nhũng và ông có thể mua bằng cấp. Và dân số chúng tôi nữa. Tăng nhanh chóng mặt.”

Năm 1973 có 600 triệu. Bây giờ hơn gấp đôi. Tôi nói: “Ông có thể làm gì được chuyện đó?”

Ông Randeria nói: “Ông chỉ có thể giảm dân số bằng giáo dục. Giáo dục người lớn. Nếu ông có giáo dục, ông sẽ có nhiều nguồn giải trí và kích thích trí tuệ. Nhiều cách dùng thời giờ. Không có giáo dục thì thôn quê chỉ có tình dục.”

“Ông có nhớ trước khi dân số bùng nổ thì Mumbai như thế nào không?”

Ông mỉm cười vì hồi tưởng: “Ồ, nhớ rõ lắm. Hồi tôi còn nhỏ ở Jogeshwar, phố xá vắng tanh lúc bảy tám giờ tối. Trời tối. Cha mẹ tôi muốn tôi ở nhà. Bọn tôi thấy cáo và chó rừng, và rất nhiều rắn. Bây giờ ở đó chật chội lắm.”

Jogeshwar hồi xưa là vùng hẻo lánh trên đảo Salsette và có cái hang nổi tiếng, bây giờ là khu dân số đông và chật ních, cách trung tâm Mumbai khoảng 10 dặm. Ông Randeria nói mỗi ngày có 400 gia đình di cư đến Mumbai – trung bình mỗi gia đình có bốn người.

Quẹt thẻ kiểm tra từ cửa này qua cửa khác, dẫn tôi vào tổng đài điện thoại, ông nói: “Chúng tôi là tổng đài điện thoại cho” – ông nói tên một công ty bán lẻ của Mỹ và bắt tôi hứa là sẽ không tiết lộ – “từ tầng một tới tầng bốn. Nếu ông gặp trục trặc với cái khoan điện của ông thì chúng tôi sẽ giải quyết.”

Ông cho tôi xem các phòng dạy tiếng Anh cao cấp (kể cả dạy giọng Mỹ), và các phòng kỹ thuật nơi nhân viên học cặn kẽ về sản phẩm, để họ có thể trả lời câu hỏi của người mua bị lúng túng hay cần giúp ý kiến.

Làm ơn lấy cái khoá ra khỏi bao, cho khoá vào lỗ khoá của cái khoan, rồi vặn theo chiều kim đồng hồ để siết lưỡi khoan lại … [Please remove the chuck key from the pouch, insert it in the chuck of the drill, and turn clockwise to tighten the teeth against the bit…]

Nhân viên người Ấn thực tập và nhắc lại những câu như vậy trong lớp, rồi nói trên điện thoại, họ đặt cho mình cái tên Mỹ (“Rick”, “Andrea”) và nói giọng Mỹ.

Qua cửa sổ cách âm, tôi thấy các ô làm việc – 60 hay 80 ô mỗi phòng – của nhân viên người Ấn đeo máy nghe, họ đang nói với người gọi bên Mỹ gặp trục trặc với sản phẩm của công ty. Ở đầu một phòng có tấm biểu ngữ lớn ghi: Hôm nay tôi có thể giúp ông bà giải quyết vấn đề gì?

Họ là những người giúp về kỹ thuật qua điện thoại, cách phát âm và cách cư xử của họ phải làm yên lòng người gọi.

Just rotate the prahduct until the bahdum is verdigal, and look for the ten-digit serial number. It should start with B. B for Bahb.[13]

Trong nhóm khác, cách phát âm không quan trọng. Một phòng toàn chuyên viên y tế và bác sĩ, nhận các câu hỏi về y khoa từ một công ty săn sóc sức khoẻ ở Đan Mạch. Họ nói với người Đan Mạch ở Esbjerb, Aalborg và Copenhagen, bù đầu giải quyết các vấn đề liên quan đến bệnh tiểu đường.

Một khu khác của TCS dành cho tính toán: vài ngàn ô làm việc cho thư ký trước máy điện toán đang giúp trang trải số dặm đường của hành khách thường đi máy bay, hoặc lo về giá cả, hoặc giải thích các vấn đề khác liên quan đến vé của các hãng hàng không quốc tế.

Ông Randeria nói: “Ông xem anh này. Anh ta đang nói với một đại lý bán vé ở – có thể là New York, có thể là Dallas – đang có vấn đề với vé.”

Nhân viên trong phòng này không cần nói giọng Mỹ hay có tên Mỹ; họ giúp khi cần người thay thế, giúp trong trường hợp khẩn cấp, và hỗ trợ về kỹ thuật. Căn phòng huyên náo nhiều giọng nói không thể phân biệt, như một chuồng vẹt.

“Các hãng máy bay là khách hàng tốt nhất của chúng tôi. Để được lời tối đa cho mỗi chuyến bay, họ cần ý kiến về quản lý số chỗ và lợi nhuận mang lại.”

Từ vé tới giá tới số chỗ ngồi (tôi hiểu “quản lý số chỗ” là như vậy), tất cả đều được tính toán bởi các chuyên viên ở Vikhroli làm việc ngày đêm suốt năm.

Ông Randeria nói: “Công việc căng thẳng.” Vì vậy TCS có phòng tập thể dục, quán ăn, và bác sĩ nội trú. Và tất cả nhân viên đi làm bằng xe của công ty, được đưa đón ở nhiều trạm trong thành phố.

Tôi hỏi: “Giả thử bị cúp điện thì sao?” Chuyện đó là thường, và được che đậy sơ sài dưới cách nói trại đi là “ngóm”, “tắt điện”, hay “rụng hàng”.

“Tháng Bảy vừa rồi chúng tôi bị cúp điện. Mưa 0,93 mét trong 16 tiếng.” Gần một thước nước mưa trong vòng hơn nửa ngày! Nhưng ông Randeria mỉm cười. “Chúng tôi dự phòng 200 phần trăm. Tôi cho ông xem.”

Ông dẫn tôi đến một toà nhà cao ngất nghểu ở cuối khuôn viên. “Đây là hệ thống cung cấp điện không bị gián đoạn. Nhưng chúng tôi cũng có máy phát điện dự phòng. Ở Ấn Độ thì dự phòng là rất cần.”

Tôi nói: “Có vẻ đây là câu chuyện thành công.”

“Nếu không có tin học và hợp đồng quy trình doanh nghiệp thì Ấn Độ sẽ lạc hậu 20 năm. Xem Trung quốc kìa. Trung quốc đã dẫn đầu về sản xuất đồ điện tử và đang định đi đầu về phần mềm. Nhưng chúng tôi có lợi thế về ngôn ngữ.”

“Có thể nào Trung quốc sẽ học tiếng Anh đủ nhanh để cạnh tranh với Ấn Độ không?”

Ông nói: “Thời gian sẽ trả lời. Chúng tôi rất chú trọng huấn luyện.”

Rõ ràng doanh nghiệp này thành công nhờ có một lực lượng lao động lớn gồm những người nói tiếng Anh lịch sự, thông minh với học vấn tốt và cần tiền; những người không thể rời Ấn Độ; những người thời xưa – như hồi tôi đến đây lần trước – tìm việc làm giáo viên, công chức, kế toán viên, thư ký, và cạo giấy; những người có học làm những việc truyền thống ở Ấn Độ, như học giả và nhà buôn và người bán rong.

Đây là toà nhà sạch nhất và trật tự nhất mà tôi thấy cho tới lúc đó ở Ấn Độ, và khi ra về tôi cố hỏi ông Randeria những câu về huấn luyện và bành trướng và lương bổng.

Ông nhỏ nhẹ nói: “Ông Paul, ông nên xem cách hoạt động của chúng tôi ở Bangalore. Chỉ Bangalore thôi là ông sẽ hoảng hồn.”

 


Chú thích:

[1] Jean-François Millet (1814-1875), hoạ sĩ Pháp, thường vẽ cảnh cuộc sống nông dân theo phong cách hiện thực. Bức The Angelus vẽ hai nông dân đang cầu nguyện trước một rổ khoai trên cánh đồng lúc trời chiều.

[2] Luke 9:62, đây là câu nói của Jesus đòi hỏi môn đồ phải từ bỏ mọi sự.

[3] Indo-Saracenic là kiểu kiến trúc cuối thế kỷ 19 ở Ấn thời Raj, thời đế quốc Anh cai trị Ấn. Các kiến trúc sư Anh pha trộn kiến trúc Ấn và Ấn-Hồi giáo, với kiến trúc Gothic và Tân cổ điển thịnh hành thời nữ hoàng Victoria (trị vì 1837-1901). Saracenic là chữ người La Mã xưa dùng để chỉ dân sống ở sa mạc Ả Rập, nhưng không phải là người Ả Rập.

[4] V. S. Naipaul sinh năm 1932 tại Trinidad, là nhà văn Anh, được giải Nobel Văn chương năm 2001.

[5] George Orwell (1903-1950), nhà văn Anh, sinh ở Ấn Độ, viết câu trên trong cuốn The Road to Wigan Pier xuất bản năm 1937.

[6] Brihanmumbai Municipal Corporation (BMC), cơ quan hành chính của Mumbai.

[7] Nhân vật tú bà trong vở kịch “Measure for Measure” của Shakespeare.

[8] Một thứ bánh rán hình tam giác bên trong có rau hay thịt.

[9] Aurangzeb (1618-1707), Hồi vương hùng mạnh cuối cùng ở Ấn, trị vì từ 1658 đến khi chết, lãnh thổ của ông mở rộng gần hết tiểu lục địa Ấn.

[10] Ước tính của năm 2017: TCS trị giá 16 tỉ đô la, chỉ là một phần nhỏ trong tập đoàn Tata; toàn bộ tập đoàn Tata trị giá 126 tỉ đô la, và có 700.000 nhân viên.

[11] “Parsi” là hậu duệ của người Ba Tư theo Bái hoả giáo di cư sang Ấn Độ để tránh bị người Hồi đàn áp. Zoroaster (?628 – ?551 trước Công nguyên), còn gọi là Zarathustra, là vị tiên tri gốc Ba Tư, sáng lập ra tôn giáo này.

[12] Vị thần duy nhất của Bái hoả giáo. “Ahura”: chúa, vĩ đại; “Mazda”: thông thái.

[13] Phát âm theo giọng Mỹ của các chữ “product”, “bottom”, “vertical”, “Bob”.

bài đã đăng của Paul Theroux

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)