Trang chính » Chuyên Đề, , Phỏng vấn, Văn Chương Thiếu Nhi Email bài này

“Cổ tích thời mới lớn”: Nguyễn thị Minh Ngọc trả lời phỏng vấn chuyên đề thiếu nhi

 

Pic-5-Minh-Ngc-ngy-mi-ln_thumb1
Đạo diễn Nguyễn thị Minh Ngọc thời mới lớn

“Cổ tích cho thời mới lớn của tôi là những mẫu chuyện trong tù của Má…”

1. Những tác phẩm thiếu nhi hoặc thiếu niên nào đã gây ấn tượng sâu đậm với bạn trong thời đi học/đang lớn? Tại sao?

Ngay từ lúc cầm cuốn sách đọc được, tôi đã được giao một nhiệm vụ khá thú vị là đọc các truyện Tây Du Ký, Tam Quốc, Đông Chu Liệt Quốc… cho ông ngoại tôi nghe. Đến khi vào trung học, giờ Việt Văn có môn thuyết trình, những chuyện “lấy được nước mắt” cả lớp có “Anh Phải Sống” của Nhất Linh, Con Sáo Của Em Tôi của Duyên Anh, Chuyện Bé Phượng, Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến. Tôi còn nhớ một lần nhóm chúng tôi chuyển thành kịch một bài về tình nghĩa thầy trò từ cuốn Tâm Hồn Cao Thượng của do Hà Mai Anh dịch, tôi mượn áo dài đen, khăn đóng của ông ngoại để đóng vai ông thầy giáo.

Ba tôi kể nhiều tỷ phú trên thế giới cho con học bằng cách khuyến khích con cái thích đọc và đưa con đi du lịch. Trong lúc chưa có điều kiện làm chuyện thứ hai, tạm thời nhà tôi đầu tư vào sách. Gia đình tôi nổi tiếng “giàu có” về sách báo, dù nhà phải thuyên chuyển qua bao nhiêu tỉnh (Tân Uyên, Biên Hòa, Bà Rịa, Long Xuyên, Rạch Giá, Bình Tuy, Pleiku, Phan Thiết, Sài Gòn…) mọi đồ dùng trong nhà bán sạch để đến nơi mới sắm đồ mới, chỉ có một thứ luôn mang theo là sách – thậm chí báo. Sách nào trẻ con chưa tới tuổi đọc thì được vào chiếc tủ có khóa. (Đôi lúc hết sách đọc, tôi cũng lén lấy khóa để đọc cả những cuốn mà trẻ nhỏ có thể chưa cần đọc tới như nhiều cuốn của Tự Lực Văn Đoàn mà không phải loại Sách Hồng).

Đã có giai đoạn tôi cùng nhiều bạn bè (trong đó có Trương Kim Anh, con nhà văn Nguyễn Thị Vinh và dịch giả Trương Bảo Sơn) rải sách ra vỉa hè bán và hốt chạy khi công an ập tới.

Và cũng đã có một thời gian dài sau 1975, tôi quyết định không mua sách nữa, chỉ nên nhờ thư viện giữ giùm, cần thì vào đó mượn đọc. Đó là khi tôi đang học đạo diễn ở Sài Gòn thì hay tin anh tôi và ba tôi bị bắt vì tội “tàng trữ văn hóa đồi trụy và phản động,” riêng ba tôi bị đưa ra tòa án nhân dân ở Thuận Hải (tên sau 1975 của tỉnh Bình Thuận, mà dân gian đọc trại là tỉnh Sợ Hãi). Khoảng bốn giờ chiều, đài phát thanh tỉnh hài tên tuổi của ba má tôi là Nguyễn Sĩ Cường và Trần Thị Túy Nga cùng phạm tội danh này để các nhà khác thấy gương đó mà giao nộp. Như đã kể, với khối lượng sách dồn suốt hơn hai mươi năm dù đi qua bao nhiêu tỉnh. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, má tôi đề nghị cân ký bán cho ve chai, chúng tôi tiếc xin má cho giữ lại. Phòng thông tin văn hóa phải dùng mấy xe vận tải mới chở hết. Trớ trêu là sau này khi đi mua tỏi, hành… chúng tôi phát giác chúng được gói bằng những tờ giấy có đóng dấu Tủ Sách Gia Đình Nguyễn Sĩ Cường. Không có chỗ chứa, sách nhà tôi rồi cũng bị bên tịch thu đem cân ký bán ve chai. Được tính vào sách đồi trụy và phản động ấy đủ cả các loại tự điển, sách khảo cứu như Cây Cỏ Miền Nam của Phạm Hoàng Hộ, Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc… mà tôi từng đọc cho ông ngoại nghe. Kịch Ảnh, Điện Ảnh, Thời Nay, Phổ Thông, Nhân Loại, Văn Hóa Ngày Nay, Vui Sống, Tiểu Thuyết Tuần San, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Ngàn Khơi (bìa sau có truyện tranh Phượng Hoàng của Nhã Ca do Đằng Giao vẽ), Trinh Thám, Tầm Nguyên, Đi và Sống, Hương Quê (có truyện của Bình Nguyên Lộc)… từ số một, các báo Buổi Sáng, Tiếng Dội Miền Nam, Đuốc Nhà Nam… (Trần Tấn Quốc đi đâu, nhà tôi theo đó), rồi những Paris Match, Selections, Thế Giới Tự Do … Sách thì đủ mặt từ J. P. Sartre, Vũ Trọng Phụng, Túy Hồng, Krishnamurti, Nhất Linh, Kim Dung, André Gide, Khái Hưng, Võ Hồng, André Maurois,Võ Phiến, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Mặc Đỗ, André Maurois, Nghiêm Xuân Hồng, Hoàng Đạo, F. M. Dostoevsky, Trùng Dương, Kōbō Abe, Nhã Ca, Thạch Lam, Viên Linh, Boris Pasternak, Doãn Quốc Sỹ, F. Nietzsche , Vũ Khắc Khoan, Nhật Tiến, Y.Mishima, Thanh Tâm Tuyền, Tuệ Mai, Nguyễn Hiến Lê, François Mauriac, Bình Nguyên Lộc, Hemingway, Nguyễn Thị Hoàng, S. Freud, Lê Xuyên, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Duy Lam, Duyên Anh, Phạm Thiên Thư, Akutagawa Ryunosuke, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy Long, Phạm Công Thiện, Mai Thảo, Hoàng Ngọc Tuấn, Stefan Zweig, Nguyễn Hữu Hiệu.… tới những cuốn sách thiếu nhi tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh… khi lật trang sách có cả lâu đài dựng lên hay trái bí hóa xe ngựa, Công Chúa Da Lừa thay các loại áo màu mặt trời, mặt trăng và ánh sao…

Vì tôi được, và cả bị, xem quá nhiều những cuốn truyện dành cho đủ mọi lứa tuổi khi tôi ở tuổi đang lớn, nên phải chọn ra những tác phẩm thiếu nhi hoặc thiếu niên nào đã gây ấn tượng sâu đậm trong giai đoạn này, tôi khá hoang mang, chẳng nhớ mình trụ lâu ở cuốn nào. Mà đôi khi cũng khó phân định ranh giới này. Một số truyện của Andersen và Oscar Wilde dường như được viết ra dành cho người lớn chớ không phải chỉ dành cho trẻ nhỏ như nhiều người tưởng.

Có lúc tôi thích Tí Cô Nương, Tí Quạu, Tí Điệu, Tí Mơ Mộng cùng thế giới Xì Trum của họ, có khi tôi chỉ nhớ anh nhạc sĩ đánh đàn dở “tàn bạo” tới độ cuối truyện, cả làng phải trói anh ta vào gốc cây để không bị tra tấn mà không lưu tâm nó nằm trong bộ truyện tranh nào. Tôi vừa thấy bực Tam Tạng chuyên niệm chú cho Tôn Ngộ Không nhức đầu, sau đó có thể bị ám ảnh hơn bởi chuyện đứa con viễn du bị chính thân nhân sát hại tại một hắc điếm trong La Malentendu của Albert Camus với tài chuyển ngữ ảo diệu của Bùi Giáng. Tôi ngốn gần như tất cả những cuốn của E. M. Remarque được dịch ra ở Nam Việt Nam trước 1975 (từ Mặt trận Miền Tây vẫn Yên tĩnh, Một thời Để Yêu, Một Thời Để Chết, tới Đài Tưởng niệm Đen của Bầy Diều hâu Gãy Cánh v.v…) và ở lâu trong tôi hơn là Giờ thứ 25 của C.V. Gheorghiu có lẽ nhờ nụ cười rớt nước mắt của Anthony Quinn trong phim cùng tên. Các bản dịch của Kim Dung, Cổ Long và Bố Già của Mario Puzo có mặt gần đủ trong tủ sách nhà tôi. Tôi thích Tuyết Sơn Phi Hồ một phần có lẽ vì thích hình ảnh khách đến thăm được ngồi trong cái giỏ kéo lên đỉnh núi. Tới Alexis Zorba của Nikos Kazantzakis thì một anh bạn trai trên lớp có nhận xét thái độ sống của tôi thời học Trung Học khá gần với nhân vật đó. Chỉ là do chúng tôi thường tụ tập thách nhau đi bộ hay dùng xe đạp đến những nơi danh thắng hoang dã, sang tỉnh khác, thậm chí đi xuyên qua vùng súng đạn, mà bây giờ là đất vàng cho du lịch khai thác.

Sau này tôi đã chuyển thành sân khấu hay phim các truyện Love of Seven Dolls của Paul Gallico (trên Văn đăng từng kỳ lấy tên Tình Nghệ Sĩ), Chùa Đàn của Nguyễn Tuân (bản do tôi viết không sản xuất được, khác với bản mà chị Việt Linh đã chuyển trong Mê Thảo-Thời Vang Bóng), Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, Đò Dọc (và bảy truyện ngắn khác) của Bình Nguyên Lộc, đạo diễn vở kịch tốt nghiệp từ truyện Nọc Nan của Phi Vân… nhờ được đọc các truyện này trước 1975. Giờ thi của các lớp tôi dạy được các lớp khác tràn vào ngồi đầy xem nhờ những kịch bản lạ chuyển từ nhiều truyện và kịch trước 1975.

2. Lúc đó bạn thường hay đọc những thể loại văn chương nào?

Gần như tôi đọc những gì lọt vào tay mình, nhắm không “hợp” thì cho qua. Tôi thích những truyện đọc xong thấy cuộc sống thú vị hơn và được viết bởi những người thông minh, có tâm hồn và kiến thức phong phú. Tôi còn một nguồn nữa là được nghe cha, anh tôi kể lại những cuốn truyện mà họ đọc bằng nguyên tác (chưa dịch). Như truyện Ten Little Niggers của Agatha Christie, sau này dịch là Mười Người Da Đen Nhỏ nhưng được “truyền khẩu” tới tai tôi lại rất trần trụi là Mười Tên Mọi Da Đen. (xin lỗi ai đó nếu cho là người dịch đã kỳ thị quá.)

3. Xin hãy kể lại những phương tiện sách báo vào thời điểm đọc sách thời đó: bạn mượn sách từ thư viện nhà trường, từ nơi cho mướn sách, được gia đình mua sách cho đọc, hay tự để dành tiền mua sách báo, v.v.?

Có thể nói là những gì được liệt kê ở đây, tôi đều kinh qua: mượn sách từ thư viện, từ nơi cho mướn sách, được gia đình mua sách cho đọc, và cả để dành tiền mua sách báo…Tôi còn được tặng (và cũng tặng lại) quà là sách từ bạn và người thân…

Tôi nhớ hồi tôi sáu tuổi, có một gia đình thân với nhà tôi chuẩn bị dọn nhà, tôi thấy họ để cuốn sách gồm nhiều truyện thiếu nhi với tranh minh họa trên cao nhất, trong đó có truyện Bảy Con Thiên Nga của Andersen mà tôi rất thích. Tôi biết và đã định hô lên cuốn đó của nhà tôi để lấy lại nhưng ngần ngại không nói và tiếc mãi. Sau nầy có dịp mua lại tôi cũng quyết không mua để tự phạt mình.

Cũng khoảng tuổi đó, ngoài sách nhà mua, ở Phan Thiết, chị em tôi thường ghé thư viện ở ngay trung tâm thành phố, chờ được đọc những tờ tuần san như Phụ Nữ Diễn Đàn hay Phụ Nữ Ngày Mai, trong đó có vài trang dành riêng cho thiếu nhi như mục Chị Kể Em Nghe chuyên kể các cổ tích thần kỳ trên thế giới hoặc họ mời những người như cô Hợp Phố chọn chuyện thần thoại để kể.

4. Bạn nhận được những thông tin hoặc nhận xét về các tác phẩm thịnh hành/đáng đọc từ đâu: bạn bè, nhà trường, người thân, v.v.?

Tương tợ, tôi cũng nhận được những thông tin hoặc nhận xét về các tác phẩm thịnh hành và đáng đọc từ các nguồn đó: bạn bè, nhà trường, người thân. Có thể kể thêm, từ cả lời xúi giục của các bài bình và điểm sách trên các báo và tạp chí, dĩ nhiên, với sự dè dặt thường lệ, có thể chủ quan của người viết khác mình.

5. Bạn có thường trao đổi về những tác phẩm, hay những nhân vật mà bạn yêu thích với bạn bè? Ở lứa tuổi nào bạn bắt đầu có những trao đổi về sách báo, văn chương?

Như đã kể, tôi được nhiều quà tặng là sách, và cũng có thói quen mua sách tặng lại bạn bè. Bạn tôi thường tặng tôi sách của Hermann Hesse như Tuổi Trẻ Băn Khoăn, Tuổi Trẻ Cô Đơn, Câu Chuyện Dòng Sông, Sói Đồng Hoang.

Tính về sách thuần cho thiếu nhi thì các cuốn dễ làm quà nhất là Hoàng Tử Bé của Saint-Exupéry, cuốn sách hình Quả Bong Bóng Đỏ từ phim ngắn Le Ballon Rouge của Albert Lamorisse, Phiêu Lưu Trên Lưng Ngỗng của Selma Lagerlöf. (sau này in lại, nó mang tên sát tựa gốc là Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu của Nils The Wonderful Adventures of Nils)

6. Những tác phẩm, nhà văn, hay những nhân vật ấn tượng này có làm bạn muốn trở thành một người viết? Tại sao (có hay không)?

Bài gởi đăng báo đầu tiên của tôi là từ nhà trường. Năm đó, từ Pleiku, nhà tôi đổi về Bình Thuận. Cô giáo lớp Nhất C của trường Nữ Tiểu Học Phan Thiết là Quách Thị Hồng Hà (nay đã mất). Cô đọc cho cả lớp nghe bài luận cao điểm của tôi, cô bắt cả lớp viết Nhật Ký và cô đã hào hứng trích Nhật Ký của tôi gởi cho một trang thiếu nhi của một nhật báo. Vậy là bút danh Ngọc Minh ra đời từ trang Tuổi Ngọc do Duyên Anh phụ trách trên tờ nhật báo đó. (sau này mới ra riêng làm tuần báo). Một trong những lý do khiến tôi bắt đầu gởi bài cho Văn vì tòa soạn Tuổi Ngọc và tòa soạn Văn ở chung nhà, cách chỉ một cầu thang. Có một số tác giả của Văn viết cho Tuổi Ngọc, tôi nghĩ tại sao không có chuyện ngược lại. Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, anh bạn lớn của tôi lúc đó đã ghép những thư riêng của tôi gởi anh in thành tập “Thư về đường Sơn Cúc”. Điều đó cũng kích thích tôi, thử kể lại những mẫu đời mình thấy bằng một kiểu kể khác. Sau này, viết lời tựa cho tập truyện ngắn “Một mình, bước tới” của tôi, họa sĩ Nguyễn Trung đã ghi trong lời mở đầu: “Đây là lời kể chuyện của một đứa nhỏ không có tuổi thơ…”. (Trong tập đó, có hai truyện Quốc Lộ, Dọn Nhà mà Văn đã đăng, tôi đã viết khi còn học trung học)

Riêng tôi, sau này, điều ân hận lớn là đã để sân khấu và điện ảnh ngốn giờ của mình, khiến nhiều điều muốn viết chưa thể hoàn tất (trong đó có một dự án cho thiếu nhi, mấy năm nay chưa xong).

We Are - Chúng Ta Là poster

May là tôi đến với ba lãnh vực: văn học, sân khấu và điện ảnh, đầu xuất phát chung một tâm nguyện là cố nói giùm những người không nói được (chết, tù, câm…). Chính những độc giả, khán giả vô danh và những khát vọng thầm lặng của họ đã thôi thúc tôi viết chớ không phải từ những người nổi tiếng và ấn tượng.

Tôi viết lách này nọ còn do từ khi chưa biết chữ, tôi đã được má tôi kể những chuyện thú vị mà bà đã trải qua do ở tù oan thời Pháp. Sau này, được vào các nhà tù diễn cho các tù nhân xem và tập cho họ diễn chính đời họ, tôi vẫn mơ có điều kiện sẽ viết về chuyện xảy ra trong các nhà tù qua các giai đoạn cận đại và đương đại của Việt Nam.

7. Bạn có bao giờ đọc lại những tác phẩm ngày còn bé hay mới lớn? Cảm giác sau (những) lần đọc lại ra sao?

Tôi thèm được đọc lại những truyện ngắn bị thất lạc của mình mà bao năm lục lọi (vào cả kho giới hạn của Thư Viện Quốc Gia tại Sài Gòn) tôi vẫn chưa tìm lại được. Ví dụ: một truyện đăng ở Xuân Thời Tập 1975 và một truyện đăng ở Xuân Phổ Thông 1975.

Đặc biệt tôi kiếm mãi không ra truyện “Mẹ Như Chiếc Gông Đời Sống” mà tôi đã gởi dự thi viết về mẹ đặng trên tuần san Tuổi Ngọc (khổ lớn). Trong đó tôi đã bắt đầu bằng câu: “Cổ tích cho thời mới lớn của tôi là những mẫu chuyện trong tù của má tôi…” Có lần đi xe đò vào Sài Gòn, ngang rừng lá, một anh lính Việt Nam Cộng Hòa hỏi có phải tôi viết truyện đó không vì giống ảnh tác giả đăng kèm. Anh nói đời mẹ anh cũng bị tù oan như vậy nên anh thích lắm. Má tôi ở trại nữ tù từ Khám Lớn Sài Gòn, rồi bị đày lên Căn (Camp) Bà Rá. Bà sống chung với tù chính trị (sau này có người được đặt tên đường như Nguyễn Thị Lựu) và có cả những nữ gangster. Bà kể đa số dân Nam Bộ không cần nói nhiều, và chẳng thèm đánh lén như chị Thâu Tân Định, quen hô trước khi động thủ để đối thủ chuẩn bị: “Đ. Má, đỡ nè mày”. Lời vừa dứt là tay thụi. Năm 1993, sau khi phim “Bụi Đời Chợ Lớn” bị cấm chiếu, kịch bản Hương Ga của chúng tôi bị đề nghị bỏ sạch khí giới mã tấu và bỏ sạch những tiếng chửi thề, đành phải cắt 50%, không còn “Đ.” nữa, chỉ còn “Má!” thôi.

8. Tại sao bạn vẫn nghĩ về các tác phẩm/nhà văn này? Hoặc, tại sao bạn không còn nghĩ về họ như vậy?

Tôi đặc biệt lưu tâm các nhà văn kết thúc cuộc đời của họ bằng cách tự tử như Akutagawa Ryunosuke (thuốc ngủ), Ernest Hemingway (súng), Yukio Mishima (tự mổ bụng rồi nhờ người khác chặt đầu)…với ít nhiều băn khoăn tại sao những trang viết không thể ngăn cơn thèm chết trong họ.

Đôi khi tôi nghĩ về các tác phẩm/nhà văn này khác vì họ đang tạo cảm hứng cho công việc đang làm của tôi như một sự cộng hưởng. Đến khi không còn nghĩ tới họ nữa, đơn giản vì đã xong việc, giờ cần xóa sạch để chuẩn bị cho công việc khác. Vậy mới không bị ngộp, nhất là càng ngày tôi càng ý thức hơn được sự hữu hạn của thời gian, khi bạn ở trôi tới giai đoạn đã thấy ngán và chán với tiếng lẫn tiền.

9. Theo bạn thì một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên, nếu thành công, phải hội đủ những yếu tố nào? Tại sao?

Luôn phải chừa chỗ cho độc giả sáng tạo (tôi làm sân khấu cũng luôn muốn chừa chỗ cho khán giả sáng tạo). Tôi thích được nghe phản hồi từ những độc giả nhỏ tuổi, những thiếu niên, ở những vùng xa xôi từ bên kia vĩ tuyến 17 của Việt Nam. Không nên bị trói trong thời gian và không gian. Thường thì tính toàn cầu giúp tác phẩm bay cao, trong lúc cái gọi là tính công dân dễ hạn hẹp góc nhìn, kéo bạn trì xuống.

Tôi quen họa sĩ Hoàng Tường, thường vẽ tranh minh họa cho các truyện thiếu nhi. Nhơn có cuộc thi viết cho trẻ em ở miền Nam, anh ấy xúi tôi viết. Truyện ấy bị ban sơ khảo cuộc thi này cho rớt từ “vòng gởi xe”. Một cô biên tập trong ban chấm sơ khảo gặp tôi cho biết cô thích truyện ấy, tiếc là nó không hợp gu các giám khảo còn lại. Hoàng Tường xúi tôi gởi truyện đến cuộc thi viết cho trẻ em toàn quốc. Truyện “Năm Đêm với Bé Su” ấy được giải nhất, tái bản nhiều lần. Nhà xuất bản còn ký thêm với tôi một hợp đồng, viết một truyện khác, họ đã in 12.000 bản để tặng không cho trẻ em vùng sâu, vùng xa. Tiếc là vì cuốn “Vì Sao Con Ra Đời” này không bày bán nên nhiều khi tôi muốn mua tặng bạn bè cũng không kiếm ra, đành phải copy mà tặng.

10. Một tác phẩm viết cho thiếu nhi/thiếu niên có nên bảo vệ tinh thần trẻ em/thiếu niên, tránh những đề tài có thể làm các em bị sốc, tránh đoạn kết bi thảm, hay không? Đề tài, đoạn kết nào nên được tránh? Tại sao (nên/không nên tránh)?

Khi đi dạy môn Kỹ Thuật Biểu Diễn cho lớp của Quang Minh, Hồng Đào, Hữu Châu, đến học kỳ chuyển thể các tác phẩm văn học, âm nhạc, tranh… sang sân khấu… chúng tôi đã loay hoay với truyện “Buồn Ngủ” của Chekhov để rồi cuối cùng phải bỏ vì khi đưa lên sàn diễn, thấy nó “ác” quá. Đó là truyện một cô bé đi ở mướn, mệt nhoài sau một ngày làm lụng, thèm được ngủ, nhưng còn một việc cuối, cố dỗ mãi mà đứa nhỏ con chủ nhà không chịu ngủ. Cuối cùng, để mình được ngủ, cô bé đành phải đè ém cho tắt tiếng kêu khóc của đứa nhỏ vài tháng kia. Hai nhân vật chánh đều là trẻ em, chẳng biết tác giả khi viết có nghĩ tới độc giả có thể là trẻ nhỏ hay không. Mà không phải chỉ trẻ con, tôi biết có một số người lớn cũng sợ khi bị đọc hay xem cái gì “ác” hoặc bi thảm quá.

Theo riêng tôi thì cuộc đời này còn nhiều điều thú vị để kể hơn là sự bi thảm. Năm 1985, lần đầu ra Hà Nội, gặp một văn sĩ nổi tiếng trong (và hình như cả ngoài nước), tôi không dấu diếm là mình bị allergy với sách báo của những người miền Bắc, chị ấy đã kêu lên “Sao kiêu thế!” Có lẽ vì tôi bị dội khi lỡ đọc vài truyện của vài người miền Bắc chưa thấu hiểu đã “can đảm” vội viết về miền Nam. Trong tất cả những cuốn sách của chị ấy, chinh phục tôi lại là một cuốn viết về thiếu nhi. Tôi khoái cảnh đứa bé trong truyện đã khóa cửa cầu tiêu bên ngoài, nhốt anh thầy giáo sống bất phải với đám học trò ở miền xa. Tôi tin khi bạn viết với những cảm xúc thật, bạn đã giúp bồi bổ cho tâm hồn người đọc, chẳng luận viết cho thiếu nhi hay người lớn, đừng sợ làm hư người đọc của mình.

 

Bismarck, ND
Oct, 10, 2020

bài đã đăng của Nguyễn Thị Minh Ngọc


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)