Trang chính » Chuyên đề Điện Ảnh, Điện Ảnh, Nghệ Thuật Email bài này

Mệnh Nước Nổi Trôi cùng Việt Film Fest 2019

Viet Film Fest (VFF) do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ VAALA (*) thành lập vào năm 2003, nhằm ghi nhận những câu chuyện về người Việt Nam. Liên Hoan Phim này nhận các tác phẩm dài và ngắn với bất kỳ nội dung nào của những người làm phim gốc Việt sống ở bất cứ đâu trên thế giới hay tác phẩm của bất kỳ ai về người dân hoặc văn hóa Việt Nam.

Theo nhận xét của Lê Đình Y Sa, giám đốc nghệ thuật của VFF, sau mười sáu năm hoạt động, điều vui mừng nhất mà ai cũng nhận thấy là VFF ngày càng thành công hơn khi đã thu hút vô số chú ý của các quốc gia trên toàn cầu, cũng như các phim gởi tới ngày càng hay hơn như mong ước của VFF. Thông qua ngôn ngữ phổ quát của phim, VFF tập hợp nhiều góc nhìn để mở rộng phạm vi và tầm nhìn của điện ảnh Việt Nam. VFF tự hào là nền tảng trung tâm cho các nhà làm phim gốc Việt dùng điện ảnh như một công cụ để làm nổi bật sự đa dạng của giọng nói mình và để được kể câu chuyện của chính họ theo cách thế mà họ muốn.

Hiện VFF là liên hoan phim quốc tế Việt Nam lớn nhất thế giới, chuyên giới thiệu những tác phẩm mang tính sáng tạo nhất của người Việt và về người Việt. Những bộ phim giành giải thưởng của VFF đã được chiếu ở nhiều thành phố và quốc gia như Vượt Sóng (Hàm Trần), Dòng Máu Anh Hùng (Charlie Nguyễn), Bi, Đừng Sợ (Phan Đăng Di), Touch (Minh Đức Nguyễn), War Witch (Kim Nguyễn), Stateless (Đức Nguyễn), Đập Cánh Giữa Không Trung (Nguyễn Hoàng Điệp), Võ Sư Hóa đi tìm mộ (Scott Edwards), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (Victor Vũ)…

Hằng năm, Viet Film Fest có Giải thưởng Grand-Jury-Trống Đồng cho Phim truyện hay nhất và Phim ngắn hay nhất, Nam diễn viên xuất sắc nhất và Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Các khán giả được phát mẫu phiếu khi vào xem để có cơ hội bình chọn cho Giải thưởng do Khán giả Bình Chọn. Năm 2019 này, lần đầu tiên trong lịch sử của VFF, khán giả đồng lòng với Ban Giám Khảo nên phim Song Lang (Leon Le) đoạt cả hai giải Trống Đồng lẫn giải Khán giả Bình Chọn (cùng nhận với Chàng Vợ Của Em của Charlie Nguyễn), góp vào số giải thưởng mà phim đã nhận từ các liên hoan khác là 37 giải.

73284056_2536969889756193_3742625044216414208_n   73152475_2536969903089525_8464156801154154496_n

Khán giả đến xem xuất chiếu phim Song Lang ở hai rạp của AMC tại VFF , đêm 12 tháng 10 2019

Tôi không muốn viết nhiều về phim này, vì đã có nhiều bài khen của các báo Mỹ lẫn Việt. Tôi chỉ muốn xin được ghi cảm xúc buồn vui lẫn lộn khi năm 2019 này khi được đến với VFF, ngoài việc là đồng tác giả của Song Lang và Có Căn Nhà Nằm Nghe Nắng Mưa, tôi còn muốn đến VFF với tư cách khán giả.

Một trong những phim tôi thích năm nay mang cái tên rất ngọt ngào: Love Your People (Thương Dân). Trong nhiều thập kỷ, người Việt Nam đã tạo tổ ấm cho mình ở Little Saigon. Giờ thì với kiểu tăng giá nhà thuê vùn vụt, người gốc Việt phải chiến đấu lắm mới giữ được chốn về của mình nếu không muốn trở thành homeless. Tiếng người phụ nữ vang lên cuối phim mới chơn chất mà đắng cay làm sao: “Hội đoàn này chửi hội đoàn kia, Hội đoàn kia chửi hội đoàn nọ, nhưng rốt cuộc, lươn chê lịch thì con nào cũng nhớt”- “…phải đoàn kết với nhau, phải có người lên tiếng, phải có người làm, biết thất bại, mà đã thất bại rồi, vẫn phải làm”-“…mong mấy ông chính quyền ở đây, mở lòng thương dân chút nữa”- “…mình ở bên đây, coi như nửa nước Việt Nam rồi, đã là người Việt thì phải đấu tranh cho Việt Nam, với con tim từ ái, phải thương dân mà giúp cho dân”.

Tuy có góp tay vào Có Căn Nhà Nằm Nghe Nắng Mưa nhưng dịp này đến VFF, tôi mới được xem phim. Câu chuyện nói lên nỗi đau của “tre khóc măng”, chưa thấy xác hay tin tức của con thì cứ cầm bằng con còn sống, lại được xem hình ảnh mấy xóm nghèo bị các công ty xây cao ốc trong phim giải tỏa mà thấy thương thành phố “của mình” ứa nước mắt. Nhận ra trong phim còn có một nhân vật câm lặng mang tên Sài Gòn. Giờ mới thấm hơn vì sao nhiều người bạn từ nước ngoài về, kêu Sài Gòn thay đổi nhiều quá, nhưng các bạn không thích kiểu thay đổi đó.

Cũng lần đầu được xem Song Lang trên màn ảnh rộng, tôi vẫn thấy cảm xúc ở tíc tắc nhân vật đòi nợ mướn Dũng Thiên Lôi ngồi khóc như đứa trẻ trên sân thượng và thấy thương làm sao những nhân vật phụ mà mình vẫn gặp trên đường phố ở Việt Nam: bọn trẻ chơi tạt lon trong hẻm nhỏ đêm khuya, những người khuyết tật hát rong, những đứa bé chết oan vì sanh trong bước đường cùng của cha mẹ…Ở phần hỏi đáp, khán giả đã hỏi chúng tôi những câu mà câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi: có phải mẹ của Dũng, cô đào hát bỏ nước ra đi vì buộc phải diễn những vai trái lòng? Còn gia cảnh đen nghịt của gia đình tự sát vì nợ thì vẫn được đăng trên tin tức của các báo ở Việt Nam.

Seadrift là cuốn phim tài liệu cảm động khác kể lại giai đoạn khó khăn của người Việt bốn mươi năm trước, khi còn chân ướt chân áo đặt chân tới vùng biển hẻo lánh của Texas cạnh tranh việc bắt cua với người Mỹ trắng mà luật lệ, tiếng nói chưa rành. Thảm kịch xảy ra khi anh em ngư dân họ Nguyễn trong lúc xô xát đã đưa đến cái chết của Billy Joe Aplin. Bồi thẩm đoàn tha bổng họ vì lý do tự vệ, nhưng Ku Klux Klan ra tay đốt cháy thuyền và nhà của người Việt, nên có người lại phải rời Seadrift ra đi. Những nhân chứng sống lúc đầu từ chối vào phim nhưng rồi họ cũng nhận lời, trong đó có cả cô gái nhỏ của nạn nhân nay đã lớn: Beth Aplin-Martin. Đạo diễn Tim Tsai là người Mỹ gốc Đài Loan tình cờ tìm ra câu chuyện này trong cuốn Asians Texans của Irwin A. Tang. Ông đã bị cuốn hút khi xem đoạn văn kể chuyện người Việt hội nhập vào vùng Seadrift của tiến sĩ xã hội học Thảo Hà, sau này là nhà sản xuất và cộng tác viên cùng ông. Sự đụng độ ở Seadrift, mối thù của ngư dân, vụ nổ súng và vụ bạo động của KKK đều không được nhắc tới trong bất kỳ lớp học lịch sử nào của ông. Vì vậy, ông thực hiện bộ phim để bảo tồn một phần của lịch sử Texas bị bưng bít và để cho thấy sự khốc liệt của lịch sử đặc thù về châu Á ở tiểu bang này.

Nói chuyện với giám đốc của VFF trong mấy năm gần đây là Thuy-Van Nguyen. Thuy-Van kể hồi mới thành lập, ban điều hành còn có bóng đàn ông, nay chỉ còn các nữ tướng như Y Sa Le, Julie Vo, Yvonne Tran, Thuy Vo Đang, Tu-Uyen Nguyen.

Khó khăn lớn nhất của VFF, Thuy-Van nói, vẫn là tiền vì đây là tổ chức phi lợi nhuận, phải làm sao cho các nhà tài trợ thấy việc mình làm có hiệu quả cho cộng đồng thì mới hy vọng năm tới được giúp tiếp. Còn thuận lợi là sự chung tay của nhiều người, nhiều thế hệ, đặc biệt là các tình nguyện viên. Y Sa Le thêm, tuy càng ngày càng phải đầu tư cho VFF phát triển hay tốt hơn, nhưng không phải nơi nào đưa tiền, VFF cũng nhận.

Một phim hoạt họa năm nay Thuy-Van thích là Push (Trilina Mai) kể chuyện khi con còn bé, cha đẩy con để con đi tới và con trưởng thành, cuối cùng khi cha già yếu thì con lại đẩy cha. Năm ngoái, Vân thích nét đẹp trong trẻo của Nhắm Mắt Thấy Mùa Hè (Cao Thúy Nhi) và phim tài liệu từ Đức Obst & Gemuse/Táo và Cam (Duc Ngo Ngoc). Tường Bá Linh đổ, mẹ về nước, cha ở lại mở một tiệm tạp hoá và trái cây nuôi con nhỏ. Cậu con bỏ học ở Bá Linh để về nhà mơ mở một trung tâm thể dục thẩm mỹ cùng với người bạn Đức hiện đang giúp việc tại tiệm của cha. Cha giận đến ngã bịnh nhưng khi rời bịnh viện, ông bán tiệm và xe giúp con. Chuyện ở Đức mà cũng giống lắm chuyện trong các gia đình Việt ở Mỹ và nhiều nước khác.

Với tôi, có lẽ VFF là nơi ta được thấy nhiều thân phận người Việt nổi trôi chân thật nhất. Họ trôi dạt ở Pháp trong Jasmine Lane/Allée des Jasmins (Stéphane Ly-Cuong), ở Anh trong No More Than This (Hai Di Nguyen), ở Mỹ trong Hiếu (Richard Van), ở Canada trong Flagged (Mimi Nguyen), Tundra (Carol Nguyen), ở trên biển trong Finding The Virgo (Barre Fong) và ngay trên đất Việt Nam trong Made in Vietnam (Thi Vo).

Những năm trước có nhiều phim tài liệu từ trong nước gởi ra, năm nay ít đi. Lượng phim truyện từ Việt Nam năm 2019 vẫn chiếm tỉ lệ cao, đa số do các đạo diễn từ nước ngoài về làm. Vấn đề làm đau đầu các nhà sản xuất phim trong nước vẫn là làm sao không bị lỗ mà vẫn giữ được phẩm chất của tác phẩm.

Đến với VFF từ 2007 đến giờ với tư cách người viết và khán giả, có được vài phim tham gia và có giải, ám ảnh tôi nhất lại là The Island (Tuan Andrew Nguyen) dù ít báo nhắc tới nó. Ban giám khảo của VFF năm 2018 (trong đó có tôi) đều thống nhất trao cho giải Grand-Jury Trống Đồng cho phim đó

Khó khăn lắm tôi mới liên lạc được với đạo diễn của The Island. Trong lúc các phim khác tìm lối đi ra rạp hay đến với các liên hoan phim, thì The Island bặt tăm tích. Hỏi ra mới biết, phim này có đường đi riêng của nó. Thời gian qua, nó đã có mặt ở những nơi này:

– Whitney Museum of American Art, New York, US

– Museo de Arte Zapopan, Guadalajara, Mexico

– Freer Sackler Galleries, Smithsonian Institution, Washington D.C.,US

– The Mistake Room, Los Angeles, US

– Museum of Contemporary Art Toronto, Canada

– San Francisco Museum of Modern Art,US

– Grenfell Art Gallery, Memorial University of Newfoundland, Canada

– Te Tuhi Museum, New Zealand

– Yokohama Museum of Arts, Yokohama, Japan.

Còn vài nơi nữa mà Andrew chưa ghi ra hết vì đang chuẩn bị cho một dự án mới.

Đây là một phim được quay hoàn toàn trên Pulau Bidong, một hòn đảo ngoài khơi Malaysia đã trở thành trại tị nạn lớn nhất và hoạt động lâu nhất sau chiến tranh Việt Nam. Nghệ sĩ và gia đình anh là một trong số 250.000 người đã từng sinh sống trên hòn đảo nhỏ từ giữa năm 1978 đến 1991; đảo náy từng là một trong những nơi đông dân nhất thế giới. Sau khi Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn đóng cửa trại năm 1991, Pulau Bidong bị rừng rậm lan tràn, khiến các di tích và đài tưởng niệm thành hoang tàn. Phim kể câu chuyện viễn tưởng về cuộc sống của người đàn ông cuối cùng trên trái đất sau khi thoát khỏi sức ép cưỡng chế hồi hương về Việt Nam. Một nữ khoa học gia của Liên Hiệp Quốc đã dạt vào đảo sau trận chiến hạt nhân cuối cùng của thế giới. Đan xen các cảnh quay từ quá khứ của Bidong với câu chuyện kể ở thời tương lai, đạo diễn đã đặt câu hỏi về mối quan hệ cá nhân với lịch sử, sự chấn thương, quốc gia dân tộc và lưu vong. Cuối phim, người nữ rời đảo, chỉ còn người nam chọn việc ở lại như định mệnh đời mình.

The IslandTuanAndrewNguyenPhamAnhKhoa

Hình của phim The Island với diễn viên Phạm Anh Khoa (đạo diễn Tuan Andrew Nguyen.

Andrew cho biết nếu kể hết những khó khăn lẫn các điều may mắn khi quay The Island thì nhiều lắm. Quay phim trên đảo chỉ có chín ngày, nhưng ba ngày cuối cùng mới có đầy đủ êkip. Bidong hiện tại gần như hoang phế không người nên không có điện và nước để sinh hoạt, đoàn phải tìm và thuê một máy phát điện nhỏ của ngư dân. Thời điểm quay phim lại vào mùa mưa nên đoàn gặp nhiều cơn bão, có khi gió thổi bay cả lều và cả đoàn ướt sũng trong mưa, có mấy ngày liên tục thuyền không ra biển được. Trừ ba cái mặt nạ được làm trước, các đạo cụ đều được thực hiện trên đảo. Kinh phí thấp nên phim được quay bằng Camera DSLR nhỏ, mà nếu có máy lớn cũng không khả thi vì không có máy phát điện đủ công xuất để charge pin. Dù vậy, Andrew cho là mình được may mắn lớn vì đã có được một đội – dù rất nhỏ – vẫn hết lòng hỗ trợ và hết mình với phim.

Cách đây 15 năm, từng về nước làm phim chiếu rạp, Andrew nói lúc đó mình còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm về điện ảnh và cũng thiếu kinh nghiệm về cách làm việc ở Việt Nam, cứ nghĩ phải làm phim giống Hollywood nhưng lại học đựợc rất nhiều sau dự án ấy. Andrew thấy nền điện ảnh Việt Nam có vẻ phát triển rất nhiều từ thời đó, chỉ tiếc là là ngay sau phim kia, anh tập trung nhiều vào nghệ thuật đương đại. (Vài tác phẩm thuộc nghệ thuật đương đại của Andrew cũng chọn đề tài quanh đảo Pulao Bidong). Gần đây, sống ở trong nước nhưng không triển lãm những tác phẩm nghệ thuật ở Việt Nam, Andrew đang chuẩn bị một cuộc trở lại với điện ảnh.

Chúng tôi thường đùa với nhau, xếp điện ảnh vào một trong những “nghề nguy hiểm”. Xem The Island thật sự thấy những người tham gia phim này rất dũng cảm. Nhiều người tin The Island vượt qua bao nhiêu gian khó, rồi đến được các bảo tàng danh giá trên thế giới, có lẽ có phần nào được phù hộ bởi người, và bởi tâm linh của bao thế hệ Rồng Tiên.

Một sinh hoạt mà VFF tâm đắc là trước liên hoan bao giờ cũng có khóa học làm phim nhằm đầu tư giúp phát triển các tài năng trẻ yêu phim, các xuất chiếu miễn phí cho các vị cao niên, trong liên hoan thì mở ra các hội luận và tổ chức kết nối những người làm film trẻ triển vọng hay tài năng với các nhà đầu tư, nhà sản xuất để tạo cơ hội giúp các tác phẩm chuyên nghiệp và đi xa hơn. Có lẽ nhờ chuẩn bị một môi trường cho những phim có giá trị được đón nhận tử tế mà cô Tường Vân, thân mẫu của đạo diễn Song Lang nói với tôi, bà đã được dự nhiều buổi chiếu của Song Lang ở nhiều thành phố lớn trên thế giới, cả ở Việt Nam, thì với bà, khán giả ở Nam Cali đến với VFF tháng 10 vừa rồi là tuyệt vời nhất.

Theo đà này, khán giả có nhiều hy vọng vào năm tới, sẽ có nhiều phim chạm tới tâm can người Việt hơn nữa. Tôi biết nhiều đạo diễn khởi đi từ VFF, nay khá nổi tiếng, đã có những giấc mộng sẽ thực hiện những phim về quá khứ trầm luân thời chiến tranh và lịch sử lưu vong của người Việt. Y Sa Le cho biết cô đã từng giới thiệu cuốn Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy cho anh nầy. Chúng tôi đã từng đứng khóc ở một góc tiệc liên hoan phim này vì thấy quá xa vời nếu muốn làm phim dựa trên các câu chuyện của anh Cao Xuân Huy.

Rồi nhờ xem The Island, tôi thấy hy vọng nhen nhúm trở lại.

Tháng 10 năm 2020, vào các ngày 9,10,11 nếu thuận tiện, mời bạn ghé VFF ở Nam Cali, mong là các bạn sẽ không thất vọng.


Nguyễn Thị Minh Ngọc

Austin, 11-01-2019

———————————————————

(*)VAALA tức Vietnamese American Arts & Letters Association/Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ được thành lập vào năm 1991 bởi một nhóm các nhà báo, nghệ sĩ và bạn bè người Mỹ gốc Việt để lấp đầy khoảng trống và tạo một không gian cho các nghệ sĩ thể hiện mình là một cộng đồng di dân mới được tái định cư. Đây là một tổ chức phi lợi nhuận dựa vào cộng đồng, được điều hành hoàn toàn trong tinh thần tự nguyện của các tình nguyện viên. Trong những năm qua, VAALA đã hợp tác với các đối tác cộng đồng đa dạng để tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa nhằm kết nối và làm phong phú cộng đồng. Những sinh hoạt này bao gồm các hoạt động về âm nhạc, kịch nghệ, triển lãm nghệ thuật, ra mắt sách… và các sinh hoạt thường niên như Liên hoan phim Việt và Cuộc thi Vẽ cho thiếu nhi vào dịp Trung Thu.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Minh Ngọc


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)