Trang chính » , Sáng Tác Email bài này

Thơ Thẩn Trăng Chơi

Đây có được gọi Chuyện Tình của Ông Nội không khi tình yêu chỉ còn một phía, dù Phía Kia đã từng có con với Phía Này và sau khi chia tay nhau, cả hai đều  bước thêm vài bước nữa.

Bốn tuổi, khởi đầu cuộc sống riêng với cha, thi thoảng Thơ có được gặp Ông Nội Tư khi ông từ Thủ Thiêm ghé thăm con và cháu. Lúc này ông đã sống chung với người vợ cuối. Rất ít tin từ bà nội cuối này, chẳng biết bà có gặp chuyện không vui như Cô Năm Thoa, bà nội ruột của Thơ không.

Nhiều chuyện Thơ biết về mối tình “độc’ của Nội Tư và bà Nội Phụng, vợ đầu của ông, là qua lời kể của cha và qua kịch bản, thư từ của Nội Tư để lại. Trong đó, có hai cuốn sách mỏng. Cuốn mà bìa in hình một mình bà Nội Thoa thì Thơ đọc được:

Điệu Tây Tiếng Ta – Bản hát ta, điệu tây mới. Có phụ thêm vọng cổ điệu kim thời – Trích những bản đặc sắc của Thầy Tư Trung và Cô Năm Thoa thường ca tại Hiệp Thành, Hà Nội.

         

Còn cuốn có in hình Nội Tư, Nội Phụng và một người nam nữa thì ghi ở bìa:

Bài Ca theo Bản Tây và Vọng Cổ Điệu Mới, có nhiều bài rất hay của cô Bảy Phụng đã ca trên sân khấu – Trọn bộ 3 cuốn. Tác giả Huỳnh Tư Trung dit Tư Chơi.

           

              

Chơi là biệt danh mà khách mộ điệu thường dùng để nhắc đến Nội Tư của Thơ vì ông biết đờn, biết diễn xuất, biết làm thơ và biết chơi với bạn. Ông là người chủ xướng đường lối “tân thời hóa” sân khấu cải lương bằng cách diễn các tuồng xã hội, hoặc các loại tuồng phóng tác. Ông đã áp dụng hình thức cổ nhạc và tân nhạc trong các loại tuồng mới, với sự dung hợp vừa vặn. Người cùng thời nói về ông bằng mấy chữ: “Anh Tư biết Chơi và dám Chơi!” Còn hiện tại, khi nhắc tới ông, gần như họ quên sạch những gì ông đã làm cho đời mà chỉ kê ông như người đứng đầu trong danh sách những người hôn phối của Cô Đào tên Phụng.

* * *

Họ gặp nhau vào giữa thập niên 20 thế kỷ trước. Phụng, cô gái Tàu lai Việt, mồ côi cha, vừa phụng dưỡng mẹ vừa nuôi thân bằng cách đi in gạch, cả ngày trời chưa được một cắc. Vừa làm cô vừa hát để vơi phần nào nỗi cơ cực và một tương lai mờ mịt thì được mấy người thợ lớn hơn kêu cô nghỉ tay hát cho họ nghe, họ sẽ làm choàng. Thời may tiếng hát của cô gái 13 tuổi ấy lọt vào tai của ông bầu Hai Cu chủ tiệm vàng lớn ở Mỹ Tho. Gánh Nam Đồng Ban của ông vừa rã trước cái chết của anh kép chánh và cũng là con đầu của ông, cô con dâu tài sắc cũng ra đi. Ông mời cô Phụng về với thù lao hậu hỉ để hát trên gánh mới tên Tái Đồng Ban. Muốn đứng được vai đào chánh, cô phải được rèn luyện thêm với ba thầy, thầy Mạnh soạn tuồng đo ni đóng giày cho cô, thầy Nam chỉ cho cô diễn và đóng cặp với cô, còn thầy Trung, rành nhạc lý ngũ cung lẫn nhạc Tây nên chỉ cô ca cho trúng nhịp và truyền cảm các bài bản Ta và Bản Tây. Ba thầy đều quý thương cô vì tư chất có sẵn, sự siêng năng cầu tiến, hoàn cảnh đơn độc của cô. Nhưng để làm nơi nương tựa tinh thần vững chắc cho cô, chỉ có thầy Trung đủ điều kiện, vì thầy còn độc thân. Đám cưới nhỏ trên ghe, ai cũng mừng cho hai vợ chồng tài sắc. Thầy Trung chính là  Ông Nội Tư của Thơ.

Chính Thơ nghe Bà Nội Ba, tức Cô Kim Huê, cô đào cùng gánh với Nội Tư, chị thứ ba của Nội Thoa, cũng là người làm mai em gái mình với Thầy Trung kể lại. Đôi uyên ương Trung-Phụng đang hương lửa mặn nồng thì bên họ nội cô Phụng muốn đưa cô về Quảng Đông thăm bà con. Thầy Trung lâu nay vẫn biết người Tàu vốn không thích gả con gái cho người Việt con trai họ lấy vợ Việt thì được nhưng Thầy không ngờ lúc rời nhà, vợ mình đã cấn bầu và chuyến đi ấy kéo khá dài. Khi Cô Phụng đưa con trở về thì gần như cô đã biến thành một con người khác. Đi đón vợ con, Thầy Trung nhận được một câu nói lạnh lùng: “Duyên phận của tụi mình tới đây coi như chấm dứt”. Khi Thơ và cha cứ sợ Bà Nội Ba quên, theo dò hỏi có phải một trong hai người có người thứ ba không, bà Kim Huê dứt khoát nói không, và còn thêm: Nếu thiệt có người thứ ba, chắc chắn ông nội con không nhớ thương Người Xưa một cách vô lý, đến độ làm tổn thương tới bà nội ruột con như vậy.

Sau này, đọc nhiều bài báo viết ba lý do khiến hai người ly dị, bà Kim Huê đều lắc đầu, kêu trật lất hết. Nói Nội Tư nát rượu là lố, có uống nhiều chăng chỉ là sau chấn thương bị vợ bỏ, con mình lại bị đưa sang gánh khác rồi chuyển sang Tàu lần nữa, muốn gặp vợ nay thêm chữ cũ chăng, chỉ là chờ tới dịp được thăm con. Nói Nội Tư đánh vợ càng sai. Thầy Trung là người có Nho học, tinh thông Anh, Pháp và nhạc lý, nếu là kẻ vũ phu đã không được nhà thơ Kiên Giang vẽ chân dung Thầy bằng thơ:

          …Từ khi biết viết, tim rên xiết,  
          Vì khổ, vì yêu với lụy phiền,
          Một vết thương ngoài còn nhức nhối,
          Huống gì trăm vết ở trong tim

Và kết bằng câu:

          …Bướm vốn chung tình, vẫn khóc hoa.

Cuối cùng, nói Nội Tư mê cô đào trẻ đẹp hơn mà lơ là vợ nhà càng sai đậm, vì sau khi Thầy Trung bị vợ bỏ rồi, Cô Kim Huê mới giới thiệu Năm Thoa, em gái của mình với ông thầy tuồng có tài đó để ông góp tay đào tạo một đào hát giỏi nghề mới mong có cơ hội nổi lên. Mục đích đó đã đạt được. Thầy Trung và Năm Thoa có một gánh hát riêng mang tên bà nội ruột của Thơ. Gánh sống mạnh một thời gian, ra Bắc, sang cả Nam Vang. Ba Hai Hiếu của Thơ kể gánh nhà mình có cả một ban nhạc với toàn các nhạc sĩ Philippines tài năng. Từ năm 8 tuổi, ba đã được ông nội cho học ký âm pháp và đàn banjo với nhạc sĩ Bénito Cruz mà ba lêu là Nội Bê.

Ba Hai Hiếu không phủ nhận với Thơ là Nội Tư có thích uống rượu, nhưng khi buông rượu ra ông hăng say làm việc mà ông đã nhận trách nhiệm. Đó là phải chu toàn việc sáng tác hai loại kịch bản cho hai cô đào chánh của hai đoàn có phong cách khác hẳn nhau, hệt như có người luyện tay vẽ vòng tròn, tay kẻ hình vuông. Đào Phụng cần thể loại “hương xa”, còn Đào Thoa thì tả chân xã hội. Các tuồng của Thầy Trung viết trong giai đoạn đó đạt cả về phẩm chất lẫn số lượng, dư thừa phong độ, thu hút khán giả và dĩ nhiên mang lợi tức đến cho cả hai đoàn.

Viết thì viết, nhưng khi buông ngòi bút hay bàn máy đánh chữ ra, đau nỗi mất điều quý giá nhứt đời mình, đâu dễ phôi pha theo ngày tháng mà chỉ có khoét sâu thêm. Ảo vọng nối lại duyên cầm sắt cũ ngày càng tuyệt tận. Vợ đẹp bên cạnh, tài sắc vang danh, nhưng người viết thừa Men Rượu kia vẫn thấy dường như mình thiếu vắng Hương Tình. Ánh trăng lạnh lẽo thẩn thơ ngoài kia lại tạo cho Thầy Trung cảm giác chơi vơi như là trăng kia gần gũi mình hơn tổ ấm nhà mình. Biết đâu, ở một chiếc ghe hát nào đó, Người Xưa cũng đang ngước mặt nhìn trăng. Vinh quang rồi cũng chẳng làm gì khi từ vết thương sâu rộng trong lòng mình, Thầy Trung lại gây nên vết thương mới trong lòng, vị đắng trong tim cho người vợ tên Thoa. Vợ chồng người ta tay nắm tay hay cùng sánh bước bên nhau, vợ chồng này luôn ở thế so le. Hoặc Thầy Trung tấn bước lên trước, hoặc thụt hẳn phía sau, như cho mọi người thấy cái lòng tôi còn gởi nơi người bạn đường trước đây. Người vợ nào có rộng lòng cách mấy cũng khó chấp nhận người chồng trên hai mươi năm hương lửa với mình, trong lúc riêng tư vẫn gọi tên vợ cũ, dù họ chung sống chỉ có hai năm.

Cô đào Năm Thoa vẫn cố kìm lòng sống nhẫn suốt hai mươi năm có lẻ. Ngoài Hai Hiếu ra, Năm Thoa vẫn gom hết tâm tình sức lực sanh thêm nhiều lượt nữa. Đau là chúng đều trở thành vong linh sau khi ở với cha mẹ khoảng trăm ngày, mặc cho cả hai người tìm đủ mọi cách để giữ con. Biết ông chồng có học cả Anh, Pháp, Nho… và chỉ tin vào khoa học, người vợ đành tựa vào thế giới siêu hình. Được bàn là các con kế bị thần trùng bắt đi, Năm Thoa đặt lễ cúng ký thác con mình cho thầy pháp. Nó vẫn đi. Cô xin cải đạo để có ân sủng của Thiên Chúa, nơi tin con cái đến và đi đều là ý của Ngài. Lượt kế, ý Ngài vẫn là nó nên đi. Sau đó, tin rằng đây là cơ hội cuối cùng, cô quyết tâm xin chuyển cho đứa nhỏ nhận họ Phạm của mẹ để có tên Phạm Thị Mỹ Ngọc, tự Marie. Cô Út của Thơ nay còn sống, ở tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Ngày tháng đó, những năm 40 của thế kỷ trước, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng lại râm ran trỗi dậy. Mỗi lần đặt tên nhân vật, Thầy Trung đã tự dặn mình cẩn thận. Hồi sanh con đầu lòng, cả hai đồng lòng chọn chữ Hiếu, nhưng miệng ông lại bật ra chữ Hảo là tên riêng của cô Phụng Thơ tự hỏi, sau này, Ba Hai Hiếu chọn nghệ danh là Huỳnh Háo, chẳng biết có liên quan gì không? Lúc gây nhau vì chuyện con út không lấy họ cha, Cô Năm Thoa thầm nghĩ xa xôi, hay chồng mình có chút chạnh lòng, liên tưởng đến ngày ông biết mặt con cùng lúc biết nó mang họ Lý, chẳng phải Huỳnh của cha, Trương của mẹ cũng là ngày mẹ nó dứt tình.

Dứt nhưng có cạn không? Cô ấy có lập gánh mới với người phối ngẫu mới vẫn nhờ Cố Nhơn soạn tuồng. Thầy Trung soạn hết, có tích Tàu, có Sử Việt, nào Hai Bà Trưng oai hùng khởi nghĩa, nào Phan Thanh Giản tuẫn tiết, mà theo Thầy thì ngài đã thay vua tạ lỗi với tiền nhơn và mọi người dân. Cô Phụng vẫn cho phép thầy ghé thăm con gái. Không thể tả hết niềm vui của Thầy trong những lần ấy. Trân Trân là một vưu vật. Đẹp, thông minh, biết nhiều thứ tiếng nhiều người nói do ảnh hưởng cha. Thầy cãi, má nó cũng thông minh mà. Điều quan trọng nhứt là Trân rất thương cha. Ngày Cô Phụng chào đi, Thầy như chết nửa cuộc đời, nửa còn lại cưới vợ mới, lập gánh, cố làm việc nghiêm chỉnh như không có gì. Ba Hai Hiếu kể cho Thơ nghe, Nội Tư cẩn thận từng chi tiết khi đứng ra điều hành gánh hát mang tên Năm Thoa. Trong thời buổi thiên hạ quen đi chưn không để chạy việc cho nhanh, Nội Tư muốn nhân viên mình mặc đồng phục, và phải mang giày bata cho đồng bộ. Ông cũng dành giờ tham khảo bàn bạc, thậm chí bàn cãi, hàng ngày với từng nhân viên. Nửa người còn lại còn sống của ông, trong những ghi chép không cho ai biết, ông vẫn giấu giấc mơ tái hợp với Người Xưa. Nửa còn lại ấy suy sụp thêm phần lớn vào ngày Trân Trân về trời ở tuổi ba mươi để lại hai con nhỏ và người cha giờ tin rằng có một lực tâm linh nào đó nguyền ông không thể giữ nổi những báu vật đời mình. Trân có để lại lá thư kêu thương quý cha vô cùng nhưng đau lòng vì sức mọn của cô không thể giúp được gì để cha vơi đi nỗi buồn quá lớn luôn ngập tràn trong ông. 

Khi nghĩ như vậy, Thầy Trung như quên mất đứa con trai độc đinh của mình. Huỳnh Hiếu biết năm ngoại ngữ, từng đoạt giải Tay Trống Đệ Nhứt Đông Dương tại cuộc đấu xảo ở Nam Vang, thắng cả người từng là thầy dạy trống cho mình. Thơ cho là Ba cùng mình có cái huông (đúng hơn là cái gen) bị vợ bỏ của Ông, dù mỗi người bị bỏ mỗi kiểu khác nhau. Việc ba má ly dị nhau thì Thơ biết chỉ vì giờ giấc khác nhau. Cuộc sống của vũ trường lúc đó khởi đầu lúc 0 giờ, tờ mờ sáng cha làm việc xong, về ngủ bù thì mẹ đã phải thức dậy chuẩn bị một ngày mới.

Tuổi thơ của Thơ ám ảnh nhứt vào một đêm, mẹ đã rời đi rồi, ba đi biểu diễn tại Kim Chung Đại Thế Giới mà chờ mãi không thấy về. Biết ba rời đi bằng xe hai bánh, nhưng rốt ba lại đi bộ trở về với chiếc cặp đầy dế than đen nhùi, dế lửa rực đỏ mà ông đã đi suốt mấy tiếng quanh khu đó, cố bắt về để Thơ chơi. Lớn lên, Thơ mới biết vì Nội Tư là nhà Nho, muốn dạy con nuôi chí lập thân nhiều khi phải lạnh lùng, khuyên con dù có theo ngành giải trí giúp vui thiên hạ cũng phải nhớ “…phải học và không chơi, có học mới thay đổi cuộc đời”. Thấy mình vì tuân lời khuyên ấy mà chẳng có tuổi thơ, Hai Hiếu chỉ mong có dịp để con mình đừng gặp điều không may đó.

Thơ thấy ít nhiều mình cũng là “nạn nhân” trong Chuyện Tình của Ông Nội. Nội Thoa ghét ba vì mặt ba y như mặt Nội Tư. Mà mặt Thơ cũng in đậm nét ba. Hậu quả là ít khi được gặp Nội Thoa. Sau này Nội Thoa kết bạn với một ông bác sĩ, có con cháu khác. Mùng Một được gặp bà nội lẽ ra rất vui, nhưng đó lại là một ngày Thơ thấy lạc lõng nhứt, chỉ mong ba và mình chúc Tết bà lẹ lẹ rồi về. Trong lúc chờ đợi, Thơ thường hồi tưởng đến những kỷ niệm đẹp khi Nội Tư ghé thăm. Ông dắt Thơ ra quán cà phê gần nhà, cho Thơ được uống bạc xỉu nóng, đổ ra cái dĩa cho nguội, chấm đầu tăm vào bơ Bretagne hòa vô thơm “điếc mũi”. Chủ quán báo, tiền ông Tư gởi sắp hết rồi đó. Nhờ vậy Thơ biết ông vẫn còn được lãnh tiền tuồng. Mỗi lần vậy thường trích ra gởi cho hai chú Tám Nhỏ, Sáu Đức, chủ hai quán cà phê trong hẻm Cao Đạt coi như trả trước cho mình lẫn những người mình quen ghé quán, cho dù sau đó túi ông có thể cạn sạch.

Ba Hai Hiếu cũng lây tính hào phóng như Nội Tư. Thân “gà trống nuôi con”, rồi lập gia đình với người nguyện không sanh con để phụ nuôi năm con của ông, ông vẫn rước nuôi ngay trong nhà và căn kế bên hơn chục người, cả gia đình vợ cũ từ mẹ vợ, mấy dì cậu và cả mấy người em vợ cũ từ Nam Vang. Thơ lập gia đình, ra riêng sớm. Như nhiều người làm nghề về đêm, Thơ còn ngủ bù khi mọi sinh hoạt đã náo động bên ngoài. Khi choàng tỉnh dậy, thấy chiếc bóng ai như Nội Tư, hóa ra là Ba Hai Hiếu đang đứng ngó mình đăm đăm. Thơ hỏi ngay:

“Ủa, cha đi đâu vậy?”

Ông cười khẽ:

“Nhớ con nên ghé qua thăm. Con đang ngủ say nên nhìn vậy cũng đỡ nhớ rồi!”

Ba vẫn giữ bức tượng đầu người vợ cũ bằng gốm nâu và giao lại cho Thơ trước khi chết. Có lần Thơ xém bật cười mà nước mắt chảy khi Nội Tư ghé nhà, thấy Ba Hai Hiếu cũng lụy tình Người Cũ như mình nên buông lời:  

Đó, bây giờ mày đã rơi vào hoàn cảnh của tao, mày có hiểu đàn bà chưa? Tao tin mày còn xao xuyến bởi cái hình bóng cũ như tao, nên đừng cười nhạo tao…”

* * *

Giờ Thơ đã ở tuổi lục tuần, mới vượt qua một trận bịnh dữ, ôm gia tài là đống bản thảo, thư từ, hình ảnh của Nội Tư, của Ba Hai Hiếu, cả cái đầu tượng của má… chưa biết rồi sẽ giao ai. Cô Phụng đã mất. Ông soạn giả viết bài kể Nội Tư nát rượu, đánh vợ, mê đào trẻ hơn… giờ cũng đã mất, nhưng nhiều người dựa vào bài viết của ông ấy kể đã gặp Thầy Trung để tán ra thêm đời Nội lẫn đời Ba. Như chuyện Ba bắt dế về cho Thơ, để ly kỳ hơn nhiều người viết, lúc mở cái cặp ra cũng là cha được báo tin Mẹ của Thơ đã bỏ chồng con ra đi với tình mới và Ba ngất xỉu luôn tại chỗ. Có lần Thơ gởi e-mail cho ông soạn giả kia hỏi về sự thật trong bài viết về Nội Tư, hỏi cả chuyện mối tình trong tâm tưởng của Nội Phụng với Người Bạn Diễn. Không biết người hỏi là cháu độc đinh của Thầy Trung, ông soạn giả trả lời là lúc viết, ông còn trẻ nên cũng có “cường điệu” kha khá lên. Ngay cả khi con gái của Thầy Nam gặp trực tiếp và hỏi về việc đó thì người viết bài nói lãng qua việc khác.

Nhớ về Nội Tư, Thơ vừa tự hào, vừa thấy xót cho người ông tài hoa nhưng cuộc đời lắm khi đảo điên, lận đận. Lục trên mạng, ở trang wiki, ông không có trang riêng mà chỉ được ghi nhận ở trang Nhạc Tiền Chiến:

…Thành công nhất trong việc sử dụng nhạc điệu Âu Mỹ để đưa ra những bài hát mới, chính là nghệ sĩ Huỳnh Thủ Trung tức Tư Chơi. Ông vừa là diễn viên, vừa là soạn giả và còn muốn là người soạn nhạc nữa cho nên ông đã sáng tác những ca khúc ngắn mà ông gọi là “bài ta theo điệu tây” và soạn ra những tiểu ca kịch (opérette) mà ông đặt tên là “hoạt kê hài hước” (opérette comique) trình diễn trên sân khấu các đoàn hát xuất xứ từ miền Nam là Trần Đắc và Phước Cương (gánh hát của Bạch Công Tử) vào khoảng 19331934

… Ngoài việc soạn ra những tích tuồng mới phản ảnh xã hội Việt Nam vào lúc đó, nghệ sĩ Tư Chơi còn muốn cải cách cả phần âm nhạc. Ông không muốn dùng các bài bản có tính chất cổ truyền như Lưu Thủy, Hành Vân trong opérette của mình. Với sự phổ biến của máy hát chạy bằng lò xo, những “bài hát theo thời” (chansons à la mode) Âu Mỹ đã bắt đầu thịnh hành trong xã hội đô thị Việt Nam. Những bài Pháp như J’ai Deux Amours, Quand On Est Matelot… đã được nhiều người biết đến…

… Một số bài dù khởi đầu phóng tác từ một điệu Tây, về sau được coi là điệu Việt Nam hoàn toàn. Ví dụ bài Hoà duyên nằm trong nhạc mục của ngành ca kịch cải lương, ít người biết nó khởi sự là một bài ta theo điệu Tây của Tư Chơi, Huỳnh Thủ Trung…”

Nội Tư của Thơ có kiểu sống và viết cứ lãng đãng như vờn bóng giỡn trăng nhưng với con cháu, ông vừa thương yêu vừa nghiêm khắc. Thơ tin điều đó khi ở tuổi lên ba, từng thấy ông nội bắt Hai Hiếu quỳ ngay quán cà phê trong cái xóm mà ai cũng biết cả hai cha con đều có tiếng tăm với đời, chỉ vì cậu trưởng nam 28 tuổi của ông, vừa làm sai một điều gì đó. Nội Tư hỏi, mày tên gì. Thưa, con tên Hiếu! Ờ, phải nhớ, đặt con tên Hiếu vì mong con tỏ lòng hiếu thảo bằng cách sống sao đừng để đời réo tên cha mẹ ra trách móc.

Thơ cũng đọc được lá thư ông viết dặn dò, khi thấy không còn có ích gì nữa cho đời thì tuyệt đối không nên bẹo hình bẹo dạng ra chốn đông người nữa mà phải kiếm đường “đi chỗ khác chơi”. Câu cuối của thư đó ông buông nhẹ, còn căn nhà ở đường Trần Hưng Đạo đó, cho con để muốn về ở hay cho ai mướn thì tùy. Gia tài của ông Nội Tư cho con cháu còn là những lời khuyên. Ví dụ như: “Có tài nhưng đừng đi xa quá, chỉ vượt lên người khác một chút thôi. Vượt xa quá, người ta không hiểu mà còn đánh cho tơi tả!”

Còn chuyện bà Nội Phụng, Thơ vẫn tin khi đã quyết chọn người để cưới, ngoài những cảm kích thầy trò khác, thì Nội Tư là vẫn mối tình đầu của bà. Nhưng rồi một ngày bà nhìn ra mình có một mối tình lớn hơn, cho dù sau này bà có kết hôn với ai khác nữa, thì vẫn chỉ để giúp cho bà chạm vào lòng đam mê cuộn sóng dành cho nghệ thuật sân khấu cải lương của bà. 

Nguyễn Thị Minh Ngọc

11-14-2023

bài đã đăng của Nguyễn Thị Minh Ngọc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)