Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Tháp Gãy

0 bình luận ♦ 10.03.2020

broken-obelisk-mail   
Broken Obelisk –tranh Lê Sông Văn


Có ai đó nói với tôi: Đời sống thật khó lường. Lớn lên, học ra trường, đi làm, lấy chồng… mọi chuyện bình thường. Mỗi buổi sáng đến sở, buổi chiều về nhà cùng chồng dùng cơm tối, dọn dẹp nhà cửa, rồi cuộn mình trong chiếc ghế bành cạnh lò sưởi với tách trà nóng, cuốn sách, và thỉnh thoảng một cái bánh táo nướng thơm lừng cả nhà. Yên bình vậy, tưởng sẽ chẳng bao giờ thay đổi, trừ phi sinh ra một đàn con làm náo động cái khung cảnh êm đềm ấy.

Thế mà đùng một cái bỗng có một sức mạnh kéo bật tôi ra khỏi tất cả, bốc tôi lên… Hệt như một cơn bão thổi qua thành phố và bứng bật gốc rễ cái cây đang được trồng trong sân nhà, thả xuống một cánh đồng xa xôi, hoang vắng…

Giờ thì tôi đang ngồi đây, tại một thành phố hoàn toàn xa lạ, trước cái Broken Obelisk của Barnett Newman. Tôi tự dịch là Tháp Gãy. Tôi phát hiện ra chỗ này nhờ một lần cách đây nhiều năm tôi bay sang Houston dự đám cưới một người bạn. Từ đó đến nay, nó in vào tâm trí tôi. Đến một lúc nào đó, nó bỗng hiện ra lồ lộ trước mặt, như một người bạn thân thuở ấu thơ hay như chính bản thân tôi đang lõa lồ trước mắt mình, nó khiến tôi khao khát được nhận ra, được chia sẻ, được chìm đắm vào cái thế giới nội tâm của chính mình và không lẩn trốn nữa.

Suốt thời con gái tôi đã sống giữa một trạng thái kỳ lạ, giống như người đang chờ đợi một điều gì rõ rệt hơn xảy đến với mình. Như một học sinh cứ cắm cúi học vì đã được gửi vào trường, học để đi thi song chẳng biết sẽ thi vào ngành gì, và sẽ làm gì với ngành nghề ấy. Nói như thế cũng vẫn chưa thật đúng với tâm trạng và cách sống của tôi lúc ấy. Gần như tôi chỉ sống lặng lẽ giữa một thế giới hỗn loạn đầy rẫy người và người, những con người tôi chỉ lướt qua và chẳng bao giờ nhớ nổi được tên gọi hay nét mặt của họ, dù đó là một bà giáo đã dạy tôi học trong nhiều năm, hay một cô cậu học sinh đã ngồi cùng bàn với tôi suốt thời trung học. Bây giờ nhìn lại quãng đời ấy, tôi thật sự ngạc nhiên và tin chắc mình đã không bình thường, hoặc mang một chứng bệnh gì đó đại loại rất khó nhận ra, chỉ những nhà tâm lý chuyên môn mới phân tích nổi. Càng nghĩ, tôi càng nhận thấy tôi đã là một đứa trẻ đầu óc không phát triển lành mạnh. Từ một đứa trẻ như thế, hẳn nhiên tôi trở thành một cô gái khập khiễng, thiếu cân bằng. Tôi đã sống rất khó khăn trong sự cô đơn và buồn bã của tuổi trưởng thành.

Trong suốt những năm như thế, những năm mà tôi không nhớ nổi tên một người bên cạnh, tôi lại chưa bao giờ quên được hình dáng anh, tên anh, tuổi anh, và cả hai bàn tay, những cử động nhịp nhàng của mười ngón tay trên cây đàn guitar.

Năm ấy tôi mười lăm tuổi. Lần đầu tiên có một người con trai đàn cho tôi nghe. Tôi còn nhớ rõ bản Cavatina của Stanley Myers. Thời ấy những người học classical guitar chắc vẫn hay chơi bản nhạc này. Tôi không nhìn rõ được mặt anh. Anh cúi xuống nhìn chăm chăm vào bàn tay mình, tóc anh che gần hết mặt. Trong ánh đèn dầu của đêm mất điện, một đàn gà cục tác xung quanh, tiếng lũ trẻ hàng xóm đùa giỡn từ đường phố vọng vào, và tiếng xe cộ, tiếng rao hàng… Tôi lọc những tiếng động ấy sang một bên, tập trung vào tiếng đàn của anh. Tôi nhận ra tiếng đàn ấy, nó vừa chững chạc và cũng vừa bất an, hệt như người con trai gầy ốm trước mặt tôi. Có lẽ lúc ấy tôi đã yêu anh và nếu như lúc ấy tôi không phải là một đứa con gái ngố thiếu trưởng thành thì tôi đã biết cách nói lên điều này. Nhiều năm sau tôi vẫn buồn vì tôi đã không biết chạm tay mình vào tay anh, hoặc ít ra cũng chạm vào cây đàn một cái.

Đó là những năm tháng chúng tôi cùng nhau khám phá rất nhiều thứ từ cuộc đời: âm nhạc, thi ca, hội họa, và những hẹn hò trai gái.

Sau khi miền Nam sụp đổ năm 1975, Sài Gòn kiệt quệ vì sự túng thiếu. Tuổi trẻ hớt hải và tuyệt vọng. Giữa đường phố tràn ngập cảnh đốt sách và kiểm kê tư sản cùng những khẩu hiệu hô hào lòng căm thù bọn “Mỹ Ngụy” đồi trụy, chúng tôi gặp nhau ở cái điểm dửng dưng và cách biệt với cuộc đời. Mỗi ngày tôi chui vào căn gác xép của gia đình anh, đọc ngấu nghiến đống sách “kiểm kê” từ những gia đình “Mỹ Ngụy” do một ông cán bộ cao cấp được phường gửi gấm ở nhà anh mang về. Cách gửi một ông cán từ Bắc vào ở chắc cũng là một cách để nhà nước dòm chừng những gia đình trí thức, và chiếm dần nhà của dân. Chúng tôi đã phát hiện được kho tàng này, và thỉnh thoảng vẫn lén trộm một vài cuốn sách khi ông cán bộ đi vắng. Sự thật là chúng tôi hoàn toàn tự tung tự tác vì ông ta rất ít khi ở nhà, chỉ về đến nhà trèo lên căn gác và chất thêm sách vào những ngày cuối tuần, rồi lại mất dạng.

Mãi nhiều năm sau này, thậm chí cho đến bây giờ, những cuốn sách ấy vẫn còn lật đi lật lại trong tôi. Thỉnh thoảng khi có dịp ngửi mùi giấy sách cũ, tôi bắt gặp mình ngồi thừ ra, giống như một người đang đi phăng phăng trên đường bỗng dưng mất phương hướng, không hiểu mình đang đi đâu, phải định thần một lúc mới cất bước tiếp được. Làm việc gì tôi cũng rơi vào cái trạng thái bất thần cắt ngang như thế. Tôi vẫn không nghĩ rằng tôi đang nhớ anh. Tôi biết anh ở đâu đó, nhưng ngoài cuộc đời cuộc sống tôi, nên tôi chấm dứt cái cảm giác đờ đẫn ấy ngay lập tức.

Thật ra thì trong rất nhiều năm lao vào cuộc sống mới ở xứ người, tôi chẳng mấy khi có thời gian để phân tích cảm giác này. Nó vẫn len lỏi vào giữa những đoạn nghỉ, hoặc bất thần khi có ai đó nhắc nhở một điều gì, nhưng chỉ trong vài phút và nó khiến tôi khó chịu với chính mình. Sau này thì tôi hiểu rằng đó là mặc cảm của người bị bỏ rơi, không muốn nhớ đến nữa. Nó cũng từa tựa cái cảm giác bất cần đời của một cô nàng lêu lổng sa sút, hoàn toàn tuyệt vọng và không còn nghĩ đến chuyện vươn lên.

Vào đại học, tôi nhốt mình trong phòng tối rửa hình như một người lên cơn nghiện. Ngành photo khiến tôi nhìn cuộc đời qua lăng kính mới. Tôi đóng khung tất cả. Từ cảnh trí cho đến con người. Tôi mang tất cả vào bóng tối và khiến nó hiện ra dưới bàn tay mình. Mùi sách vở cũ kỹ dần lùi xa khỏi ký ức, thay vào là mùi của những chất hóa học trong lab. Thỉnh thoảng hoa mắt, tôi cũng vẫn bị ám ảnh gương mặt anh khi những mảng đen trắng của một tấm hình nào đó vừa hiện lên mờ ảo trong nước. Có những học sinh sau này về lại Sài Gòn, chụp rất nhiều hình đường phố và mang vào trường triển lãm. Tôi không bao giờ bước vào những phòng triển lãm ấy. Chỉ thấy bực mình vô duyên cớ, và tôi cũng không muốn hiểu rõ hơn cảm giác lúc bấy giờ. Cũng đã có nhiều lần ruột gan tôi thắt lại vì những kỷ niệm tuổi thơ ấu. Đêm tôi mơ thấy tiếng gà cục tác, tiếng đàn guitar của anh, tiếng xe cộ, tiếng gió. Tôi ngồi bất động cạnh anh, không dám thở mạnh, sợ tất cả tan biến.

Nhưng buổi sáng thức dậy thì không còn dấu vết gì từ bóng tối. Tôi rửa mặt, trang điểm vội vã, chọn một bộ áo quần cho hợp với thời tiết rồi nhảy vào xe với một ly cà phê to go, chạy vội đến trường.

Tất nhiên trong trường học cũng có vài anh chàng để ý đến tôi. Thỉnh thoảng tôi cũng được mời đi dự một vài party của bạn bè. Thường thì tôi ngồi một xó, uống rượu rất nhiều cho đến khi ngà ngà say. Khi say rồi thì tôi mới mạnh dạn ra sàn nhảy, lẳng lơ với đám các cậu chàng tán tỉnh tôi, nhưng đa số những buổi như thế chẳng đi đến đâu, kể cả một nụ hôn. Tôi chờ tỉnh rượu và dong xe về nhà. Trong xe, tôi nghe lại bản nhạc Cavatina. Những lúc ấy thì không nghi ngờ gì nữa, tôi không ngừng nghĩ đến anh. Tôi lái xe lạc đường nhiều lần. Tôi lái qua cả nhà mình mà chẳng nhận ra. Tôi nghe đi nghe lại bản nhạc cho đến lúc trái tim như tê đi, không phân biệt được cảm giác buồn vui nữa thì tôi mới đậu xe vào garage, sập cửa lại.

Bao lâu rồi tôi đã sống như thế?

Chuyện này bắt đầu từ lúc nào và tại sao tôi đã không bao giờ nghĩ đến cách chấm dứt nó, cứ lơ mơ trong một đời sống lúc nào cũng như thiếu hụt cái gì đó. Tôi cứ sống như thế và giả bộ như tôi đang sống rất ổn thỏa. Có lẽ điều này đã bắt đầu từ cái ngày hôm ấy, giữa một buổi trưa nắng chang chang tôi đạp xe đến tìm anh để từ biệt.

Thuở ấy tôi chưa bao giờ từ biệt một người nào, chưa bao giờ hiểu được sự phân ly sẽ ra sao, dù rằng vào thời điểm đó tôi đã nghĩ rằng rời bỏ Sài Gòn sẽ không bao giờ có cơ hội quay trở lại. Trên đường đến nhà anh, tôi đã đạp liên tục cái xe cũ kỹ để kéo nó lên con dốc. Tôi đã chuẩn bị trước mọi thứ. Tôi đã tự nhủ mình sẽ khóc cho thỏa sức và sẽ nói hết với anh rằng tôi chỉ yêu anh, mãi mãi yêu anh, sẽ không bao giờ yêu ai khác nữa. Tôi sẽ kéo anh lên căn gác xép ấy, ngã xuống những chồng sách, và anh muốn làm gì tôi thì làm, tôi đã sẵn sàng chết vì anh. Tuổi trẻ thật tội nghiệp.

Đến nơi, tôi sững người vì thấy dáng anh uể oải ngồi trong nhà, và gần như miễn cưỡng đứng dậy tiếp tôi. Bao nhiêu lời đã soạn sẵn trong đầu bỗng biến đi đâu mất. Đầu tôi nhức như búa bổ, cổ bỏng rát vì khát. Tôi đứng như thế, lóng ngóng trước cửa nhà anh, không biết phải làm gì. Anh không kéo tôi vào nhà như mọi khi. Anh cứ đứng lặng lẽ như thế, như không biết tôi là ai, vì sao tôi đến vào giữa trưa nắng thế này, và những điều chúng tôi đã chia xẻ với nhau ngần ấy ngày tháng dường như đã rất xa xôi, anh không còn nhớ nữa.

Cố gắng hết sức mình, tôi cầm tay anh. Em đi đây. Sáng mai em bay. Chỉ có thế. Tôi quay xe trở lại con đường cũ. Vừa đến khúc quẹo thì tôi bắt đầu khóc như mưa. Tôi đạp xe thật nhanh, vừa đạp vừa khóc. Con đường về nhà mờ trong nước mắt. Lần đầu tiên tôi khóc vì anh. Tôi sẽ khóc một lần này và sẽ chôn anh vĩnh viễn ở đây.

Buổi sáng hôm sau tôi lên máy bay. Vĩnh biệt thành phố. Tôi cũng khóc nhưng hình như tôi khóc vì chia tay mấy đứa bạn thân của mình, chứ không phải vì anh nữa. Ít nhất vào thời điểm ấy tôi đã cho là vậy.

Bài học đầu tiên về sự ly biệt, mà mãi đến nhiều năm sau này tôi mới nhận rõ được ảnh hưởng của nó.

Thời kỳ ra trường, đi làm cũng chẳng có gì lý thú hơn. Mỗi ngày tôi nối đuôi một hàng xe cộ chờ đến lượt mình thoát ra khỏi con phố đông nghịt người qua lại. Xét về đường công danh thì tôi cũng bình thường như đa số bạn học của mình, có nghĩa là ra trường ngành Photo và làm một việc chẳng ăn nhậu gì đến nó: bán vé máy bay cho một công ty du lịch Việt Nam. Một ngày tôi bán cả chục vé cho khách hàng, điều này khiến cái tên Sài Gòn được lập lại đi lập lại trên miệng tôi liên tục. Tuy thế, không có nghĩa là nó không lấn cấn trong lòng. Những lúc rảnh rỗi tôi lại chìm ngập trong cái cảm giác kỳ lạ chẳng biết buồn vui ra sao, cứ như là tôi đang hối hận một chuyện gì, hay một chuyện gì rất hệ trọng trong cuộc đời tôi cần phải được giải quyết.

Một lần có một khách hàng về thăm gia đình ở cùng con đường nhà anh. Khi biết được điều này qua cuộc nói chuyện với ông ta, tôi bỗng luống cuống. Ruột tôi quặn lại và sau giờ trưa tôi đã viện cớ chóng mặt xin về sớm. Tôi lái xe miên man, chăm chú nhìn con đường trước mặt, chẳng buồn đến mở một dĩa nhạc để nghe, hay đúng hơn là tôi không muốn nghe một thứ âm thanh nào trong ngày hôm đó nữa. Cảm giác từa tựa như đang đi trên con đường quang đãng, bỗng nhiên có một đám mây ảm đạm phủ trùm lên tôi khiến tôi lúng túng. Cuối cùng tôi dừng xe lại một quán cà phê quen thuộc và ngồi đó hàng giờ. Tại đây tôi đã gặp người chồng tương lai của mình.

Tôi không có gì để phàn nàn về cuộc sống hôn nhân. Chúng tôi sống với nhau rất thoải mái. Tôi mang ơn chồng tôi vô cùng vì anh đã chọn tôi làm người bạn đời, chia sẻ cuộc sống với tôi. Nhưng cuộc sống vợ chồng cũng chẳng khiến tâm hồn tôi yên ổn. Vấn đề là ở chỗ tôi. Có cái gì đó thiếu chất quyết định trong tôi, dù nhìn bề ngoài có vẻ như tôi là người hoàn toàn độc lập, dứt khoát, luôn lao vào đời sống và chọn lựa cách sống theo ý riêng của mình. Đôi lúc tôi nghĩ mình như một con tàu trôi đi mải miết, và trường học, công việc, hôn nhân như một bến đỗ tôi vô tình tấp vào, chứ không phải do tôi chọn lựa, hay là mục đích gì to lớn cả. Tôi chỉ lướt qua bề mặt của cuộc sống và của chính bản thân, không thật sự hiểu điều đang thiếu thốn mà lẽ ra tôi đã phải tìm kiếm và đào sâu hơn trong con người mình. Sau này, khi đã từ bỏ tất cả, thì tôi đã tìm ra nó, cái mà tôi đã lóng ngóng không hiểu suốt nhiều năm ròng rã: nó chính là bản chất.

Chồng tôi vẫn hay đùa với tôi rằng: “bản chất của đàn bà là sự phản bội”. Lời bông đùa không mang một ý nghĩa gì lắm, nhưng cũng khiến tôi nghĩ ngợi về nó. Phản bội không phải là bản chất, đối với tôi, nó là chuyện không lựa chọn được, nó là một thứ gắn liền với số phận, mà có vẻ như, ít ra là trong trường hợp của tôi, nó là thứ đi kèm với sự trưởng thành, nhận biết. Như lúc này đây, đang ngồi trước cái Tháp Gãy này, nhìn nó yên tĩnh trên một mặt nước tĩnh lặng của buổi chiều, tôi nhận ra lòng mình chưa bao giờ bình thản như thế. Tôi không còn lướt qua cuộc sống một cách hời hợt nữa. Có lẽ tất cả đã hiện ra ở đây. Tôi đã bước hẳn một bước sang phía bên kia (tạm gọi là như thế vì trước đây tôi chỉ ở một phía, tạm gọi là phía bên này). Tôi đã tìm ra một vết nứt trong tâm hồn. Tôi đã gãy, đổ, và đứng dậy, nhập vào thời gian, tôi trôi theo giấc mơ, đi tìm những điều thiếu sót ở cuộc sống và con người mình.

Bây giờ, trước cái hồ nước phẳng lặng, tôi nhìn cái Tháp Gãy và ví mình với nó. Đây là một khối đồng đen vững chắc, hùng dũng, vươn thẳng lên trời. Một tác phẩm điêu khắc vĩ đại được chọn đặt ở đây để tưởng niệm Martin Luther King. Tháp Gãy là sự giao tiếp giữa một khối đồng đen hình chóp, như Kim Tự Tháp của Ai Cập, và một khối đồng đen khác như một đài tưởng niệm với vết gãy ở đỉnh. Sự tiếp xúc giữa hai khối tháp vĩ đại này chỉ là một điểm, chính là điểm đỉnh của Kim Tự Tháp, khiến tôi nhớ đến những điểm trong bộ môn hình học thuở còn ngồi trên ghế nhà trường. Hai đường thẳng không song song với nhau rồi sẽ gặp nhau tại một điểm. Sự tiếp xúc mỏng manh này khiến Broken Obelisk có một sự thăng bằng tuyệt hảo không phải ai cũng có được, như sự thăng bằng của người làm xiếc đang đi trên dây khiến ta nín thở theo dõi, sự thăng bằng của một người đang đứng ở một điểm mất thăng bằng, một sự thăng bằng nguy hiểm, đánh đổi bằng cả tính mạng. Tôi đã nhìn thấy một bản khác của tác phẩm này ở New York, và thấy nhiều trong sách vở nhà trường, nhưng mãi đến khi ngồi ở đây, giữa một khu gia cư bình thường, tại một thời điểm mà tôi đã rời bỏ tất cả, tôi mới nhận ra nó: một sự bi thương hùng tráng.

Ở đây, tôi ngồi thong thả ngó mình. Tôi nhìn bóng mình in trên nền đất, thấy người đàn bà tôi đang trở thành: cô độc, thất bại, nhưng hài lòng.

Đã có một thời gian rất lâu tôi hoàn toàn không hài lòng về mình, dù rằng đó là thời gian yên ổn nhất, tương lai có vẻ sáng sủa và hứa hẹn. Tôi cùng với một vài người bạn hùn vốn mở quán cà phê và quán đã mang lại cho tôi một số vốn khá lớn, ngoài sự chờ đợi của mình. Tôi mua một căn nhà rất vừa vặn, ở sát cạnh quán. Không gì lý thú hơn là ở sát chỗ làm việc của mình, và chỗ làm việc lại là một quán cà phê ấm cúng do chính tôi bày biện. Thời đó chúng tôi còn chụp hình hăng say, cuối tuần nào cũng có triển lãm hình mới ở quán, thỉnh thoảng cũng bán được một vài bức ảnh, dù chỉ là một món tiền nhỏ tượng trưng nhưng cũng làm chúng tôi vui vẻ hồ hởi. Tôi quyết định xây cả một phòng rửa hình quy mô trong sân nhà mình. Phòng rửa hình này vô tình trở thành một chiếc cầu bắc ngược về bóng tối. Tôi đã nhốt mình vào đó hằng đêm, và những cố gắng khó khăn ngược với bản tính mình để hòa nhập vào đời sống ngoài kia càng ngày càng yếu dần, tôi tách mình khỏi đời sống và bạn bè, và rồi, xa dần cả đời sống hôn nhân.

Một đêm trong phòng tối, tôi lôi một cuộn phim nhận in giùm cho một người bạn cũng là người hùn vốn với tôi mở quán. Đây là một lô phim tôi nhận làm mà cứ lười biếng ngâm mãi. Tôi quyết định in khoảng 10 tấm 8″ x 10″ tặng anh ta cho xong chuyện, hơn nữa, đêm nay tôi cũng không chú tâm làm một điều gì đặc biệt. Mở bản Cavatina mình yêu thích, tôi bắt tay vào công việc.

Nhưng, cái gì thế này. Tôi bắt đầu bị cuốn vào mớ phim đen trắng, chỉ chụp hai bàn tay trên cây đàn guitar. Hai bàn tay nam, những ngón dài thon thả và mạnh mẽ. Những ngón tay lúc ngập ngừng lúc phóng túng. Những ngón tay quấn lấy dây đàn, từng động tác của bàn tay đều mang một vẻ mềm mại quyết liệt, như kêu lên cùng tiếng đàn. Tôi rùng mình. Tôi cắm cúi rửa hết tấm hình này đến tấm hình khác, cho đến khi một gương mặt thân quen hiện ra. Bây giờ thì những ngón tay đã siết chặt lấy trái tim tôi. Anh nhìn tôi từ khay nước, trong ánh đèn đỏ của phòng tối, gương mặt anh lung linh theo làn nước, từ từ hiện rõ, hiện rõ, và nhìn tôi chăm chăm.

Anh ở đâu ra thế? Tôi rên lên. Sao anh lại đến đây giữa đêm khuya này? Tôi lôi mớ hình, sấy khô, và ghim thành hàng trên tường. Tôi làm tất cả những điều ấy như một cái máy vừa được ấn nút, bật dậy chạy. Hai mươi ba tấm hình chỉ chụp hai bàn tay trên cây đàn, hai bàn tay đủ dáng vẻ, lúc hăng say, lúc sầu muộn, lúc tha thiết, và một gương mặt làm chấn động hồn tôi. Tôi không tin ở mắt mình. Tôi nhìn anh chăm chăm. Tôi nhìn không chớp mắt.

Căn phòng rõ ràng có sự hiện diện của anh chứ chẳng phải chỉ là một tấm hình. Cảm giác thật kỳ lạ. Tôi nghe rõ hơi thở anh, nhịp tim anh. Tôi nghe tiếng đàn anh. Cứ như thế, tôi đứng chết trân, đối diện với bức tường, không rời mắt khỏi tấm ảnh. Càng nhìn, tôi càng cuống. Tôi muốn chạy ra khỏi phòng Lab, nhấc phone gọi người bạn, chủ nhân của những tấm hình này, nhưng sự hiện diện của anh đã kéo tôi lại. Tôi đưa tay sờ gương mặt trong hình. Anh ở đây, phải không. Cuối cùng thì anh đã đến. Em đã tìm ra anh. Tôi vuốt ve đôi chân mày, đôi mắt, sống mũi, và khoé miệng. Tôi nghe nhịp tim mình đập mạnh, vừa vui mừng, vừa đau đớn.

Anh đã rời Sài Gòn sang đây từ hồi nào mà không liên lạc với tôi?

Sau cơn choáng váng, tôi định thần suy nghĩ xem tôi sẽ gặp anh như thế nào. Tôi sẽ nói gì? Sẽ làm ra vẻ thờ ơ, vô tình gặp lại, sẽ không nhận ra anh. Tôi sẽ chìa tay bắt tay anh, và nhíu mày “chúng ta đã gặp nhau ở đâu nhỉ?” Có ổn không? Liệu có mất nhau một lần nữa không? Tôi bấn loạn. Tôi run rẩy. Như một cô gái mới lớn, lần đầu tiên hẹn hò, kiệt sức trong chờ đợi.

Đồng hồ điểm ba giờ sáng. Tôi quyết định đi ngủ, sáng dậy sớm sẽ gọi chủ nhân của những tấm hình này, nhưng tôi không muốn trở vào nhà và leo lên giường ngủ cùng chồng. Dù chưa làm gì rõ rệt, tôi cũng tự cảm thấy mình đã phản bội. Bắt đầu từ giây phút gương mặt anh hiện lên trong khay nước rửa hình, tôi đã trở thành một người vợ ngoại tình. Tôi vẫn còn ở trong trạng thái nghẹt thở, không nghĩ xa hơn hay lo lắng cho cuộc hôn nhân của mình. Lúc này đây, nếu phải lao vào lửa, tôi cũng sẵn sàng. Tôi sẵn sàng vượt qua tất cả, chỉ để biết được một điều, cái điều mà tôi vẫn tự hỏi nó là cái gì, là điều gì, và nó ở đâu ra, sao cứ cắt rời từng đoạn trong đời sống hàng ngày của tôi, khiến tôi bất an, thao thức.

Tất nhiên là tôi chẳng ngủ được. Tôi trở ra phòng tối, nhìn chăm chăm vào những tấm hình. Tôi ngồi hàng giờ như thế, rồi ra vườn và lại tiếp tục ngồi, rồi lại trở vào phòng tối tiếp tục ngồi, nhìn những tấm hình. Mặt trời bắt đầu ló dạng. Tôi mệt nhoài nhưng không cảm thấy buồn ngủ. Tôi muốn giữ mình tỉnh táo, không rơi vào giấc ngủ. Tôi muốn suy nghĩ, dù rằng tôi đã mệt đến nỗi không nghĩ ngợi gì được nữa, chỉ biết rằng người xưa đã hiện lên, ngay trong căn phòng tối của tôi, giữa mảnh vườn này, và tôi sẽ tìm ra anh.

Tìm ra anh và rồi làm sao nữa? Để làm gì? Tôi không cần biết. Cái việc tìm ra anh, đối mặt, nhận ra nhau, thôi thúc tôi đến mức tôi sẵn sàng đổi lấy cái chết. Tôi cần biết. Biết cái gì đó mà tôi chưa biết. Tôi cần phải quyết định. Cần phải đứng sát vực thẳm và quyết định. Một lần, để không còn thắc mắc.

Trời còn sớm, tôi đến quán cà phê, dọn dẹp, lau chùi, xếp lại lũ bàn ghế ngay ngắn, pha sẵn mấy bình cà phê cho khách. Tôi tìm việc làm để giết thời gian. Người nhân viên phải lo việc này đến muộn hơn tôi, rất ngạc nhiên tôi đã thay anh ta làm bao nhiêu việc. Tôi ngồi chờ thời gian trôi và uống liên tục mấy tách cà phê, vẫn thấy mình trong trạng thái nửa tỉnh táo, nửa như đang mớ ngủ. Ngoài kia, thành phố vẫn chưa rõ nét. Thời gian trôi chậm chạp. Đến khoảng chín giờ sáng thì anh bạn chủ nhân những tấm hình mới đến, tôi như nhào ra vồ lấy anh ta.

“Này cậu, mình đã rửa xong cuộn phim cậu nhờ. Xin lỗi nhé, đáng lẽ mình phải làm cho cậu sớm hơn. Mình vẫn còn đang để nó trong phòng tối đấy. Chiều nay sang nhà mình chứ!”

Anh bạn hồ hởi ra mặt:

“Nhất cậu. Không sao. Mình không vội. Chiều nay nhé. Mình ghé ngang lôi thằng bạn mình đi nhậu đây. Cậu không phiền chứ.”

“Không hề. Xin mời. Nhưng mà làm ơn cho mình biết người mẫu của cậu hiện đang ở đâu? Mình nhận ra anh ta là người quen cũ của mình.”

“Hả? Anh ta nào?”

“Thì là người cậu chụp đấy. Hai mươi ba tấm chỉ chụp bàn tay chơi đàn, và một tấm chân dung.”

“Cậu có nhầm không? Hai mươi ba tấm bàn tay chơi đàn thì đúng rồi, làm sao cậu nhận ra người quen chỉ qua đôi tay? Cuộn phim hai mươi bốn tấm, nhưng mình không có tấm hai mươi bốn, vì mình nghĩ mình lên phim quá tay, mất toi một tấm rồi.”

“Cậu nhầm đấy. Cậu còn một tấm chân dung rất đẹp. Chính vì nó mà mình mới phải hỏi cậu đây. Người này hình như là người quen của mình.”

Anh bạn tôi gãi đầu:

“Thôi cô nương. Cậu lú rồi. Mình chẳng chụp gương mặt ai cả. Nhưng nếu cậu nhận ra đôi bàn tay thì mình cho cậu biết rằng đôi tay ấy chính là của cái tay thỉnh thoảng đến đàn cho quán mình vào tối thứ Bảy, cậu gặp hắn nhiều lần rồi mà.”

Tôi ngẩn người. Không sao có thể tin được những điều này. Tôi gạt phắt anh ta sang một bên, lao ra cửa. Tôi đâm qua đường chẳng ngó trước sau khiến một chiếc xe thắng gấp. Tôi phải chạy về nhà mang xấp hình sang đưa vào mặt anh ta mới được. Tôi tránh cửa chính, sợ làm chồng thức giấc, nên vào bằng lối cửa vườn, đi một mạch ra phòng rửa hình. Tôi bật đèn. Một loạt hình vẫn còn đấy, những bàn tay đủ dáng kiểu, nhưng tôi đã đứng chết trân vì chẳng thấy bức chân dung nào cả. Những bàn tay như rủ nhau cùng hòa đàn khiến đầu tôi ong ong, đau nhức. Tôi ngồi phịch xuống chiếc ghế mà đêm qua tôi đã ngồi hàng giờ ngắm nhìn gương mặt anh trên tấm hình còn ướt. Không thể nhầm lẫn được, rõ ràng là tôi đã rửa tấm hình ấy, đã chỉnh độ sáng tối, đã sấy khô, đã ghim vào bức tường này. Suốt đêm tôi đã nói chuyện với nó, thậm chí đã lướt ngón tay trên gương mặt ấy, từ sống mũi, đến miệng, cằm… Như thế đấy. Chẳng có ai vào đây mà tấm hình đã biến mất. Chồng tôi vẫn còn say ngủ, phải quá trưa mới tỉnh dậy, và chẳng có lý nào chồng tôi lại đi ra đây để thủ tiêu tấm hình. Hơn nữa, tôi chỉ mới rời nó chưa đầy năm tiếng đồng hồ. Nó biến mất. Anh đã biến mất.

Một lần nữa anh lại biến mất không lý do.

Tôi xô cửa chạy ra ngoài. Tôi cần không khí. Tôi đang thở dốc, thở mạnh, mà hai buồng phổi vẫn cảm thấy thiếu dưỡng khí. Đứng ngoài vườn, dưới bóng cây, tôi cố bình tĩnh. Tôi cứ đứng như vậy, nhìn chăm chăm vào căn phòng rửa hình. Một làn gió nhẹ thổi qua khiến tôi lảo đảo. Gió lướt ngang cổ tôi, tai tôi, rồi thì thầm những lời kỳ dị. Tôi đẩy cửa, bước trở vào phòng rửa hình. Vẫn hai mươi ba tấm hình và những bàn tay đang nhảy múa. Không có anh. Không có gì hết. Tôi cố nhớ xem mình có uống tí rượu nào hôm qua không. Tuyệt nhiên không. Chẳng có dấu vết gì của bình rượu.

Tôi gỡ những tấm hình xuống và bắt đầu đếm. Một, hai, ba…hai mươi ba. Tôi đếm đi đếm lại. Hai mươi ba tấm. Tôi bắt đầu lục thùng rác, lôi tất cả những mảnh giấy nhỏ đã thử độ sáng tối khi rửa hình, mong tìm được dấu vết của bức chân dung. Chẳng có gì cả. Chỉ những bàn tay, ngón tay. Biết mình chẳng cất nó đi đâu nhưng tôi cũng lục từng cuốn sách, từng hộc tủ. Hoàn toàn tuyệt vọng. Tôi lôi mớ negative ra kiểm tra, đúng như lời anh ta nói, cuộn phim hai mươi bốn lên quá tay, chỉ còn hai mươi ba tấm chụp đôi bàn tay gảy đàn.

Không còn đủ sức làm một điều gì khác nữa, tôi chạy ngược vào nhà ngay lúc chồng tôi vừa chuẩn bị ra khỏi nhà, đến quán cà phê. Anh chỉ kịp vẫy tay chào tôi và chui vào xe. Tôi căng thẳng đến xỉu được. Tôi chui vào giường, trùm chăn, trằn trọc một hồi và tôi đã ngủ một giấc đến chiều tối.

Sau giấc ngủ ngày, tôi bắt đầu nghi ngờ về sự tồn tại của tấm hình, bởi bây giờ nó không còn tồn tại, dù rằng chính tay tôi đã in nó ra, treo nó lên. Không ai thấy nó, kể cả anh bạn nhờ tôi rửa cuộn phim ấy. Hay là tôi chỉ rửa đến tấm hai mươi ba, và trong giấc ngủ vừa qua, tôi mơ tiếp đến tấm hai mươi bốn. Nhưng tôi đã chạy ra khỏi nhà, đến gặp anh ta ở quán cà phê, và hơn nữa, còn làm bao nhiêu chuyện ở đó, rồi chạy về nhà, nhìn thấy chồng tôi bước ra, và rồi chui vào giường ngủ cơ mà. Hay là tôi đã lẫn lộn tất cả?

Và, nếu tấm hình tồn tại, tôi tìm ra địa chỉ của anh, thì chuyện gì sẽ xảy ra? Rất có thể tôi đã cuốn gói theo anh, mà cũng có thể sau khi đã gặp anh rồi, tôi thất vọng trở về với chồng cũng không chừng. Hoặc giả sử như anh không hiện lên trong ảnh, mà bằng xương bằng thịt trong căn phòng tối ấy, thì cũng có khả năng tôi đã phản bội chồng ngay trong căn nhà của chúng tôi. Bây giờ thì tôi biết tôi là người có khả năng làm người khác đau khổ đến chết được, dù rằng đó là người bạn đời yêu quý của tôi. Trước đây, tôi đã không nhận ra mình, hay đã cố tình tránh né mình một cách vô thức, song dù thế nào đi nữa, tôi vẫn là người có khả năng làm đủ mọi chuyện, nhảy một bước từ thiên đàng xuống địa ngục. Trước đây, để tự nhận rằng mình biết rõ mình, tôi đã lờ tôi đi, chôn sâu những gì tôi không muốn nhìn đến vào một tầng sâu kín nhất, bởi tôi mong muốn có được một đời sống như-mọi-người, trở thành một con người tốt đẹp không làm phiền đến ai. Bây giờ thì tôi đâm ra nghi ngờ bản thân, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho tôi, một khi tôi đã nhìn rõ con người mình, không còn lập lờ mọi chuyện. Tôi sẽ mãi mãi đói khát một cái gì đấy, sẽ mãi mãi thiếu hụt, loay hoay, và tự đẩy mình vào những ngõ cụt.

Suốt một năm trời, tôi đã cố gắng tìm một lời giải thích. Tôi sống rất khó khăn, tâm trí tôi không thoát ra được tấm hình số hai mươi bốn. Đi đâu, làm gì, kể cả lúc ngủ, tôi cũng như người bị vây bủa. Tôi không còn nghĩ đến con người thật của anh và thành phố cũ nữa vì mải nghĩ về anh trong căn phòng tối. Sự biến mất bằng xương bằng thịt ngày xưa của anh đã không còn ám ảnh tôi, thay vào đó là sự choáng váng bởi lần biến mất của anh trong ảnh. Tất cả đều trở nên trống rỗng, như một người vừa bị phá sản, tôi xa dần công việc, ngày càng khép kín, và cuối cùng, tôi xa cả chồng. Rất ít khi chúng tôi ngồi ăn chung với nhau, nếu có, thì tôi vẫn như người đi vắng. Vài tháng sau tôi ly dị. Tôi không còn gì để sống với một người mà tôi biết rằng, hễ quay mặt đi, hoặc có ai đó hiện lên, tôi sẽ phản bội ngay tức khắc.

Bây giờ thì tôi ngồi đây. Xung quanh tôi không một người thân thích. Hôn nhân và căn nhà đó đã lùi hẳn vào quá khứ. Tôi trở lại đời sống độc thân, rời bỏ thành phố tôi đang sống và đến Houston, một thành phố xa lạ chưa từng có một liên hệ gì với tôi. Cũng có lúc tôi cảm thấy lạ lùng vì sau bao nhiêu năm ngồi ở ghế nhà trường, lấy chồng, và làm ăn, tôi chẳng còn một ai.

Khi ngồi đây với cái Tháp Gãy này, tôi như tìm được một tri kỷ, hay cũng có thể gọi là một cái gì đấy từ lâu năm, tựa như thời thơ ấu, nhưng là một loại thời thơ ấu mà tôi phải đi một vòng rất lâu, rất xa mới nhận ra, và chúng tôi có thể ngồi lặng lẽ hàng giờ, cùng nhìn lên bầu trời và cùng chịu đựng, cùng hiểu một điều gì đó… Mọi chuyện bỗng như chưa từng xảy ra trong cuộc đời tôi, mặc dù chính chúng đã đẩy tôi đến sự cô độc ngày hôm nay. Tôi đã tìm ra cái mà tôi đã thiếu suốt tuổi trưởng thành, dù rằng tôi chẳng thể nói nó là cái gì. Cuối cùng thì nó đã được đào lên từ cái tầng sâu kín nhất trong hồn tôi, chỗ bóng tối bao phủ khiến tôi chẳng bao giờ nhìn đến. Tôi thấy mình không còn non nớt và lưỡng lự như tôi đã từng là. Để được những điều này tôi đã đánh đổi quá nhiều, và từ những mất mát ấy, tôi tìm được bản chất của mình.

Tôi biết sẽ còn rất nhiều thứ tồn tại trong tôi, trong nhiều tầng nhiều lớp, vẫn bị bóng tối vây phủ mà tôi chưa có cơ hội nhìn thấy chúng. Tôi không biết chúng từ đâu đến, nhưng chúng tồn tại và tôi không có sự lựa chọn nào một khi chúng hiện lên. Tôi không còn tự hỏi cái gì đã mất đi, và sẽ đến. Điều này không còn quan trọng nữa, kể cả tấm hình số hai mươi bốn. Giờ đây, tôi nhìn tấm hình ấy như một thông điệp không biết từ đâu, gửi đến tôi trong bóng đêm, thức tỉnh con người tôi, khiến tôi nhìn rõ mọi chuyện. Sự hiện lên rồi biến mất của anh trong bức hình đã tháo gỡ những ám ảnh của mối tình đầu, và chỉ cho tôi biết cả sự phù phiếm trong hôn nhân.

Đời sống khó lường ư, hay nó chỉ đang dần hiện ra?

Soi bóng mình xuống mặt hồ, tôi thấy tôi và cái Tháp Gãy. Dần dần, tôi thấy tôi cũng vươn cao, cũng mình đồng da sắt như nó. Và cũng với một vết gãy trong tâm hồn, tôi ngước nhìn trời.

bài đã đăng của Lê Sông Văn


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)