Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Kỳ 10)

0 bình luận ♦ 5.09.2019

 

LTS: Trong phần II, Lê Tư đã đọc văn bản Bình Ngô đại cáo “như-nó-là” vào thời điểm nó ra đời.

Trong phần IV mà cũng là phần cuối cùng trong công trình biên khảo dài hơi này, tác giả đọc Bình Ngô đại cáo bằng quan điểm của Roland Barthes, một học giả của thế kỷ 20. Để độc giả tiện theo dõi, chúng tôi xin nêu lên một số điểm nổi bật trong phần IV sau đây:

– Khác với cách hiểu truyền thống, huyền thoại, theo Barthes, là một kiểu ngôn luận (type of speech), theo đó, tất cả mọi sự đều có thể là một huyền thoại miễn là nó được truyền đạt qua một diễn ngôn. Barthes tìm thấy huyền thoại là một hình thức tuyên truyền tinh vi của tầng lớp lãnh đạo nhằm thuyết phục quần chúng tin vào sự ổn định của xã hội hiện tại, được bọc dưới một lớp vỏ ký hiệu bên ngoài trông rất bình thường, không dính dáng gì đến ý đồ cùa thế lực cầm quyền.

– Giai đoạn tái xây dựng nước Pháp sau khi thoát ách phát-xít vào thời Barthes không khác gì giai đoạn phục hưng Đại Việt sau khi đánh đuổi giặc Minh vào thời Lê Lợi. “Nếu huyền thoại thời Barthes củng cố ý thức hệ tư sản thì huyền thoại thời Lê Lợi giới thiệu ý thức hệ Nho giáo với khái niệm Vua-Con trời nhằm thay thế ý thức hệ Phật giáo với khái niệm Vua-Phật thời Lý Trần đã lạc hậu vào giai đoạn đó.”

– Với cách nhìn đó, Lê Tư đọc lại toàn bộ văn bản Bình Ngô đại cáo (mà tác giả chia làm 12 “đoạn văn”, từ A đến L) qua ba tầng nghĩa khác nhau: hiển nghĩa, tức là nghĩa rõ ràng, trực tiếp diễn đạt qua ngôn ngữ; hàm nghĩa, tức là huyền thoại được hiểu vào thời của Lê Lợi, Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) giữa “mạng lưới kinh truyện Nho giáo phổ biến dưới thời phong kiến”; và hàm nghĩa (huyền thoại) được hiểu vào thế kỷ XX, “được rút ra khi đọc Bình Ngô đại cáo giữa mạng lưới văn bản sách giáo khoa, nghiên cứu viết bằng chữ quốc ngữ.”

– Sau cùng, Lê Tư giải mã nghệ thuật sử dụng huyền thoại trong Bình Ngô đại cáo bằng cách dùng 7 hình thái tu từ để ngụy trang “hệ thống ký hiệu” dưới lớp áo của “hệ thống sự việc” do Barthes tìm ra: tiêm ngừa (inoculation), tước bỏ lịch sử (privation of History), đồng nhất hóa (Identification), trùng ngôn (tautology), không này-không kia (Neither/norism), lượng hóa phẩm chất (quantification of quality), và tuyên bố dữ kiện (statement of facts).

– Để đạt được hiệu quả tuyên truyền đến mức tối đa, tuy là văn bản hành chính, Bình Ngô đại cáo sử dụng nghệ thuật kể chuyện dân gian, có đầu có đuôi rõ ràng, trong đó, dựng nên hình ảnh của nhân vật siêu phàm thực hiện được những công việc siêu phàm. Là “văn bản khai mở triều đại” được viết bằng chữ Hán, nhưng không chỉ hướng đến độc giả có học, Bình Ngô đại cáo phải được phổ biến đến tận làng xóm, nơi số đông dân chúng là những người mù chữ, có thể “chiếm hơn 99% dân số thời đó.” Nó phải được diễn giải bằng tiếng nói thông thường (diễn Nôm) và được đọc đi đọc lại nhiều lần trước đám đông để người ta nghe và biết. Vì thế, đối tượng của Bình Ngô đại cáo sẽ là nghe-biết (văn tri), chứ không phải đọc-biết.

– Hình thành một huyền thoại quan trọng như thế đòi hỏi một việc làm tập thể. Trước khi là văn chương, Bình Ngô đại cáo là một “văn kiện quan phương đặc trưng cho chế độ quân chủ Á Đông”; nó phải được soạn thảo theo điển lệ dưới sự chỉ đạo và hiệu chỉnh của chính hoàng đế hoặc các đại thần đầu triều. Có thể nói, Lê Lợi, Nguyễn Trãi là đồng tác giả của Bình Ngô đại cáo và Lê Lợi là tác giả chính.

 

 

Phần IV

HUYỀN THOẠI CỦA THẾ KỶ XV

(Kỳ 10)

 

 

2. Đại Cáo là huyền thoại về nhân vật siêu phàm với sự nghiệp siêu phàm:

a. Cách quảng bá Đại Cáo đến người không biết chữ Nho

Đại Cáo dù được viết bằng chữ Hán nhưng không chỉ hướng đến độc giả có văn học. Nó quá quan trọng nên không thể sử dụng một cách phung phí như thế. Vấn đề ở chỗ người mù chữ, nhiều khả năng chiếm hơn 99% dân số thời đó, đã được tạo điều kiện để tiếp cận văn bản như thế nào. Nhằm hình dung cách phổ biến Đại Cáo trong quần chúng, hãy xem vài trường hợp công bố chiếu, sắc, lệnh… còn lưu lại trong thư tịch xưa.

Khoảng năm 1375-1376, Nguyễn Ứng Long nhận mệnh đến Trường Châu để huy động quân lương. Qua bài thơ “Phụng chiếu Trường An đạo trung tác” ông tả cảnh tuyên chiếu như sau:

Sân quận lỵ, không khí ấm áp, tuyết tan trên cành hoa.
Binh lính khóc mừng khi xem chiếu nhà Đường,
Phụ lão chống gậy lê lắng nghe lệnh triều Hán.

Quang cảnh nơi khá hẻo lánh vẫn rất trang trọng khi văn bản được công bố. Hai nhóm khán giả nổi bật gồm quân nhân và phụ lão, họ vừa xem (nguyên văn: quan 觀) vừa nghe (nguyên văn: thính 聽), nghĩa là tờ chiếu vừa được niêm yết vừa được tuyên xướng. Dù giữ vị trí tướng hiệu hay đầu mục thôn làng, tức dạng tiểu quý tộc, ta cũng không chắc họ đọc được chữ Hán hay nghe được âm Hán Việt. Nhưng thực tế nhóm người đó đã hiểu và cảm xúc. Có vài ghi chép khác giúp đoán được ngoài việc đọc lên bằng âm Hán Việt, quan Kiểm chính hoặc trợ lý của ông còn phải giảng tiếp ý nghĩa bản văn bằng tiếng nói thông thường.

Trước đó gần trăm năm (1288), xảy ra câu chuyện buồn cười dưới sự chứng kiến của vua Trần Nhân tông về việc tuyên chiếu được Toàn Thư ghi lại, như sau:

Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho Hành khiển để giảng tập trước. Đến khi tuyên đọc thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu, vì chức Hành khiển chỉ dùng hoạn quan thôi. Bấy giờ, Lê Tòng Giáo làm tả phụ, vốn bất hòa với Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên. Ngày tuyên đọc lời vua đã đến rồi mà Củng Viên vẫn cố ý không đưa bản thảo. Tòng Giáo đòi nhiều lần vẫn không được.

Hôm ấy, xa giá sắp ra ngoài cung, Củng Viên mới đưa bản thảo. Tòng Giáo tuyên đọc tờ chiếu đại xá, không hiểu âm nghĩa, phải im lặng. Vua gọi Củng Viên đứng đằng sau, nhắc bảo âm nghĩa. Tòng Giáo rất thẹn. Tiếng nhắc của Củng Viên to dần, mà tiếng đọc của Tòng Giáo lại nhỏ đi, trong triều chỉ còn nghe thấy tiếng của Củng Viên thôi (Toàn Thư II, 66-67).

Như vậy, người tuyên chiếu phải vừa phát âm, vừa diễn nghĩa và phải luyện tập trước. Chính sử chép quy trình soạn và công bố văn bản triều đình là “lệ cũ” tức nó tồn tại từ lâu trong xã hội mà ngôn ngữ quan phương khác ngôn ngữ hàng ngày.(279) Việc này cần thiết vì chưa chắc toàn thể võ quan, hoạn quan đều biết chữ. Nhóm quan lại cao cấp tới mức được phép trực tiếp chầu hầu vẫn cần người giảng giải khi nghe chiếu(280) thì không hy vọng gì các trưởng bản hay lính thú Trường Châu đủ khả năng tiếp nhận trực tiếp lời vua.

Trong lệnh ban cho tướng hiệu, quân nhân các xứ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa vào năm 1427, ở cuối văn bản vua Lê quy định cách phổ biến như sau:

Mỗi đội đều phải chép lại một bản lệnh này, mỗi ngày đọc đi đọc lại nhiều lần cho quân lính được biết (Toàn Thư II, 288).

“Lệnh này” viết bằng chữ Hán vẫn lưu nguyên vẹn trong Toàn Thư, quân lính thì gần như chắc chắn không nhận dạng được chữ “đinh”, vậy đọc đi đọc lại bằng cách nào? Có thể Đại Việt cũng giống vài nơi ở châu Âu trung cổ khi xử lý văn bản La Tinh; một số nhân viên được chọn để học thuộc lòng lời diễn nôm của lệnh vua, sau đó họ sẽ trình diễn trước đám đông theo thời biểu do quan trên xếp đặt. Không giống hoàn toàn, nhưng bóng dáng cách làm đó thấp thoáng trong việc tuyên chiếu của Lê Tòng Giáo thời Trần miêu tả ở trên.

Đến đời Nguyễn gần đây (1808), Đại Nam Thực lục có đề cập việc Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành dùng bài hát để phổ biến chính sách nhà nước trong dân chúng:

Trước là giặc giã ở Bắc thành mượn tiếng tôn nhà Lê nên dân ngu nhiều người bị mê hoặc. Nguyễn Văn Thành sai Trần Hựu làm bài hát “Điểm mê” dùng lời quốc âm để hiểu thị. Khi ấy trong hạt lại có người làm bài hát “Tố khuất” quy cho bọn quan lại tham nhũng nên sinh giặc. Thành lại sai sở tại rộng mở hiểu dụ. Từ đó lòng dân mới yên.(281)

Tâm lý phù Lê chống lại sự nhất thống đất nước ở Đàng ngoài rất thịnh, nguyên ủy chỉ là giới tinh hoa cũ bị mất địa vị nên kích động nông dân phá phách chính quyền mới khi có cơ hội. Quan Tổng trấn bỏ qua đám sĩ phu bất mãn bằng khúc quốc âm trực tiếp với dân thường. “Rộng mở hiểu dụ” giúp ta suy đoán bài văn vần được các tuyên truyền viên học thuộc lòng để diễn ngâm tận các đơn vị hành chính hay giáo dục nhỏ nhất. “Lòng dân mới yên” cho thấy tuyệt đại đa số thần dân mù chữ đã được tiếp cận và cơ bản họ chấp nhận lời kêu gọi.

Chúng tôi tin rằng Đại Cáo, vì tính chất khai mở triều đại của nó, được phổ biến đến tận làng xóm không phải chỉ một lần bởi những người học thuộc lòng lời diễn nôm y như thế. Đối tượng của Đại Cáo sẽ “văn tri”, nghe biết – chứ không phải đọc biết – như Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh ở cuối bài.

b. Người mù chữ hiểu Đại Cáo như thế nào?

Dĩ nhiên họ mù tịt hoặc chỉ loáng thoáng về điển tích hay triết lý Trung Hoa. Loại trừ sự tích cầu kỳ rút từ kinh sách, người bình dân có thể tiếp thu câu chuyện đánh giặc như sau:

Văn bản

Tình tiết

Thông điệp

Cổ tích

I

II

III

IV

(A)

Vua có trách nhiệm nuôi và bảo vệ dân, dùng vũ lực chỉ để diệt kẻ tàn bạo.

Vua động binh để duy trì hòa bình cho dân.

Mở

(B)

Đế quốc Đại Việt có lãnh thổ, nhân dân và chính sự riêng đối xứng với Đế quốc phương bắc.

Nước Nam và người Nam khác với nước Ngô và người Ngô.

Nước Nam muốn sống hòa thuận với láng giềng. Dù hàng xóm phương Bắc từng nhiều lần gây chuyện nhưng chưa lần nào thành công.

(C)

Đại Việt đánh bại tất cả các tướng
Nam Hán, Tống, Nguyên.

Từ xưa, giặc Ngô động đến nước Nam đều thảm bại.

(D)

Do chính quyền cũ sai lầm nên giặc Minh sang, chúng kết hợp với một số người địa phương ác ôn hãm dân chúng và mọi loại sinh linh vào đường cùng bằng nhiều phương cách ác độc; thần, người, trời đất đều căm giận.

Họ Hồ kém việc trị nước nên giặc Ngô có cớ tiến sang cùng bọn người Nam phản chủ gieo tai ương cùng cực cho mọi người.

Nhà Hồ mất lòng người nên bọn nghịch giúp giặc vào nước, đẩy dân chúng vào lầm than chưa từng có.

(E)

Xem giặc Minh là “thù truyền kiếp”, Lê Lợi vào núi để rèn luyện khả năng đánh giặc, khởi nghĩa nổ ra theo tình thế dù giặc đang mạnh.

Vua lên núi tầm phương giải thoát.

Thủ lĩnh mới xuất hiện, ông vào núi luyện binh, đọc sách, tìm cách đuổi giặc. Người giàu, có ăn học ít ai muốn giúp đỡ ông.

(F)

Ít người có khả năng giúp kháng chiến bằng trí và lực xuất hiện, ông muốn giải phóng đồng bằng nên luôn mong chờ hiền tài.

Ông đơn độc khi giao tiếp với Trời.

(G)

Thiếu hỗ trợ từ lớp tinh hoa giàu có, tài giỏi nên kháng chiến sớm kiệt lực; với ý chí phi thường Lê Lợi nhận mệnh trời, huy động bình dân, bước đầu tìm thấy lối ra.

Trời thử thách bằng thiếu thốn âu lo nhưng vẫn che chở cho vua, dân nghèo mến phục theo ông rất đông.

Trời giúp ông qua khó khăn cực độ, sau rốt cầm đầu đám dân đen nổi dậy.

(H)

Dùng nhân nghĩa chế ngự tàn bạo, quân khởi nghĩa liên tiếp đánh bại giặc, thu phục đất cũ; chúng xin hòa rồi lại tiếp tục chống cự.

Vua đánh giặc thành công lấy lại gần hết đất cũ, nhưng lũ gian ác phản phúc bất thường chưa chịu đầu hàng.

Nhờ sức mạnh dựa vào nhân nghĩa nên Thủ lĩnh thành công chớp nhoáng. Ông tàn sát vô số quân giặc nhưng tha chết cho bọn đầu hàng.

(I)

Tuyên Đức sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh  sang cứu, quân ta liên tục giết chủ tướng rồi hai thuộc tướng khiến đạo quân xâm lược tự rối loạn.

“Nhãi ranh” nước Ngô sai binh tướng sang trả thù nhưng vua đánh giết được nguyên soái của chúng.

(J)

Chuẩn bị tốt về trang bị và nhân lực, ta nhanh chóng đánh bại cả hai đạo viện binh, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc, ép Mộc Thạnh bỏ chạy. Giặc chết rất nhiều. Các thành lần lượt ra hàng.

Vua đại sát giặc dữ, bắt tù quan to, buộc các thành đầu hàng.

(K)

Vương Thông, Phương Chính được cấp thuyền, ngựa để về nước. Vua Lê tránh tạo thêm tổn thất cho cả hai bên tạo cơ sở cho hòa hiếu lâu dài. Quốc gia bền vững, đất nước thái bình nhờ trời đất và tổ tiên nhà vua âm phù.

Vua cấp ngựa, thuyền cho tù hàng binh về nước. Từ bi hỉ xả cứu mạng nhiều người, ông nhờ mệnh trời và phúc đức tổ tiên nên sẽ dẫn dắt thịnh thế lâu bền.

Ông thả tù binh làm phước, đất nước vui hưởng thái bình lâu dài.

(L)

Một lần mặc giáp mà lập nên võ công chưa từng có. Nay bốn biển thanh bình, bố cáo đổi mới để mọi người nghe biết.

Vua chỉ phất tay mà xong đại sự. Dân chúng an tâm xây dựng đời mới.

Kết

 

Đại Cáo không chỉ mang tính chất thông báo, bản thân nó là một câu chuyện có đầu đuôi rõ ràng. Chúng tôi tin rằng cột thứ III từ trái sang là những gì các đầu mục địa phương, số người được triệu tập trực tiếp nghe lời vua, tiếp thu khi nghe bài Cáo. Cột thứ IV là những gì còn lại về sự tích vị vua đang ngự trị ở Đông Kinh khi lan tỏa đến các khu vực xa xôi trong đế quốc. Nếu nội dung cột III được phát tán qua những buổi họp theo nghi thức triều đình thì nội dung cột IV lan truyền qua những đám cỗ, bến sông, bờ giếng, phố chợ… và đó chính là nội dung được lưu truyền rộng rãi, in sâu trong trí nhớ quần chúng nhất sau bao cuộc biển dâu.

Về đại thể, Đại Cáo được chia thành ba phần, gồm giới thiệu (A, B), diễn biến (C, D, E, F, G, H, I, J), kết quả (K, L) tương tự như truyện kể dân gian. Kết cấu như thế còn có thể thấy trong các truyện Nôm như Song Tinh Bất Dạ, Thúy Kiều hay Lục Vân Tiên…

Lồng trong kết cấu ba phần là mô hình tiên báo-đáp ứng đậm màu sắc tâm linh. Ký ức Đại Việt từ Đinh đến Trần bị các loại nước Ngô cướp phá nhưng đều chống trả thành công không thuần túy là lịch sử, nó tiên báo chiến thắng của Lê Lợi trước giặc Minh về sau. Hình ảnh nước Đại Việt bá chủ phương Nam cũng thế, nó tiên báo triều đại nhà Lê hiển hách thời hậu chiến. Mô hình tiên tri-ứng nghiệm tồn tại từ rất lâu đời trong Cựu Ước và Tân Ước. Ví dụ như chuyện về con rắn đồng mà Moses treo lên cây sào để người bị rắn cắn giải độc khi nhìn vào đó; hình ảnh rắn đồng tiên báo sự kiện chúa Jesus bị đóng đinh trên thập giá và ai ngước tin vào Ngài đều được cứu độ. Chuyện dân Do Thái lang thang 40 năm trong sa mạc để thử thách lòng tin trước khi vào Đất Hứa tiên báo việc tín hữu Ky Tô ngày nay phải chịu đày đọa trong thế gian trước khi vào được Nước Trời. Nếu cố sự Cận Đông được ghi nhận bởi Cựu Ước, cố sự Việt ngoài phản ánh bởi sử ký còn được ghi lại trong quyển sách huyền ảo mà sử gia gọi là Thiên Thư. “Tiên báo” ở vùng văn hóa Viễn Đông gánh thêm đặc tính của “số mệnh”.

Tuy là văn bản hành chính, Đại Cáo lại ôm trong lòng nó nhiều mô-típ (motif) truyện kể dân gian như: nhân vật phẩm cách cô đơn, tha thứ kẻ thù đã chịu phục, núi thiêng, sự tái sinh…Các mô-típ cùng với hình thức huyền thoại theo định nghĩa Barthes là những công cụ nghệ thuật hiệu quả để gieo rắc niềm tin vào lòng người đọc.

Nhưng thú vị nhất khi chúng ta đối chiếu Đại Cáo với Cuộc du hành của anh hùng vạch ra bởi Joseph Campbell.(282) Đây là siêu típ (super type) thần thoại-truyện kể hội tụ nhiều mô-típ đặc trưng. Dù bài cáo khá ngắn gọn vẫn có thể so sánh tương đối hành trình Lê Lợi đã trải qua với các bước đi của người anh hùng phi thời gian dưới đây:

Hành trình 17 bước
của anh hùng

Đại Cáo

Lam Sơn thực lục
Đại Việt sử ký toàn thư

1. Tiếng gọi phiêu lưu

Tàn ác cực điểm của bọn xấu và chịu đựng tận cùng của dân: những điều đánh động lương tri khiến Lê Lợi thức tỉnh.

 

2. Từ chối lời mời gọi

 

Chỉ mong toàn tính mệnh, chưa có ý dành thiên hạ.

3. Trợ giúp bởi lực lượng siêu nhiên

 

Gươm thần, ấn, người con gái áo trắng-xuyến vàng hóa thành chồn đánh lừa chó ngao truy tìm Lê Lợi.

4. Vượt qua ngưỡng thứ nhất

Phất cờ khởi nghĩa.

 

5. Bụng cá voi

Nhân tài, hào kiệt bất hợp tác. Quân tan, lương hết.

 

6. Con đường thử thách

Các trận đánh.

 

7. Gặp gỡ nữ thần

Chí nhân và đại nghĩa.

 

8. Phụ nữ như người đàn bà gợi cảm

 

Hiến tế bà Ngọc Trần.

9. Chuộc lỗi với người Cha

Nhãi con Tuyên Đức, thả tù hàng binh.

 

10. Sự tôn vinh (thánh)

Thần võ bất sát, Thượng đế hiếu sinh.

 

11. Lợi ích sau cùng

Giang san đổi mới, xã tắc vững bền.

 

12. Từ chối trở về

 

Từ chối giết Trần Cảo.

13. Cuộc đào thoát có phép màu

 

Trần Cảo chạy trốn.

14. Giải cứu từ bên ngoài

 

Trần Cảo bị ép uống thuốc độc.

15. Vượt qua ngưỡng trở về

Rửa sỉ nhục, mở thái bình.

 

16. Làm chủ hai thế giới

Thắng trận trong thực tế nhờ được tổ tiên và trời đất âm phù. Trở lại cuộc sống bình thường.

 

17. Sống tự do

Làm vua.

 

 

Cuộc du hành của anh hùng được rút ra từ kết quả khảo sát huyền thoại của nhiều nền văn hóa. Campbell(283) cho rằng tất cả huyền thoại về anh hùng đều có khung sườn giống nhau và được kể đi kể lại mãi qua vô số biến thể.

Do Đại Cáo là thông báo chính thức của triều đình Nho giáo nên các yếu tố huyền hoặc không được đưa vào, ta chỉ tìm thấy chúng trong Lam Sơn thực lục. Riêng Trần Cảo xuất hiện cả trong Thực lục lẫn Toàn Thư nhưng bị loại bỏ khỏi Đại Cáo vì điều kiện để công bố một triều đại mới buộc vị vua Trần cuối cùng phải biến mất. Bảng kê 17 bước bên trên được xác lập khi đọc Đại Cáo giữa mạng lưới văn bản chính trị thời đầu Lê sơ.

Các giai đoạn của chuyến du hành có thể được trình bày bởi vòng tròn khép kín như dưới đây:

DaiCao-17Stagesjpg

Lập bởi Reg Harris (http://bit.ly/2wVHQ9A)

1. Call to Adventure: Tiếng gọi phiêu lưu 2. Refusal of the Call: Từ chối lời mời gọi 3. Supernatural Aid: Trợ giúp bởi lực lượng siêu nhiên 4. Crossing the first Threshold: Vượt qua ngưỡng thứ nhất 5. Belly of the Whale: Bụng cá voi 6. Road of Trials: Con đường thử thách 7. Meeting with the Goddess: Gặp gỡ nữ thần 8. Woman as Temptress: Phụ nữ như người đàn bà gợi cảm 9. Atonement with Father: Chuộc lỗi với người cha 10. Apotheosis: Sự tôn vinh 11. The Ultimate Boon: Lợi ích sau cùng 12. Refusal of the Return: Từ chối trở về 13. Magic Flight: Cuộc đào thoát có phép màu 14. Rescue from Without: Giải cứu từ bên ngoài 15. Crossing the Return Threshold: Vượt qua ngưỡng trở về 16. Master of Two Worlds: Làm chủ hai thế giới 17. Freedom to Live: Sống tự do

Xin được giải thích thêm các bước 5, 7, 8, 9, 12, 13, 14, 16 là những điểm còn chưa rõ và một số không được thể hiện trong Cáo bình Ngô nên chưa bàn đến ở các phần trước.

Bước 5 – Bụng cá voi:

Đây là điển tích về ngôn sứ Jonah lấy từ Kinh Thánh. Để lẫn tránh lệnh Thiên Chúa yêu cầu ông đi rao giảng sự sám hối cho dân thành Niveneh,(284) Jonah bắt thuyền đi Tarsish theo hướng ngược lại. Chúa tạo cơn bão đe dọa chiếc thuyền khiến thủy thủ phải ném vị ngôn sứ xuống biển để tránh tai họa. Jonah trôi vào miệng một con cá rất lớn. Ba ngày trong bụng cá, ông sám hối, luôn cầu Chúa phù trợ và ca ngợi Ngài. Sau cùng, chú cá nôn Jonah ra một bãi biển để ông tiếp tục trách nhiệm được giao. Jonah trước và sau khi bị cá nuốt là hai nhân cách khác nhau, một người dao động và một người vững niềm tin vào Chúa.

Lê Lợi sau khi giương cờ nghĩa và trước khi chiêu tập manh lệ nằm trong trường hợp tương tự. Ban đầu, ông mong giới trung-thượng lưu đến hợp tác để nhanh chóng tạo sức mạnh cho lực lượng khởi nghĩa nhưng không thành công. Chấp nhận mọi thất bại như thử thách của Trời,(285) ông đã đi đúng hướng khi chuyển sang huy động thành phần thấp kém trong xã hội. Lê Lợi khi chưa và đã cảm nhận thiên mệnh là hai người khác nhau. Ông như được tái sinh để phiêu lưu xa hơn vào thế giới chưa biết rõ. Campbell cho rằng trong bước này, người anh hùng thay vì vượt qua những giới hạn của thế giới nhìn thấy được lại du hành vào nội tâm, để chào đời thêm lần nữa.

Bước 7 – Gặp gỡ nữ thần:

Nữ thần tượng trưng cho phần âm tính của anh hùng, nếu được thần giúp đỡ người anh hùng sẽ trở nên hoàn thiện và có sức mạnh lớn hơn. Nữ thần còn mang bóng dáng bà mẹ thiên nhiên chủ về sinh sản và dưỡng dục.

Lê Lợi bước đầu lao đao vì mãi suy ngẫm về thao lược, hưng vong; tức thiên về tranh đoạt, cai trị, bạo lực. Ông uổng công khi lấy sức mới nhóm để đọ với sức đương hồi cường thịnh. Trong vòng vây của kiệt quệ và cô độc, Lê Lợi buộc phải nghĩ đến tạo sinh lực lượng thay vì lôi kéo những lực lượng rời rạc đang có sẵn. Đó là thời điểm ông nhận mệnh trời hay hợp nhất với phần nữ tính của chính mình để toàn vẹn hơn. Quan hệ giữa thủ lĩnh với cộng sự ngoài ý ràng buộc huyết thống còn mang tính nuôi dưỡng: “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm. 投醪饗士父子之兵一心.” Đổ rượu (xuống sông) thết đãi tướng sĩ, quân đội như cha con cùng một lòng. Nếu khởi đầu quân Lam Sơn nổi dậy vì nghĩa, tức lẽ phải, thì lần này họ hồi sinh với hai đặc tính đại nghĩa và chí nhân. Cùng đi với bạo động, hủy diệt có thêm sinh sôi, nuôi nấng.

Bước 8 – Phụ nữ như người đàn bà gợi cảm:

Campbell dẫn lời Tu sĩ Hindu Shankaracharya như sau: “Nếu người nào còn quan tâm chút gì đến thân xác tựa-thây-ma này thì người ấy không thanh khiết và sẽ chịu thua trước kẻ thù cũng như (chu kỳ) sinh, bệnh, tử; tuy nhiên, khi cho bản thân mình là thanh khiết, là bản chất của Chính Trực và Kiên Định, thì người ấy trở nên tự do. Hãy vất bỏ thật xa giới hạn của thân xác vốn trơ trẽn, thô bỉ. Đừng nghĩ về nó. Cái gì bị nôn ra (như bạn nôn mửa thân xác của chính bạn) chỉ kích thích sự ghê tởm khi được nhớ đến.”(286)

Với người dám từ bỏ nhục thể thì cám dỗ từ đàn bà đương nhiên trở thành vô nghĩa. Vị thần ở Triều Khẩu muốn lấy nàng thiếp của Lê Lợi thay vì bất kỳ phụ nữ nào nên có thể xem câu chuyện mang tính biểu trưng. Đồng ý hiến tế Ngọc Trần có nghĩa là chúa Lam Sơn đã vượt lên mọi ham muốn có thể gây trở ngại cho cuộc phiêu lưu đến nghiệp đế.(287) Tranh đấu với kẻ thù chỉ là nửa phần, với bản thân là nửa phần còn lại. Hành động dứt khoát của ông bộc lộ sự cương quyết thanh tẩy để trở thành siêu việt.

Bước 9 – Chuộc lỗi với người Cha:

Hình tượng người Cha đại diện cho một quyền lực lớn đủ sức tác động hành trình của anh hùng. Campbell viết: Vấn đề của người anh hùng khi sắp gặp cha là ông ta phải cởi mở tâm trí để băng qua khiếp sợ, tới mức đủ chín chắn để hiểu làm thế nào mà những bi kịch kinh tởm và điên khùng của cái vũ trụ rộng lớn, tàn nhẫn này lại được chuẩn y hoàn toàn nhân danh tính tôn nghiêm của Sự Sống. Người anh hùng vượt quá cuộc sống với điểm mù đặc biệt và trong khoảnh khắc vươn đến cái thoáng nhìn về nguồn cội. Ông trông thấy gương mặt của người cha, chợt hiểu – và hai bên được hòa giải.(288)

Đối với Lê Lợi người Cha như thế chính là hoàng đế phương Bắc. Để liên tục hành trình ông phải đánh bại vua Minh; để hoàn tất hành trình, ông lại phải hòa giải với chính thế lực ấy. Thực tế diễn ra đúng như vậy, Lê Lợi giết và bắt sạch quân tướng của “nhãi ranh” nhưng vẫn phải thả tù binh và cầu phong với hoàng đế Trung Hoa. Qua bao nhiêu năm đối đầu, Lê Lợi không nhầm lẫn về khả năng cũng như giới hạn chịu đựng của đối thủ. Ngược lại, Tuyên Đức cũng biết mình đi được đến đâu. Hòa giải đứng chân trên sự quân bình mà hai bên cùng thừa nhận.

Bước 12 – Từ chối trở về:

Tháng 11 ta năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi tìm được con một người ăn mày tên Hồ Ông giả xưng miêu duệ họ Trần. Để đối phó với nhà Minh, có lẽ cũng để thu phục nhân tâm đồng bằng, ông đón lập Hồ Ông, tức Trần Cảo, làm vua, niên hiệu Thiên Khánh.

Ngày 12 tháng 12 ta năm Đinh Mùi (1427) quân Minh rút về nước. Lê Lợi chưa thể đăng quang chính thức nếu Thiên Khánh vẫn còn. Các quan dâng sớ xin sớm trừ Cảo vì ông ta không có công gì. Toàn Thư chép: Vua cũng biết là như vậy, nhưng trong lòng không nỡ, đối xử càng hậu (Toàn Thư II, 309).

Theo Campbell, khi mục đích theo đuổi đã hoàn thành, người anh hùng phải trở về với chiến lợi phẩm làm thay đổi cuộc sống. Vòng khép kín, nguyên tắc của chuyến du hành, buộc ông ta phải mang thành quả trở về đời sống bình thường. Tại đây, phần thưởng từ cuộc phiêu lưu sẽ đóng góp vào sự đổi mới vương quốc.(289)

Với lý tưởng dẹp giặc an dân ngay từ ban đầu, Lê Lợi buộc phải trở về. Do vậy việc tạm thời từ chối giết Trần Cảo đích thực là quyền mưu. Ông chỉ phân vân trong việc tìm cách loại bỏ Cảo sao cho ít gây chấn động nhân tâm phù Trần mà thôi.

Bước 13 – Cuộc đào thoát có phép màu:

Theo Campbell, nếu chiến thắng của anh hùng được thánh thần phù trợ ông ta sẽ được chính thức ủy nhiệm mang quà thưởng trở về, các thế lực siêu nhiên sẽ giúp chuyến đi mỹ mãn. Trường hợp việc chiếm phần thưởng gây hại quyền lợi của người giám hộ, hoặc ước muốn trở về tạo bất bình cho ác thần hay quái vật thì bước cuối cùng của chu trình thần thoại sẽ biến thành cuộc rượt đuổi sinh động, thường là buồn cười. Việc đào thoát có thể trở nên phức tạp bởi sự cản trở, lẫn tránh, tác động bởi pháp thuật.

Quyền cai trị Lê Lợi giành được từ người Minh dĩ nhiên khiến giám hộ của ông, trên danh nghĩa là vua Thiên Khánh, cảm thấy bất an. Tương quan sức mạnh thực tế khiến Trần Cảo, thay vì Lê Lợi, phải đào thoát. Toàn Thư chép rằng Cảo biết người trong nước không phục nên ngầm đi thuyền biển vào châu Ngọc Ma, quan quân đuổi theo bắt lại được. Thật kỳ lạ, cũng chính Toàn Thư phủ lớp huyền ảo lên việc ẩn tránh khi đưa ra ba giả thuyết: một, Cảo nghĩ trong nước không thể có hai mặt trời nên ngầm đi thuyền ra biển; hai, ông cùng bọn Văn Nhuệ đi thuyền biển đến ải Cổ Lộng; ba, Thái tổ đánh tiếng hăm dọa khiến Cảo phải chạy đến ải Cổ Lộng. Phép màu trong chuyến đào tẩu không chi phối hành động của Trần Cảo, nó hiện ra như nhằm giải thích sự tàn lụi triệt để của hoàng gia cũ. Nhà Trần đến Thăng Long từ miền dưới, nay họ quay lại biển để hoàn thành chuyến đi vĩ đại của gia tộc. Phần vua Lê, nếu có chuyến đào tẩu nào thì đó chính là cuộc trốn chạy khỏi “cái gọi là” lương tâm.

Bước 14 – Giải cứu từ bên ngoài:

Toàn Thư chép: “Ngày mồng 10, Trần Cảo uống thuốc độc chết” (Toàn Thư II, 309). Trương Phụ dẫn quân bộ rời Đông Quan ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi (1427), như vậy chỉ 23 ngày sau Cảo đã chầu trời. Giải quyết như thế có thể gọi là nhanh. Toàn Thư ghi thêm sự kiện quan quân bắt Cảo về Đông Quan buộc uống thuốc độc chết mà tránh nói ai ra lệnh tử hình này. Trong ba thuyết hoài nghi sử ký đưa ra sau đó, thuyết thứ nhất nói Cảo chết ngoài biển, hai thuyết sau nói vua Lê cho người đuổi theo, giết Cảo rồi vất xác vào bụi gai.

Phần chính thức có lẽ là thông tin do bộ phận xử lý Trần Cảo đưa ra. Án tử xếp đặt bởi Lê Lợi nhưng bầy tôi muốn tránh tiếng cho ông. Giả định tiếp theo lại hướng nhận định của độc giả về phía biển mơ hồ, hoàn toàn thiếu bàn tay ác nghiệt của ai đó. Nho gia dường như muốn sự giải cứu nút bế tắc trên đường đến ngai vàng phải từ bên ngoài, nó phù hợp với mệnh trời hơn. Hai thuyết sau nêu đích danh thủ phạm là Lê Lợi; có lẽ là sự thật, mà như không chắc thật, nó đã bị làm nhòe như chúng ta làm nhòe nhân dạng trong các khuôn hình nhạy cảm ngày nay.

Bước 16 – Làm chủ hai thế giới:

Sau khi đuổi giặc Minh, Lê Lợi nhận rằng đó là do được trời và tổ tiên phù hộ. Vua chủ động cả ở thế giới hiện thực lẫn thế giới thần linh. Nhưng cần nói thêm rằng sau bao nhiêu thử thách, ông làm chủ cả giai đoạn khủng hoảng lẫn giai đoạn bình thường của Đại Việt.(290) Hơn nữa, ông còn làm chủ cả ngoại tại lẫn nội tâm của bản thân.

Dựa vào Đại Cáo và vài thông tin tích hợp từ các nguồn đương thời về khởi nghĩa Lam Sơn, ta thấy Lê Lợi hướng dẫn kháng chiến theo tiến trình hầu như khớp với 17 bước phiêu lưu của anh hùng vạch ra bởi Joseph Campbell.

Vì sao quá trình đi đến quyền uy của vị vua Việt thế kỷ XV lại có thể tương thích với lộ đồ chỉ ra bởi nhà nghiên cứu Mỹ thế kỷ XX? Chúng ta sẽ không quá ngạc nhiên khi biết lộ đồ đó cũng tương thích với cuộc đời của Thái tử Tất Đạt Đa, chúa Jesus và Tiên tri Muhammad. Nó cũng phù hợp với từng nấc phát triển của nhân vật chính trong các bộ phim Ma trận,(291) Chiến tranh giữa các vì sao(292)… hay hoạt động ly kỳ của thám tử Sherlock Holmes.

Christopher Vogler,(293) chuyên gia điện ảnh, đã nhận xét quyển “The Hero With a Thousand Faces”, Thiên Diện Anh Hùng của Campbell một cách sâu sắc như sau:

Quyển sách được đặt nền tảng trên ý tưởng về những nhân vật lập đi lập lại liên tục kiểu “cổ mẫu” của Jung,(294) chúng nảy ra từ giấc mơ của mọi người và được tìm thấy trong huyền thoại của mọi nền văn hóa.
Jung tin rằng các cổ mẫu đó phản chiếu đầu óc con người – rằng đầu óc chúng ta tự phân chia thành những nhân vật để trình diễn kịch tính trong cuộc sống của chính chúng ta.
Các nhân vật trở đi trở lại của huyền thoại anh hùng – như anh hùng trẻ, người già thông thái, người đàn bà biến hình, sự trừng phạt mờ ảo – giống với các cổ mẫu trong trí óc người, như hiện ra trong mộng. Đó là lý do tại sao huyền thoại, và các truyện dựng trên mẫu huyền thoại, luôn xác đáng về mặt tâm lý.
Những truyện như thế là mô hình chính xác về vận hành của bộ óc người, là bản đồ tâm lý đúng nghĩa. Chúng có hiệu lực tâm lý và hiện thực ngay cả khi chúng mô tả các sự kiện kỳ quái, bất khả hay không có thực.
(295)

Khi đọc ý kiến Vogler, bạn có bàng hoàng trước kỹ năng nắm bắt tâm lý nhân loại của các chuyên gia “tâm công”, hiểu theo nghĩa rộng, thời Lê Lợi? Họ chính là những cán bộ tuyên huấn lão luyện bậc thầy. Số văn bản tàn khuyết và các câu chuyện lẻ tẻ chúng ta còn biết hôm nay có thể chỉ là phần nhỏ của tập hợp các tác phẩm, ký tái hay truyền khẩu, phục vụ binh-dân vận thuở đó.

Nổ lực “tâm công” hiệu quả đến mức nào?

Có những quãng trầm đen tối đối với nhà Lê. Khi những sĩ quan người Trại lần lượt nằm xuống theo bước chinh phục của Lê Thánh tông ở Chiêm Thành, Ai Lao, Malacca; thực lực đạo quân không còn như trước vì sự hao mòn tướng hiệu cấp trung, nhóm nhân sự giữ vai trò xương sống của bất kỳ lực lượng chiến đấu nào. Theo miêu tả của Hưng Đạo vương trong Hịch tướng sĩ, các tỳ tướng của ông chỉ có nhiệm vụ đánh nhau và giải trí, họ thuộc những gia đình chuyên nghề võ, biết gìn giữ gia thanh khỏi tiếng bại trận. Lúc quân lực hoàng gia Trần tan tác trên đất Chiêm, số thiên tỳ tiểu hiệu tinh nhuệ về lại được quê nhà chắc chẳng bao nhiêu nên đồng bằng sông Hồng không gánh nổi vai trò chủ đạo chiến tranh suốt hơn năm thế kỷ sau.(296) Suy yếu của quân Trại cũng thế, đã mở đường cho họ Mạc tạm thời khuynh đảo triều chính. Nhưng may mắn, nhà Lê không mất gần hết tinh hoa quân sự như nhà Trần. Mặt khác, ngoại trừ số ưu tú Hán hóa sâu ủng hộ triều Mạc, phần lớn xã hội vẫn tin vào tính chính thống của họ Lê, nhờ vậy Trịnh Tùng mới có cơ hội rước vua về kinh đô cũ. Niềm tin này bền chặt đến mức đồng bằng bắc bộ hầu như im lặng, nếu không muốn nói lắm kẻ vui mừng, khi Tôn Sĩ Nghị nhập Việt; rồi lại tranh thủ dương cờ phù Lê khi Tự Đức thất lợi tại miền Nam. Nhiều yếu tố tác động đến niềm tin nhưng có lẽ sách lược tuyên truyền chiếm vai trò không nhỏ mà Đại Cáo từng một thời giữ vị trí trung tâm.

Trong xã hội trung cổ, khi thông tin chưa đến mức tràn ngập, nhiễu loạn, các văn bản hiếm hoi hay các chuyện kể hấp dẫn hẳn gây tác động lên quần chúng mạnh mẽ gấp nhiều lần ảnh hưởng từ những chương trình tâm lý chiến hiện đại.

3. Ai là tác giả Đại Cáo?

Ai là tác giả của tuyệt tác “Oan thán”? Chúng ta có thể trả lời ngay: Nguyễn Trãi. Ông đã bùng phát bi phẫn của mình qua khổ thơ luật Đường nổi tiếng lúc bị giam trong ngục. Ai là tác giả tuyệt phẩm điện ảnh “Bố già”? Hẳn không chỉ một mình Mario Puzo, hay Francis Coppola, hay Marlon Brando, hay nhóm kỹ thuật viên hậu trường… Quá trình sản sinh Đại Cáo không phức tạp như quá trình làm phim “Bố già”, nhưng cũng không đơn giản như quá trình sáng tác thơ “Oan thán”. Trước khi được xem như kiệt tác văn chương, hay như huyền thoại, Đại Cáo đã là một văn kiện quan phương đặc trưng cho chế độ quân chủ Á Đông. Nó phải được soạn thảo theo điển lệ dưới sự chỉ đạo và hiệu chỉnh của chính hoàng đế hoặc các đại thần đầu triều. Vận dụng luận giải về “hình thức” và “khái niệm” của Barthes(297) có thể lập các bước hình thành Đại Cáo như sau:

(1) Lê Lợi muốn có một bá cáo thuật lại quá trình chiến đấu thắng lợi do ông lãnh đạo, qua đó khẳng định ông xứng đáng giữ đế vị phương Nam: Lê Lợi có một khái niệm.
(2) Ông chỉ định Nguyễn Trãi thực hiện văn bản: Nguyễn Trãi được giao việc tìm hình thức cho khái niệm đó.
(3) Nguyễn Trãi thảo luận với vua (triều thần cũng có thể tham gia nhưng vua quyết định) để chọn lựa chi tiết và cách trình bày cần thiết nhằm thể hiện cuộc kháng chiến sao cho mọi việc diễn biến như do trời xếp đặt: câu chuyện hình thành như một khái niệm chi li, trực tiếp hơn.
(4) Nguyễn Trãi viết bài theo kiến văn của một nhà Nho: ông tạo ra hình thức thích hợp.

Tạm vẽ sơ đồ tham gia sáng tạo như dưới đây:

DaiCao-TiLeTacGia

Vậy có thể nói Lê Lợi, Nguyễn Trãi cùng sáng tác Đại Cáo và vua Lê là tác giả chính.

*

Chúng ta đã đi: qua đánh giá của một số học giả, trong và ngoài nước, về Đại Cáo; qua vài định nghĩa về dân tộc của phương Tây để có khái niệm về cấu tạo dân số Đại Việt; qua phân tích Cáo bình Ngô cũng dựa vào lý thuyết phương Tây. Hình ảnh sau lăng kính xa lạ hiện lên không quen mắt, không quen nghĩ, nên người theo chủ nghĩa quốc gia có thể phản ứng rằng “chẳng cần ai cắt nghĩa hộ về dân tộc, về văn hóa; chỉ người Việt mới hiểu được nhau”, hay tự tôn hơn, “chẳng cần ai giải thích hộ về đất nước hay lòng yêu nước”.

Nhưng vấn nạn là trí thức Việt chưa nghĩ ra hệ thống lý thuyết nào để tìm hiểu các chủ đề đã đề cập. Chúng tôi muốn nói loại lý thuyết được cộng đồng học thuật quốc tế thảo luận rộng rãi chứ không phải những ý tưởng chỉ trong nhà nhìn nhận với nhau. Yếu kém đó không có gì đáng xấu hổ vì trên thế giới chưa quá mươi dân tộc làm được những công trình như thế, và thực tế dù ta suy nghĩ thế nào, các học giả được trích dẫn trong bài vẫn mãi là những người mở đường của nhân loại. Ta chỉ đủ khả năng kịp bước cùng họ, nếu và chỉ nếu, hiểu được họ đồng thời nhận thức được thực trạng của mình.

Mong rằng bài viết đóng góp được phần nhỏ vào việc tìm hiểu thực trạng ấy.

 

 

Chú thích (phần IV, kỳ 10)

(279) Đây là một đặc điểm của cộng đồng sắc tộc quý tộc.
(280) Điều này xác nhận số người gốc Bắc ở Đại Việt không nhiều. Tầng lớp thế lực đa số vẫn là hào trưởng địa phương theo văn hóa Hán.
(281) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục tập I, Nguyễn Ngọc Tỉnh (Viện Sử Học) phiên dịch, Nxb Giáo Dục 2002, trang 729. Sự kiện này còn được chép trong sách “Hoàng Việt long hưng chí” của Ngô Giáp Đậu (1853 – ?). Xem Hoàng Việt long hưng chí, Ngô Đức Thọ, Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Hồng Bàng 2013, trang 423.
(282) Xem Joseph Campbell (1947), The Hero With a Thousand Faces, Princeton University Press 2004, trang 45-226. Bản pdf: http://bit.ly/2IaUOGU.
(283) Joseph Campbell (1904 – 1987): nhà văn, nhà tâm lý, nhà nghiên cứu huyền thoại người Mỹ. Tác phẩm đáng chú ý có: “The Masks of God”, Các Mặt nạ của Thượng đế; “The Power of Myth”, Sức mạnh của Huyền thoại…
(284) Niveneh: thủ đô vương quốc Assyria, kẻ thù của người Do Thái.
(285) “Cái thiên dục khốn ngã, dĩ giáng quyết nhiệm. 蓋天欲困我以降厥任.” Dường như trời muốn làm ta khốn đốn để ban cho chức vị.
(286) Xem Joseph Campbell (1947), The Hero With a Thousand Faces, Princeton University Press 2004, trang 113. Bản pdf: http://bit.ly/2IaUOGU.
(287) Xem Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên II, Lam Sơn thực lục, Nxb Văn Học, trang 344.
(288) Xem Joseph Campbell (1947), The Hero With a Thousand Faces, Princeton University Press 2004, trang 135. Bản pdf: http://bit.ly/2IaUOGU.
(289) Phần cuối Đại Cáo quả thật nhắc nhiều đến sự đổi mới này. Nguyễn Trãi liên tục dùng nhiều từ ngữ thể hiện biến chuyển theo chiều tích cực như: cải quán, bĩ phục thái, hối phục minh, duy tân.
(290) Nguyễn Trãi có đôi câu thơ rất hay về hai giai đoạn: “Quyền mưu bản thị dụng trừ gian, Nhân nghĩa duy trì quốc thế an. 權謀本是用除奸仁義維持國勢安.” Sử dụng quyền mưu chỉ để trừ gian, Duy trì thế nước yên ổn cần nhân nghĩa. Nhà thơ nhận thức rành rẽ về hành động thích hợp của anh hùng trong và sau giai đoạn khủng hoảng.
(291) Ma trận: tên tiếng Anh “The Matrix”, phim khoa học viễn tưởng, đạo diễn bởi Lana Wachowski và Lilly Wachowski, hãng Warner Bros. phát hành năm 1999.
(292) Chiến tranh giữa các vì sao: tên tiếng Anh “Star Wars”, gồm ba phần mỗi phần ba bộ phim, công chiếu từ năm 1977 đến năm 2015. Tác giả kiêm đạo diễn George Lucas, phát hành bởi hãng 20th Century Fox.
(293) Christopher Vogler (sinh năm 1949): nhà văn, nhà viết kịch bản phim, nhà giáo dục người Mỹ. Tác phẩm nổi tiếng có “The Writer’s Journey: Mythic Structure for Writers”, Hành trình của Tác giả: Cấu trúc Huyền thoại dành cho Nhà văn.
(294) Carl Jung: Tức Carl Gustav Jung (1875 – 1961), nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần Thụy Sĩ, người sáng lập ngành Tâm lý học Phân tích. Jung đề xuất và phát triển các quan niệm về nhân cách hướng ngoại và hướng ngã, cổ mẫu, vô thức tập thể. Tác phẩm đáng chú ý có: “Psychology and Religion”, Tâm lý và Tôn giáo; “Psychologie und Alchemie”, Tâm lý và Thuật giả kim; bán tự truyện “Erinnerungen, Träume, Gedanken”, Ký ức, Giấc mơ, Suy gẫm.
(295) Nguyên văn: The book is based on Jung’s idea of the “Archetypes” constantly repeating characters who occur in the dreams of all people and the myths of all cultures.
Jung believed that these archetypes are reflections of the human mind — that our minds divide themselves into these characters to play out the drama of our lives.
The repeating characters of the hero myth, such as the young hero, the wise old man, the shape-shifting woman, and the shadowy nemesis, are identical with the archetypes of the human mind, as shown in dreams. That’s why myths, and stories constructed on the mythological model, are always psychologically true.
Such stories are true models of the workings of the human mind, true maps of the psyche. They are psychologically valid and realistic even when they portray fantastic, impossible, unreal events. Xem “A Practical Guide to The Hero With a Thousand Faces”, bản điện tử: http://bit.ly/2WJxdBl.
(296) Tướng quân Thần Vũ Nguyễn Kim Ngao bị Quý Ly chém do bỏ chạy trước quân Chiêm (1380), Hoa Ngạch tướng quân Lê Mật Ôn bị giặc bắt sống gần kinh thành (1383), Tướng Hữu Thánh Dực Nguyễn Chí lại bị giặc bắt tại Thanh Hóa kèm 70 tướng chết trận (1389), Tướng quân Tả Thánh Dực Hoàng Phụng Thế đầu hàng người Chiêm khiến Quý Ly phải chém 30 đại đội phó khi họ rã ngũ chạy về (1392)… Những chi tiết như thế cho thấy kỹ năng chiến đấu của tướng hiệu giảm sút nghiêm trọng.
(297) Xem Roland Barthes (1957), Mythologies, dịch sang tiếng Anh bởi Annette Lavers, Nxb Hill and Wang 2013, trang 226-231.
(298) Số phần trăm mang tính tương đối vì công thức là kết hợp của hai cái tương đương (equivalence) chứ không phải hai cái bằng nhau (equality).

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)