Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Kỳ 6)

0 bình luận ♦ 21.08.2019

 

Lời Tòa Soạn: Phần III là phần dài nhất trong biên khảo này, giúp làm sáng tỏ những luận điểm nêu ra trong phần II. Tác giả dựa vào định nghĩa về dân tộc của các học giả, sử gia, chính trị gia Tây phương từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21 đồng thời đối chiếu với các triều đại cũng như đời sống của cư dân Việt Nam trong lịch sử để tìm hiểu quá trình hình thành ý thức dân tộc Việt Nam.

Để độc giả tiện theo dõi, chúng tôi xin nêu lên sau đây vài nét chính trong hai kỳ 5 và 6 thuộc phần III:

Dựa vào một số quan niệm tương đối phổ biến về dân tộc, đối chiếu với hiện thực lịch sử đất nước trải hơn 400 năm dưới sự cai trị từ triều đại Lý, Trần cho đến Minh thuộc và Lê Lợi, tác giả nhận thấy không có yếu tố nào hội đủ với ý niệm về dân tộc như ta hiểu ngày nay. Có thể nói, tuy người Việt có cùng lãnh thổ, cùng ngôn ngữ, nhưng không cùng chung một nền kinh tế và văn hóa, không cùng diễn ngôn về quá khứ, cũng không chia xẻ huyền thoại về tổ tông nên chỉ là tập hợp những người tạm thời gắn kết dưới sức mạnh quân sự của một vương triều, trong đó, mối ràng buộc chính giữa chủ tướng và thuộc hạ là quyền lợi của bản thân và gia đình.

Ngoài các quan niệm trên, tác giả nêu lên và thảo luận hai quan niệm khá mới mẻ về dân tộc: một là của Ernest André Gellner, theo đó, chủ nghĩa dân tộc là phó sản của quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, nghĩa là chuyển đổi từ loại văn hóa chỉ giới hạn trong giới quyền lực và nho sĩ sang loại văn hóa có tính cách phổ quát, đại chúng; và hai là của Benedict Anderson, theo đó, dân tộc là một cộng đồng với các đặc tính: tưởng tượng, có giới hạncó chủ quyền. Chủ nghĩa tư bản ấn loát (print capitalism) với hai sản phẩm báo chí và tiểu thuyết và về sau, thống kê dân số, bản đồ và viện bảo tàng là cơ sở cho hoạt động tưởng tượng.

Dựa trên hai quan điểm này, tác giả đã nghiên cứu về hoạt động báo chí và tiểu thuyết Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ 19, bắt đầu với hai cột trụ: “Gia định báo” của Trương Vĩnh Ký, và “Truyện thầy Lazaro Phiền” và về sau, sự truyền bá chữ quốc ngữ, trường Thông Ngôn và Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tất cả hoạt động đó đưa đến sự phá vỡ độc quyền đọc-viết của giới tăng sĩ và nho sĩ thời trước, dần dần đưa đến sự hình thành ý thức về dân tộc.

 

 

 

Phần III

CƯ DÂN GIAO NAM THỜI ĐẠI CÁO

(Kỳ 6)

 

 

 

Định nghĩa của Benedict Anderson (1936 – 2015):(133)

Đó là một cộng đồng chính trị được tưởng tượng ra – nó được hình dung như (một cộng đồng) vừa vốn có giới hạn vừa vốn có chủ quyền.(134)

Anderson giải thích các từ được tưởng tượng (imagined), giới hạn (limited), chủ quyền (sovereign), cộng đồng (community) như sau:

a. Được tưởng tượng: Nó được tưởng tượng vì các thành viên thuộc dân tộc dù nhỏ bé nhất cũng chẳng bao giờ biết đa số đồng hội, gặp gỡ họ, hay nghe thấy họ; tuy vậy trong tâm trí mỗi người luôn sống động hình ảnh về mối quan hệ mật thiết với nhóm đồng cảm của mình.(135)

Giáo sư cho rằng nhiều học giả từng nói xa gần đến sự tưởng tượng này. Ví dụ như Hugh Seton-Watson:(136) “Tất cả những gì tôi phát hiện chỉ ra rằng dân tộc tồn tại khi có lượng người đáng kể trong cộng đồng tự xem họ hình thành một dân tộc, hoặc ứng xử như thể họ đã hình thành một dân tộc.”(137) Anderson bảo có thể thay thế tự xem (consider themselves) bằng tự tưởng tượng (imagine themselves). Ví dụ như Ernest Renan: “Tuy nhiên bản chất của một dân tộc là tất cả cá thể có nhiều điểm chung; và họ cũng lãng quên nhiều điểm…….. mọi công dân Pháp đều quên vụ sát hại Thánh Bartholomew,(138) hoặc cuộc thảm sát xảy ra ở miền nam nước Pháp vào thế kỷ XIII.(139) Không đến mười gia đình Pháp có thể trưng ra bằng cớ nguồn gốc Frank…..”(140)(141) Anderson hàm ý người Pháp bỏ quên dị biệt đồng thời nhấn mạnh tương đồng để hướng về xây dựng dân tộc. Hành động đó gần như sự tưởng tượng ra dân tộc. Ví dụ như Ernest Gellner: Chủ nghĩa dân tộc không phải là phát hiện về sự tự ý thức: nó phát minh ra các dân tộc nơi chúng không tồn tại.(142)

Theo Anderson, có thể so phát minh (invention) với tưởng tượng (imagination); tuy nhiên, Gellner đã đồng hóa phát minh (invention) với bịa đặt (fabrication) hay giả mạo (falsity) hơn là với tưởng tượng (imagination) hoặc tạo nên (creation).

b. Giới hạn: Dân tộc được tưởng tượng như có giới hạn vì ngay cả dân tộc lớn nhất, có thể gồm cả tỷ sinh linh, vẫn bị giới hạn bởi những đường biên, dù đàn hồi; bên ngoài là các dân tộc khác. Không dân tộc nào tự tưởng tượng có trùng ranh giới với nhân loại. Những người theo chủ nghĩa dân tộc sôi nổi nhất cũng không mơ về một ngày khi tất cả thành viên loài người gia nhập vào dân tộc của họ theo cách từng khả dĩ, vào thời kỳ nào đó, khiến cho, ví dụ, người Cơ Đốc giáo mơ về hành tinh toàn tín đồ Cơ Đốc.(143)

c. Chủ quyền: Nó được tưởng tượng như có chủ quyền vì khái niệm này ra đời trong thời đại mà phong trào Khai Sáng và Cách Mạng đã hủy diệt tính hợp pháp của vương triều thần quyền dựa trên trật tự tôn ti. Trưởng thành vào giai đoạn lịch sử loài người khi ngay cả đa phần những kẻ sùng đạo nhất của bất kỳ tôn giáo phổ biến nào cũng không tránh khỏi việc bị giáp mặt với tính đa nguyên sinh động của các tôn giáo, với hiện tượng dị hình giữa khẳng định mang tính bản thể của mỗi niềm tin và sự dàn trải lãnh thổ,(144) các dân tộc đều mơ được tự do, và nhỡ, nếu dưới quyền Thượng Đế, sẽ trực tiếp với người.(145) Vật làm tin và biểu tượng của tự do chính là nhà nước có chủ quyền.(146)

d. Cộng đồng: Cuối cùng, nó được tưởng tượng như một cộng đồng, bởi vì, bất chấp sự bất bình đẳng và bóc lột thực tế có thể phổ biến trong mỗi dân tộc, nó luôn được quan niệm như quan hệ đồng chí sâu sắc, bình đẳng. Rốt cục, chính tình huynh đệ khiến cho, trong hai thế kỷ qua, nhiều triệu người không hẳn sẵn sàng giết, mà sẵn sàng chết, bởi các hình dung hữu hạn như thế.

Những cái chết này thình lình đưa chúng ta mặt đối mặt với vấn đề chính yếu đặt ra bởi chủ nghĩa dân tộc: cái gì khiến các hình dung đã bị nghèo nàn đi về lịch sử gần đây (chắc không quá hai thế kỷ) lại tạo nên nhiều hy sinh lớn lao dường ấy? Tôi tin rằng manh mối về câu trả lời nằm trong cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc.(147)

Anderson quan niệm rằng chủ nghĩa dân tộc nảy sinh từ sự phân rã của các cộng đồng tôn giáo và hệ thống vương triều. Hiện tượng phân rã xảy ra cùng lúc với sự thay đổi quan niệm về thời gian. Cách xếp đặt quá khứ, tương lai vào khoảnh khắc hiện tại(148) được thay thế bởi cảm nhận về thời gian được đo đạc bởi lịch và đồng hồ. Cần nhắc lại lần nữa “tưởng tượng” là để “tạo nên”, khác với “bịa đặt”, “giả mạo” hay “ảo tưởng”. Để có thể tưởng tượng ra dân tộc phải dựa vào điều kiện xã hội-vật chất nhất định. Theo Anderson, chủ nghĩa tư bản ấn loát (print capitalism) với hai sản phẩm báo chí và tiểu thuyết là cơ sở cho hoạt động tưởng tượng vì chúng tạo điều kiện cho một cảm thức về thứ thời gian diễn tiến.

Hai trụ cột thúc đẩy sự hình dung dân tộc xuất hiện lần đầu tại Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX: Gia Định báo với Chánh tổng tài Trương Vĩnh Ký (1869) và Truyện thầy Lazaro Phiền (1887) sáng tác bởi Nguyễn Trọng Quản.(149) Nối tiếp Gia Định báo có Thông loại khóa trình (1888), Nam Kỳ nhựt trình (1897), Phan Yên báo (1898), Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907)…. Nối tiếp Truyện thầy Lazaro Phiền có Hoàng Tố Oanh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu, Phan Yên ngoại sử (1910) của Trương Duy Toản, Ai làm được (1912 – 1922) của Hồ Biểu Chánh, Hà Hương phong nguyệt (1914, 1915, 1916) của Lê Hoằng Mưu….

Về sau, Anderson bổ sung thêm ba yếu tố hỗ trợ sự tưởng tượng nên dân tộc là thống kê dân số, bản đồ và bảo tàng. Thống kê dân số sơ khai được lưu lại qua “Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” (1876), nó đã điểm vài yếu tố phương Tây so với thống kê bằng chữ Hán trong sổ tu tri đời Minh. Petrus Ký cũng từng làm ra hai tác phẩm bản đồ đặt tên “Đại Nam tam thập nhất tỉnh thành đồ”(1888) và “Đại Nam tam thập nhất tỉnh bản đồ” (1889),(150) có lẽ chúng được dùng như học liệu trong các cơ sở giáo dục bấy giờ. Sau hết, bảo tàng đầu tiên trên xứ An Nam được thành lập tại Sài Gòn vào năm 1888 qua nhiều trì hoãn. Như vậy, theo lý thuyết Anderson, khái niệm dân tộc chưa thể hiện hữu tại Đại Việt vào thế kỷ XV. Nếu có, phải vào cuối thế kỷ XIX, và phải khởi phát từ nơi sớm hội đủ điều kiện kỹ thuật nhất là Nam Kỳ. Đây cũng là khu vực đầu tiên của Đại Nam mà quyền hạn vương triều kiểu Đông Á bị thủ tiêu và Nho-Phật truyền thống chồn chân trước những Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa…

Kỹ nghệ ấn loát tác động thế nào đến cấu trúc xã hội và con người Việt Nam, trước hết ở Lục tỉnh, là chủ đề chuyên sâu. Dưới đây chỉ điểm qua vài nét về sản phẩm in trong giai đoạn sơ khai để làm rõ thêm định nghĩa bởi Anderson. Về báo chí, xin nhường lời cho các tác giả có nghiên cứu tập hợp trong quyển “Gia Định báo: Tờ báo Việt ngữ Đầu tiên”.

Nguyễn Thị Hồng Cúc: “Gia Định Báo ngoài việc tạo nên một luồng văn học Quốc ngữ mới, làm gạch nối giữa các tầng lớp nhân dân, cũng đã có công lớn tạo nên những độc giả biết yêu báo chí, biết tầm quan trọng của thông tin. Từ một ít trí thức ban đầu, số lượng độc giả phát triển khắp hang cùng ngõ hẻm, người người đều đọc báo, coi đọc báo là một nếp văn minh, một ngày không biết tin tức thời sự là trở nên lạc hậu, lỗi thời trong xã hội. Điều này đã tạo nguồn lực và điều kiện xuất hiện các cuộc vận động văn hóa chính trị mới vừa chống Pháp giành độc lập, thích hợp hơn và hữu hiệu hơn, vừa mở đường cho việc tìm tòi một hướng đi mới cho dân tộc.”(151)

Nhận xét của Hồng Cúc phần nào phù hợp với cách thứ nhất,(152) theo Anderson, qua đó ngôn ngữ ấn loát đặt nền móng cho sự ý thức về dân tộc: “chúng (các ngôn ngữ in)(153) tạo nên những không gian thống nhất cho việc trao đổi, giao tiếp bên dưới tiếng Latin và bên trên các thứ tiếng nói địa phương.”(154) Như vậy có thể thay thế “Latin” bằng “Pháp” hay “Hán” trong trường hợp Việt Nam.

Huỳnh Văn Thông: “…đóng góp quan trọng nhất của Gia Định báo đối với lịch sử báo chí dân tộc ở giai đoạn này là việc kiến tạo một thứ không gian công cộng (public sphere) đầu tiên trong đời sống xã hội Việt Nam. Vấn đề này cần được phân tích sâu sắc hơn để nhìn thấy giá trị căn cơ nhất mà Gia Định báo đã kiến tạo cho báo chí Việt Nam. Trước khi Gia Định báo ra đời, có thể nói mô hình tổ chức xã hội truyền thống Việt Nam hầu như chưa thiết lập được một kiểu không gian công cộng để phục vụ cho đời sống tương tác thông tin và dân chủ của xã hội.(155)

Huỳnh Văn Thông sử dụng thuật ngữ “không gian công cộng” đưa ra bởi học giả Đức Jürgen Habermas(156) vào năm 1962. Theo Habermas, “văn hóa không gian công cộng” tương ứng với giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản, nó thay thế “văn hóa đại diện” của chế độ phong kiến và không bị chi phối bởi nhà nước. Trao đổi qua báo chí, xa lông, tiệm cà phê, câu lạc bộ văn chương….. tạo nên không gian công cộng hướng về phê phán xã hội.(157) Dù “không gian công cộng” mang tinh thần khác “không gian thống nhất” của Anderson nhưng chúng ta vẫn thấy sự tương đồng giữa hai khái niệm.

Hai nhà nghiên cứu Việt Nam mặc định dân tộc đương nhiên có trước tờ báo quốc ngữ đầu tiên. Với Hồng Cúc, báo chí ngoài chức năng văn học còn là công cụ chính trị của dân tộc; với Văn Thông, xây dựng không gian công cộng là đóng góp quan trọng của Gia Định báo đối với lịch sử báo chí dân tộc. So với người đi trước như Huỳnh Văn Tòng, vốn cho rằng ý thức dân tộc nhờ báo chí mà trưởng thành,(158) thì sự đinh ninh về căn cước nguyên thủy đã đánh mất tính gợi mở đồng thời từ bỏ một hướng khảo sát quan trọng về báo chí. Nói như thế không có nghĩa cô Cúc hay thầy Thông sai, chúng tôi chỉ muốn đưa ra một khía cạnh khác, cục bộ, về sự hình thành dân tộc Việt Nam với hy vọng làm rối rắm thêm vấn đề đã rối rắm. Để cảm nghiệm phần nào các cuộc tranh luận chưa có hồi kết về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, xin liệt kê dưới đây ba lưỡng phân Anderson đã đúc kết trước khi bàn về các cộng đồng tưởng tượng.

– Tính hiện đại khách quan của dân tộc dưới mắt sử gia >< tính cổ kính chủ quan (của dân tộc) dưới mắt những người theo chủ nghĩa dân tộc.
– Sự phổ biến chính thức của quốc tịch như một quan niệm xã hội-văn hóa >< sự biểu hiện cụ thể của quốc tịch với đặc tính không sửa đổi được.(159)
– Sức mạnh “chính trị” của các thứ chủ nghĩa dân tộc >< sự nghèo nàn tính triết học, thậm chí sự thiếu mạch lạc của chúng.(160)

Ở đây, theo gót Anderson, chúng tôi đứng về ba vế đầu của các cặp lưỡng phân để tìm hiểu sự hình thành dân tộc.

Dựa vào sơ đồ cấu trúc xã hội nông nghiệp của Gellner, có thể nói rằng báo chí, và các sản phẩm in khác, đã dần phá vỡ những ranh ngang phân cách các tầng lớp xã hội, những ranh dọc phân cách các cộng đồng nông thôn. Chúng góp phần tạo nên không gian văn hóa thuần nhất trên toàn vùng đất mang tên Nam Kỳ. Tiến trình đồng nhất hóa xảy ra dễ dàng hơn ở Trung Bắc, vì trên vùng đất mới, sự phân chia tầng lớp xã hội hay khu vực thôn xóm đều mờ nhạt. Thị dân không kỳ thị thôn dân. Trí thức có vốn liếng đặc tuyển nhưng vẫn chan hòa trong dòng văn hóa đại chúng. Cựu giám đốc trường Thông Ngôn Sài Gòn Petrus Ký chưa bao giờ thất lễ với nhóm đồng bào kém may mắn hơn như người cựu học sinh trường Thông Ngôn Đông Kinh Phạm Quỳnh. Việc dùng chữ quốc ngữ đã tạm thời tách Nam Kỳ ra khỏi Trung Bắc còn thịnh hành chữ Hán, nhưng quan trọng hơn, chính ngôn ngữ in đã vĩnh viễn tách Việt Nam ra khỏi Campuchia. Đường biên Nam Hà – Chân Lạp vốn không rõ ràng từ xưa lại càng nhòe nhoẹt sau khi công nữ Ngọc Vạn(161) thành hôn với vua Chey Chetta II (1620). Dân Quảng Nam quốc nhiều cơ hội sang Chân Lạp làm ăn hơn, tạo tiền đề cho cuộc bảo hộ bởi Minh Mạng sau này (1836). Tuy nhiên, do sự hình thành “không gian thống nhất”, biên giới Nam Kỳ dừng lại nơi bước chân của độc giả báo chí quốc ngữ dừng lại. Mặt khác, chúng tôi tin rằng các bản đồ 31 tỉnh của ông Trương cũng góp phần cố định nhận thức về lãnh thổ và dân tộc Việt.(162) Có thể nói quãng thời gian 1865 (báo Gia Định) – 1913 (Đông Dương tạp chí) là giai đoạn sơ khởi của quá trình hình thành dân tộc Việt Nam hiện đại.

Nguyễn Công Lý: “Theo chúng tôi, chính thơ văn, truyện cổ tích và những bài nghiên cứu về lịch sử nước nhà được đăng trên tờ báo lúc này cùng với những trước tác, biên soạn của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của trong giai đoạn khởi đầu đó đã góp phần khai sinh nền quốc văn mới, để sau đó diễn ra rầm rộ vào 20 năm đầu thế kỷ XX và hoàn thiện ở chặng đường 1932 – 1945.”(163)

Việc kêu gọi xây dựng tượng Petrus Ký chủ trì bởi Gilbert Trần Chánh Chiếu cho thấy ảnh hưởng của Sĩ Tải đối với báo chí Nam Kỳ. Khi Gilbert bị bắt vì hoạt động Minh Tân chống Pháp (1908), các tờ báo Nam Kỳ địa phận và Nông cổ mín đàm tiếp tục nhận lạc quyên để hoàn tất công trình. Giới ký giả bằng hành động đã tôn Trương Vĩnh Ký làm thầy của cả khu vực.

Ảnh hưởng đó còn qua Lục tỉnh tân văn lan ra đất Bắc.

Theo Võ Văn Nhơn: Lục tỉnh tân văn cũng là tờ báo có uy tín bậc nhất ở Nam kỳ vào thời kỳ đó. Nhiều cây bút của xứ Bắc, Trung từng vào Sài Gòn học nghề làm báo ở tờ này, từ Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi đến Trần Huy Liệu, Tản Đà… Ngay Đông Dương tạp chí khi mới ra đời phải ghi trên manchette của mình là “Ấn phẩm đặc biệt của Lục tỉnh tân văn cho xứ Bắc và Trung kỳ”.(164)

Câu ghi trên manchette tờ báo thuần Việt đầu tiên ở Bắc Kỳ(165) nói lên tất cả. Việc Nguyễn Văn Vĩnh dùng truyện Tàu như Tam quốc chí hay thơ ngụ ngôn La Fontaine chuyển sang quốc ngữ để lôi cuốn quần chúng chú tâm đến thứ chữ mới là những thao tác được báo giới Nam Kỳ thực hiện từ lâu. Cũng nên biết chủ bút Lục tỉnh tân văn từ năm 1908 là Lương Khắc Ninh,(166) người trước nhất dịch Tam quốc chí để đăng trên Nông cổ mín đàm (1901).

DongDuongTapChi-Bia1913-05-15

Trích trang bìa Đông Dương tạp chí ngày 15/5/1913
(http://bit.ly/2J930XC)

Tuy nhiên, một kênh truyền bá quốc ngữ khác xuất hiện sớm hơn nhưng ít người để ý là hệ thống Trường Thông Ngôn.

Pháp hạ thành Hà Nội năm 1882, phát hành tờ báo tiếng Pháp đầu tiên tại Bắc Kỳ Le Bulletin Officiel du Protectorat de l’Annam et du Tonkin năm 1883, lập trường Thông Ngôn năm 1886. Có lẽ người Pháp không chỉ mang quân đội và máy in báo ra Hà Nội, họ còn mang theo chương trình đào tạo phiên dịch từ Sài Gòn. Hiện nay, không tồn tại manh mối nào về việc soạn giáo trình cho trường mới ở Bắc Kỳ nhưng lại còn thông tin về chương trình dạy các khóa thông ngôn ở Sài Gòn đăng trên Gia Định báo số 12 ngày 21 tháng 3 năm 1885; trong đó, phần tiếng An Nam ghi nhận sách giáo khoa được dùng là quyển Kim Vân Kiều.(167) Bản Kiều quốc ngữ chắc chắn phải được thực hiện bởi Trương Vĩnh Ký. Chúng tôi tin rằng nhiều ấn phẩm quốc ngữ khác từ Nam Kỳ cũng được mang ra bắc để dùng như tài liệu học tập, tham khảo. Do tiếng Nam và tiếng Bắc đương thời khác nhau nhiều chứ không tương đối gần gũi như hiện nay nên theo thời gian giáo trình sẽ được điều chỉnh phù hợp với ngôn ngữ địa phương. Có thể nói những học sinh trường Thông Ngôn như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh không lạ lùng gì với các tác gia và quốc văn miền Nam. Họ biết, học, hiểu nhưng khó cảm thụ cái hay vì ngôn từ lạ lẫm với phương ngữ của chính họ. Hai vị chịu ảnh hưởng người trước nhưng đủ tài năng để góp phần khởi tạo một nhánh văn học khác, theo một quan niệm khác.(168)

Một kênh khác là Viện Viễn Đông bác cổ, cơ quan nghiên cứu được chuyển từ Sài Gòn ra Hà Nội vào năm 1902. Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947), một nhân viên của Viện, đã có nhận xét toàn diện và sâu sắc về Trương Vĩnh Ký(169) chứng tỏ ông tiếp cận được nhiều văn bản quốc ngữ xưa được lưu trữ tại đây. Như vậy người Pháp mang chữ quốc ngữ đến Bắc Kỳ theo cách rất bài bản. Đầu tiên, đào tạo những người có thể làm việc ngay cho chế độ bảo hộ qua chương trình thông ngôn;(170) thứ hai, tạo điều kiện cho giới trí thức làm quen với học thuật ghi bằng chữ cái La Tinh trong viện nghiên cứu; sau cùng, giới thiệu ký tự mới rộng rãi đến quảng đại quần chúng bằng báo chí.

Về tiểu thuyết, loại kết cấu mới phảng phất ảnh hưởng đạo Thiên chúa như Truyện thầy Lazaro Phiền không tìm được độc giả. Trình độ dân trí chung chưa đạt tới mức thưởng ngoạn được những gì quá xa lạ. Giới bình dân Nam Kỳ ngưỡng mộ truyện Tàu được dịch sang quốc ngữ. Tác động của loại văn chương cũ khoác bộ cánh thời trang được Phạm Quỳnh nhận xét như sau: “Những tiểu thuyết tàu tự tám mươi đời triều ấy văn chương đã chẳng ra gì mà truyện thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản, của mấy bác cuồng nho bên tàu đời xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá những bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay! Không trách cái tư tưởng quốc dân những chìm đắm trong sự mê hoặc không cùng, có khi sinh ra những việc xuẩn động hại đến cuộc trị an trong xã hội cũng vì đó. Có người nói việc phá khám Sài Gòn năm nọ cũng là bởi cái di độc của các tiểu thuyết tàu mà ra, tưởng không phải là nói quá vậy. Cả ngày cả đêm những ca tụng cái tài ông Tiết Đinh Sơn, ông Tiết Đinh Quí, hay những ông tướng kỳ khôi từ đời hồng mang nào, trách sao trong trí không loạn lên mà muốn làm thực những việc mình thường đọc thấy trong truyện? Càng những bọn hạ lưu hung hãn lại càng dễ nhiễm hơn cả. Coi đó thì biết văn chương không phải là không có quan hệ đến nhân quần; các nhà làm sách há chẳng nên cẩn thận lắm rư? Chắc ai cầm bút viết trong bụng cũng có cái ý tốt cả, và như các nhà dịch tiểu thuyết tàu kia là chỉ chủ làm một món mua vui cho các bạn đồng bào trong khi tửu hậu trà dư, lại vừa làm một mối lợi riêng cho mình; nhưng phải nghĩ đến cái ảnh hưởng những truyện vô bằng ấy vào trong óc mộc mạc của những kẻ ít học, chưa biết suy nghĩ sâu xa, thường lấy hư làm thặt, lấy giả làm chân, nó hại biết dường nào!”(171)

Chúng ta thấy tâm thức Phạm Quỳnh bộc lộ cái nhìn từ cảnh giới nông nghiệp sang cảnh giới bước đầu hiện đại hóa. Có lẽ do còn trẻ chưa kinh lịch nhiều, nên dù cảm được sức đẩy tư bản đằng sau kỹ nghệ in ấn và trứ tác nhưng ông khá ngỡ ngàng với văn hóa đại chúng vốn nặng tính giải trí, sản phẩm chưa từng có ở Đại Việt-Đại Nam khi đọc-viết còn là đặc quyền của tăng sĩ rồi nho sĩ.(172) Ông cũng ngộ nhận chất “yêng hùng” đậm nét truyện Tàu đã run rủi nhóm hội kín Phan Xích Long(173) chống lại chính quyền. Phải rất lâu sau, một trí thức Bắc khác từng sinh sống tại Lục Châu hơn hai mươi năm, thay vì dừng chân một tháng, mới hé mở được cánh cổng văn hóa miền Nam: vị học giả nhìn ra ước mơ và đạo lý trong các câu chuyện xưa cũ.(174)

Dù sao đi nữa, ông Phạm cũng giúp chúng ta biết tiểu thuyết tác động mạnh mẽ đến nhân quần Nam Kỳ như thế nào. Tuy nhiên, lớp áo thần bí bao phủ hoạt động phản kháng hay đạo hiếu trung dẫn dắt người làm điều nghĩa chỉ là thể hiện phát sinh từ nội dung; chính hình thức chữ quốc ngữ mới tạo ra gắn kết và động lực, có thể xem chúng như một hệ thống ký hiệu khiến người đọc cảm thấy mình là phần tử thuộc về, đặc biệt khi kẻ thống trị dùng hệ thống ký hiệu khác. Nghĩa là, tiểu thuyết quốc ngữ khiến độc giả duy trì tiềm thức Việt. Nó bùng nổ qua khẩu hiệu “phản Pháp phục Nam” in trên truyền đơn nổi dậy. “Phản Thanh phục Minh” của Thiên Địa hội và “phản Pháp phục Nam” của Phan Phát Sanh không gần gũi nhau. Dù Phan tự nhận con vua Hàm Nghi, tự xưng hoàng đế, nhưng ông không chống một triều đại để phục hưng một triều đại, mà chống đế quốc Pháp để hồi phục nước Nam, hay chống người Pháp để hồi phục dân Nam. Ý niệm về dân tộc chưa rõ ràng nhưng nhận thức có chuyển dịch.(175)

Về tiểu thuyết mới, Thượng Chi nói: “Tôi biết có bộ tiểu thuyết cực là dâm bôn mà lại rất là thịnh hành trong bọn phụ nữ. Coi đó thì biết cái hại sâu biết dường nào! Gia đình tan cũng vì đó, xã hội nát cũng vì đó, cái tương lai nước nhà nguy hiểm cũng vì đó. Các nhà làm sách có nghĩ tới không? Hay chỉ chủ bán cho chạy hàng, thâu được nhiều bạc, còn những lẽ cương thường luân lý mặc quách ai?”.(176)

Bộ tiểu thuyết dâm bôn rất mực nhiều khả năng là tác phẩm viết bởi “đứa tội nhơn lớn nhứt nước An Nam” Lê Hoằng Mưu:(177) Hà Hương phong nguyệt.(178) Bộ sách này bị nhà chức trách Nam Kỳ tịch thu, tiêu hủy do bị dư luận chỉ trích nặng nề. Các nhà đạo đức đương thời, khó biết thật hay giả, dường như tương tự đồng bệnh hiện nay, chưa bao giờ đủ thâm trầm để theo kịp tốc độ vặn mình của xã hội. Có lẽ chúng ta nên dùng câu hỏi do Roger Chartier(179) nêu lên để giải thích sức lôi cuốn từ khúc ca yểu mệnh: “(phải chăng) việc chữ in lưu hành rộng rãi hơn(180) đã làm biến chuyển các hình thức giao thiệp, giúp chấp nhận những cách thức tư duy mới, và thay đổi các mối quan hệ quyền lực?”(181) Ở đây xin hiểu là quyền lực của đàn ông đối với đàn bà.

Sản phẩm ấn loát chẳng những bôi xóa các lằn vạch Gellner trong xã hội mà còn góp sức tiêu hủy lằn vạch trong và quanh mỗi gian nhà. Khi tôn giáo và sự hài hòa nghiêm ngặt của hệ thống quân chủ không đủ sức chẩn đoán, điều trị được đau khổ của kiếp người thì chủ nghĩa khoái lạc tạm thay. Độc giả của Hà Hương như những ngọn đèn không chỉ muốn tỏa sáng dưới mái gia đình. Họ manh nha ý thức để trở thành hội viên toàn phần của một dân tộc.

Thời gian lưu lại Nam Kỳ quá ngắn nên không thể đòi hỏi ở Phạm Quỳnh một cảm nhận có chiều sâu. Tuy nhiên, vài phê phán đạo đức theo phản xạ văn hóa lại rất giá trị ở điểm chúng vô tình phát hiện những nhân tố lạ lẫm như đàn bà, trẻ em, bọn hạ lưu…- họ đều biết đọc – trồi lên bề mặt xã hội. Nhân loại này có nhu cầu-thị hiếu riêng, có tiếng nói riêng, khiến giới cầm bút miền Nam phải để ý nuông chiều. Tiến trình hiện đại với hai công cụ kỹ nghệ in và chữ quốc ngữ đã lôi cuốn các phần tử thụ động suốt ngàn năm tham gia vào dòng chảy văn hóa, lịch sử. Có lẽ đối với họ việc mạo hiểm tới tương lai biến đổi không ngừng lý thú hơn phải nghe mớ đạo lý mốc meo vọng về từ quá khứ.

Xét kỹ việc làm của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của,(182) Trương Minh Ký,(183) Nguyễn Trọng Quản… chúng ta thấy các vị đã thực hiện trong thời gian rất ngắn một số công việc tổng hợp của Martin Luther (1483 – 1546)(184) và các nhà dân tộc chủ nghĩa lãng mạn như Johann Gottfried Herder (1744 – 1803),(185) Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814),(186) Jacob Grimm (1785 – 1863),(187) Wilhem Grimm (1786 – 1859).(188) Nhóm văn sĩ Nam Kỳ dịch thuật Pháp – Hán sang Việt và sử dụng phương tiện in ấn để chuẩn hóa tiếng Việt như Luther dịch kinh thánh đồng thời chuẩn hóa tiếng Đức; họ tin vào sức mạnh của văn viết dựa theo lời nói như Herder;(189) tôn trọng giá trị tinh túy của kẻ xâm lược tiến bộ hơn như Fichte;(190) sưu tập truyện đời xưa như anh em Grimm. Hoạt động của họ gieo mầm chủ nghĩa dân tộc qua ngôn ngữ, tức thiên về văn hóa trong hoàn cảnh chưa có nước, như trí thức Đức.(191)

Nhóm trí thức Tây học đầu tiên hoạt động bên ngoài khuôn viên nhà thờ có khái niệm gì về dân tộc hay chủ nghĩa dân tộc?

Nhớ lại, hai người giới thiệu Trương Vĩnh Ký tham gia Hội Á Châu Paris là hai danh nhân văn hóa Pháp: Émile Littré (1801 – 1881) và Ernest Renan (1823 – 1892). Littré chuyên về triết học và tự điển, ông cùng kiệt tác Dictionnaire de la langue française nổi danh đến mức dân Pháp dùng chữ “quyển Littré” để gọi tắt tên sách. Ernest Renan chuyên về triết học, lịch sử tôn giáo và lý thuyết chính trị; quan niệm về dân tộc của ông, phần nào đối lập với quan niệm của Johann Gottlieb Fichte, được châu Âu bàn thảo suốt nhiều thập niên. Mãi đến thập kỷ 2000, Anderson vẫn nhắc Renan trong tác phẩm của mình.

Quan điểm về dân tộc hay chủ nghĩa dân tộc của Renan thiên về yếu tố chủ quan, loại lý thuyết sau này dẫn đến chủ nghĩa dân tộc dân sự. Quan điểm của Fichte thiên về yếu tố khách quan, lý thuyết sau này dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa dân tộc sắc tộc.(192)

Chúng tôi nghĩ rằng không phải tình cờ mà nhóm Petrus Ký tiến hành công việc đồng dạng với việc các trí thức Đức từng làm trước đó,(193) đặc biệt Huỳnh Tịnh Của không phải tự nhiên có ý định soạn bộ tự vị Đại Nam sớm sủa đến thế. Nhóm trí thức lấy cảm hứng và chịu ảnh hưởng ở mức độ nhất định từ suy nghĩ của các bộ óc lỗi lạc đương thời mà họ rất may mắn được tiếp xúc trực tiếp hay bằng thư từ, hoặc gián tiếp qua sách vở, qua các thư viện châu Âu trong những dịp công du. Sĩ Tải chắc chẳng lạ lẫm gì trước những ngẫm ngợi về dân tộc của Renan, nhân đó tìm tòi thêm suy tư của các nhà văn hóa Đức. Ngay lời khen của Renan đối với quyển tóm lược lịch sử An Nam cũng đẫm màu sắc dân tộc: Ông Trương Vĩnh Ký giới thiệu cho chúng ta một cách rõ ràng về những ý tưởng mà người An Nam hình thành qua lịch sử của chính họ.(194) Học giả Pháp nói về một cộng đồng người có lịch sử riêng được ghi chép khoa học đồng thời chê nhiều dân tộc (hay quốc gia)(195) ở châu Âu không làm được quyển sử tương tự.

Renan-TruongVinhKy

Trang Báo cáo thường niên của Hội Á châu
với đoạn Ernest Renan nhắc đến Trương Vĩnh Ký
(http://bit.ly/2Nj3gIT)

Trong sách, Petrus Ký khẳng định dân An Nam của nước Pháp hay dân An Nam ở Bắc-Trung Kỳ đều có chung nguồn gốc.(196) Đồng nghiệp của ông, Paulus Của, đặt tên bộ tự vị tâm huyết của mình là “Đại Nam quấc âm”. Cả hai đều bày tỏ hoài niệm cảm động về một quần thể người từng đủ sức định đoạt vận mệnh riêng. Tập sách nhỏ của ông Trương chính là ký ức chung về quá khứ thăng trầm của nhóm người An Nam, một trong hai yếu tố chính để hình thành dân tộc theo học thuyết Renan. Còn quyển Tự vị có thể xem như dạng ký ức khác, ký ức về văn hóa của thực thể Đại Nam đã biến mất dưới cái nhìn quốc tế. Chắc chắn phải đọc toàn bộ những gì hai ông viết cùng với nhận xét từ chứng nhân đồng thời mới có thể đánh giá được chút nào cảm nhận về dân tộc của từng người, nhưng công việc đó quá khổ so với bài viết mang tính kiểm điểm sơ lược này. Chúng tôi mường tượng hai mức độ tự nhận thức của trí thức Việt trước và sau sự kiện Nhật Bản đánh bại nước Nga Sa hoàng. Trước 1905 là mặc cảm về một sắc dân kém phát triển phải dựa dẫm người Pháp để tiến bộ. Sau 1905 là lòng tự tín về giống An Nam da vàng với hoài bão những gì Nhật làm được thì An Nam cũng làm được. Dù chưa dám tưởng một quốc gia tự chủ, hai tiên sinh vẫn hành động như những người tự do. Paulus Của cho đăng “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” trong tác phẩm Gia lễ (1886), Petrus Ký cho đăng thơ Bùi Hữu Nghĩa trong Thông loại khóa trình số 2 (1889).(197) Hai ông mang phong thái trí thức phương Tây độc lập tương đối với chính quyền. Chính quyền dẫu phật lòng cũng không tỏ thái độ bất kính vì phải theo luật, rõ là cuộc sống đã bớt hẩm hiu so với thân phận sĩ phu dưới tay các ông hoàng phương Đông vốn sở trường gieo “họa văn tự”.

Xin tạm kết luận: trước khi chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi ở hai miền Trung – Bắc tạo căn bản cho sự tưởng tượng mở rộng, thì trong quãng từ 1865 (Gia Định báo) đến 1913 (Đông Dương tạp chí) đã tồn tại một tập hợp người khá đồng nhất trên toàn miền Nam mang nhiều yếu tố khác với các nhóm người còn manh mún ở Trung-Bắc. Họ dùng chữ quốc ngữ và phương tiện ấn loát để làm báo, soạn sách giáo khoa, sáng tác tiểu thuyết, quảng cáo, tranh luận các vấn đề xã hội… những hoạt động văn hóa-kinh tế-chính trị chưa hề xuất hiện dưới thời cựu trào hay bên trong biên giới cũ. Dân Nam Kỳ đã chuyển sang dạng người khác chưa hẳn Việt Nam nhưng không còn Đại Nam.(198) Theo cách nói Anderson, họ đã kết hợp thành cộng đồng vốn có giới hạn nhưng lại thiếu chủ quyền. Nên chỉ có thể gọi đó là cộng đồng proto Việt Nam sớm nhất, và phần tử tiên phong của họ như nhóm Trương-Huỳnh là những cá thể proto Việt Nam sớm nhất.(199)

 

 

 

______________________________________

Chú thích (phần III, kỳ 6):

(133) Benedict Anderson: tức Benedict Richard O’Gorman Anderson, nhà khoa học chính trị kiêm sử gia người Ái Nhĩ Lan. Anderson ra đời tại Côn Minh, Trung quốc. Để tránh quân Nhật, ông theo gia đình sang Mỹ (1941) rồi trở về Ái Nhĩ Lan (1945). Anderson tốt nghiệp đại học tại King’s College, Cambridge năm 1957, lấy bằng tiến sĩ tại đại học Cornell năm 1967. Luận án của Anderson khảo về thời điểm Indonesia dành độc lập (1945 – 1946). Trước đó, tháng giêng năm 1966, tại Cornell, ông cùng hai người bạn Ruth McVey và Frederick Bunnell đã viết chuyên khảo phê phán lời giải thích của chính quyền Suharto về hoạt động thanh trừng thành viên PKI (Đảng Cộng sản Indonesia). Anderson cùng hai đồng tác giả tránh ký tên bài viết để giữ an toàn cho thân hữu tại Indonesia nên văn bản được gọi kiểu nặc danh là “luận văn Cornell” (Cornell Paper). Lúc tài liệu được phát hành chính thức (1971), Anderson bị báo chí Jakarta công kích mạnh. Đến tháng 4 năm 1972, chính quyền trục xuất và cấm ông đến Indonesia không thời hạn. Nhà tư tưởng Marxist, chống thực dân chỉ được phép tái nhập cảnh sau thời điểm Suharto qua đời (1998). Trước khi bị trục xuất, Anderson đã tham dự phiên xử (1971) Tổng bí thư đảng Cộng sản Indonesia Sudisman dưới tư cách nhân chứng, ông rất ngưỡng mộ thái độ đỉnh đạc trước tòa của bị cáo và cảm thấy mắc nợ con người đó. Năm 1975, Anderson dịch, viết giới thiệu, xuất bản lời khai của Sudisman như một tưởng niệm.
Dù chuyên về vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ và quyền lực, nhưng cuộc chiến giữa Campuchia Dân chủ và Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, rồi giữa Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đã thôi thúc Anderson bắt tay vào sự nghiệp nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông mang tựa Các cộng đồng được tưởng tượng (1983), thể hiện suy tư nảy sinh từ cuộc xung đột giữa các nước theo chủ nghĩa xã hội, và sâu thẳm hơn từ lịch sử dữ dội của Indonesia. Ông quay về quê hương thứ hai năm 1998, sau đó thường xuyên qua lại giữa Bangkok và Jakarta. Đồng thời, Anderson vẫn tiếp tục giảng dạy ở đại học Cornell cho đến khi về hưu (2002). Ông qua đời tại Đông Java, thọ 79 tuổi. (Tổng hợp từ Bách khoa thư Britannica, mục Benedict Anderson, bản điện tử http://bit.ly/2JhV75k; bài báo của Jeet Heer trên tạp chí The New Republic, bản điện tử https://bit.ly/1NjD2fA; và bài viết của Scott Sherman trên trang web cá nhân, bản điện tử https://bit.ly/2TfS6TF).
(134) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 6. Nguyên văn: It is an imagined political community – and imagined as both inherently limited and sovereign.
(135) Sđd, trang 6. Nguyên văn: It is imagined because the members of even the smallest nation will never know most of their fellow-members, meet them, or even hear of them, yet in the minds of each lives the image of their communion.
(136) Hugh Seton-Watson (1916 – 1984): nhà khoa học chính trị, sử gia người Anh, chuyên về nước Nga. Ông từng làm việc tại University College, Oxford và London University. Seton-Watson mất vì bệnh phổi khi đang nghiên cứu tại Hoa Kỳ. Tác phẩm đáng chú ý có quyển “The Russian Empire, 1801 – 1917”, Đế quốc Nga, 1801 – 1917 (1967).
(137) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 6. Dẫn theo Benedict Anderson: All that I can find to say is that a nation exists when a significant number of people in a community consider themselves to form a nation, or behave as if they formed one.
(138) Một trong 12 tông đồ của Chúa Jesus. Ông tử đạo do bị lột da, chặt đầu theo lệnh vua xứ Armenia.
(139) Chỉ vụ thảm họa thành Béziers năm 1209, nơi người theo đạo Cathar bị quân Thập tự chinh điều động bởi Đại diện Giáo hoàng Arnaud Amalric tàn sát.
(140) Frank là một nhánh của người nói tiếng Nhật Nhĩ Man, xâm chiếm miền bắc nước Pháp vào thế kỷ V.
(141) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 6. Dẫn theo Benedict Anderson: Or l’essence d’une nation est que tous les individus aient beaucoup de choses en commun, et aussi que tous aient oublié bien des choses…….tour citoyen français doit avoir oublié la Saint-Barthélemy, les massacres du Midi an XIIIc siècle. Il n’y a pas en France dix familles qui puissent fournir la preuve d’une origine franque…..
(142) Sđd, trang 6. Dẫn theo Benedict Anderson: Nationalism is not the awakening of nations to self-consciousness: it invents nations where they do not exist.
(143) Sđd, trang 7. Nguyên văn: The nation is imagined as limited because even the largest of them, encompassing perhaps a billion living human beings, has finite, if elastic, boundaries, beyond which lie other nations. No nation imagines itself coterminous with mankind. The most messianic nationalists do not dream of a day when all the members of the human race will join their nation in the way that it was possible, in certain epochs, for, say, Christian to dream of a wholly Christian planet.
(144) Câu này hơi khó hiểu. Chúng tôi nghĩ Anderson muốn nói: một, sự xuất hiện của phái Tin Lành; hai, biên giới tín ngưỡng không trùng với biên giới chính trị. Về nhận xét biên giới chính trị và biên giới tín ngưỡng trật khớp nhau, trong phần “Nguồn gốc của ý thức dân tộc” ông viết: “Tính phổ quát của tiếng La Tinh ở Tây Âu trung đại chưa bao giờ tương ứng với một hệ thống chính trị phổ quát” hay “Thẩm quyền tôn giáo La Tinh chưa bao giờ có tương ứng chính trị thật sự”.
(145) Chỉ ước vọng bung thoát chế độ quân chủ thần quyền, nơi Thượng Đế giao thiệp với dân chúng thông qua nhà vua.
(146) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 7. Nguyên văn: It is imagined as sovereign because the concept was born in an age in which Enlightenment and Revolution were destroying the legitimacy of the divinely-ordained, hierarchical dynastic realm. Coming to maturity at a stage of human history when even the most devout adherents of any universal religion were inescapably confronted with the living pluralism of such religions, and the allomorphism between each faith’s ontological claims and territorial stretch, nations dream of being free, and, if under God, directly so. The gage and emblem of this freedom is the sovereign state.
(147) Sđd, trang 7. Nguyên văn: Finally, it is imagined as a community, because, regardless of the actual inequality and exploitation that may prevail in each, the nation is always conceived as a deep, horizontal comradeship. Ultimately it is this fraternity that makes it possible, over the past two centuries, for so many millions of people, not so much to kill, as willingly to die for such limited imaginings.
These deaths bring us abruptly face to face with the central problem posed by nationalism: what make the shrunken imaginings of recent history (scarcely more than two centuries) generate such colossal sacrifices? I believe that the beginnings of an answer lie in the cultural roots of nationalism.
(148) Đây là cảm nhận của Walter Benjamin (1892 – 1940, triết gia Đức). Để giải thích cách hiểu thời gian cổ xưa, trước khi nhắc đến “thời gian của Chúa” đưa ra bởi Benjamin, Anderson đã trích lời Erich Auerbach (1892 – 1957, nhà Ngữ Văn học Đức). Theo Auerbach, sự hi sinh của Issac con tổ phụ Abraham được diễn giải như tiên báo về sự hi sinh của Jesus Christ con Thiên Chúa. Sự kiện sau chính là thao tác thực hiện tiên báo. Hai sự kiện, được xem như đồng thời, dù cách quãng hơn nghìn năm, không thể kết nối nhau theo thời gian tính hay theo nguyên tắc nhân quả, tức bằng lý trí theo chiều ngang. Chúng chỉ có thể liên kết nhau nếu cả hai đều nối với Thiên Hựu theo chiều dọc (tức các sự kiện diễn ra dưới hướng dẫn và kiểm soát tuyệt đối của Đấng Tối Cao, người duy nhất đủ khả năng lập ra kế hoạch lịch sử như thế đồng thời cung cấp cả bí quyết để tìm hiểu chúng).
(149) Nguyễn Trọng Quản (1865 – 1911): người Bà Rịa, Vũng Tàu; từng dạy học, viết văn và vẽ. Ông là học trò, con rể của Trương Vĩnh Ký.
(150) Xem Khổng Xuân Thu, Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), Nxb Khoa học Xã hội (in lại 2015), trang 94-95.
(151) Nhiều tác giả, Gia Định báo, tờ báo Việt ngữ đầu tiên, Nxb Văn Hóa – Văn Nghệ TP. HCM (2017), trang 306.
(152) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 44-45. Tất cả có ba cách: một, tạo nên những không gian thống nhất cho việc trao đổi, giao tiếp bên dưới tiếng Latin và bên trên các thứ tiếng nói địa phương; hai, chủ nghĩa tư bản ấn loát trao cho ngôn ngữ sự ổn định mới, khiến, trong dài hạn, hình ảnh thời thượng cổ trở thành chính yếu trong sự hình dung chủ quan về dân tộc; ba, chủ nghĩa tư bản ấn loát tạo nên những kiểu ngôn-ngữ-quyền-lực khác với các phương ngữ hành chính xưa hơn.
(153) Trong ngoặc đơn là phần làm rõ thêm của người viết.
(154) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 44. Nguyên văn: they created unified fields of exchange and communication below Latin and above the spoken vernaculars.
(155) Nhiều tác giả, Gia Định báo, tờ báo Việt ngữ đầu tiên, Nxb Văn Hóa – Văn Nghệ TP. HCM (2017), trang 78.
(156) Jürgen Habermas: triết gia Đức, sinh năm 1929. Ông là người đặt nền tảng cho lý thuyết xã hội phê phán, một lý thuyết xã hội Marxist phát triển bởi Max Horkheimer (1895 – 1973, học giả Đức chuyên về triết học và xã hội học), Theodor W. Adorno (1903 – 1969, học giả Đức chuyên về triết học, mỹ học, âm nhạc..) cùng nhiều người khác thuộc Viện Frankfurt từ thập niên 1920. Ông tìm cách kết hợp truyền thống triết học Karl Marx và chủ nghĩa lý tưởng Đức với phân tích tâm lý của Sigmund Freud (1856 – 1939, bác sĩ Áo chuyên khoa thần kinh) và chủ nghĩa thực dụng của Charles Sanders Peirce (1839 – 1914, cha đẻ chủ nghĩa thực dụng Mỹ). Tác phẩm đáng chú ý có “The Theory of Communicative Action”, Lý thuyết về Hoạt động Giao tiếp (1981); “Moral Consciousness and Communicative Action”, Ý thức Luân lý và Hoạt động Giao tiếp (1983); and “Between Facts Norms”, Giữa Dữ kiện và Chuẩn tắc (1992); “The Inclusion of Other”, Sự Bao gồm Tha nhân(1996); “The Postnational Constitution”, Hiến pháp Hậu dân tộc (1998); “Time of Transitions”, Thời Quá độ (2001)…(theo Bách khoa thư Britannica, mục Jurgen-Harbermas, bản điện tử: https://bit.ly/2Xn7sbe).
(157) Xem Bách Khoa thư Britannica, mục Jürgen Habermas (http://bit.ly/2GUR8c5), Bách Khoa thư Triết học trên Internet (IEP), mục Jürgen Habermas (http://bit.ly/2TYejFX), Từ điển Wikipedia, mục Jürgen Habermas (http://bit.ly/2Vb3qRt).
(158) Xem Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, Nxb Tổng Hợp TPHCM (2016), trang 366.
(159) Ý nói: quốc tịch, hay dân tộc tính, là sản phẩm của quá trình xây dựng nhà nước hiện đại; đối lập với ý kiến xem đó là di sản văn hóa.
(160) Xem Benedict Anderson, Imagined Communities, bản đã hiệu chỉnh, Nxb Verso (2016), trang 5. Nguyên văn: (1) The objective modernity of nations to the historian’s eye vs. their subjective antiquity in the eyes of nationalists. (2) The formal universality of nationality as a socio-cultural concept…..vs. the irremediable particularity of its concrete manifestations….. (3) The ‘political’ power of nationalism vs. their philosophical poverty and even incoherence.
(161) Công nữ Ngọc Vạn (1605 – 1658?): con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và là hoàng hậu thứ ba của vua Chân Lạp Chey Chetta II. Khi xuất giá, bà mang theo nhiều tùy tùng, họ được làm quan trong triều hoặc gây dựng các cơ sở kinh doanh gần kinh đô. Nhờ bà mà vua Chân Lạp ưng cho chúa Nguyễn đặt trạm thu thuế ở Prey Kôr (Sài Gòn nay) vào năm 1623. Nhân đó người Việt di cư vào ngày càng đông. Chey Chetta băng hà năm 1628, chính trị Cao Miên rối loạn do tranh chấp quyền lực nên bà phải tránh về vùng đất nay là Bà Rịa. Phần sau cuộc đời bà không được ghi chép với chứng cứ rõ ràng.
(162) Anderson dựa theo lập luận của học giả Thái Lan Thongchai Winichakul thể hiện trong tác phẩm “Siam mapped: A History of a Geo-Body of a Nation (1994), Nước Xiêm lên Bản đồ: Lịch sử Địa-Thể của một Dân tộc”.
(163) Nhiều tác giả, Gia Định báo, tờ báo Việt ngữ đầu tiên, Nxb Văn Hóa – Văn Nghệ TP. HCM (2017), trang 144.
(164) Sđd, trang 164. Chúng tôi tìm thấy đoạn văn tương tự trong quyển Lịch sử Báo chí Việt Nam 1865 – 1945 của Đỗ Quang Hưng, Nxb Khoa học Xã hội (2018), trang 39. Do hai văn bản đều không chú đoạn văn trích dẫn từ đâu nên xin được dùng bản ra đời sớm hơn.
(165) Câu thiệu nguyên thủy bằng tiếng Pháp: Edition spéciale du “LỤC TINH TÂN VĂN” pour le Tonkin et l’Annam. Chữ TINH dạng in hoa, thiếu dấu hỏi.
(166) Lương Khắc Ninh (1862 – 1943): người Bến Tre, quê gốc Quảng Nam. Sau khi tốt nghiệp Trung học Mỹ Tho (Collège de Mytho) ông làm công chức tại tỉnh nhà. Năm 1900, lên Sài Gòn. Năm 1901, làm chủ bút tờ Nông cổ mín đàm. Năm 1908, thay thế vị trí chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn khi Trần Chánh Chiếu bị bắt. Ông Lương từng là thành viện Hội đồng quản hạt Nam Kỳ và Hội đồng Tư vấn Đông Dương. Dù danh tiếng lớn nhưng chủ yếu hoạt động báo chí và nghệ thuật, ông cũng từng sáng lập ban hát bội Châu Luân (1905). Năm 1922, Lương Khắc Ninh dẫn một gánh hát cùng đoàn Nam Kỳ sang Pháp dự hội chợ đấu xảo Marseille. Về thương cổ, Lương chủ trương bài Hoa, Ấn và dựa vào Pháp để buôn bán lớn.
(167) Nhiều tác giả, Gia Định báo, tờ báo Việt ngữ đầu tiên, Nxb Văn Hóa – Văn Nghệ TP. HCM (2017), trang 29.
(168) Nền tảng Âu học của hai nhà báo danh tiếng Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh thật ra rất mỏng. Họ chỉ tốt nghiệp trường Thông Ngôn Đông Kinh; khả năng viết, nghiên cứu, làm báo chủ yếu do tự học trong quá trình hoạt động. Điều đó chứng tỏ năng lực xuất chúng của hai vị nhưng có lẽ cũng là nguyên nhân khiến giới tinh hoa Pháp, khác với giới thực dân, không nhìn nhận họ theo cách đã nhìn nhận Trương Vĩnh Ký, một người có gần mười năm theo học các trường Công giáo quốc tế và đã cung cấp cho trí thức Pháp kiến thức mới, có hệ thống về phương Đông.
(169) Xem Nhiều tác giả, Thế kỷ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký, Nxb Hồng Đức (2015), trang 188 – 198. Có lẽ do cùng làm việc với chuyên gia Pháp thời gian dài nên kỹ năng đọc và hiểu của Nguyễn Văn Tố bộc lộ chất chuyên nghiệp kiểu Tây, khác hẳn chất “tài tử” của Dương Quảng Hàm (1898 – 1946), Vũ Ngọc Phan (1902 – 1987) và cả Phạm Thế Ngũ (1921 – 2000) sau này.
(170) Hoặc các trường Pháp-Việt theo định hướng lâu dài hơn.
(171) Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, đăng báo Nam Phong 1918 – 1919, Nxb Hội Nhà Văn (in lại 2018), trang 48 – 49.
(172) Phạm Quỳnh cảm thấy bị xúc phạm có thể vì tình tự thuộc truyền thống nhỏ lại được truyền tải bằng phương tiện chữ viết của truyền thống lớn.
(173) Phan Xích Long (1893 – 1916): tên thật Phan Phát Sanh, người Chợ Lớn, là thủ lĩnh các hội kín Nam Kỳ. Ông chủ trương vũ trang chống Pháp, thất bại, bị bắt năm 1913, chịu tử hình năm 1916.
(174) Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, đăng báo Nam Phong 1918 – 1919, Nxb Hội Nhà Văn (in lại 2018), trang 49.
(175) Có vẻ ông Phan lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng dân chủ Tân Hợi (1911) tại Trung Hoa. Người Trung Hoa lại thức tỉnh nhờ chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905).
(176) Xem Nguyễn Văn Trung, Hồ sơ về Lục Châu học, Nxb Trẻ (2015), trang 95 – 103.
(177) Lê Hoằng Mưu (1879 – 1941): nhà văn, nhà báo người Bến Tre, từng làm chủ bút tờ Nông cổ mín đàm (1912, 1915), Lục tỉnh tân văn (1921 – 1933), đồng sở hữu rồi chủ bút tờ Long Giang độc lập (1930 – 1934). Tác phẩm đáng chú ý có Ba gái cầu chồng (1915), Tô Huệ Nhi ngoại sử (1920), Oán hồng quần (1920), Oan kia theo mãi (1922)……(Theo Lê Hoằng Mưu – Nhà văn của những thử nghiệm táo bạo đầu thế kỷ XX của Võ Văn Nhơn, bản điện tử https://bit.ly/2NpRcSt).
(178) Xem Lê Hoằng Mưu, Hà Hương phong nguyệt, Võ Văn Nhơn sưu tầm, chỉnh lý và chú thích, Nxb Văn hóa – Văn nghệ TPHCM (2018).
(179) Roger Chartier: sinh năm 1945, học giả người Pháp chuyên về sử và sử ký. Ông là giáo sư của Collège de France, một định chế nghiên cứu danh tiếng lâu đời tại Paris và là giáo sư thỉnh giảng Đại học Pennsylvania, Hoa Kỳ. Ông còn giảng dạy tại các nước Tây Ban Nha, Mexico, Brazil và Argentina. Tác phẩm về Lịch sử Âu châu giai đoạn sơ kỳ hiện đại của ông có cội rễ từ trường phái Biên niên và chủ yếu tập trung vào lịch sử giáo dục, lịch sử thư tịch và lịch sử đọc. Hiện ông đang tập trung nghiên cứu về mối liên hệ giữa văn-hóa-viết-như-một-tổng-thể và văn-học ở các nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha. (Theo tiểu sử đăng trên trang web Đại học Pennsylvania, bản điện tử https://bit.ly/2Nr3DgC).
(180) Nếu thay “chữ in” bằng “internet” thì câu này cũng đúng với thời nay.
(181) Dẫn theo Shawn McHale, Essays into Vietnam Pasts, Printing and Power: Vietnamese Debates over Women’s Place in Society, 1918 – 1934, Cornell University, Ithaca, New York (1995), trang 174. Tiếng Anh: the increased circulation of the printed word transformed forms of sociability, allowed for new ways of thinking, and changed the relations of power?
(182) Huỳnh Tịnh Của (1843 – 1907): tên thánh Paulus, hiệu Tịnh Trai, người Bà Rịa – Vũng Tàu. Paulus tự viết tên mình là Huình (hay Hoàng) Tịnh Của. Ông theo học trường Công giáo Penang, về nước làm công chức Pháp, lên dần đến hàm Đốc phủ sứ, từng giữ nhiệm vụ chủ bút Gia Định báo một thời gian ngắn. Ông viết nhiều, nhưng tác phẩm lưu lại chỉ còn hai tập Chuyện giải buồn (1880 – 1885), Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (1897), Đại Nam quấc âm tự vị (1895 – 1896). Việc cho in “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” vào Gia lễ cùng việc lấy hiệu Tịnh Trai cho thấy sự kính trọng của Paulus đối với Nguyễn Đình Chiểu.
(183) Trương Minh Ký (1855 – 1900): hiệu Mai Nham, biệt hiệu Thế Tải, người Gia Định. Ông là học trò của Trương Vĩnh Ký, từng dạy học, viết sách giáo khoa, cộng tác với Gia Định báo và Thông loại khóa trình. Năm 1880, ông đưa đoàn học sinh bản xứ sang Alger du học. Năm 1889, ông theo phái đoàn hoàng thân Miên Triện sang Pháp tham dự Hội chợ quốc tế Paris (Exposition Universelle 1889) dưới vai trò thông ngôn; đây cũng là dịp khánh thành tháp Eiffel. Thế Tải mất sớm, khi đang tùng sự tại Ty phiên dịch Nam Kỳ. Ông là người đầu tiên dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt (Chuyện Phan Sa diễn ra Quốc ngữ, 1884).
(184) Martin Luther (1483 – 1546): nhà thần học Đế quốc La Mã Thần thánh, nhân vật khởi xướng cuộc Cải cách Tin lành. Ông là người đầu tiên dịch Kinh Thánh từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Đức. Công trình dịch thuật, phát hành Tân Ước (1522) rồi Cựu Ước (1534) vào thời điểm máy in bắt đầu phổ biến đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn hóa tiếng Đức. Ông cất công lui tới những nơi đông người, lắng nghe tiếng nói thường ngày để đưa ngôn ngữ đại chúng vào bản dịch, vì thế văn bản lan truyền nhanh và xa. Theo Anderson, từ năm 1522 đến năm 1546, bản dịch Kinh Thánh được xuất bản hơn 430 lần.
(185) Johann Gottfried von Herder (1744 – 1803): nhà thần học, triết gia Đức, một trong những người khai sinh chủ nghĩa dân tộc lãng mạn. Trong bối cảnh văn hóa Phục Hưng lấn át văn hóa Nhật Nhĩ Man, ông kêu gọi người Đức quan tâm đến di sản cha ông. Triết gia khẳng định nhiều lần rằng lịch sử và linh hồn dân tộc khu trú nơi thơ ca dân gian vốn vẫn tồn tại ở nông thôn. Nhà nông thả sức dựa vào tưởng tượng và cảm xúc, thay vì lý trí, để sáng tác, nên loại thơ ca đó thực sự mang tính dân tộc. Ông đã gây men cho trào lưu sưu tập văn học dân gian cổ xưa rầm rộ. Những người tham gia đều tin một nước Đức mạnh mẽ, cao quý từng có thời tồn tại, nên nước-Đức-mới dần dần được lập thành rập theo mẫu hình nước-Đức-cũ trong hình dung. Phong trào tạo ảnh hưởng mạnh lên các nhóm sắc tộc kém phát triển ở Trung và Đông Âu như Czech, Slovakia, Ba Lan, Ukraine (thập niên 1820 – 1830), lan sang cả Bắc Âu như Phần Lan (thập niên 1830), Na Uy (thập niên 1840). Và, chúng tôi suy đoán, ảnh hưởng này theo chân Petrus Ký về đến Nam Kỳ vào giữa thập niên 1860, theo Trường Thông ngôn đến Bắc Kỳ vào thập niên 1880.
Herder có quan điểm độc đáo về phong cách viết. Ông dụng ngôn từ ngoài khuôn phép và gần với lời nói để diễn đạt ý tưởng triết học. Với ông, tư tưởng nhất thiết phải gắn liền với tác động của nó; kiểu tư duy không tính đến ảnh hưởng, thể hiện trong văn bản mang chất kinh viện, thường kém cỏi và méo mó. Ngược lại, lời nói hay văn chương giống lời nói tránh được khuyết điểm này. (Theo Bách Khoa thư Triết học Stanford, mục Herder, bản điện tử https://stanford.io/2I1UbkU; Herder, Folklore and Romantic Nationalism của William A. Wilson, bản điện tử https://bit.ly/2DGVfXG).
(186) Johann Gottlieb Fichte (1762 – 1814): triết gia Đức, được xem là nhân vật nổi bật nhất trong giai đoạn giữa Immanuel Kant (1724 – 1804) và Friedrich Hegel (1770 – 1831). Năm 1806, khi quân đội Napoleon đang tiến chiếm nhiều vùng của người nói tiếng Đức, Fichte ấn hành hai bài giảng quan trọng trong đó có bài Các đặc điểm của Thời Hiện Tại. Qua tài liệu này, Fichte chia lịch sử nhân loại làm năm thời kỳ: thời thứ I, con người còn ngây thơ nên lý tính tồn tại dưới dạng bản năng; thời kỳ II, con người đang phạm tội và lý tính biến thành sức mạnh thống trị con người từ bên ngoài; thời kỳ III, con người hoàn toàn chìm trong tội lỗi, đây là điều kiện để nhân loại tự giải phóng mình khỏi lực thống trị ngoại tại; thời kỳ IV, con người trong quá trình tự biện hộ, sự thật được đặt lên tối cao; thời kỳ V, hoàn tất giai đoạn biện hộ và thánh hóa, loài người qua nổ lực tự thân trở thành hiện thân đầy đủ và thích hợp cho lý tính. Fichte xem thời ông sống là thời thứ III. Việc công bố bài giảng có vẻ như phản ứng lo âu trước thất bại của các bang Nhật Nhĩ Man, nhưng suy luận phức tạp, hệ thống như vậy hẳn phải nung nấu từ lâu trước đó.
Fichte ủng hộ Cách mạng Pháp nhưng thất vọng về người Pháp khi Napoleon muốn nô dịch châu Âu. Ông chuyển niềm tin sang dân tộc Đức, khi đó chưa hình thành, nghĩ rằng chính họ mới xứng đáng để mang tinh thần Cách Mạng Pháp vào tương lai. Năm 1808, lúc Berlin còn dưới ách quân Pháp, Fichte công bố Các Bài nói chuyện với Dân tộc Đức. Ông dự tính một nền giáo dục mới giúp người Đức đạt đến thời kỳ thứ V. Năm 1813, Fichte ngừng dạy để sinh viên tham gia “chiến tranh giải phóng” chống Napoleon. Năm 1814, ông qua đời do nhiễm bệnh từ người vợ đang phục vụ trong một bệnh viện quân đội. (Tham khảo: Bách khoa thư Triết học Stanford, mục Johann Gottlieb Fichte, bản điện tử https://stanford.io/2TqOOku; Fichte’s Republic: Idealism, History and Nationalism, trang 95, David James 2015, bản gốc số hóa https://bit.ly/2TKkkcA; Bách khoa thư Triết học Internet (IEP), mục Johann Gottlieb Fichte, bản điện tử https://bit.ly/2tZYuDk).
(187) Jacob Grimm (1785 – 1863): nhà thần thoại học, luật gia Đức.
(188) Wilhem Grimm (1786 – 1859): nhà văn, nhà nhân học người Đức, em của Jacob Grimm. Ông cùng anh trai sưu tập, ấn hành Truyện dành cho Trẻ em và Truyện kể vào các năm 1812, 1815. Tác phẩm được xem như đề kháng ngầm của cộng đồng nói tiếng Đức trước sức mạnh áp chế từ Napoleon.
(189) Bách khoa thư Triết học Stanford, mục Johann Gottfried Von Herder. Bản điện tử https://stanford.io/2I1UbkU.
(190) Xem Anthony J. La Vopa, The Revelatory Moment: Fichte and the French Revolution. Nguồn: Central European History, Vol. 22, No. 2, The French Revolution in Germany and Austria (Jun., 1989), pp. 130-159 (30 pages). Bản gốc số hóa http://bit.ly/2N0ziW7.
(191) Lập ngôn kiểu “Nước nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ quốc ngữ” hoặc “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn…” đều là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc ngôn ngữ (linguistic nationalism).
(192) Chủ nghĩa dân tộc dân sự (civil nationalism) và chủ nghĩa dân tộc sắc tộc (ethnic nationalism) là hai khái niệm đề xuất bởi Hans Kohn (1891 – 1971), triết gia kiêm sử gia người Mỹ gốc Do Thái, ông từng giảng dạy tại New School for Social Research (New York), Smith College in Northampton (Massachusetts), City College of New York. Tác phẩm đáng chú ý có quyển “The Idea of Nationalism”, Ý tưởng về Chủ nghĩa Dân tộc. Kohn được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc trong thế giới nói tiếng Anh.
(193) Xem Nhiều tác giả, Thế kỷ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký, Nxb Hồng Đức (2015), trang 190. Dường như chỉ duy nhất Ứng Hòe nhìn ra quan niệm về triết học của Trương Vĩnh Ký. Nguyễn Văn Trung sau này nhận xét khó ai viết về Petrus Ký qua được Nguyễn Văn Tố.
(194) Nguyên văn: M. Truong-Vinh-Ky nous présente avec clarté des idées que les Annamites se forment sur leur propre histoire. Đoạn này do chúng tôi cố gắng dịch lại vì thực sự không thấy chữ “nước” trong bản gốc tiếng Pháp. “Nước” xuất hiện trong bản dịch Trần Thạnh có lẽ do dịch thoát. Renan khó thể bàn đến nước An Nam vì thời điểm đó chỉ có người An Nam mà thôi.
(195) Renan dùng chữ “nations”.
(196) Xem Trương Vĩnh Ký, Cours d’Histoire Annamite, Imprimerie du Gouvernement (1875), trang 251. Bản gốc số hóa https://bit.ly/2ENmCj3. Nguyên văn:….nous avons des origines communes.
(197) Xem Nguyễn Văn Trung, Hồ sơ về Lục Châu học, Nxb Trẻ (2015), trang 505.
(198) Thực tế Nam Kỳ không phải địa chỉ riêng của người Việt mà là ngôi nhà chung của các sắc dân Khmer, Hoa, Mạ, Chăm, Mã Lai, Kinh…… Nhiều thế hệ đủ mọi nguồn gốc đã vùi xương trong lau lách sình lầy….để tạo ra xứ sở giàu có mà trước đó chưa lâu là vùng đất không thể định cư được. Sự cộng sinh với thiên nhiên mới, loài người mới đã biến đổi tính cách và ngôn ngữ của lưu dân Việt để tạo nên văn hóa hỗn dung đặc sắc nhưng cũng dựng lên khoảng cách với nguồn cội Thuận Quảng, và xa hơn là Thanh Nghệ. Thêm nữa, chữ quốc ngữ giúp cố kết nội tại nhân chúng Nam Kỳ nhưng cũng đẩy họ thêm xa Trung-Bắc Kỳ còn ì ạch trong các rào tre hay dưới nền Hán học. Sự phát triển văn hóa hiện đại đi kèm phồn vinh kinh tế dẫn đến một kế hoạch táo bạo. Theo Nguyễn Văn Trung trong Hồ sơ về Lục Châu học (2015, 500-501), năm 1883, Đô trưởng Sài Gòn Blancsubé đòi tách Bắc Kỳ ra khỏi Nam Kỳ do ngân sách Nam Kỳ hằng năm phải chi 30% cho ngân sách Bắc Kỳ, thậm chí năm mất mùa còn chi nhiều hơn. (Xu thế này kéo dài 136 năm đến tận hôm nay. Dù nhiều tỉnh miền Tây Nam Kỳ chậm chân công nghiệp-dịch vụ hóa đã đuối sức, một số địa phương Đông Nam Kỳ đất đai cằn cỗi vẫn là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Có vẻ văn hóa lúa nước bảo thủ ở sông Hồng, và sông Cửu Long sau này, khiến sự lựa chọn phương pháp sản xuất hiệu quả hơn, như Nhật hay Hàn, trở nên khó khăn?).
(199) Anderson lại cho rằng Nho giáo và chữ Hán thất thế từ khi các trước tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (khoảng sau 1895) rò rỉ qua biên giới phía bắc kết hợp với việc bãi bỏ chế độ khoa cử ở Bắc Kỳ (1915) và Trung Kỳ (1918). Điều này chỉ đúng với Trung Bắc, sai với Nam. Phần lớn sĩ phu Trung Bắc quen nhìn thế cục qua lăng kính Trung Hoa, trí thức Nam tiếp thu văn hóa Âu Tây trực tiếp từ trường Pháp và tài liệu Pháp. Trường thi nho học khóa cuối mở tại An Giang năm 1864, chính quyền Sài Gòn dùng chữ quốc ngữ thay chữ Hán trong văn bản hành chính năm 1868. Có lẽ Anderson một phần do định kiến Hoa tâm, một phần chỉ căn cứ vào những thư tịch tiếp cận được, nên không biết đến chuyển động mang tính căn bản ở Nam Kỳ trong quãng 1865 – 1895.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)