Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Kỳ 9)

0 bình luận ♦ 3.09.2019

 

LTS: Trong phần II, Lê Tư đã đọc văn bản Bình Ngô đại cáo “như-nó-là” vào thời điểm nó ra đời.

Trong phần IV mà cũng là phần cuối cùng trong công trình biên khảo dài hơi này, tác giả đọc Bình Ngô đại cáo bằng quan điểm của Roland Barthes, một học giả của thế kỷ 20. Để độc giả tiện theo dõi, chúng tôi xin nêu lên một số điểm nổi bật trong phần IV sau đây:

– Khác với cách hiểu truyền thống, huyền thoại, theo Barthes, là một kiểu ngôn luận (type of speech), theo đó, tất cả mọi sự đều có thể là một huyền thoại miễn là nó được truyền đạt qua một diễn ngôn. Barthes tìm thấy huyền thoại là một hình thức tuyên truyền tinh vi của tầng lớp lãnh đạo nhằm thuyết phục quần chúng tin vào sự ổn định của xã hội hiện tại, được bọc dưới một lớp vỏ ký hiệu bên ngoài trông rất bình thường, không dính dáng gì đến ý đồ cùa thế lực cầm quyền.

– Giai đoạn tái xây dựng nước Pháp sau khi thoát ách phát-xít vào thời Barthes không khác gì giai đoạn phục hưng Đại Việt sau khi đánh đuổi giặc Minh vào thời Lê Lợi. “Nếu huyền thoại thời Barthes củng cố ý thức hệ tư sản thì huyền thoại thời Lê Lợi giới thiệu ý thức hệ Nho giáo với khái niệm Vua-Con trời nhằm thay thế ý thức hệ Phật giáo với khái niệm Vua-Phật thời Lý Trần đã lạc hậu vào giai đoạn đó.”

– Với cách nhìn đó, Lê Tư đọc lại toàn bộ văn bản Bình Ngô đại cáo (mà tác giả chia làm 12 “đoạn văn”, từ A đến L) qua ba tầng nghĩa khác nhau: hiển nghĩa, tức là nghĩa rõ ràng, trực tiếp diễn đạt qua ngôn ngữ; hàm nghĩa, tức là huyền thoại được hiểu vào thời của Lê Lợi, Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) giữa “mạng lưới kinh truyện Nho giáo phổ biến dưới thời phong kiến”; và hàm nghĩa (huyền thoại) được hiểu vào thế kỷ XX, “được rút ra khi đọc Bình Ngô đại cáo giữa mạng lưới văn bản sách giáo khoa, nghiên cứu viết bằng chữ quốc ngữ.”

– Sau cùng, Lê Tư giải mã nghệ thuật sử dụng huyền thoại trong Bình Ngô đại cáo bằng cách dùng 7 hình thái tu từ để ngụy trang “hệ thống ký hiệu” dưới lớp áo của “hệ thống sự việc” do Barthes tìm ra: tiêm ngừa (inoculation), tước bỏ lịch sử (privation of History), đồng nhất hóa (Identification), trùng ngôn (tautology), không này-không kia (Neither/norism), lượng hóa phẩm chất (quantification of quality), và tuyên bố dữ kiện (statement of facts).

– Để đạt được hiệu quả tuyên truyền đến mức tối đa, tuy là văn bản hành chính, Bình Ngô đại cáo sử dụng nghệ thuật kể chuyện dân gian, có đầu có đuôi rõ ràng, trong đó, dựng nên hình ảnh của nhân vật siêu phàm thực hiện được những công việc siêu phàm. Là “văn bản khai mở triều đại” được viết bằng chữ Hán, nhưng không chỉ hướng đến độc giả có học, Bình Ngô đại cáo phải được phổ biến đến tận làng xóm, nơi số đông dân chúng là những người mù chữ, có thể “chiếm hơn 99% dân số thời đó.” Nó phải được diễn giải bằng tiếng nói thông thường (diễn Nôm) và được đọc đi đọc lại nhiều lần trước đám đông để người ta nghe và biết. Vì thế, đối tượng của Bình Ngô đại cáo sẽ là nghe-biết (văn tri), chứ không phải đọc-biết.

– Hình thành một huyền thoại quan trọng như thế đòi hỏi một việc làm tập thể. Trước khi là văn chương, Bình Ngô đại cáo là một “văn kiện quan phương đặc trưng cho chế độ quân chủ Á Đông”; nó phải được soạn thảo theo điển lệ dưới sự chỉ đạo và hiệu chỉnh của chính hoàng đế hoặc các đại thần đầu triều. Có thể nói, Lê Lợi, Nguyễn Trãi là đồng tác giả của Bình Ngô đại cáo và Lê Lợi là tác giả chính.

 

 

Phần IV

HUYỀN THOẠI CỦA THẾ KỶ XV

(Kỳ 9)

 

 

1. Đại Cáo là huyền thoại xã hội:

Xin hiểu huyền thoại ở đây theo định nghĩa của Roland Barthes.

Roland Gérard Barthes (1915 – 1980), học giả Pháp, chuyên về lý thuyết xã hội, ký hiệu học, phê bình văn học, triết học… Ông đã kinh qua những lĩnh vực huyền thoại, ký hiệu, văn bản để sau cùng là tự chiêm nghiệm. Mỗi giai đoạn đều có tác phẩm tiếng tăm như: “Mythologies” (Các huyền thoại); “The Death of the Author” (Cái chết của Tác giả); “S/Z” (Phân tích tác phẩm Sarrasine của Balzac); “A Lover’s Discourse: Fragments” (Một Diễn ngôn của Tình nhân: Các mẫu vụn); tự truyện “Roland Barthes”… Barthes từng khuấy động các trào lưu “cấu trúc luận”, “phê bình ký hiệu” và “hậu cấu trúc luận” tại Tây Âu, ảnh hưởng đến cả Hoa Kỳ, Nhật Bản. Dù được xếp vào nhóm trí thức thiên tả nhưng ông không gia nhập Đảng Cộng sản, cũng chưa bao giờ nhận mình theo chủ nghĩa Marxism.

Quyển Các huyền thoại (Mythologies 1957) được chia thành hai phần: phần I gồm 53 bài báo(254) đăng trên tạp chí cánh tả Les Lettres nouvelles trong quãng 1954-1956; phần II là tiểu luận đưa ra nhận xét tổng quan, cũng như phương pháp đọc hiểu, về cái mà Barthes mệnh danh “huyền thoại ngày nay” vốn đã được giải hoặc ở phần I. Các bài báo thâm nhập vào thế giới vật chất-văn hóa mang tính đại chúng thể hiện qua báo chí, phim ảnh, quảng cáo, nhiếp ảnh, sân khấu …; đối tượng là các sự vật hay sự việc như xe hơi, bột giặt, thực phẩm, trận đấu vật, phiên tòa, cuộc triển lãm, vòng đua xe đạp…Barthes tháo dỡ lớp hàm nghĩa bao phủ các mẫu chuyện đồng thời chỉ ra động cơ và ý định của người xếp đặt các câu chuyện đó. Các huyền thoại ra đời trong ba thập niên kinh tế tăng trưởng vượt bậc (1945 – 1975), song hành với sự co rút của đế quốc Pháp. Lúc ấy trận Điện Biên phủ vừa kết thúc và cuộc chiến Algeria đang tiếp diễn. Tác phẩm đích thực là nổ lực nhận dạng lại căn tính của nước Pháp, người Pháp, văn hóa Pháp vốn bị thể hiện méo mó bởi các phương tiện giao tiếp quần chúng chi phối bởi chính trị gia cánh hữu.

Theo truyền thống, có hai định nghĩa về huyền thoại:
– Là ý tưởng hay niềm tin sai lầm nhưng vẫn được lưu truyền bền lâu.
– Là truyện cổ nói về thời sơ sử của một cộng đồng người, hoặc nhằm giải thích các hiện tượng xã hội hay tự nhiên, thường có sự tham gia của các nhân vật, sự kiện siêu phàm.

Huyền thoại của Barthes gần gũi với định nghĩa thứ nhất. Nhưng để tra vấn huyền thoại, ông tiếp cận chúng từ phương diện hình thức và đưa ra định nghĩa riêng, cụ thể như sau:

Huyền thoại là một kiểu ngôn luận.

…huyền thoại là một hệ thống giao tiếp, một thông điệp. Điều này cho phép ta lĩnh hội được rằng huyền thoại không có thể là một đồ vật, một khái niệm hay một ý tưởng; nó là một phương thức biểu hiện, một hình thức.(255)

Dựa vào khái niệm cơ bản về ký hiệu của Ferdinand de Saussure,(256) và vào khái niệm nhiều-tầng-nghĩa của Louis Hjemslev,(257) Barthes giải thích thêm:

Tuy nhiên, huyền thoại là một hệ thống đặc biệt ở chỗ nó được dựng lên từ một chuỗi ký hiệu tồn tại trước nó: nó là hệ thống ký hiệu cấp hai. Ký hiệu (tổng kết hợp của một khái niệm và một hình ảnh)(258) của hệ thống thứ nhất chỉ là cái biểu đạt của hệ thống thứ hai.(259)

Ông đề xuất mẫu hình huyền thoại như sau:

DaiCao-Signifier

Roland Barthes, Mythologies, Annette Lavers dịch sang tiếng Anh,
Nxb Hill and Wang 2013, trang 224
Signifier: cái biểu đạt – Signified: cái được biểu đạt – Sign: ký hiệu
Language: ngôn ngữ – Myth: huyền thoại

Có thể thấy hai hệ thống ký hiệu trong huyền thoại, một trong hai được xếp lệch với phần còn lại: một hệ thống ngôn ngữ, ngôn ngữ (hoặc các phương thức thể hiện đồng hóa với nó),(260) sẽ được mang tên ngôn-ngữ-đối-tượng, bởi chính ngôn ngữ được huyền thoại nắm lấy để tạo nên hệ thống riêng của mình; và bản thân huyền thoại, mà tôi sẽ gọi là siêu-ngôn-ngữ, vì đó chính là ngôn ngữ thứ hai, trong đó người ta nói về (ngôn ngữ) thứ nhất.(261)

Để hiểu rõ hơn các định nghĩa về huyền thoại của Barthes, cũng để thuận lợi hơn trong việc phân giải Đại Cáo ở đoạn tiếp theo, chúng ta hãy xem lại ví dụ lừng danh về huyền thoại của xã hội tư sản Pháp thập niên 1950: bức hình bìa tạp chí Paris Match số 326 (23/6-2/7/1955).

DaiCao-ParisMatch

(http://bit.ly/2zlnisa)

Bức hình thể hiện một thanh niên da đen mặc đồng phục Pháp trong tư thế chào, mắt hướng lên, có vẻ về phía lá cờ tam tài. Theo Barthes, đó chính là nghĩa (meaning) của bìa báo. Tuy nhiên, ông tiếp tục bộc lộ chuỗi dài cảm tưởng:

Chẳng biết có ngây thơ hay không, nhưng tôi nhận rõ thông điệp từ bức hình: Pháp là một Đế quốc vĩ đại, rằng tất cả con trai của nó, không phân biệt màu da, đang phục vụ trung thành dưới cờ, rằng không câu trả lời nào cho bọn xúc xiểm về chủ-nghĩa-bị-đồn-là-thực-dân tốt hơn lòng nhiệt thành phục vụ cho nhóm bị-coi-là-kẻ-đàn-áp trình diễn bởi Người da đen này. Vì thế tôi lại lần nữa đối diện với một hệ thống ký hiệu, lớn hơn: tồn tại một cái biểu đạt, hình thành từ hệ thống trước (chiến sĩ da đen đang chào kiểu Pháp); tồn tại một cái được biểu đạt (ở đây là hỗn hợp quyết tâm của tính chất Pháp và tính chất quân sự); sau cùng, hiện hữu một cái được biểu đạt thông qua cái biểu đạt.(262)

Cái Barthes gọi là nghĩa (meaning), hay hiển nghĩa,(263) thuộc về cấp một, tức thuộc hệ thống ngôn ngữ. Cảm nhận tiếp theo thuộc về cấp hai, tức thuộc bản thân huyền thoại, tạm gọi là ý nghĩa (signification), hay hàm nghĩa.(264)

Barthes diễn đạt ý tưởng bằng văn phong tài hoa đòi hỏi cách cảm thụ công phu, tuy nhiên, có thể trình bày suy nghĩ của ông về hai cấp ký hiệu theo cách giản dị hơn như sau:

– Nghĩa cấp 1, hiển nghĩa: người lính da đen có vẻ như chào cờ Pháp như mọi lính Pháp da trắng khác.
– Nghĩa cấp 2, hàm nghĩa: Đế quốc Pháp bao gồm nhiều chủng tộc và tất cả đều được đối xử đúng mực nên ai cũng sẵn lòng phục vụ. Nó là thực thể vĩ đại, hùng mạnh và chính đáng.

Như vậy, hình bìa tạp chí nói trên chính là một huyền thoại về Đế quốc Pháp, nó đảo ngược tình trạng đang rạn vỡ của thực thể chính trị lớn thứ nhì thế giới. Cho nên theo Barthes, huyền thoại là kiểu ngôn luận được định rõ bằng sự cố tình; nó không giấu giếm gì cũng chẳng phô trương gì, không dối trá cũng chẳng thú nhận, huyền thoại chỉ đóng vai trò làm biến dạng hay chuyển hướng. Đặc tính của huyền thoại hiện đại là biến Lịch sử thành Tự nhiên, nói cách khác, biến nghĩa (meaning) thành hình thức (form) rồi điền kín hình thức bằng khái niệm (concept) mới để tạo nên nghĩa mới gọi là ý nghĩa (signification). Khi quan sát bức hình, người xem lấy đi Chiến-sĩ-da-đen-đang-chào-cờ, không với mục tiêu biến nó thành thí dụ hay biểu tượng, mà nhờ nó để biến Đế quốc Pháp thành tồn tại tự nhiên. Huyền thoại này trấn áp, xua đuổi ác cảm về một định chế trưởng thành từ bạo lực và sắp lụi tàn trong bạo lực, nó được xếp đặt với những toan tính điều khiển bởi ý thức.

Qua phân tích các huyền thoại kiểu mới, Barthes chỉ ra lối tuyên truyền tinh vi thực hiện bởi thành phần cầm cân nảy mực đương thời, hoặc bởi cái bóng của nó. Tuy vậy, dễ nhận thấy hoạt động đó không phải là đặc sản chỉ tư bản Pháp mới có. Tất cả những nhà cai trị trước và sau Barthes, trong hay ngoài châu Âu, dù áp dụng hình thái ý thức nào, đều tìm cách thuyết phục đám đông bằng mọi cách; vì niềm tin tập thể vào một xã hội ổn định, tự mãn, tồn tại hiển nhiên theo kiểu bất khả tranh nghị, sẽ củng cố địa vị và duy trì lợi ích của kẻ đương quyền. Đại Việt đầu thế kỷ XV không ngoại lệ, Đại Cáo chỉ là một đơn vị trong phức hợp huyền thoại gồm Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký, Dư địa chí, thơ phú sơ Lê…Chúng dù bị biến dạng nhiều do tam sao thất bổn nhưng vẫn rõ nét là những tập hợp ký hiệu phát đi lời biện minh cho tính chính đáng của tông tộc quyền lực.

Mythologies phơi trần ước muốn của giới cầm quyền tư sản: duy trì đế quốc thực dân Pháp (Ngữ pháp Phi châu),(265) khẳng định ưu việt chủng tộc (Bichon giữa người Da đen),(266) khuyến khích phụ nữ làm mẹ và làm vợ (Các lứa đôi),(267) áp đặt giá trị chủ quan lên tha nhân (Dominici, hay Toàn thắng của Văn chương)(268)… Bằng nghiên cứu của mình, Barthes một mặt phá vỡ ranh giới giữa “văn hóa cao” và “văn hóa bình dân” (Trên sàn đấu vật),(269) mặt khác lại bộc lộ đề kháng trước sự tràn lấn của văn hóa đại chúng đậm vị tiểu tư sản (Phê bình Câm và Mù).(270) Giai đoạn tái xây dựng nước Pháp sau khi thoát ách phát-xít không khác gì giai đoạn phục hưng Đại Việt sau đánh đuổi giặc Minh. Qua Đại Cáo chúng ta thấy Lê Lợi định nghĩa đế quốc Đại Việt, tư cách thần dân Đại Việt, văn hóa Đại Việt đồng thời chính thức tuyên bố hệ thống chính trị Nho giáo. Hệ thống này hàm chứa những qui định về phương pháp cai trị, về vai trò của trí thức và phụ nữ… mà vài thập kỷ trước còn nằm trong giấc mơ của nhóm nhà Nho phụng sự triều đình sùng Phật. Nguyễn Trãi dự trù Đại Cáo cho cả đối tượng thuộc “truyền thống lớn” lẫn “truyền thống nhỏ”, có lẽ theo mệnh vua Lê, nhưng qua ghi chép cá nhân, ông bộc lộ nỗi lo âu trước văn hóa thiếu tinh tuyển của giới quý tộc mới, loại văn hóa vốn là tổng hòa văn hóa của hai khu vực bắc bộ và bắc trung bộ với ưu thắng từ phía nam.

Để tìm hiểu chi tiết các lớp nghĩa của Đại Cáo, thay vì đọc theo kết cấu cương-mục, chúng tôi sẽ đọc theo “đoạn văn”.(271) Các đoạn văn được xếp theo chiều dọc trong biểu dưới đây đánh dấu theo thứ tự A, B, C…như trình bày ở phần II. Theo chiều bên là hai tầng nghĩa dựa trên mẫu hình huyền thoại và được chú bằng “hiển nghĩa” hay “hàm nghĩa”. Hàm nghĩa gồm hai phần, phần thế kỷ XV được giả định dưới góc nhìn đồng đại, phần thế kỷ XX dưới góc nhìn hiện đại.

Văn bản

Hiển nghĩa

Hàm nghĩa (thế kỷ XV)

Hàm nghĩa (thế kỷ XX)

 

Ngôn ngữ

Huyền thoại

Huyền thoại

(A)

Vua có trách nhiệm nuôi và bảo vệ dân, dùng binh chỉ để diệt kẻ tàn bạo.

Người tuyên cáo đứng ở vị trí đế vương.

Lê Lợi-Nguyễn Trãi dương cờ nhân nghĩa để chống xâm lược bạo tàn.

(B)

Đế quốc Đại Việt có lãnh thổ, nhân dân và chính sự riêng đối xứng với Đế quốc phương bắc.

Thế giới văn minh chia làm hai cực, Nam đế và Bắc đế; Đại Việt và Đại Hán.

Tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ “Thần” kháng Tống.

(C)

Đại Việt đánh bại tất cả các tướng Nam Hán, Tống, Nguyên.

Tiên báo số phận bất hạnh dành cho mọi thế lực muốn thay đổi trật tự đã định.

Một giai đoạn lịch sử vẻ vang, nhắc lại truyền thống chống xâm lăng lâu đời của dân tộc.

(D)

Do chính quyền cũ sai lầm nên giặc Minh phối hợp với một số người địa phương ác ôn hãm dân chúng và mọi loại sinh linh vào đường cùng bằng nhiều phương cách ác độc; thần, người, trời đất đều căm giận.

Quá trình khổ nạn, gây nên bởi thù trong giặc ngoài, để đi đến cứu rỗi của sinh linh Đại Việt. Dự cảm kết thúc xấu cho bọn hiếu chiến và tham lam.

Giặc Minh hại người, hại cả môi trường. Tội ác vô cùng, trời không dung đất không tha. Bản tố cáo mang nhiều yếu tố của Tuyên ngôn nhân quyền.

(E)

Xem giặc Minh là “thù truyền kiếp”, Lê Lợi vào núi để rèn luyện khả năng đánh giặc, khởi nghĩa nổ ra theo tình thế dù giặc đang mạnh.

Từ giao điểm của trời và đất, Lê Lợi dần tích lũy trí lực vô song. Ông giữ vị thế chính nghĩa của Vũ vương nhà Chu dù tạm thời yếu hơn kẻ thù.

Lê lợi xuất thân khiêm tốn nhưng hoài bão lớn, nuôi lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông là hình ảnh của nhân dân Việt Nam.

(F)

Ít người có khả năng giúp kháng chiến bằng trí và lực xuất hiện, ông muốn giải phóng đồng bằng nên luôn mong chờ hiền tài.

Sự cô đơn của đấng cứu rỗi.

 

(G)

Thiếu hỗ trợ từ lớp tinh hoa giàu có, tài giỏi nên kháng chiến sớm kiệt lực; với ý chí phi thường Lê Lợi nhận mệnh trời, huy động bình dân, bước đầu tìm thấy lối ra.

Quá trình thương khó của chúa Lam Sơn, ông vừa mang tính chất nhà vương chính danh, vừa mang tính chất giáo chủ.

Dù thiếu thốn mọi bề nhưng nhóm kháng chiến vẫn lạc quan, tin tưởng vì biết dựa vào dân. Khẳng định sức mạnh của dân, tức manh lệ, là tư tưởng rất tiên tiến.

(H)

Dùng nhân nghĩa chế ngự tàn bạo, quân khởi nghĩa liên tiếp đánh bại giặc, thu phục đất cũ; chúng xin hòa rồi lại tiếp tục chống cự.

Á thánh Mạnh Tử đứng về phía Lê Lợi, tiên báo về thất bại của bọn cưỡng lại trật tự thế giới được thực hiện bước đầu.

Chiến thắng dồn dập bộc lộ sức mạnh không gì cưỡng nổi của đạo quân theo truyền thống nhân nghĩa.

(I)

Tuyên Đức sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh sang cứu, quân ta liên tục giết chủ tướng rồi hai thuộc tướng khiến đạo quân xâm lược tự rối loạn.

Tiên báo được tiếp tục thực hiện, một lần nữa chính nghĩa của vua Lê lại hiển lộ.

Quân dân ta từng bước thực thi công lý.

(J)

Chuẩn bị tốt về trang bị và nhân lực, ta nhanh chóng đánh bại cả hai đạo viện binh, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc, ép Mộc Thạnh bỏ chạy. Giặc chết rất nhiều. Các thành lần lượt ra hàng.

Hiện thực đáp ứng hoàn toàn tiên báo, Lê Lợi diệt Minh chẳng khác gì Vũ vương diệt Trụ.

Bản anh hùng ca chiến thắng mang tầm vóc vũ trụ.

(K)

Vương Thông, Phương Chính được cấp thuyền, ngựa để về nước. Vua Lê tránh tạo thêm tổn thất cho cả hai bên tạo cơ sở cho hòa hiếu lâu dài. Quốc gia bền vững, đất nước thái bình nhờ trời đất và tổ tiên nhà vua âm phù.

Vua ta thuận đạo hiếu sinh nên quân dân hai bên đều hưởng phúc. Ông tỏa sáng nhờ mệnh trời và đức của tổ tiên.

Bọn giặc hèn nhát, thảm hại được tha chết làm nổi bật chính nghĩa Đại Việt. Nhắc nhở mọi người tự hào quá khứ, yêu hiện tại, hướng tới tương lai.

(L)

Một lần mặc giáp mà lập nên võ công chưa từng có. Nay bốn biển thanh bình, bố cáo đổi mới để mọi người nghe biết.

Tái khẳng định vị thế Lê Lợi tương tự vị thế Chu Vũ vương.

Hội duy tân mở đường xây dựng mùa xuân dân tộc.

 

Tổng kết:

Văn bản

Hiển nghĩa

Hàm nghĩa (thế kỷ XV)

Hàm nghĩa (thế kỷ XX)

 

Ngôn ngữ

Huyền thoại

Huyền thoại

Toàn bộ

Tường trình cuộc chiến đấu kháng Minh phục Việt thành công dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi.

Lê Lợi hội đủ tài đức nên việc ông nhận thiên mệnh cai trị Đế quốc phương nam là lẽ đương nhiên.

Việt Nam là dân tộc phi thường: đoàn kết, dũng mãnh, đạo đức, họ vượt trên và đi trước thời đại.

 

Phần hàm nghĩa thế kỷ XV được rút ra khi đọc Đại Cáo giữa mạng lưới kinh truyện Nho giáo phổ biến dưới thời phong kiến.

Phần hàm nghĩa thế kỷ XX được rút ra khi đọc Đại Cáo giữa mạng lưới văn bản sách giáo khoa, nghiên cứu viết bằng chữ quốc ngữ.

Đại Cáo không phải lời nói của cần lao hay của nhà cách mạng mà là “đức âm”, lời vua. Với hơn một tầng nghĩa, nó chính là huyền thoại. Nếu huyền thoại thời Barthes củng cố ý thức hệ tư sản thì huyền thoại thời Lê Lợi giới thiệu ý thức hệ Nho giáo với khái niệm Vua-Con trời nhằm thay thế ý thức hệ Phật giáo với khái niệm Vua-Phật thời Lý Trần đã lạc hậu vào giai đoạn đó. Sản phẩm huyền thoại chỉ dành cho nhóm tiêu thụ nhất định tại thời điểm nhất định nên chúng ta hiếm thấy người tân học hiểu Đại Cáo đúng mức. Việc cắt nhỏ văn bản thành nhiều đoạn văn để lộ một khoảng trống trong cách tiếp thu hiện đại, các thế hệ sử dụng chữ quốc ngữ hầu như lướt qua thời điểm cô đơn tuyệt đối của đầu mục Khả Lam. Dường như họ chỉ thấy ở đó cái khó khăn gian khổ thuần vật chất. Sự thiếu quan tâm đến nút thắt tinh thần của câu chuyện dẫn đến hiểu biết mù mờ về toàn thể câu chuyện.

Nhằm ngụy trang bản chất “hệ thống ký hiệu” của huyền thoại dưới lớp áo “hệ thống sự việc”, người sáng chế ra chúng phải sử dụng một số kỹ thuật nhất định. Huyền thoại tư sản, theo Barthes, chủ yếu dùng bảy hình thái tu từ để chinh phục người đọc: tiêm ngừa, tước bỏ lịch sử, đồng nhất hóa, trùng ngôn, chủ nghĩa không này-không kia, lượng hóa phẩm chất, và tuyên bố dữ kiện. Hình thức phong phú của những cái-biểu-đạt-huyền-thoại sẽ tự xếp đặt để đạt được các hình thái đó. Ông cho rằng khả năng có nhiều hình thái khác nữa, kiểu cũ chìm dần, kiểu mới luôn xuất hiện. Ngoài những tương đồng mục đích điểm qua bên trên, chúng ta thử xét dưới đây từng dạng tu từ một để xem Đại Cáo có tương đồng với huyền thoại hiện đại trong việc khai thác các kỹ thuật thuyết phục hay không.

Tiêm ngừa (Inoculation):

Barthes cho rằng giới tư sản thích cho quần chúng biết cái xấu xí tình cờ của một định chế mang tính giai cấp hơn là toàn bộ nguyên tắc độc hại của họ. Lượng thông tin nhỏ tương tự liều chủng ngừa bé xíu giúp con người làm quen để đề kháng với bệnh tật nặng hơn. Thủ thuật này có vẻ rất gần với cách giải thích lỗi lầm nào đó chỉ là hiện tượng thay vì bản chất. Trong xã hội phong kiến, cách thuyết phục như thế không phổ biến vì quan niệm nguồn gốc quyền lực hoàn toàn khác. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề trong kết luận của phần này.

Tước bỏ lịch sử (Privation of History):

Tước bỏ tính lịch sử khỏi một sự kiện hay hiện tượng xã hội là thao tác cô lập sự kiện/hiện tượng đó khỏi mạng lưới nguyên nhân khiến chúng xảy ra cũng như hậu quả rối rắm do chúng mang đến. Khi đó sự kiện/hiện tượng chỉ đơn thuần tồn tại một cách tự thân và hồn nhiên trước cặp mắt của người quan sát.

Để thuật lại hoạt động của Lê Lợi và quân đội Lam Sơn, Nguyễn Trãi sử dụng nhiều ý, từ và thành ngữ đã được dùng trong các thiên Thái Thệ, Vũ Thành, Đại Cáo thuộc kinh Thư. Bảng liệt kê dưới đây giúp thấy rõ hơn cách diễn đạt dựa trên vốn cổ đã gắn kết hoạt động của hai nhóm người ở hai thời đại khác nhau, hai vùng địa lý cách xa nhau như thế nào:

Hình ảnh

Lịch sử

Kinh Thư

An dân khử bạo

Mục đích khởi nghĩa chống Minh

Mục đích Thành Thang diệt Hạ

Quan quả điên liên

Thủ lĩnh Việt lên án giặc Minh

Chu Thành vương lên án Vũ Canh

Niệm thế thù

Lê Lợi thù giặc Minh

Cơ Phát thù vua Trụ

Đại nghĩa chí nhân

Tinh thần chúa tôi Lam Sơn

Tinh thần vua tôi nhà Chu

Đảo qua tương công

Quân Liễu Thăng tự đánh nhau

Quân Thang tự đánh nhau

Huyết / chử phiêu

Quân Mộc Thạnh tự vỡ

Quân Đế Tân tự vỡ

Tổ tông chi linh

Lê Lợi qui công cho tổ tiên

Vũ vương qui công cho cha

Nhất nhung đại định

Lê Lợi bình Ngô

Vũ vương diệt Trụ

Tứ hải vĩnh thanh

Lời đại cáo của vua Lê

Lời hiểu dụ của vua Vũ

 

Ta thường gọi những nhóm từ ngắn gọn nhắc đến các câu chuyện xưa trong kinh sử Trung Hoa là điển tích, chúng khơi gợi liên tưởng nên có thể áp mẫu hình huyền thoại, minh họa bằng các thuật ngữ của riêng Barthes, cho các tất cả trường hợp cục bộ trên như sau:

DaiCao-CaiBieuDat

Quá trình tước bỏ lịch sử chính là quá trình “nghĩa” chuyển hóa thành “hình thức” để sẵn sàng tiếp nhận “khái niệm” mới và cho ra “ý nghĩa” mới. Có thể so sánh quá trình này với hoạt động “đánh cắp ngôn ngữ” hay “phi chính trị hóa” vì cả ba đều lấy đi nghĩa của ký hiệu cấp I, biến cái lóe lên giây phút thành muôn thuở.

Nguyễn Trãi tường thuật hoạt động của Lê Lợi trong thế tương ứng với hoạt động của các vua nhà Chu. Sức thuyết phục của cách làm này nằm ở chỗ nó đồng hóa một hoạt động tại thời điểm-địa điểm nhất định, tức vận động lịch sử, với một điển mẫu mang tính thiên định, tức số mệnh hay loại vận động nằm trên ý muốn con người. Ức Trai tách Lê Lợi khỏi bối cảnh lịch sử đầy đủ tính nhân-quả bằng một bối cảnh khác có sẵn, đã hóa thạch, mang tính vĩnh hằng.

Đồng nhất hóa (Identification):

Barthes xem thái độ muốn đồng nhất hóa đối tượng giao tiếp là đặc thù của giới tiểu tư sản. Theo ông, thành phần tiểu tư sản luôn từ chối hoặc lãng tránh sự xuất hiện của Kẻ khác, hoặc luôn có nhu cầu biến người khác thành chính họ. Trường hợp không đồng hóa được Kẻ khác, họ sẽ xem đối tượng như món đồ, như con rối… và hạ chúng xuống vị trí ngoại biên của nhân tính.

Nho gia cũng vậy, họ luôn muốn áp đặt đặc điểm nội tại của mình lên tha nhân dù đó là đối tượng giao lưu hay tranh đấu. Tùy hoàn cảnh, họ sẽ đặt Kẻ khác vào thế giới Nho giáo hoặc thế giới man di. Về điểm này, Nguyễn Trãi thật may mắn vì ông được đào tạo theo khuôn mẫu Khổng Mạnh, do đó không cần phải gò ép người Minh theo triết thuyết của mình.

Câu đầu tiên của Đại Cáo nhấn mạnh ý hướng muốn đồng nhất như thế: “Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang”, Xét như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến. Quá nhiều người thắc mắc vì sao để nhấn mạnh tương phản giữa Nam và Bắc nhà thơ lại mở đầu bằng yếu tố tương đồng, là điểm tự hào chung của cả hai bên? Nếu soi vào tư duy Ức Trai bằng hình đồ Thái cực, chúng ta sẽ thấy “văn hiến” chính là đường tròn viền quanh hình vẽ. Nó là khung chuẩn mực căn bản để định nghĩa và bàn luận sự khác biệt. “Văn hiến” tượng trưng hệ thống tiêu chí Nho giáo mà soạn giả dựa vào nhằm biện giải đúng sai, như một nhân viên giám định đưa ra cái TCVN (Tiêu Chuẩn Việt Nam) hay ISO (International Organization for Standardization/Tiêu Chuẩn Quốc Tế) nào đó trước khi tiến hành công việc. Thực tế, bản án chế độ thực dân Minh của ông hoàn toàn đặt cơ sở trên “nhân”, “nghĩa”, “hiếu sinh”…, là những khái niệm đạo đức cổ điển mà hai phe đều dương cao. Bản án có vẻ tương tự như bản án của loại Tòa quốc tế được cả bên nguyên lẫn bên bị công nhận; nó tránh khỏi phận bèo bọt của phán quyết từ Tòa án Trọng tài thường trực về vụ kiện biển đảo do Philippines đứng nguyên đơn. Theo Barthes, cái cân chỉ cân được một vật bằng vật tương đương, nên có thể nói sức mê hoặc của Đại Cáo đã có phần phát huy từ thao tác đồng nhất hóa này. Phê phán Đại Cáo hướng về người Minh đáng tin hơn chỉ trích mà nhà nho Ngô Sĩ Liên nhắm vào hoạt động Phật giáo của vua Trần, hay công kích mà các nhà dân tộc chủ nghĩa dành cho nền chính trị kiểu Nho giáo của triều Nguyễn.

Trùng ngôn (Tautology):

Theo Barthes, “trùng ngôn” định nghĩa vật tương tự bằng vật tương tự, ví dụ như “vở tuồng là vở tuồng”, “công việc là công việc”, “Racine là Racine”.(272)

Dẫn quan niệm của Jean-Paul Sartre,(273) Barthes cho rằng trùng ngôn thể hiện cách ứng xử mang tính ma thuật, người ta ẩn vào nó vì sợ, giận, buồn, khi bất ngờ mất khả năng giải thích. Đi xa hơn, ông miêu tả trùng ngôn là sự bất tỉnh đúng thời điểm, sự mất ngôn ngữ mang tính tiết kiệm, nó báo hiệu cái chết, hoặc có thể là vở hài, hay cách “biểu thị” đầy phẫn nộ những quyền của hiện thực, bao trùm và ở trên ngôn ngữ. Barthes tin rằng trùng ngôn là một cách ngăn cản tư duy.

Nguyễn Trãi sử dụng trùng ngôn mở rộng hơn, rất nghệ thuật, kiểu “tồn tại hay không tồn tại” của Shakespeare.

Một lần, khi Lam Sơn nối tiếp giành lợi thế qua các trận Bồ Đằng, Trà Lân, Ninh Kiều, Tốt Động. Sau chuỗi chiến thắng, quân Minh không còn cơ hội nào để xoay trở tình thế nữa. Có lẽ cả hai bên đều ý thức rõ rằng với tương quan tại chỗ thì Vương Thông chỉ còn tìm kế sinh tồn mà thôi.

Vương Thông gỡ rối, đám cháy lại càng bùng,
Mã Anh cứu nguy, lửa thù càng thêm bốc.

Lời dịch hay và đủ ý, nhưng thiếu trùng ngôn “焚者益焚…怒者益怒 phần giả ích phần…nộ giả ích nộ”, cháy càng thêm cháy…giận càng thêm giận.

Rất đáng chú ý, những đặc điểm khá lan man của trùng ngôn hầu như hiện diện cả ở đây, khi giặc Minh tan vỡ lớn ở ngoại vi Đông Quan. Đó là thời điểm “bất tỉnh” của cả hai bên. Vương Thông “thúc thủ” vì viện binh sung sức chịu tổn thất nặng, Lam Sơn tạm thời “bất chiến” vì đội quân nhỏ bé của Lê Triện thành công quá mức.(274) Phía Minh, đó chính là cái chết; phía khởi nghĩa, họ xem việc Trần Hiệp-Lý Lượng bỏ mạng như tấn trò hài. Ức Trai chuẩn y quan niệm của Barthes xem trùng ngôn như cách “biểu thị” đầy phẫn nộ những quyền của hiện thực. Nó kìm lời để hiện thực tự nói lên câu chuyện của mình.

Nếu “Racine” bao gồm nhiều đặc tính như thơ-thuần-khiết, tôm-hùm, kinh-thánh, đam-mê…,“nộ” lại bao hàm đặc tính ngầm hiểu theo cách khác vì nó trùng ngôn không chỉ nội tại mà còn với văn bản bên ngoài. Mạnh Tử giảng rằng vua Vũ cũng vì một cơn “nộ” mà làm cho nhân dân trong thiên hạ hưởng cuộc an cư lạc nghiệp.(275) Lời Nguyễn Trãi dừng lại ở đây, để người đọc trượt đến không gian cổ kính bất động, nơi thất bại của Vương Thông đã được dự tính.

Lần khác, để diễn tả món nợ người Minh phải trả.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm,
Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn năm.

Lạng Sơn, Lạng Giang thây chất đầy đường,
Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước.

Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông rền rĩ,
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đỏ lòm.

Dịch như trên là thỏa đáng. Ta lập biểu hậu quả ba trận đánh như sau:

Trận đánh

Máu

Xác

Ninh Kiều – Tốt Động
(Vương Thông, Mã Anh)

Huyết thành xuyên
(Máu chảy thành sông)

Thi tích dã
(Thây phơi đầy nội)

Lạng Sơn – Xương Giang
(Liễu Thăng, Thôi Tụ)

Huyết xích thủy
(Máu trôi đỏ nước)

Thi tắc đồ
(Thây chất đầy đường)

Lãnh Câu – Đan Xá
(Mộc Thạnh)

Huyết chử phiêu
(Máu chảy trôi chày)

Thi sơn tích
(Thây chất thành núi)

 

Cách trình bày uyển chuyển nhưng nội dung về hậu quả giặc phải gánh chịu qua các trận đánh vẫn cảm nhận được theo kiểu trùng ngôn mạnh dần “thi giả ích thi”, xác càng thêm xác; “huyết giả ích huyết”, máu càng thêm máu. Tăng triển về mức độ các thi thể phơi bày từ “đầy đồng” thoáng nghĩa rải rác, đến “nghẽn đường” có tính bức bối, sang “thành núi” đã trở nên trấn áp nặng nhọc. Tăng triển về mức độ máu đổ từ “thành sông” tương đương khái niệm, đến có tác động màu sắc “đỏ nước”, và sau cùng là tác động vật lý “trôi chày”.

“Phần”, “nộ”, “thi”, “huyết” bao gồm tất cả những gì thuộc về chúng như “Racine” bao gồm tất cả những gì thuộc về Racine. Tự bản thân "lửa", "giận", "xác", "máu" đã đủ để tường trình câu chuyện chiến tranh, không cần người kể. Barthes nghĩ phương pháp trùng ngôn như ma thuật ẩn mình để cho sự việc/sự vật diễn biến hay tồn tại như tự nhiên chúng phải như thế. Ở Đại Cáo Lê Lợi ẩn mình theo kiểu đặc biệt, ông không từ chối trách nhiệm gây chết chóc kinh hoàng cho giặc Minh nhưng thoái danh (exnomination) bằng cách tôn vinh hành động đại khai sát giới như biểu trưng cho chí nhân và đại nghĩa. Ông đẩy guồng máy vũ trụ thuận theo lòng trời khiến người Minh nhận lại đủ những gì họ đã gieo xuống An Nam. Điều đó có vẻ tự nhiên theo cách hiểu của nhà Nho.

Chủ nghĩa không này – không kia (Neither/norism):

Barthes cho rằng lập luận “không này – không kia” là kiểu dẫn dụ trốn tránh thực tại để khuyến khích con người ngoan ngoãn chấp nhận thực tại. Ông minh họa bằng hình tượng cái cân, người ta quy hiện thực về những cái tương tự rồi đặt lên hai đĩa cân, khi cân quân bình thì vứt bỏ tất cả, có lẽ vứt luôn mối gút mắc về thế sự! Dễ hiểu hơn là ví dụ về việc xem bói, điềm rủi luôn được nối tiếp bằng điềm may để cân bằng tâm lý thân chủ, sự cân bằng sau rốt làm đông cứng các giá trị, cuộc sống, vận mệnh…Thuật chiêm tinh đề nghị mọi người chịu đựng thay vì lựa chọn, bởi nhân loại chưa đủ sức tái sắp xếp các chòm sao.

Hình thái tu từ này xuất hiện chủ yếu trong đoạn thuật lại quãng thời gian chúa Lam Sơn mới khởi binh. Các từ diễn tả sự thưa thớt, ít, cạn, thiếu, không, không đủ… như bất túc, thu diệp, thần tinh, phạp, quả, tận, vô…xoáy mạnh vào thời kỳ tận đáy nhẫn nhục của vị thủ lĩnh nổi dậy. Cân đối những sự vật tính chất hoàn toàn khác nhau làm bật lên trạng thái trống rỗng, ngưng trệ của hoạt động kháng chiến.

Hoàn cảnh

Đã

Lại

Rửa/ghi tội giặc

không đủ (bất túc) nước Đông hải

không đủ (bất túc) trúc Nam sơn

Nhóm binh

thưa thớt (thu diệp) nhân tài

loe hoe (thần tinh) tuấn kiệt

Hoạt động ban đầu

thiếu (phạp) tướng hiệu

ít (quả) mưu sĩ

Thua trận

cạn (tận) thức ăn

không (vô) bộ đội

 

Cũng như bất kỳ thiên tài làm thay đổi xã hội nào khác, Lê Lợi phải trải qua khoảnh khắc đơn độc. Nó vừa là thực tiễn, vừa là nút thắt của tự sự. Ông bị nén dưới những “không này không kia” nhưng xem đó là cái thăng bằng tĩnh xếp đặt có chủ ý bởi ông trời. Quan niệm như thế chuẩn bị cho một hiện thực sinh động hơn thay vì thụ động thích nghi hiện thực. Lê Lợi cam chịu chẳng phải để chấp nhận số mệnh mà để đón nhận thiên mệnh; vì ông là người tạo ra, chứ không tiếp thu, huyền thoại.

Lượng hóa phẩm chất (Quantification of quality):

Barthes viết về vấn đề này như sau: Đây là hình thái tiềm tàng trong tất cả các hình thái đề cập bên trên. Bằng cách hạ thấp bất kỳ phẩm chất nào thành số lượng, huyền thoại tiết kiệm trí thông minh: nó hiểu hiện thực theo cách ít tốn phí hơn.(276) Ông đưa ra ví dụ như việc lượng hóa tài năng nghệ sĩ bằng giá vé; khi đó, cái đang có nghĩa “thiên bẩm” của diễn viên trước hết lại là một lượng dễ nhận thấy của hiệu quả. Lượng hóa phẩm chất giúp quần chúng trực cảm huyền thoại thay vì mày mò đọc, phân tích, hay cắt nghĩa nó.

Sự lượng hóa phẩm chất vũ khí và con người đã mang đến cảm xúc lập tức, vừa huy hoàng vừa ấn tượng.

Chủ thể

Chất lượng

Thao tác

Số lượng

Gươm

Cứng, bén

Mài

Khuyết quả núi

Voi

Khỏe, hung tợn

Uống

Cạn nước sông

Binh lính

Thiện chiến

Giải quyết trận đánh

Một hồi trống

Giặc

Thê thảm

Chết

Đầy đồng, nghẽn đường, chất như núi

Vua ta

Hào hiệp, nhân từ

Ban cho hàng binh

Năm trăm thuyền, vài ngàn ngựa

 

Quy mô hoặc lớn, hoặc nhỏ một cách bất thường của số lượng khiến Đại Cáo mang cả chất huyền thoại xã hội lẫn chất huyền thoại cổ sơ.

Tuyên bố dữ kiện (Statement of facts):

Barthes nói: Các huyền thoại thiên về tục ngữ. Ý thức hệ tư sản đầu tư vào hình thái này những lợi ích gắn chặt với bản chất thực sự của nó: tính chất phổ quát, sự từ chối bất kỳ giải thích nào, và một trật tự thế giới không thay đổi được.(277) Ông phân biệt hai loại tục ngữ:

Tục ngữ phổ thông tiêu biểu cho ngôn ngữ hành động, nó dần cô đọng thành ngôn ngữ phản ánh. Khi tính phản ánh bị cắt bớt thì tục ngữ hạ giảm thành câu tuyên bố dữ kiện. Tục ngữ phổ thông dự đoán hơn là quả quyết. Chúng ta có thể tạm lấy ví dụ: Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão.

Tục ngữ tư sản là siêu ngôn ngữ, là ngôn ngữ cấp hai dựa vào những sự vật/sự việc đã được chuẩn bị. Hình thức cổ điển của nó là châm ngôn. Ở đây, lời tuyên bố không nhắm đến một thế giới sẽ được tạo nên mà phủ lên một thế giới đã được tạo nên, nó vùi lấp sự kiến tạo này dưới bộ mặt hiển nhiên của vĩnh cửu: đó là sự phản-giải thích, vật tương đương đúng đắn của “trùng ngôn”, của chữ tại vậy đó hống hách mà bậc cha mẹ thiếu kiến thức treo lơ lửng trên đầu con họ.(278)

Nguyễn Trãi hai lần tuyên bố dữ kiện: lần đầu là những đặc điểm của đế quốc Đại Việt, lần sau là về sự âm phù Lê Lợi bởi trời đất tổ tiên. Các khẳng định này biến dự tính truy tìm chân lý khác, nếu có, thành viển vông.

Nước Đại Việt thực chất chỉ là một sản phẩm lịch sử, nó mang tính lịch sử, có xuất hiện và sẽ có lúc biến mất. Nhưng ở đây đất nước không đứng lẻ loi mà đối xứng Hoa Hạ, như đã nói nhiều lần ở các phần trên, Lê Lợi gắn Đại Việt vào nửa phần của cấu trúc âm-dương, nam-bắc, sáng-tối…vốn là định dạng không thay đổi được của thế giới, vũ trụ và của cả nguyên lý theo đó chúng vận hành. Tuyên bố dữ kiện kiểu nối liền hữu hạn với vô hạn, Đại Cáo thật sự đã che vùi lịch sử bằng bộ mặt khác, bộ mặt mang tính trường tồn tự nhiên.

Lê Lợi nổi lên giữa nhiều cuộc đề kháng lớn nhỏ của người Việt. Ông tiến từng bước tới thắng lợi tùy thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế-chính trị tức thời tại cả An Nam lẫn Trung Hoa. Tài năng của Bình Định vương là khai thác mọi tình huống cụ thể sao cho thuận lợi để lèo lái phong trào về đích. Ông cũng chỉ sinh ra từ lịch sử, từ chí lớn, nhưng cũng từ kết tập nhiều yếu tố ngẫu nhiên. Trần Ngỗi thất bại vì tài, nhưng một phần cũng vì thời. Điểm chín của lực lượng Lam Sơn rơi nhằm điểm chớm suy của triều Minh. Lòng cương quyết của vua Lê lên đỉnh cao khi Tuyên Đức phân vân chính sách mới. Sức chịu đựng dân đen rơi xuống mức quá hạn dưới hoạt động ngạo ngược của Mã Kỳ…Đại Cáo giản lược nhiều rắc rối bằng cách choàng lên Lê Lợi cái hào quang của “Đức”. Khi ông hành động như chiếc bóng của thánh vương cổ đại trên mặt đất thì mọi ngẫu nhiên đã biến mất. Nguyễn Trãi không cần giải thích vì sao Lê Lợi, thay vì Trần Cảo, phải làm chủ phương Nam.

Bảy hình thái tu từ của văn nghệ sĩ tư sản Pháp và nhà văn phong kiến Việt, ngoài tương đồng mục đích và kỹ thuật, có những điểm khác biệt phát sinh từ ý thức hệ như sau:

Hình thái tu từ

Huyền thoại tư sản

Đại Cáo

Tiêm ngừa

Để thích nghi với những điều xấu hơn

Không

Tước bỏ lịch sử

Để thực tại trở thành tự nhiên

Để thực tại mang nghĩa số mệnh

Đồng nhất hóa

Vào thế giới tiểu tư sản

Vào thế giới Nho giáo

Trùng ngôn

Nơi ẩn náu của giai cấp tư sản

Nơi hiện diện của đạo trời

Không này – không kia

Chấp nhận hiện thực đang có

Muốn vượt qua hiện thực vốn có

Lượng hóa phẩm chất

Đơn giản hóa vấn đề

Ấn tượng hóa vấn đề

Tuyên bố dữ kiện

Thực tại là vĩnh cửu

Thực tại đã được quy định

 

Dân Pháp thời Barthes là những người tự do. Từ lâu họ đã thoát khỏi gánh nặng của tôn giáo, vương triều, và làng xóm họ tộc. Quyền lực nước Pháp đến từ bên dưới nên giới tư sản thống trị có vẻ chông chênh khi không thụ nhận được sức mạnh từ Chúa Trời. Bù lại, họ có sức mạnh từ các phương tiện truyền thông mới, loại hình nghệ thuật mới, sinh hoạt xã hội mới vốn bùng nổ theo cuộc cách mạng kỹ nghệ. Giai cấp tư sản qua những hình thức giao tiếp tân tiến với quần chúng, cái mà Barthes gọi là huyền thoại, đã kiên trì bộc lộ hệ tư tưởng của mình. Theo Barthes, mục đích tối hậu của huyền thoại không gì khác hơn là tạo ra một xã hội đông cứng, một lần và mãi mãi. Nơi đó sự thỏa mãn của người dân về cuộc sống được giải thích như sinh ra cho chính họ cùng tồn tại bền vững với tôn ti trật tự về tài sản. Điểm cốt tử của huyền thoại là sự thoái danh, người tạo ra xã hội tư sản tự nhận hóa thân vào dân tộc, khiếm diện trước hiện thực tù đọng khoác vẻ tự nhiên. Mục đích chính của việc phân tích huyền thoại bởi Barthes chẳng gì khác hơn là chỉ cho mọi người thấy rằng xã hội luôn biến đổi. Nó ngừng lại chỉ vì có người muốn nó phải ngừng.

Đại Việt vẫn thuộc giai đoạn quyền lực cai trị được ban xuống từ bên trên. Do vậy, kỹ thuật sử dụng ngôn từ thuyết phục dù không khác mấy thời tư sản nhưng chủ thể tạo ra huyền thoại đứng tư thế khác. Họ không lẩn tránh, thoái thác trách nhiệm như tác giả huyền thoại hiện đại; vì đại diện cho hoàng thiên, Lê Lợi có dáng uy nghi sang cả của một vị thần. Nếu hiện thực tư sản tự nhiên như một phần của thế giới chuyển động quanh nó, hiện thực Đại Việt tự nhiên vì chỉ diễn lại những gì đã được ghi chép sẵn ở trên…trời. Muốn đóng vai trò của Barthes, chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ gian khổ là chứng minh Thượng đế đã chết.

 

 

Chú thích (phần IV, kỳ 9)

254) Có tài liệu cho là gồm 54 bài, từng đăng trên tạp chí Esprit, nhật báo Combat, và tạp chí Les Lettres nouvelles.
(255) Roland Barthes (1957), Mythologies, dịch sang tiếng Anh bởi Annette Lavers, Nxb Hill and Wang 2013, trang 217. Tiếng Anh: Myth is a type of speech và…that myth is a system of communication, that it is a message. This allows one to perceive that myth can not possibly be an object, a concept, or an idea; it is a mode of signification, a form.
(256) Ferdinand de Saussure (1857 – 1913): người Thụy Sĩ, đặt nền tảng cho khoa học ngôn ngữ thế kỷ XX. Ông đưa ra các khái niệm đồng đại, lịch đại, và phân biệt lời nói – ngôn ngữ.
(257) Louis Hjemslev (1899 – 1965): nhà ngôn ngữ học người Đan Mạch.
(258) Barthes bao gồm cả âm hình (acoustic image).
(259) Roland Barthes (1957), Mythologies, dịch sang tiếng Anh bởi Annette Lavers, Nxb Hill and Wang 2013, trang 223. Tiếng Anh: But myth is a peculiar system, in that it is constructed from a semiological chain which existed before it: it is a second-order semiological system. That which is a sign (namely the associative total of a concept and an image) in the first system becomes a mere signifier in the second.
(260) Các phương thức thể hiện đồng hóa với ngôn ngữ có thể là hình ảnh trên tạp chí, cuốn phim, vở kịch, cuộc triển lãm, sự kiện…
(261) Sđd, trang 224. Tiếng Anh: It can be seen that in myth there are two semiological systems, one of which is staggered in relation to the other: a linguistic system, the language (or the modes of representation which are assimilated to it), which I shall call the language object, because it is the language which myth gets hold of in order to build its own system; and myth itself, which I shall call the metalanguage, because it is a second language, in which one speaks about the first.
(262) Sđd, trang 225. Tiếng Anh: But, whether naively or not, I see very well what it signifies to me: that France is a great Empire, that all her sons, without any color discrimination, faithfully serve under her flag, and that there is no better answer to the detractors of an alleged colonialism than the zeal shown by this Negro in serving his so-called oppressors. I am therefore again faced with a greater semiological system: there is a signifier, itself already formed with a previous system (a black soldier is giving French salute); there is a signified (this is here a purposeful mixture of Frenchness and militariness); finally, there is a presence of the signified through the signifier.
(263)(264) Tương đương “denotation” và “connotation”.
(265) Ngữ pháp Phi châu (African Grammar): Barthes mỉa mai cách sử dụng ngôn ngữ huyễn hoặc của chính trị gia và truyền thông cánh hữu nhằm phủ nhận phong trào đòi độc lập ở các thuộc địa châu Phi.
(266) Bichon giữa người Da đen (Bichon Among the Blacks): Một em bé Pháp thuần phục được nhóm da đen hung tợn.
(267) Các lứa đôi (Conjugals): Cái đinh của những cặp đôi trong bài viết là hoa hậu châu Âu năm 1953 Sylviane Carpentier. Bà quay lưng với vinh quang để lấy một anh thợ điện, sống bình dị trong căn hộ đơn giản. Theo Barthes, câu chuyện thôi thúc ý muốn an phận, cưỡng lại thay đổi.
(268) Dominici, hay sự Toàn thắng của Văn chương (Dominici, or the Triumph of Literature): Cụ già chăn cừu Dominici ra tòa do sát hại một gia đình người Anh. Ông bị kết án không dựa vào chứng cứ mà dựa vào suy luận nặng tâm lý tiểu tư sản. Lời tuyên án hay tường thuật phiên tòa đều dùng loại ngôn ngữ hoa mỹ Dominici không hiểu được.
(269) Trên Sàn đấu vật (In the Ring): Trận đấu vật, món giải trí bình dân, được phân tích theo phương pháp phân tích tuồng (drama) hay nhạc kịch (opera).
(270) Phê bình Mù và Câm (Criticism Blind and Dumb): Barthes chỉ trích thái độ “xảo quyệt” của giới phê bình tiểu tư sản, những người loại bỏ chủ nghĩa Marxism hay thuyết hiện sinh bằng cách tuyên bố họ chẳng hiểu gì về chúng.
(271) Gần gũi với “lexie” của Barthes.
(272) Racine: tức Jean-Baptiste Racine (1639 – 1699), nhà viết kịch Pháp. Tác phẩm nổi tiếng có các vở Andromaque, Britannicus, Phèdre, Athalie…
(273) Jean-Paul Sartre (1905 – 1980): triết gia Pháp, cha đẻ thuyết Hiện sinh.
(274) Lê Triện có thể truy kích Vương Thông, bao vây Đông Quan nhưng vấn đề nan giải của ông là hệ thống cai trị của người Minh trên đồng bằng thình lình biến mất. Lê Lợi buộc phải tiến gấp ra bắc, một phần gia tăng sức ép quân sự, phần quan trọng chẳng kém là để tổ chức bộ máy hành chính mới. Công việc quản lý xã hội vượt quá khả năng của một võ tướng như Triện.
(275) “Nhi Võ vương diệc nhứt nộ nhi an thiên hạ chi dân. 而武王亦一怒而安天下之民.” Xem Tứ thư, Mạnh Tử, Lương Huệ vương chương cú hạ, dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb Thuận Hóa (tái bản 2013), trang 52-53.
(276) Roland Barthes (1957), Mythologies, dịch sang tiếng Anh bởi Annette Lavers, Nxb Hill and Wang 2013, trang 268. Tiếng Anh: This is a figure which is latent in all the preceding ones. By reducing any quality to quantity, myth economizes intelligence: it understands reality more cheaply.”
(277) Sđd, trang 269. Tiếng Anh: Myth tend towards proverbs. Bourgeois ideology invests in this figure interests which are bound to its very essence: universalism, the refusal of any explanation, an unalterable hierachy of the world.
(278) Lược dịch. Xem Roland Barthes (1957), Mythologies, dịch sang tiếng Anh bởi Annette Lavers, Nxb Hill and Wang 2013, trang 269.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)