Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi (Kỳ 5)

0 bình luận ♦ 14.08.2019

 

Lời Tòa Soạn: Phần III là phần dài nhất trong biên khảo này, giúp làm sáng tỏ những luận điểm nêu ra trong phần II. Tác giả dựa vào định nghĩa về dân tộc của các học giả, sử gia, chính trị gia Tây phương từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21 đồng thời đối chiếu với các triều đại cũng như đời sống của cư dân Việt Nam trong lịch sử để tìm hiểu quá trình hình thành ý thức dân tộc Việt Nam.

Để độc giả tiện theo dõi, chúng tôi xin nêu lên sau đây vài nét chính trong hai kỳ 5 và 6 thuộc phần III:

Dựa vào một số quan niệm tương đối phổ biến về dân tộc, đối chiếu với hiện thực lịch sử đất nước trải hơn 400 năm dưới sự cai trị từ triều đại Lý, Trần cho đến Minh thuộc và Lê Lợi, tác giả nhận thấy không có yếu tố nào hội đủ với ý niệm về dân tộc như ta hiểu ngày nay. Có thể nói, tuy người Việt có cùng lãnh thổ, cùng ngôn ngữ, nhưng không cùng chung một nền kinh tế và văn hóa, không cùng diễn ngôn về quá khứ, cũng không chia xẻ huyền thoại về tổ tông nên chỉ là tập hợp những người tạm thời gắn kết dưới sức mạnh quân sự của một vương triều, trong đó, mối ràng buộc chính giữa chủ tướng và thuộc hạ là quyền lợi của bản thân và gia đình.

Ngoài các quan niệm trên, tác giả nêu lên và thảo luận hai quan niệm khá mới mẻ về dân tộc: một là của Ernest André Gellner, theo đó, chủ nghĩa dân tộc là phó sản của quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, nghĩa là chuyển đổi từ loại văn hóa chỉ giới hạn trong giới quyền lực và nho sĩ sang loại văn hóa có tính cách phổ quát, đại chúng; và hai là của Benedict Anderson, theo đó, dân tộc là một cộng đồng với các đặc tính: tưởng tượng, có giới hạncó chủ quyền. Chủ nghĩa tư bản ấn loát (print capitalism) với hai sản phẩm báo chí và tiểu thuyết và về sau, thống kê dân số, bản đồ và viện bảo tàng là cơ sở cho hoạt động tưởng tượng.

Dựa trên hai quan điểm này, tác giả đã nghiên cứu về hoạt động báo chí và tiểu thuyết Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện vào giữa thế kỷ thứ 19, bắt đầu với hai cột trụ: “Gia định báo” của Trương Vĩnh Ký, và “Truyện thầy Lazaro Phiền” và về sau, sự truyền bá chữ quốc ngữ, trường Thông Ngôn và Viện Viễn Đông Bác Cổ. Tất cả hoạt động đó đưa đến sự phá vỡ độc quyền đọc-viết của giới tăng sĩ và nho sĩ thời trước, dần dần đưa đến sự hình thành ý thức về dân tộc.

 

 

 

Phần III

CƯ DÂN GIAO NAM THỜI ĐẠI CÁO

(Kỳ 5)

 

 

Đầu thế kỷ XV có thật đã tồn tại cộng đồng mệnh danh “dân tộc Việt” ở vùng đất nay là miền bắc và bắc miền trung? Có thật công cuộc chống ngoại xâm hay xây dựng đê điều trên hệ thống sông Hồng đã thúc đẩy việc sớm hình thành dân tộc Việt?

Thế tại sao đa số dân cư đồng bằng không những nhanh chóng đầu hàng quân Minh mà còn tích cực hợp tác với giặc để tấn công quan quân, góp phần truy sát tới cùng cha con vua của họ? Thế vì sao tầng lớp tinh hoa hăng hái trình diện để phục vụ người Minh đến nỗi “Quốc nội vi chi không hư 國内爲之空虚”, trong nước vì thế trở nên trống rỗng? Thế nguyên do gì ý thức về đế quốc Đại Việt chỉ đến từ vùng ngoại vi Thanh Hóa thay vì tại “trung tâm dân tộc”? Giả sử đã có nhận thức về dân tộc vào thời điểm ấy thì sự oán ghét một dòng họ cầm quyền có thể sâu đến mức con người phải tự phủ nhận mình là người Việt? Thành phần phản bội thời nào cũng có nhưng sự xoay chiều dễ dãi qui mô lớn đã không ủng hộ quan điểm về dân tộc Việt hình thành từ lâu trong lịch sử. Hành động tiếp sức ngoại xâm trên diện rộng phản ánh một nhận thức xã hội giữ vai trò chi phối tại châu thổ cần được giải thích hợp lý.

Trước hết, phải định nghĩa khái niệm dân tộc để xem cộng đồng người tại Giao Chỉ thời Trần mạt-Hồ-Lê sơ thực sự ở dạng kết hợp nào.

Dân tộc là lĩnh vực nghiên cứu bao la, các học giả từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau trình bày nhiều định nghĩa khác nhau. Phần này chỉ xem xét vài định nghĩa tiêu biểu nhất để đưa ra đối chiếu tinh lược nhất. Công việc xác định quá trình dân tộc Việt mang tầm quy mô gấp nghìn vạn lần công việc phân tích văn bản Đại Cáo nên tham vọng đi đến cùng qua một bài viết ngắn là ảo tưởng. Tuy nhiên, nếu thiếu ý niệm cơ bản về cơ cấu cộng đồng Việt vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV sẽ không cách nào hiểu được Lê Lợi muốn nói gì, vì phải đối mặt vấn đề gì. Chúng tôi hết sức cố gắng nắm bắt được nét chính của tập đoàn người Đại Việt-Đại Ngu mà không phải lạc quá xa chủ đề bài nghiên cứu.

Định nghĩa của Ernest Renan (1823 – 1892):(97)

Dân tộc là một tâm hồn, một nguyên lý tinh thần. Có hai yếu tố, thực ra chỉ như một, tạo nên tâm hồn hoặc nguyên lý tinh thần này. Một nằm trong quá khứ, một trong hiện tại. Cái này là sự đồng sở đắc di sản ký ức phong phú; cái kia là sự thỏa thuận trong hiện tại, là lòng mong muốn được chung sống, là ý chí biến giá trị kế thừa, giá trị mà mỗi người đã tiếp nhận dưới hình thức trọn vẹn, trở nên bất diệt. (98)

Hoặc theo cách diễn đạt khác: Vì thế dân tộc là sự thống nhất qui mô lớn, kết thành bởi cảm giác về những hy sinh mà mỗi người từng thực hiện trong quá khứ và những gì mỗi người chuẩn bị thực hiện trong tương lai. Nó bao hàm quá khứ; tuy nhiên, nó được tóm lược trong hiện tại bằng thực tế hiển nhiên là sự đồng thuận, là ước muốn tiếp tục cuộc sống chung được diễn đạt rõ ràng. Sự tồn tại của dân tộc là, xin lỗi phải dùng phép ẩn dụ, cuộc bỏ phiếu hàng ngày, cũng như sự tồn tại cá nhân là sự không ngừng khẳng định cuộc sống.(99)

Renan diễn giải thêm: Con người không nô lệ vào nòi giống, ngôn ngữ hay tôn giáo của anh ta, cũng không nô lệ vào luồng chảy các dòng sông, phương hướng các rặng núi. Một khối lớn con người, với trí óc minh mẫn và trái tim ấm áp, tạo nên thứ lương tâm đạo đức mà chúng ta gọi là dân tộc. Khi nào ý thức đạo đức này còn chứng tỏ được sức mạnh của mình qua những hy sinh đòi hỏi phải từ bỏ cá nhân trước lợi ích cộng đồng thì nó còn hợp pháp và có quyền tồn tại.(100)

Như vậy, Renan cho rằng các yếu tố khách quan như sắc tộc, văn hóa, lãnh thổ chưa đủ để hình thành dân tộc. Dân tộc chỉ xuất hiện khi các thành viên của một cộng đồng người chia xẻ những giá trị trong quá khứ và sẵn lòng cùng nhau phát huy giá trị được thừa hưởng trong tương lai. Đó là thỏa thuận mang tính tự nguyện. Ta thử đối chiếu hai yếu tố quyết định sự hình thành dân tộc, chưa bàn đến các yếu tố khách quan, của Renan với thực trạng của nhóm người mệnh danh dân Đại Việt-An Nam dưới đây.

a. Đồng sở đắc di sản ký ức phong phú:

Ức Trai khẳng định người phương nam duy trì một ký ức giàu có, điển hình như vinh quang chói lọi trước những bại tướng Lưu Cung, Triệu Tiết, Ô Mã, Toa Đô; như uy nghi đế vương của những Triệu, Đinh, Lý, Trần bằng vai phải lứa với các triều đình phương bắc.

Tuy nhiên, vấn đề cũng phát sinh từ ký ức lịch sử này. Đến năm 1428, giới cầm quyền qua phát ngôn nhân Nguyễn Trãi vẫn xem Triệu Đà là vua tổ Đại Việt. Sử ký của Lê Văn Hưu bắt đầu từ họ Triệu (Toàn Thư I, 95),(101) quan điểm tương tự cũng thể hiện trong An Nam chí lược của Lê Tắc.(102) Rất có thể đó là lập trường chính thống phổ biến trong tầng lớp tinh hoa dưới hai triều đại Lý-Trần. Quan niệm như vậy không chiếm vai trò độc tôn. Ngoài vua tổ gốc Tần, mường tượng về vị vua tổ khác, thiên về bản địa, xuất hiện trong thư tịch mờ khuất hơn như Đại Việt sử lược (khoảng 1377 – 1388). Sử gia khuyết danh nói về một người lạ ở bộ Gia Ninh, thời Chu Trang vương (696 – 682TCN), dùng ảo thuật qui phục các bộ lạc để xưng vương.(103) Câu chuyện truyền khẩu dường như rất phổ biến tại châu Chân Đăng, khu vực nằm khoảng vị trí Phú Thọ, Vĩnh Phúc nay. Khi Phạm Sư Mạnh (1300? – 1384?) kinh lý vùng này, nơi dân chúng theo phong tục khác lạ, ông sáng tác bài thơ “Hành quận” trong đó có câu: “Lô thủy phiên ly, Thao tụ lạc. Văn Lang nhật nguyệt, Thục sơn hà 瀘水藩籬洮聚落文郎日月蜀山河”,(104) sông Lô làm phên giậu, sông Thao đông đúc làng xóm. (Người dân như sống) dưới thời Văn Lang, trên non nước Thục. Những mảnh vụn thông tin Sư Mạnh nhắc đến được chép lại chi tiết hơn trong Lĩnh Nam chích quái, tác phẩm hầu như xuất hiện cùng thời.(105)

Như vậy, cư dân Đại Việt cùng chung ký ức giai đoạn đồng lòng chống phương bắc lấn chiếm. Lùi sâu hơn vào quá khứ, đến thời điểm lần đầu tiên quốc thống phương nam được tạo dựng thì ký ức phân thành hai nhánh. Một nhánh cho rằng nhân vật tiên khởi dựng nên các nước Việt phía nam là Triệu Đà. Các nước này thể hiện đặc điểm chung với giai tầng thống trị đến từ khu vực văn hóa Hoa Hạ, trên nền tảng dân cư kết thành từ các bộ lạc bản địa. Công nghiệp nhà Triệu được lập lại bởi họ Lưu tại Quảng châu và hai họ Lý-Trần tại Giao châu nên sử gia dòng chính dưới hai triều đại Mân thiên về ý tưởng tôn Triệu Vũ đế làm vua tổ. Nhánh khác cho rằng quốc thống hình thành khi vị tù trưởng hùng mạnh ở Gia Ninh thu phục các bộ lạc, xưng vương, truyền nối mười tám đời. Các dòng vua quê Thanh Hóa như Lê-Nguyễn phù hợp hơn với vị vua tổ gần gũi này. Nguyễn Trãi đã đề đạt một ký ức theo truyền thống gia đình, đặc biệt gia đình bên ngoại. Sơ suất chết người về sau được Ngô Sĩ Liên điều chỉnh trong Đại Việt sử ký toàn thư bằng phần họ Hồng Bàng. Bổ sung quan trọng như thế hẳn phải có chỉ đạo từ chính vua Lê.

b. Sự thỏa thuận trong hiện tại, là lòng mong muốn được chung sống, là ý chí biến giá trị kế thừa, giá trị mà mỗi người đã tiếp nhận dưới hình thức trọn vẹn, trở nên bất diệt:

Có một nhóm người mà Lê Lợi gọi là hiền tài dường như rất phân vân trước việc ra làm quan với ông. Toàn Thư ghi chép mật độ cao những lời kêu gọi hợp tác của chúa mới.

– Tháng giêng năm Đinh Mùi (1427): Hạ lệnh cho các tướng hiệu, các quan cấp lộ tìm hỏi những người có tài lược, trí dũng, làm nổi các chức quan trọng như Tư Mã, Thượng tướng, mỗi viên tiến cử lấy một người (Toàn Thư II, 282).
– Tháng 3: Hạ lệnh cho các lộ tiến cử những người hiền tài, chính trực, trí dũng anh kiệt, cho gọi tới trả lời các câu hỏi, rồi cất nhắc sử dụng. Ai che giấu thì bị xử tội truất giáng (Toàn Thư II, 286).
– Tháng 4: Vua nói: “Ta không có tài dũng, trí tuệ, một mình gánh vác công việc nặng nề, sợ không làm nổi, cho nên phải nhún mình cầu hiền, dốc lòng trọng sĩ, cùng mưu việc lớn, để cứu vớt sinh dân. Ai tiến cử được người mưu trí dũng lược hơn người, hoặc người nào tự tiến cử mình thì đều làm quan cao, tước trọng” (Toàn Thư II, 287).
– Một đạo dụ chính thức được ban ra cũng trong tháng 4, đề nghị các chức vụ rất cao cho người tài giỏi: “…mà các đại thần như tả, hữu tướng quốc, thái phó, thái bảo vẫn chưa đặt, thái úy, đô nguyên soái vẫn còn khuyết, hành khiển và các quan, mười phần mới được một, hai phần…” (Toàn Thư II, 289).
– Tháng 6 năm Mậu Thân (1428): Ra lệnh chỉ cho các đại thần và các quan văn võ đều tiến cử người hiền lương phương chính, nếu tiến cử được người giỏi thì được thăng thưởng theo lệ tiến cử hiền thần, nếu vì tiền tài, vì thân quen, tiến cử người không tốt thì bị trị tội theo lệ tiến cử kẻ gian (Toàn Thư II, 314).
– Tháng 5 năm Kỷ Dậu (1429): Ra lệnh chỉ rằng những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót, hoặc bị chìm đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến cử, hoặc vì thù hằn mà bị đè nén, vùi dập, thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, nếu xét thực có tài đức thì tâu trình để cất nhắc sử dụng, không cứ là ngụy quan hay sĩ thứ, cốt lấy tài đức là hơn (Toàn Thư II, 320).
– Tháng 10: Hạ lệnh cho các đại thần văn võ, công hầu đại phu từ tam phẩm trở lên phải tiến cử hiền tài (Toàn Thư II, 321).

Mãi đến đời Lê Thái tông, vẫn thấy than phiền của vua về khủng hoảng thiếu nhân sự.

– Tháng giêng năm Giáp Dần (1434): “…..Mới rồi, tìm người hiền để giúp việc trị nước, đã có lệnh cho mọi người tiến cử người mình biết. Nay đã lâu rồi mà chưa có ai theo lệnh tiến cử một người nào để đáp lại lòng trẫm là cớ làm sao?” (Toàn Thư II, 330).

So với việc Trương Phụ dự trù 3.000 giấy khám hợp để tuyển quan viên Giao Chỉ nhưng tiếp nhận đến 9.000 người thì nhà Lê đã thất bại trong việc chiêu tập thành phần ưu tú. Trải hơn 400 năm dưới sự cai trị của họ Lý, họ Trần và người Minh, có thể nói tầng lớp trên ít nhiều mang yếu tố sắc tộc-văn hóa khác với đại đa số nông dân mù chữ chìm khuất nơi hạ tầng xã hội. Chính nhóm người “kinh” thượng lưu này, theo Keith Taylor, cảm thấy có giá trị khi là một phần của đế quốc phương bắc. Tác động của họ lên tầng lớp dưới gây thiệt hại nặng cho hoạt động vệ quốc của Hồ Quý Ly, cô lập hiệu quả hoạt động phục quốc của Lê Lợi. Dù Taylor nhận xét khá nghiệt ngã vì “kinh” chỉ ngả về bắc trong hoàn cảnh cùng cực éo le nhưng cũng giúp chúng ta suy nghĩ lại khoảng cách giữa họ và người miền núi phía nam. Họ mang hoài bão ngược chiều với ước vọng của nhóm quyền lực sơn cước, hoài bão mà trăm năm sau mới thực hiện được bởi vị vua gốc Quảng Đông Mạc Đăng Dung.

Cộng đồng dân cư Đại Việt thời Lê Lợi không cùng diễn ngôn về quá khứ, không tìm được đồng thuận về tương lai nên, theo tiêu chí Renan, chưa thể gọi là dân tộc. Nó chỉ là tập hợp người tạm thời gắn kết dưới sức mạnh quân sự của một vương triều.

Định nghĩa của Joseph Stalin (1878 – 1953):

Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được tạo lập trong lịch sử, nó được hình thành trên cơ sở đời sống kinh tế chung, lãnh thổ chung, ngôn ngữ chung, và bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung.(106)

Theo Stalin, chỉ cần thiếu một yếu tố được nêu ra bên trên dân tộc sẽ không tồn tại. Dưới đây sẽ đi từ những yếu tố nước Đại Việt có đến những yếu tố chưa có.

a. Lãnh thổ chung, ngôn ngữ chung:

Cho đến khi người Minh sang, Đại Việt vẫn chỉ gồm hai khu vực chính là bắc bộ và bắc trung bộ vốn bị ngăn chia bởi đèo Tam Điệp khá hiểm trở đối với phương tiện di chuyển đương thời. Tuy nhiên, cư dân đôi bên vẫn giao tiếp không gián đoạn bằng thủy lộ duyên hải thuận tiện. Trong tâm thức Trần Nhân tông, khi quân đội hao tổn, Hoan Diễn như kho dự trữ binh lính. Trong tâm thức Lê Lợi, Đông Quan vẫn là cương thổ cũ của phương nam. Trở ngại địa lý tương đối chỉ tạo nên đặc trưng vùng miền chứ chưa đến mức biến dân cư thành chủ thể của hai địa vực riêng biệt.

Mặt khác, dưới triều Hậu Lê, Toàn Thư ghi lại một cách rất thoải mái, tự nhiên việc cãi nhau văng mạng về vấn đề văn hóa cao cấp khá phức tạp giữa quan lại gốc kinh và gốc trại. Như thế hai khối người đã dùng chung ngôn ngữ, loại ngôn ngữ vào đầu đời Lý rất có thể chỉ phổ biến ở kinh đô và phủ Thiên Đức. Phần lõi của ngôn ngữ chung nay còn lưu qua di sản thơ Nôm Nguyễn Trãi, nó đã đạt tầm tinh tế hơn ngôn ngữ bộ lạc nhiều. Nhóm dân có tiếng nói, tục lệ xa lạ dưới mắt người kinh hay trại do các tù trưởng họ Bế, Đèo, Ma, Cầm… lãnh đạo; các họ này hiện vẫn tồn tại trong các nhóm thuộc ngữ hệ Kra-Dai trên vùng cao. Thời quân Minh rút lui, chưa thấy phân tách rõ rệt giữa Kinh và cộng đồng cư dân nay gọi là Mường. Các tướng Lam Sơn dự hội thề Đông Quan mang họ Phạm (Vấn), Lê (Ngân), Nguyễn (Chích), Bùi (Bị) là những họ hiện tại người Mường vẫn dùng. Thời điểm đó, sử gia không xem các tướng là Mường. Người trại tương dị giới cầm quyền thích bảo vệ huyết thống Mân và duy trì song ngữ nhưng tương đồng bình dân kinh lộ khi cùng nói thứ tiếng Việt đến nay vẫn còn phần nào hiểu được. Cũng cần nhớ lại rằng số người mệnh danh “nhân dân”, không phải “man nhân”, chỉ chiếm 60% tổng dân số kiểm kê được vào năm 1408.

b. Đời sống kinh tế chung:

Stalin cho rằng cộng đồng người Georgia chuyển mình trở thành dân tộc khi chế độ nông nô sụp đổ, kinh tế tăng trưởng, phương tiện giao tiếp phát triển, chủ nghĩa tư bản nổi lên; tất cả các yếu tố đó tạo nên sự phân công lao động giữa các địa phương đồng thời phá vỡ hoàn toàn tính cô lập của các vùng kinh tế lãnh địa và hòa chúng thành một khối. Với quan điểm đậm màu sắc hiện đại như thế thì cư dân Việt đời Lê với nền sản xuất thiên về tự cung tự cấp chưa phải là ứng viên thỏa mãn điều kiện này.

c. Bản chất tâm lý thể hiện qua một nền văn hóa chung:

Để làm nổi bật sự khác biệt về bản chất tâm lý của từng dân tộc, Stalin nêu ví dụ ba cộng đồng người Anh, Mỹ và Ái Nhĩ Lan. Mặc dù ba nhóm nói cùng thứ tiếng nhưng họ đã hình thành ba dân tộc với bản chất tâm lý đặc thù khác nhau rất nhiều. Theo ông, do điều kiện sinh tồn không giống nhau nên hình thái tinh thần của các nhóm dân không giống nhau. Bản chất tâm lý khó nắm bắt nhưng khi thể hiện qua nền văn hóa chung nó trở nên hữu hình và phải tính đến. Ông gọi yếu tố này "đặc tính dân tộc" và cho rằng đây là đặc tính cơ bản duy nhất của một dân tộc. Các yếu tố lãnh thổ, ngôn ngữ, kinh tế có thể được xem như điều kiện để phát triển dân tộc hơn là đặc tính.

Điểm khá mơ hồ trong lập luận Stalin là thang bậc của sự “khác”. Khác đến mức độ nào, ở phương diện văn hóa nào thì hai cộng đồng cùng ngôn ngữ trở thành hai dân tộc? Cư dân Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Trung Hoa lục địa có phải cùng một dân tộc? Đa số họ đều tự hào là người Hoa theo nghĩa sắc tộc-văn hóa, nhưng rất nhiều người không cảm thấy thuộc về dân tộc Trung Hoa, theo nghĩa hiện đại, lấy Bắc Kinh làm tâm điểm. Hơn nữa, ngăn cách lãnh thổ đến mức độ nào thì có thể nói hai đơn vị là riêng biệt? Nếu dễ thấy Singapore-Trung quốc thổ địa khác nhau thì eo biển Đài Loan khơi gợi ý nghĩa “khác” ra sao giữa hai bờ? Có lẽ xem ngăn cách ở bất kỳ mức độ nào cũng tạo nên tranh cãi cay đắng bất tận. Tác giả của “Chủ nghĩa Marx và vấn đề dân tộc” dự trù sự chủ quan của người quan sát nhưng lướt qua chủ quan của người trong cuộc. Ngoài quyền dân tộc tự quyết mang tính tập thể, thang bậc của sự “khác” phải do từng cá thể xác định. Nếu nghĩ bốn điều kiện khách quan quy định nhận thức thì e rằng quá vô tư. Trước đó, Ernest Renan đã xác định tầm quan trọng về ý thức đồng thuận; về sau, đa số học giả đều đặt nặng tính chủ quan này.

Stalin bàn về ngôn ngữ có nói rõ đó là ngôn ngữ được sử dụng bởi thường dân chứ không phải ngôn ngữ hành chính của nhà cầm quyền. Tương tự, nền văn hóa chung đề cập bên trên là loại văn hóa bất kỳ thành viên nào của cộng đồng cũng đều sở đắc, tức văn hóa đại chúng. Văn hóa đại chúng chỉ xuất hiện cùng lúc với chủ nghĩa tư bản. Đại Việt thế kỷ XV chỉ có văn hóa cung đình, văn hóa tôn giáo và văn hóa các địa phương chứ chưa hội đủ điều kiện kinh tế-xã hội cho một nền văn hóa chung như thế.

d. Thiếu hai yếu tố kinh tế-văn hóa chung, cư dân Đại Việt đầu đời Lê tồn tại ở mức ổn định nào?:

Stalin đưa ra hai dạng cộng đồng người không ổn định điển hình là thần dân đế quốc Ba Tư dưới quyền Cyrus the Great (600 – 530TCN) và thần dân đế quốc Hy Lạp dưới quyền Alexandre the Great (356 – 323TCN). Theo ông, những nhóm cư dân như thế, hình thành trong lịch sử chứ không chỉ là các chủng tộc hay bộ lạc tồn tại tự nhiên, được kết hợp bất ngờ và lỏng lẻo, tan hợp tùy theo thành công hay thất bại của các nhà chinh phục. Lãnh thổ hai đế quốc trải dài từ Địa trung hải đến thung lũng Indus bao gồm nhiều sắc dân, nhiều nền văn minh, nhiều ngôn ngữ nên kết nối giữa các cộng đồng dân cư hiển nhiên rất tức thời và tạm bợ. Ba Tư-Hy Lạp ôm vào lòng những trung tâm như Assyria, Indus… chẳng khác nào ôm ấp mầm mống phân hủy vì các giống dân tạm lệ thuộc đó thừa sức tự tổ chức quốc gia và tự cai trị.

Đại Việt may mắn chỉ có một trung tâm văn minh Hán Việt thời Lý Trần và một trung tâm văn minh Việt Hán sau đó. Người Kra-Dai còn chế độ bộ lạc, người trại chưa lập quốc riêng bao giờ. Các anh hùng trại như Ngô Quyền (Phúc Lộc châu), Đinh Bộ Lĩnh (Trường châu), Lê Hoàn (Ái châu) đều dựng nước bao gồm vùng bắc bộ. Tuy vậy, cộng đồng người Đại Việt lòng dạ phân tán. Dân trại từng muốn bỏ Lê Hoàn để thần phục Chiêm Thành, họ liên tục làm loạn vào đầu đời Lý, riêng Nghệ An-Tân Bình-Thuận Hóa hòa theo Chế Bồng Nga đánh phá nhà Trần. Ngược lại, tinh hoa kinh lộ hăng hái ủng hộ Minh truy diệt nhà Hồ, thản nhiên xin sáp nhập đất nước vào nội địa. Ở điểm này, người Việt tương tự người Georgia trước khi hình thành dân tộc qua ví dụ do Stalin đưa ra. Dân Georgia sống trong các lãnh địa cách biệt và các ông hoàng của họ thường mời gọi quân Thỗ hay Ba Tư hỗ trợ để đánh giết lẫn nhau.

Sau chiến thắng, cư dân Việt có độ gắn chặt tương đối cao hơn tập hợp thần dân đế quốc Ba Tư-Hy Lạp, hay dân xứ Georgia, nhưng chỉ mới đạt điều kiện sơ khởi cho trạng thái ổn định trong tương lai. Như vậy, đầu đời Lê, dân tộc Việt chưa hình thành theo tiêu chí Stalin.

Định nghĩa của Walker Connor (1926 – 2017): (107)

Dân tộc là nhóm người cùng chia xẻ một huyền thoại về tổ tông; đó là nhóm lớn nhất có thể động viên được bằng những lời kêu gọi dựa vào huyết thống.(108)

Liên quan đến chủ đề đang bàn, có thể trích dẫn vài ý kiến của Connor như sau:

– Dân tộc phát triển từ sắc tộc. Dân tộc hình thành không phải như sự cố hay sự kiện mà kinh qua một quá trình.
– Cảm thức về dân tộc chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
– Dân tộc là hiện tượng đại chúng, không gói gọn trong giới tinh hoa.
– Các thuật ngữ như sắc tộc, ethnic group; dân tộc, nation; quốc gia/nước, state; quốc gia-dân tộc, nation-state; quốc gia-đa dân tộc, multination-state….dễ bị dùng lẫn lộn. Ông minh định lại nội hàm của chúng và đặt thêm thuật ngữ chủ nghĩa dân tộc sắc tộc, ethnonationalism để nhấn mạnh quan niệm riêng.
– Cảm nhận về dữ kiện, thay vì bản thân dữ kiện, định hình thái độ và hành vi con người. Đa số thành viên của một dân tộc đều nghĩ rằng cộng đồng mình tồn tại vượt lên trên thời gian, tức xuất hiện từ xa xưa và sẽ thực hữu vĩnh viễn, nên họ suy nghĩ hay hành động theo niềm tin ấy.

Do gắn kết dân tộc vào căn cơ sắc tộc, Connor đôi khi bị xếp vào trường phái nguyên thủy, primordialist.(109) Tuy nhiên, dựa vào giả định rằng dân tộc chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Anthony David Smith xếp ông vào trường phái hiện đại hậu kỳ, late modernist.(110) Theo lập trường Connor, chưa thể có dân tộc Việt vào thời Nguyễn Trãi. Dẫu vậy, chúng ta vẫn cần đối chiếu định nghĩa về dân tộc của ông với thực tiễn cộng đồng Đại Việt lúc bấy giờ. Từ thế đứng khác nhau, luôn nhìn thấy những hình ảnh hấp dẫn khác nhau.

a. Dân tộc là nhóm người cùng chia xẻ một huyền thoại về tổ tông:

Như đã nói trong phần bàn về định nghĩa dân tộc của Ernest Renan, trong lòng Đại Việt tồn tại hai câu chuyện về vua tổ. Vua tổ gốc Tần hiện diện trong ghi chép thời Lý Trần như Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu hay An Nam chí lược của Lê Tắc. Vua tổ bản địa hiện diện trong các câu chuyện dân gian được phản ánh qua thơ Phạm Sư Mạnh, hay được ghi nhận trong tập hợp truyền thuyết-cổ tích Lĩnh Nam chích quái.(111) Đến thời Lê, Ngô Sĩ Liên biên tập, bổ sung, hệ thống hóa lời truyền xưa thành kỷ Hồng Bàng thị, kỷ nhà Thục trong Đại Việt sử ký toàn thư. Thay vì lần theo Triệu Đà để đến một khởi điểm cụ thể đâu đó tại Trung Nguyên, Sĩ Liên dẫn dắt dòng dõi vua tổ bản địa Hùng vương quanh co đến địa chỉ Thần Nông khá mơ hồ. Tuy quy cùng nòi giống nhưng vai trò huynh đệ với phương Bắc tượng trưng ước vọng bình đẳng và hài hòa hơn là thể hiện nguồn cội Hoa Hạ. Sử gia họ Ngô thừa biết người Minh xem dân An Nam chỉ là Man, chẳng phải anh em.

Connor phân biệt cẩn thận chủ nghĩa yêu nước, patriotism và chủ nghĩa dân tộc, nationalism. Người yêu nước trung thành với quốc gia(112) và các định chế của nó, người theo chủ nghĩa dân tộc trung thành với cộng đồng mà họ tự xem mình thuộc về. Nếu Đại Cáo kêu gọi lòng yêu đế quốc Đại Việt(113) thì Toàn Thư chính thức hóa huyền thoại tổ tông nhằm cung cấp cho nhóm cư dân chứa chất chia rẽ-hận thù một điểm tựa để tương ái. Có lẽ Lê Lợi nghiền ngẫm nhiều về sự đổ vỡ chóng vánh của đồng bằng sông Hồng và tinh thần bất hợp tác dai dẳng của giới ưu tú. Ông cùng hậu duệ tiến hành cuộc tâm công trường kỳ hướng về một quốc gia đoàn kết nội tại để ổn định lâu dài. Trước Connor hơn năm trăm năm, Lê Lợi đã hiểu động lực thúc đẩy hành vi sinh ra từ cảm nhận về dữ kiện, thay vì từ bản thân dữ kiện. Huyền thoại chuyển thành sự thật khi mọi người tin rằng nó có thật. Tiếc rằng thời đó giao thông, truyền thông còn quá thô sơ nên các vua Lê dù năng lực chính trị phi thường vẫn không hoàn toàn đạt được điều mong muốn.

b. Dân tộc là nhóm lớn nhất có thể động viên được bằng những lời kêu gọi dựa vào huyết thống:

Bàn về vai trò đại chúng trong quá trình hình thành dân tộc, Connor nói:

“Điểm nổi bật là, với Napoleon và lệnh tổng động viên, chúng ta có được dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ ý thức dân tộc không còn thu hẹp trong giới quyền quý hay các phần tử tinh hoa khác”.(114)

Và:

“Trong vài xã hội, lịch sử quyền bầu cử cũng đưa ra gợi ý về thời điểm dân tộc xuất hiện”(113) hoặc “….việc từ chối cho phép nhiều bộ phận lớn dân chúng tham gia tiến trình chính trị có thể xem như tương đương với việc tuyên bố những người chưa có quyền bầu cử không phải là thành viên dân tộc”.(116)

Theo Anthony Smith, ý nghĩ thứ hai bên trên quá cấp tiến. Nó khiến người ta phải nghĩ rằng chẳng dân tộc nào hiện hữu trước đầu thế kỷ XX vì trong tuyệt đại đa số trường hợp, phụ nữ chỉ được quyền bầu cử sau thế chiến thứ nhất. Như vậy Connor đã hòa trộn cảm giác thuộc về (dân tộc nào đó)(117) với hành vi tham gia chính trị và quyền bầu cử đồng thời chống lại quan sát của chính ông về nhiều giai đoạn dẫn đến sự nổi lên của dân tộc. Đáp lại, Connor giải thích rằng ông chẳng thú vị gì với qui mô tham gia chính trị mà chỉ chú ý đến việc hạn chế quyền dân chủ cơ bản vào giới ưu tú, vốn chỉ chiếm 2% dân số trước năm 1836. Ông khuyên Smith nên sử dụng dữ liệu về quyền bầu cử như biểu thị chứng minh dân tộc Anh chưa ra đời vào đầu thế kỷ XIX vì nó phù hợp với yếu tố “quyền và nghĩa vụ cộng đồng” vốn cấu thành định nghĩa dân tộc xây dựng bởi chính Smith.

Qua lời đáp khôi hài kiểu Anglo-Saxon, chúng ta thấy cảm hứng về tính đại chúng để Connor viết ra câu thứ hai trong định nghĩa đến từ lệnh tổng động viên của Hội nghị Dân tộc Pháp(118) ban hành vào tháng tháng 8 năm 1793. Theo “levée en mass”, thanh niên lành lặn từ 18 đến 25 tuổi được yêu cầu cầm vũ khí chống lại liên minh Áo, Phổ, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan thuộc Áo, Bồ Đào Nha…. vì chúa các xứ này muốn thanh lý cách mạng Pháp nhằm phục hồi nền quân chủ. Trai trẻ tòng quân không chiến đấu để bảo vệ vương triều, vua Louis XVI đã bị chặt đầu hồi tháng giêng, mà để bảo vệ chủ thể mới lạ: dân tộc Pháp.

Trước đe dọa ngoại xâm, những người có trách nhiệm, hoặc tự thấy mình có trách nhiệm, đã động viên dân Đại Việt như thế nào? Có dựa vào huyết thống? Dù tư liệu Việt còn lại khó so sánh về độ phong phú với sử Tây nhưng cũng đủ cho biết nét chính tâm lý đương thời. Khi Nguyên Mông chuẩn bị xâm lược lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn phát hịch đến tướng hiệu dưới trướng, nêu ra nhiều gương tuẫn quốc của danh nhân Trung Hoa mà ông gọi là trung thần nghĩa sĩ, rồi động viên họ như sau:

– Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy.
– Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia-quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng.(119)

Tóm lại, Quốc Tuấn đã dùng những quyền lợi sau đây, có trước và sau chiến đấu, để kích thích tinh thần thuộc hạ:

– Được cấp đủ cơm ăn áo mặc, phương tiện đi lại.
– Được đối xử trọng thị, quan tâm đến chức tước.
– Được bổng lộc lâu dài, hạnh phúc cạnh vợ con, bảo toàn mồ mả tổ tiên.
– Được trọn vẹn danh tiếng con nhà võ.

Với yêu cầu cụ thể:

– Giữ vững đạo làm người theo tiêu chuẩn trung nghĩa: sẵn lòng hi sinh để bảo vệ chủ và quyền lợi của chủ.

Tỳ tướng của tác giả gồm những người có vườn ruộng, giải trí bằng chọi gà, cờ bạc, săn bắn, âm nhạc; họ thuộc tầng lớp tinh hoa quân sự khá giả, được hầu quốc khách trong hoàng cung. Như vậy lời kêu gọi bởi Hưng Đạo vương chỉ dựa trên nghĩa vụ và quyền lợi liên thuộc ở thượng tầng.

Thời Minh thuộc, mùa hạ năm 1427, phe Lam Sơn xao xác bởi thông tin Liễu Thăng đang hội quân bên kia ải Pha Lũy. Trước đó, Lê Lợi đã giết gần mười ngàn tù binh mưu phản đồng thời đưa bọn quan lại nhà Minh đầu hàng rời khỏi đồng bằng vào nam. Ông tỏ vẻ bất an, liên tục gửi nhiều lệnh dụ đến quân đội, hào kiệt và nhân dân. Dụ gửi đến mười bốn vệ Thiết Đột như sau:

Có thể đồng lòng liều chết đánh tan quân giặc là sức của các ngươi, còn xếp đặt lo toan, áo cơm khen thưởng là do ở ta. Bọn các ngươi chớ ngại khó nhọc, chớ lo nghèo túng. Bao giờ thấy vợ con ta nghèo túng thì vợ con các ngươi mới nghèo túng. Mong các ngươi một lòng đánh giặc, chớ nảy lo phiền (Toàn Thư II, 287).(120)

Lệnh cho tướng hiệu quân nhân các xứ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa như sau:

Ta khởi binh ở đất các ngươi, đã gần thành công. Mong các ngươi trước sau một lòng, vàng đá một tiết, để trọn nghĩa vua tôi, cha con. Ta biết các ngươi đều là hiền sĩ của đất nước. Trước kia, Hưng Khánh, Trùng Quang chỉ có tiếng hão, không nên công gì là bởi chính lệnh không thống nhất, đại thần không được biết gì. Bọn các ngươi chỉ uổng phí sức lực cho họ thôi. Nay thiên hạ về một mối, ta cùng các ngươi như nghĩa cha con, mong các ngươi dốc lòng khôi phục lãnh thổ nước nhà. Từ xưa các tướng văn tướng võ được phong hầu cũng chỉ như các ngươi thôi, có khác gì đâu. Các ngươi hãy chỉnh đốn đội ngũ của mình, luyện tập quân sĩ của mình, sau khi dẹp yên bọn giặc tàn bạo, sẽ chia một nửa số người về làm ruộng (Toàn Thư II, 288).(121)

Lệnh chung cho tướng và quân nhân:

Giặc Minh tàn hại dân ta đã hơn hai chục năm. Buổi đầu số quân của ta có mấy trăm người. Hiện nay có 35 vạn. Đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về nhà làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để đề phòng việc nước. Một nhà 3 người thì 1 người làm quân, mọi loại phú dịch đều tha cho 3 năm (Toàn Thư II, 288).(122)

Cách Lê Lợi động viên quân đội làm ba lượt giúp ta phân biệt vai vế của từng nhóm binh lính trong chiến tranh. Quân Thiết Đột gốc Thanh Hóa dày dạn nhất có thể ví như lực lượng tổng trừ bị chuyên trách mặt trận khó khăn; kế đến là đội thiện chiến quê Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa có thể ví như quân chủ lực, vua dự kiến cho họ phục viên một nửa khi kết thúc kháng chiến; sau cùng là toàn quân, mà phần lớn là đinh tráng tuyển từ các nơi khi Lam Sơn xuống đồng bằng, đa số sẽ được giải ngũ khi hòa bình trở lại. Quyền lợi Thiết Đột gắn chặt quyền lợi gia đình Lê Lợi nên an ủi từ nhà vua chân tình đến mức không thể chân tình hơn, ông xác định luôn đồng cam cộng khổ với họ. Quyền lợi quân trại gồm tước hầu hoặc ruộng đất, phần thưởng cực hấp dẫn đối với lớp “manh lệ” tay trắng theo vua từ sớm. Quyền lợi quân nhân bình thường nói chung gồm ruộng đất hoặc ưu đãi miễn sưu thuế trong ba năm.(123)

Dụ các hào kiệt trong nước:

Các thành đã phá được cả rồi, chỉ còn thành Đông Quan chưa hạ được. Ta vì thế mà nằm không yên chiếu, ăn không ngon miệng, sớm khuya suy nghĩ, khô héo ruột gan. Thế mà bên cạnh ta, vẫn chưa có được người giúp đỡ. Ta tuy là chủ tướng, nhưng xét lại bản thân mình một là già ốm, bất tài, hai là học thức nông cạn, ba là trách nhiệm nặng nề khó bề kham nổi, mà các đại thần như tả, hữu tướng quốc, thái phó, thái bảo vẫn chưa đặt, thái uý, đô nguyên soái vẫn còn khuyết, hành khiển và các quan, mười phần mới được một, hai phần. Cho nên, ta nhún mình thành thực khuyên bảo các hào kiệt cùng nhau dốc sức, cứu giúp muôn dân, chớ có mai danh ẩn tích, để thiên hạ phải lầm than mãi mãi (Toàn Thư II, 289).(124)

Quyền lợi dành cho hào kiệt gồm các hạng chức vụ, kể cả vài chức cao hết bậc. Vua không đề cập “quy nông”, vậy có thể suy diễn hào kiệt vốn sở hữu ruộng đất hay tài sản lớn nên mang tâm lý chuộng danh. Bình Định vương hào phóng ban phát danh phận dù bên cạnh đã có những Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Phạm Vấn, Lê Sát, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn… Một tâm lý sốt ruột bất thường. Phải chăng ông đang giành giật nhóm trung, thượng lưu kinh lộ về phía mình vì sợ họ đảo chiều khi quân Minh chiếm ưu thế? Cần nhấn mạnh rằng các lệnh dụ được ban ra giữa quãng thời gian bức bối chờ đối đầu với viện binh phương bắc. Động lực Lê Lợi sử dụng để thúc đẩy mọi người hi sinh hay cộng tác không thay đổi mấy so với thời Trần Quốc Tuấn nếu không muốn nói nó thiết thân hơn nhiều. Dù “manh lệ” cũng được giáo dục tinh thần trung nghĩa, sẵn sàng chết cho bậc trưởng, nhưng xem ra chất thượng võ quý phái của tướng hiệu tiền triều là xa xỉ. Ở đây trọng lượng lời lẽ úy lạo đặt ở danh hoặc lợi, “liều lượng” và “tính chất” của danh-lợi khác nhau đối với những nhóm người có đóng góp khác nhau, đáng suy nghĩ là cũng trùng hợp với các địa phương khác nhau.

Đến nửa sau thế kỷ XIX, khi chánh sứ Phan Thanh Giản (1796 – 1867) trở về từ châu Âu, ta thấy ông dùng từ ghép “đồng bang” vượt tầm địa phương để thức tỉnh người Đại Nam. Về sau nữa, những nhà cách mạng như Tăng Bạt Hổ (1858 – 1906) hay Phan Bội Châu (1867 – 1940) mới nói đến Lạc Long, Lạc Hồng…gợi ý toàn dân Việt đều cùng chung huyết thống.

Định nghĩa của Ernest André Gellner (1925 – 1995)(125)

Thực ra, các dân tộc, cũng như các nhà nước, là sự kiện bất ngờ, chứ không phải là sự kiện tất yếu phổ biến. Không dân tộc hay nhà nước nào tồn tại vào mọi thời điểm, trong mọi trường hợp. Hơn nữa, các dân tộc và các nhà nước không phải là sự kiện bất ngờ giống nhau. Chủ nghĩa dân tộc tin rằng chúng được dành riêng cho nhau; rằng cái này thiếu cái kia sẽ không toàn vẹn, và sẽ tạo nên bi kịch. Nhưng trước khi trở thành dự định dành cho nhau, mỗi yếu tố phải nổi lên, và sự nổi lên của chúng phải độc lập và ngẫu nhiên. Nhà nước chắc chắn đã nổi lên không nhờ vào sự trợ giúp của dân tộc. Vài dân tộc đã nổi lên chắc chắn không nhờ vào sự chấp thuận từ nhà nước của họ. Điều đáng tranh luận hơn là có phải ý tưởng chuẩn mực về dân tộc, trong nghĩa hiện đại của nó, đã không hàm ý sự tồn tại trước đó của nhà nước.

Khi đó, ý tưởng ngẫu nhiên, nhưng dường như phổ quát và chuẩn mực trong thời chúng ta, về dân tộc là gì? Thảo luận về hai định nghĩa thay thế, tạm thời sẽ giúp xác định chính xác khái niệm khó nắm bắt này.

1. Hai người chỉ cùng dân tộc nếu và chỉ nếu họ chia xẻ cùng nền văn hóa, ở đó văn hóa lần lượt có nghĩa là một hệ thống các ý tưởng, các ký hiệu, các kết hợp, các phương thức ứng xử và giao tiếp.
2. Hai người cùng dân tộc nếu và chỉ nếu họ nhìn nhận nhau thuộc về một dân tộc. Nói cách khác,
các dân tộc làm nên con người; các dân tộc là những tạo tác làm bằng niềm tin, lòng trung thành và sự đoàn kết của con người. Một nhóm người (ví dụ như cư dân một lãnh thổ nhất định, hay người nói một ngôn ngữ nhất định) chỉ trở thành dân tộc nếu và khi các thành viên trong nhóm nhìn nhận dứt khoát về một số nghĩa vụ và quyền lợi chung của từng người với tư cách thành viên tham gia cộng đồng. Sự nhìn nhận lẫn nhau là đồng chí như thế, chứ không phải bất kỳ thuộc tính được chia xẻ nào khác, biến họ thành một dân tộc, khái niệm phân tách họ với số người không phải là thành viên.

Mỗi cách định nghĩa tạm thời, (dựa vào) văn hóa và ý chí, đóng góp một phần giá trị. Mỗi định nghĩa chọn ra một yếu tố quan trọng thực sự trong việc tìm hiểu chủ nghĩa dân tộc. Nhưng không cách nào đầy đủ. Các định nghĩa dựa vào văn hóa, hàm ý trong định nghĩa thứ nhất, mang nghĩa nhân học hơn là nghĩa chuẩn tắc, hết sức khó khăn và không thỏa mãn. Có lẽ tốt nhất là tiếp cận vấn đề bằng cách định danh này mà không cố gắng quá nhiều theo hướng định nghĩa chính thức đồng thời xem xét những gì văn hóa làm được.(126)

Gellner quan niệm xã hội loài người kinh qua ba giai đoạn phát triển: săn bắt-hái lượm, nông nghiệp và công nghiệp. Theo ông, dân tộc là phó sản của quá trình chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Với quan điểm như thế thì dân tộc chưa đủ điều kiện để hình thành tại Đại Việt vào đầu thế kỷ XV. Tuy nhiên, cần tìm hiểu nội dung thuật ngữ “văn hóa” của Gellner nhằm hiểu rõ hơn định nghĩa bên trên.

Về văn hóa và quyền lực trong xã hội nông nghiệp, ông đưa ra sơ đồ cấu trúc xã hội để minh họa như sau:

Gellner-SoDoCauTrucXH

Trích Ernest Gellner, Nations and Nationalism,
Cornell University Press (2008), trang 10

Nghĩa phần ghi chú tiếng Anh phía trên, bên phải sơ đồ: Giai cấp thống trị hình thành những lớp phân tầng nằm ngang tách biệt nhau, gồm giới quân sự, quản trị, tăng lữ (hay trí thức) và đôi khi là thương gia.
Nghĩa phần ghi chú tiếng Anh phía dưới, bên phải sơ đồ: Các cộng đồng người sản xuất nông phẩm cách ly nhau theo chiều bên.
Nghĩa phần ghi chú sơ đồ: Hình thức chung về cấu trúc xã hội của các xã hội nông nghiệp.

Xin tóm lược giải thích của Gellner như sau:

Trong xã hội nông nghiệp có chữ viết,(127) giai cấp thống trị hình thành một nhóm nhỏ cách biệt hẳn với đại đa số trực tiếp làm ra nông sản, tức nông dân. Bên trong nhóm thống trị lại chia thành nhiều tầng lớp như võ sĩ, tăng lữ, trí thức, nhà quản trị, thị dân. Hệ thống này ủng hộ sự phân tách hơn là sự thuần nhất về văn hóa; lằn ranh văn hóa theo chiều ngang ngăn cách không chỉ giữa nhóm cai trị và khối bị trị mà còn giữa các tầng lớp bên trong nhóm cai trị. Nếu lằn ranh này chưa có trong thực tế hệ thống sẽ tạo ra và củng cố nó. Phân biệt về văn hóa hay huyết thống thực ra là sự phân thành tầng lớp theo chức năng của từng nhóm người trong xã hội. Bên dưới nhóm thiểu số cai trị phân tầng nội tại theo chiều ngang là nhiều cộng đồng bình dân nhỏ phân cách nhau theo chiều bên.(128) Nông dân bản làng sống hướng nội, gắn chặt với địa phương bởi nhu cầu kinh tế nếu không phải bởi quy định nhà nước. Dẫu cư dân vùng nào đó bắt đầu hình thành từ cơ sở đồng ngôn ngữ, việc chuyển dịch văn hóa cũng sẽ xảy ra tạo nên phương ngữ và nhiều dị biệt khác. Hầu như không một ai chú ý đến việc khuyến khích sự đồng nhất văn hóa ở tầng nấc xã hội này. Nhà nước chủ yếu quan tâm việc thu thuế và giữ gìn trật tự thay vì cổ vũ tương tác giữa các cộng đồng thần dân.

Giới trí thức hay tăng lữ, ở mức độ nào đó, cũng muốn áp đặt một số tiêu chuẩn văn hóa của họ lên đa số. Tuy nhiên, xã hội nông nghiệp thiếu phương tiện để xây dựng nền giáo dục đủ sức đào tạo lượng lớn người biết đọc-viết, điều kiện cần thiết để hội nhập vào nền văn hóa cao hơn. Trong thực tế, giai cấp đặc quyền càng có lợi nếu sự khác biệt được nhấn mạnh. Ngôn ngữ lễ nghi rất khác ngôn ngữ bình dân. Thậm chí việc biết chữ dường như cũng chưa đủ tạo nên hàng rào giữa trí thức tăng lữ và tầng lớp dưới. Trí thức sử dụng loại chữ tầng lớp dưới không đọc được, mà phát âm lên cũng không hiểu được. Chính chữ viết tạo ra hố ngăn cách giữa truyền thống lớn và truyền thống nhỏ, tức giữa văn hóa tinh hoa và văn hóa bình dân.

Tóm lại, văn hóa có xu hướng bị đóng dấu theo chiều ngang thể hiện qua các đẳng cấp xã hội và theo chiều dọc để định nghĩa các cộng đồng nông thôn nhỏ bé. Song hành với cấu trúc văn hóa đó là một dạng thực thể chính trị hợp nhất hai yếu tố cấu tạo đặc trưng: quyền lực trung tâm cùng tồn tại với các đơn vị bán tự trị địa phương. Đặc điểm quan trọng của thực thể này là biên giới chính trị hoàn toàn khác biệt với biên giới văn hóa.

Chúng ta thấy phần nào phóng ảnh sơ đồ Gellner tại Đại Việt qua hoạt động của hoàng đế Trần Nhân tông và Bình Định vương Lê Lợi. Năm Thiệu Bảo IV (1282), khi nghe tin Toa Đô và sau đó là Thoát Hoan chuẩn bị nam chinh, hai vua Trần ngoài việc kiện toàn quân đội còn tiến hành những thao tác để động viên toàn quốc:

– Sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn đuổi cá sấu ở sông Lô.
– Hội vương hầu và trăm quan tại Bình Than bàn kế sách công thủ, chia nhau đóng giữ nơi hiểm yếu.
– Họp phụ lão ở thềm điện Diên Hồng hỏi kế đánh giặc.

Thao tác đầu tiên nhằm tác động đến đại đa số người dân mù chữ trong vương quốc như chúng tôi từng diễn giải qua bài viết “Hợp tác với quân Minh: Người Kinh Lộ”. Nguyễn Thuyên không chê bai, dèm pha, cạnh tranh với các thầy mo nơi thôn xóm, phản ứng bình thường của giới trí thức tăng lữ đối với nền văn hóa thấp như Gellner nhận định. Nguyễn Thuyên thay luôn công việc của họ. Ông chồng truyền thống nhỏ lên truyền thống lớn để biến nhà vua thành phù thủy cấp quốc gia, tạo nên hào quang huyền ảo quanh triều đình nhà Trần. Cá sấu (ngạc) là tượng trưng của “kình ngạc” tức giặc dữ. Đủ sức xua đuổi sấu thần thì giặc người hẳn chưa phải vấn đề nan giải. Thao tác thứ hai nhằm củng cố kết nối giữa các tầng lớp trong nhóm thiểu số cai trị, là ba phần nằm ngang trong sơ đồ xã hội nông nghiệp bên trên. Thao tác thứ ba tìm kiếm ủng hộ từ tập hợp thủ lĩnh của những cộng đồng bán tự trị hay tự trị, là các phần dọc trong sơ đồ. Nhân tông – Thánh tông đã làm mọi việc phải làm của dạng chính trị gia dầy kinh nghiệm.

Hoạt động của Lê Lợi trước đe dọa từ Liễu Thăng vừa được đề cập trong phần bàn về định nghĩa dân tộc bởi Walker Connor. Về đối tượng hướng đến, chúng ta có thể so sánh đạo dụ gửi dân chúng với thao tác đuổi cá sấu, dụ gửi hào kiệt với hội nghị Bình Than, dụ gửi các đơn vị quân đội với hội nghị Diên Hồng. Đặc biệt, nhờ các đạo dụ gửi quân nhân cùng vài tư liệu khác, chúng ta biết được Bình Định vương tổ chức các đơn vị theo quê quán của binh lính. Ngoài quân Thiết Đột (Thanh Hóa), quân Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa; chúng ta còn biết quân Lạng Giang, Khoái châu (tham gia vây thành Xương Giang), quân Dực Thánh, Thiên Trường (quê họ Trần). Tổ chức như thế phơi bày sự phân cách văn hóa giữa các địa phương theo chiều bên. Trai tráng lớn lên sau lũy tre chiến đấu ăn ý, hiệu quả hơn trong đội ngũ gồm những thành viên văn hóa tương đồng. Thời điểm đó, văn hóa giữa các phủ lộ chưa tương đồng đến mức người lãnh đạo có thể thoải mái kết hợp nhân lực từ nhiều nguồn vào một đơn vị quân sự hay kinh tế như trong xã hội công nghiệp.(129)

Về ngăn cách văn hóa giữa các đẳng cấp thuộc tầng lớp trên, có thể tham khảo thái độ của Trần Minh tông, Trần Nghệ tông, Lê Thánh tông đối với nho thần. Các vua Trần bài bác đề nghị mô phỏng Trung quốc quá đà của học trò mặt trắng. Vua Lê Thánh tông mắng Ngô Sĩ Liên, Nghiên Nhân Thọ rất nặng về tội xem ông là vương chứ không phải đế, lại bắt chước Thái công nhà Hán tiểu tiện vào mũ của bọn hủ nho Thông, Dụ, Sở, Tài (Toàn Thư II, 474). Hoàng tộc Trần theo đạo Phật, trí thức đa phần theo Nho. Hoàng tộc Lê xem Nho giáo như khuôn khổ làm việc, nho sĩ lại xem là mục đích. Nương theo Gellner, có thể nói rằng giới cai trị và trí thức thể hiện văn hóa cách biệt nhau do chức năng xã hội của họ khác nhau. Hố ngăn cách văn hóa càng sâu giữa môn đệ Trình Chu và võ tướng. Khoan bàn đến sự nhìn nhận lẫn nhau, riêng tập hợp cư dân thuộc về thực thể mà ranh giới chính trị không trùng khớp với ranh giới văn hóa như thế đã thiếu căn cơ để gọi là dân tộc.

Văn hóa trong định nghĩa về dân tộc được Gellner đặt tên “Văn Hóa Cao Phổ Quát”. Theo ông, đây là điều kiện mang tính chức năng tiên quyết của xã hội công nghiệp. Khi cách mạng kỹ nghệ nổ ra, việc làm phát sinh ở đô thị cuốn nông dân khỏi thôn làng. Thay vì được dạy nghề theo lối gia truyền hay phường hội, lao động kiểu mới cần thụ hưởng nền giáo dục sao cho họ cơ động hơn, đủ sức tiếp nhận hướng dẫn hay rèn tập kỹ năng để thích nghi công việc luôn thay đổi. Họ phải tiếp xúc nhiều người xa lạ bằng lời nói rõ ràng, tách rời bối cảnh; hoặc bằng văn bản trung tính dạng “kính gửi các bên liên quan”. Nền tảng giao tiếp phải là một ngôn ngữ-văn tự quy chuẩn.(130) Hệ thống giáo dục mới phổ quát hóa việc biết chữ và trình độ cao về sự phức tạp trong tính toán, kỹ thuật… ở quy mô lớn. Nói chung, nhóm khách hàng của giáo dục đã mang cùng chiều kích với xã hội. Cương thổ văn hóa của họ chính là cương thổ của thế giới họ đang sống. Người hiện đại không trung thành với triều đại, quê hương, hay niềm tin; họ trung thành với một nền văn hóa, loại văn hóa được truyền bá bằng hệ thống trường ốc thay vì bằng hệ thống truyền miệng dân gian.

Xếp đặt, vận hành, duy trì hệ thống giáo dục phổ cập là gánh nặng mà bất kỳ tổ chức nào, kể cả các tập đoàn với căn bản tài chính hùng mạnh, cũng không kham nổi. Đảm đương giáo dục phải là nhiệm vụ của định chế lớn nhất: nhà nước. Giáo dục đã mất tính áp đặt, nó chấm dứt vai trò trang trí hay chuẩn nhận trật tự đẳng cấp và trở thành bầu khí quyển chia xẻ bởi tất cả thành viên trong xã hội nơi họ có thể hô hấp, tồn tại và sản xuất; nói cách khác, giáo dục tạo nên nền văn hóa thuần nhất. Văn hóa mới, hơn nữa là văn hóa cao (có chữ viết, duy trì đào tạo liên tục), vượt khỏi nền văn hóa nhỏ đa dạng, mang tính truyền khẩu, gắn bó địa phương. Thời con người được đúc nên bởi làng xóm hay gia tộc vĩnh viễn trôi qua; giáo dục toàn diện, tức sản xuất và tái sản xuất con người bên ngoài môi trường bản địa thân thiết, đã trở thành quy tắc. Tính cấp bách của giáo dục toàn diện là đầu mối chính để giải thích sự liên kết giữa nhà nước và văn hóa thời hiện đại, mối liên kết vốn mong manh, ngẫu nhiên, thay đổi, lỏng lẻo và tối thiểu trong quá khứ.(131)

Lập luận trên dẫn đến định nghĩa chủ nghĩa dân tộc như sau: Chủ nghĩa dân tộc trước hết là một nguyên lý chính trị, nó xác tín rằng đơn vị chính trị và đơn vị dân tộc cần phải tương hợp.(132) Định nghĩa chủ nghĩa dân tộc của Gellner khơi gợi nhiều suy nghĩ về Lê Lợi, nhà chính trị hiếm có trong lịch sử người Việt. Tuy nhiên, để không rời chủ đề của tiểu mục, xin được quan sát vua Lê từ góc cạnh này ở phần sau.

 

__________________________________________

Chú thích (phần III, kỳ 5):

(97) Ernest Renan: Học giả Pháp, chuyên về lịch sử tôn giáo, chính trị học và thần học. Định nghĩa về dân tộc trích dẫn trong bài được lấy từ tiểu luận “Qu’est-ce qu’une nation?”  đọc tại đại học Sorbonne vào ngày 11 tháng 3 năm 1882. Ông ủng hộ quyền dân tộc tự quyết nhưng tin rằng có tôn ti trật tự giữa các dân tộc; theo ông, dân tộc Pháp ưu việt hơn các dân tộc châu Phi nên sự bành trướng của Đệ tam Cộng hòa Pháp (1870 – 1940) là chấp nhận được. Cũng nên nói thêm, tinh thần kỳ thị chủng tộc rõ rệt nhưng Renan lại dành sự trân trọng rất lý tính cho một trí thức Việt là Trương Vĩnh Ký. Trong báo cáo công việc thường niên (1879 – 1880) của Hội Á châu, Thư ký Renan nhắc đến quyển Giáo trình Lịch sử An Nam, Cours d’ Histoire Annamite như sau: Ông Trương Vĩnh Ký trình bày cho chúng ta một cách rõ ràng tư tưởng của người An Nam đối với lịch sử nước mình. Chúng ta kinh ngạc thấy trong tập sách nhỏ của ông một tinh thần minh bạch, một sự công minh hiếm thấy ở Á Đông. Nhiều quốc gia Âu Châu không viết được cho các trường tiểu học của mình một quyển tóm lược hoàn hảo như quyển sách của Trương Vĩnh Ký. (theo bản dịch trong bài ‘Hành trình nhận thức về một nhân vật lịch sử: Petrus Trương Vĩnh Ký’ của Trần Thạnh). Nguyên văn: M. Truong-Vinh-Ky nous présente avec clarté des idées que les Annamites se forment sur leur propre histoire. On est frappé de trouver dans son petit livre une netteté d’esprit, une impartialité qui n’ont rien d’asiatique. Beaucoup de nations Européennes n’ont pas pour leure écoles primaires un aussi bon précis que celui de M. Truong-Vinh-Ky. Bản gốc số hóa https://bit.ly/2VAEgNd.
(98) Xem Ernest Renan, What is a Nation?(1882) Bản điện tử: https://bit.ly/2E9pZSf. Tiếng Anh: A nation is a soul, a spiritual principle. Two things, which in truth are but one, constitute this soul or spiritual principle. One lies in the past, one in the present. One is the possession in common of a rich legacy of memories; the other is present-day consent, the desire to live together, the will to perpetuate the value of the heritage that one has received in an undivided form.
(99) Tiếng Anh: A nation is therefore a large-scale solidarity, constituted by the feeling of the sacrifices that one has made in the past and of those that one is prepared to make in the future. It presupposes a past; it is summarized, however, in the present by a tangible fact, namely, consent, the clearly expressed desire to continue a common life. A nation’s existence is, if you will pardon the metaphor, a daily plebiscite, just as an individual’s existence is a perpetual affirmation of life.
(100) Tiếng Anh: Man is a slave neither of his race nor his language, nor of his religion, nor of the course of rivers nor of the direction taken by mountain chains. A large aggregate of men, healthy in mind and warm of heart, creates the kind of moral conscience which we call a nation. So long as this moral consciousness gives proof of its strength by the sacrifices which demand the abdication of the individual to the advantage of the community, it is legitimate and has the right to exist.
(101) Nguyên văn: “至陳太宗始命學士黎文休重修自趙武帝以下至李招皇初年, chí trần thái tông thủy mệnh học sĩ lê văn hưu trùng tu tự triệu vũ đế dĩ hạ chí lý chiêu hoàng sơ niên”, Đến đời Trần Thái Tông mới sai học sĩ Lê Văn Hưu soạn lại từ Triệu Vũ Đế trở xuống đến năm đầu Lý Chiêu Hoàng.
(102) Xem Lê Tắc, An Nam chí lược, bản dịch Viện Đại học Huế, Nxb Thuận Hóa (tái bản 2015), trang 61, 242-244.
(103)Xem Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường, Nxb TPHCM (tái bản 1993), trang 3. Bản điện tử của Công Đệ – Lê Bắc (2001), http://bit.ly/2UOJlB0.
(104) Xem Viện Văn học (biên tập), Thơ văn Lý – Trần tập III, Hành quận, Nxb KHXH (Hà Nội 1978), trang 99 – 100.
(105) Xem Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, bản dịch Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San, Nxb Trẻ (tái bản 2016), trang 33 – 41.
(106) Xem Joseph Stalin, Marxism and the National Question, bản điện tử: https://bit.ly/2DRFiOw. Tiếng Anh: A nation is a historically constituted, stable community of people, formed on the basis of a common language, territory, economic life, and psychological make-up manifested in a common culture.
(107) Walker Connor là Giáo sư Thỉnh giảng Xuất sắc của khoa Khoa học Chính trị, đại học Middlebury College, Hoa Kỳ. Ông từng giảng dạy tại Oxford University, Salzburg University, Cambridge University, Lafayette College, University of Alaska, University of Arizona, the London School of Economics, Central European University, Pomona College, Dartmouth College….. Connor được xem như một trong những người đặt nền tảng cho phương pháp nghiên cứu liên ngành về chủ nghĩa dân tộc. Ông còn tham gia ban biên tập của nhiều tạp chí học thuật tiếng tăm như World Affairs, Canadian Review of Studies in Nationalism và Journal of Asian Affairs. Hai tác phẩm được biết đến nhiều nhất của Connor là “The National Question in Marxist-Leninist Theory and Strategy”, Vấn đề Dân tộc trong Lý thuyết và Chiến lược Marxist-Leninist (1984) và “Ethnonationalism: Quest for Understanding”, Chủ nghĩa dân tộc-sắc tộc: Tìm tòi để Hiểu biết (1994).
(108) Xem Walker Connor, The Timelessness of Nations, Nations and Nationalism 10 (1/2), 2004, trang 39. Bản điện tử https://bit.ly/2KslS3Z. Nguyên văn: A group of people sharing a myth of common ancestry; it is the largest grouping that can be mobilized by appeals to common blood.
(109) Phân loại bởi Leonhardt van Hefferink qua bài viết Nation, nationalism and state – Modernism, Ethno-Symbolism, Primordialism. Bản điện tử https://bit.ly/2PSCyaS.
(110) Walker Connor chế nhạo kiểu chia học thuật thành hai trường phái, nguyên thủy và hiện đại, dựa vào quan niệm của tác giả về thời điểm dân tộc ra đời. Ông bảo cách chia như thế chứng tỏ người phân loại không hiểu rằng theo quan điểm lịch sử khách quan, dân tộc ngày nay là một sinh thể hiện đại; nhưng theo cảm nhận phổ biến, dân tộc không có tuổi. Chính cảm nhận mới dẫn dắt thái độ, hành xử và điểm quan trọng này đã bị bỏ qua.
(111) Xem Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San (1960) chú dịch, Nxb Trẻ – Hồng Bàng (tái bản 2016), trang 33 – 41.
(112) Connor đề nghị diễn đạt “patriotism”, chủ nghĩa yêu nước tức sự hiến dâng cho “quốc gia và các định chế của nó” bằng các thuật ngữ “civil loyalty”, trung thành dân sự hay “civil identity”, bản sắc dân sự thay vì bằng thuật ngữ “civic nationalism”, chủ nghĩa dân tộc dân sự.
(113) Tại Đại Việt năm 1428, có thể nói “quốc gia và các định chế của nó” chính là Lê Lợi và triều đình. Yêu nước thời điểm đó đồng nghĩa với lòng trung quân mà đỉnh cao là tinh thần sẵn sàng hi sinh vì nhà vua. Bởi thế, nên cẩn trọng nếu luận về chủ nghĩa yêu nước trong chiều dài lịch sử. “Nước” từng thuộc diện tài sản cá nhân trước khi được diễn giải như tài sản chung của dân tộc.
(114) Nguyên văn: The preeminent point is that with Napoleon and the levée en masse we have our first evidence that national consciousness was no longer restricted to the aristocracy or other elites.
(115) Nguyên văn: In some societies the history of the voting franchise also offers hints of when a nation came into existence.
(116) Nguyên văn: …the refusal to permit large sections of the populace to participate in the political process may be viewed as tantamount to declaring that those who are disenfranchised are not members of the nation.
(117) Chú trong ngoặc đơn của người viết.
(118) Hội nghị Dân tộc Pháp, French National Convention: chính quyền tạm thời, điều hành nước Pháp từ ngày 20/9/1792 đến ngày 26/10/1795.
(119) Bản dịch Ngô Tất Tố. Nguyên văn: 汝等久居門下 掌握兵權無衣者則衣之以衣無食者則食之以食官卑者則遷其爵祿薄者則給其俸水行給舟 陸行給馬委之以兵則生死同其所為進之在寢則笑語同其所樂. Nhữ đẳng cửu cư môn hạ chưởng ác binh quyền vô y giả tắc ý chi dĩ y vô thực giả tắc tự chi dĩ thực quan ti giả tắc thiên kỳ tước lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng thủy hành cấp chu lục hành cấp mã ủy chi dĩ binh tắc sinh tử đồng kỳ sở vi tiến chi tại tẩm tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc. Nguồn: Việt Nam văn học: Văn học đời Trần. Nxb Đại Nam, Sài Gòn (1960). Bản điện tử https://bit.ly/2GV1xWV.
(120) Nguyên văn: 有䏻同心命以破賊此爾眾之力若謀畫措置衣糧官賞則在於我爾等莫憚勤勞莫憂貧乏見我妻子貧乏則爾妻子貧乏願爾眾一心討賊莫生煩惱 (Toàn Thư IV, 304). Hữu năng đồng tâm trí mệnh dĩ phá tặc thử nhữ chúng chi lực nhược mưu hoạch thố trí y lương quan thưởng tắc tại ư ngã nhữ đẳng mạc đạn cần lao mạc ưu bần phạp kiến ngã thê tử bần phạp tắc nhữ thê tử bần phạp nguyện nhữ chúng nhất tâm thảo tặc mạc sinh phiền não.
(121) Nguyên văn: 我起義兵於爾土近欲成功願爾眾始終一心金石一節以全軍臣父子之義我知爾眾皆爲國之士因前時興慶重光枉以虚名不見成功盖由政出多門大臣不知爾眾徒費力於此矣今天下一統我與爾眾義如父子願盡一心復我境土自古将相封侯抑如爾眾無異整爾隊伍練爾軍仁蕩平残㓂分半歸農 (Toàn thư IV, 304-305). Ngã khởi nghĩa binh ư nhữ thổ cận dục thành công nguyện nhữ chúng thuỷ chung nhất tâm kim thạch nhất tiết dĩ toàn quân thần phụ tử chi nghĩa ngã tri nhữ chúng giai vi quốc chi sĩ nhân tiền thời hưng khánh trùng quang uông dĩ hư danh bất kiến thành công cái do chính xuất đa môn đại thần bất tri nhữ chúng đồ phí lực ư thử hĩ kim thiên hạ nhất thống ngã dữ nhữ chúng nghĩa như phụ tử nguyện tận nhất tâm phục ngã cảnh thổ tự cổ tướng tương phong hầu ức như nhữ chúng vô dị chỉnh nhữ đội ngũ luyện nhữ quân nhân đãng bình tàn khấu phân bán quy nông.
(122) Nguyên văn: 明賊残害我民二十餘載我軍數百(萬)有餘見今三十五萬待破東関城放二十五萬㱕農留十萬爲軍防禦國事一家三人一人爲軍凣諸賦役並復三年 (Toàn Thư IV, 305). Minh tặc tàn hại ngã dân nhị thập dư tải sơ ngã quân sổ bách vạn hữu dư hiện kim tam thập ngũ vạn đãi phá đông quan thành phóng nhị thập ngũ vạn quy nông lưu thập vạn vi quân phòng ngự quốc sự nhất gia tam nhân nhất nhân vi quân phàm chư phú dịch tịnh phục tam niên.
(123) Trong phép quân điền sau này, có lẽ có những điều khoản hỗ trợ việc biến lời hứa “cho về làm ruộng” thành hiện thực.
(124) Nguyên văn: 諸城以破惟東䦕城未下我以此卧不安席食不甘味夙夜焦思且我之左右未得其人雖爲主将反觀於已一則老病不才二則所学淺見而則任重難勝而大臣左右相國太傅太保未置太尉都元帥猶鈌如行遣并各官十纔一二是以折節推誠勸諸豪傑胥相戮力匡救萬民莫韜光晦跡使天下久塗炭 (Toàn Thư IV, 305). Chư thành dĩ phá duy đông quan thành vị hạ ngã dĩ thử ngoạ bất an tịch thực bất cam vị túc dạ tiêu tư thả ngã chi tả hữu vị đắc kì nhân tuy vi chủ tướng phản quan ư dĩ nhất tắc lão bệnh bất tài nhị tắc sở học thiển kiến nhi tắc nhiệm trọng nan thắng nhi đại thần tả hữu tướng quốc thái phó thái bảo vị trí thái uý đô nguyên soái do khuyết như hành khiển tịnh các quan thập tài nhất nhị thị dĩ triết tiết suy thành khuyến chư hào kiệt tư tương lục lực khuông cứu vạn dân mạc thao quang hối tích sử thiên hạ cửu thao đồ thán.
(125) Ernest Gellner (1925 – 1995): triết gia, nhà nhân học xã hội người Anh gốc Tiệp-Do Thái. Gellner ra đời tại Paris, lớn lên tại Prague. Năm 1939, trước đe dọa từ nước Đức Hitler, gia đình ông di cư đến thủ đô vương quốc Anh. Ông bỏ ngang chương trình tại Trường nội trú Balliol, Đại học Oxford để gia nhập quân đội Czech vào năm 1944, sau đó quay về Oxford để hoàn tất học vấn vào năm 1947. Ông làm trợ giảng tại Đại học Edinburgh đến năm 1949 thì chuyển đến Trường Khoa học Kinh tế-Chính trị Luân Đôn (LSE), Viện Đại học Luân Đôn; Gellner trở thành giáo sư Triết học, Phương pháp Khoa học và Luận lý năm 1962. Ông nổi tiếng nhờ tác phẩm “Words and Things”, Ngôn từ và Sự vật (1959) phê phán chủ nghĩa duy tâm ngôn ngữ ngự trị Oxford lúc bấy giờ. Gellner được bầu vào Viện Hàn lâm Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Irland năm 1974. Từ năm 1984, Gellner giữ chức vụ Giáo sư William Wyse (William Wyse là mạnh thường quân của Đại học Cambridge), trưởng khoa Nhân học Đại học Cambridge và là thành viên của Trường Quốc vương (King’s College). Ông về hưu năm 1993, trở về quê gốc để điều hành Trung tâm Nghiên cứu Chủ nghĩa Dân tộc, một bộ phận của Viện Đại học Trung Âu tài trợ bởi nhà từ thiện Mỹ George Soros. Giáo sư qua đời đột ngột do bệnh tim vào tháng 11 năm 1995.
Gellner coi thường chủ nghĩa Marxism phương Tây và trường phái phân tích tâm lý nhưng cũng không đồng cảm với cánh hữu chính thống của bà Thatcher. Ông dành nhiều thời gian, công sức để bác bỏ lý thuyết “ý tưởng dẫn dắt thế giới”. Mốt “chính trị phải đạo” cũng khiến Gellner khó thích nghi.
Tác phẩm nổi bật có thể kể đến: “Thought and Change”, Tư duy và Thay đổi (1964), “Nations and Nationalism”, Các Dân tộc và Chủ nghĩa Dân tộc (1983), “The Psychoanalytic Movement”, Trào lưu Phân tích Tâm lý (1985), “Plough, Sword and Book”, Lưỡi cày, Thanh gươm và Quyển sách (1988), “Conditions of Liberty”, Các Điều kiện của Tự do (1994)………(Theo A Gellner Biography của Chris Hann, bản điện tử http://bit.ly/2T6L9mU).
(126) Xem Ernest Gellner, Nations and Nationalism, in lần hai, Cornelle University Press (2008), trang 6-7. Nguyên văn: In fact, nations, like states, are a contingency, and not a universal necessity. Neither nations nor states exist at all times and in all circumstances. Moreover, nations and states are not the same contingency. Nationalism holds that they were destined for each other; that either without the other is incomplete, and constitutes a tragedy. But before they could become intended for each other, each of them had to emerge, and their emergence was independent and contingent. The state has certainly emerged without the help of the nation. Some nations have certainly emerged without the blessings of their own state. It is more debatable whether the normative idea of the nation, in its modern sense, did not presuppose the prior existence of the state.
What then is this contingent, but in our age seemingly universal and normative, idea of the nation? Discussion of two very makeshift, temporary definitions will help to pinpoint this elusive concept.
1. Two men are of the same nation if and only if they share the same culture, where culture in turn means a system of ideas and signs and associations and ways of behaving and communicating.
2. Two men are of the same nation if and only if they recognize each other as belonging to the same nation. In other words, nations maketh man; nations are the artefacts of men’s convictions and loyalties and solidarities. A mere category of persons (say, occupants of a given territory, or speakers of a given language, for example) becomes a nation if and when the members of the category firmly recognize certain mutual rights and duties to each other in virtue of their shared membership of it. It is their recognition of each other as fellows of this kind which turns them into a nation, and not the other shared attributes, whatever they might be, which separate that category from non- members.
Each of these provisional definitions, the cultural and the voluntaristic, has some merit. Each of them singles out an element which is of real importance in the understanding of nationalism. But neither is adequate. Definitions of culture, presupposed by the first definition, in the anthropological rather than the normative sense, are notoriously difficult and unsatisfactory. It is probably best to approach this problem by using this term without attempting too much in the way of formal definition, and looking at what culture does.
(127) Gellner chia xã hội nông nghiệp làm hai thời kỳ, thời kỳ chưa có và có chữ viết.
(128) Tức không liên kết theo chiều ngang.
(129) Hiện tượng tách biệt theo chiều bên thời trung cận đại thể hiện rõ nét qua quy ước chính cư – ngụ cư; thời nay, chuyển qua quy ước hộ khẩu thường trú – tạm trú. Bức tường ngăn cách có vẻ bộng xốp trong thực tiễn lại khó thẩm thấu trong lòng người. Cấp độ phân mảnh thị trường lao động phản ánh các cấp độ thiếu vắng hoặc thiếu sót của thị trường hàng hóa-dịch vụ. Điều này cho thấy dân Việt, đến bây giờ, vẫn dùng dằng chưa thoát hẳn kỷ tiền hiện đại.
(130) Có thể thấy rõ so sánh bởi Gellner về phong thái giao tiếp của người công nghiệp và người tiền công nghiệp qua cách nói-viết của cư dân thuộc vùng đô thị hóa lâu đời như Sài Gòn và các vùng đô thị hóa muộn hay vùng quê. Người đô thị công nghiệp-dịch vụ giao tiếp chuộng giản dị, tiếp cận vấn đề nhanh, hàm lượng thông tin cô đặc so với liều lượng từ ngữ. Phạm Quỳnh bày tỏ ngạc nhiên lẫn thận trọng về kiểu thể hiện này: “Đến cách nghị luận cũng đường đột mãnh liệt, trực mà không có những lối khép mở xa xôi như các nhà cựu học ngoài ta. Hai cái tâm lý khác nhau biết dường nào! Cái nào là hơn? Khó mà quyết được”. (Xem Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, đăng báo Nam Phong 1918 – 1919, Nxb Hội Nhà Văn in lại 2018, trang 40). So với lời chê bai dân Nam Kỳ về mọi mặt, trong đó có phong cách nói chuyện dài dòng, của nhà chinh phục Pierre Barellon, (Xem Piere Barellon, Nam Kỳ 1859 – Cuộc đánh chiếm Sài Gòn, Lý Thế Dân dịch. Bản điện tử: http://bit.ly/2CSF0FH) ta nhận thấy tư duy kiểu Tây Âu đã ảnh hưởng mạnh lên ký giả Gia Định sau nửa thế kỷ hiện diện.
Giữa lòng giới trí thức miền Nam, Thượng Chi sờ nắn được khoảng cách giữa tân và cựu học. Đi từ kính thưa từng chức việc trong diễn văn theo nghi thức đậm chất nông thôn, đến kính thưa quý quan khách nói chung là chặng đường vô cùng dài. Đi từ quan hệ nguyên thủy qua họ tộc, tín ngưỡng, bản làng, phường hội… đến quan hệ dân sự dựa trên luật pháp giữa người và người cũng là hành trình dài không kém. Nó tương đương khoảng cách từ thế giới của bà giáo A, ông đội B, cụ bá C… đến thế giới của bà A, ông B, cụ C…., từ tinh thần cộng đồng làng xóm đến tinh thần cộng đồng xã hội, khoảng cách vẫn thường được tính bằng thiên niên kỷ. Gellner nhấn mạnh độ chênh biệt giữa văn hóa thời công nghiệp và văn hóa cũ chưa kịp điều chỉnh bằng cặp thuật ngữ hết sức “thực dân”: văn hóa hoa viên (garden culture) và văn hóa hoang dã (wild culture).
(131) Xem chi tiết tại: Ernest Gellner, Nations and Nationalism, in lần 2, phần The Age of Universal High Culture, Cornell University Press (2008), trang 34 – 37.
(132) Ernest Gellner, Nations and Nationalism, in lần 2, Cornell University Press (2008), trang 1. Nguyên văn: Nationalism is primarily a political principle, which holds that the political and the national unit should be congruent.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)