Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi- Phần 1- Kỳ 1

0 bình luận ♦ 29.07.2019



Lời Tòa Soạn

Nhà nghiên cứu lịch sử Lê Tư là tác giả của nhiều loạt bài nghiên cứu vừa sử học vừa văn chương trước đây trên Da Màu, góp phần soi sáng nhiều sự kiện khuất lấp về một giai đoạn lịch sử nhiễu nhương cuối triều Trần và đầu thời hậu Lê như “Nguyễn Trãi, bề tôi của bốn dòng vua”, “Hợp tác với quân Minh: người kinh lộ” hay Nguyễn Phi Khanh, Trần Nguyên Đán. Lần này, Lê Tư trở lại Da Màu với một bài nghiên cứu mới, cũng đề cập đến giai đoạn đó, nhưng với một đề tài khác, “Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi”. Khác với cái nhìn xưa nay về Bình Ngô đại cáo, thường “được đọc và hiểu dưới tán che của chủ nghĩa dân tộc” đầy cường điệu, Lê Tư giải mã Bình Ngô đại cáo bằng một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ dựa trên nhiều yếu tố khác nhau mà những người đi trước, vì vô tình hay cố ý, đã bỏ quên.

Về mặt phương pháp, Lê Tư dựa vào lý thuyết và quan niệm của những sử gia trong và ngoài nước hiện đại đồng thời sử dụng nhiều tài liệu mới được phát hiện, để phân tích, lý giải về hoàn cảnh, động lực và ý đồ đưa đến việc hình thành văn bản Bình Ngô đại cáo. Về mặt quan điểm, thay vì sử dụng lợi ích chính trị hiện nay để soi xét quá khứ, Lê Tư khảo sát Bình Ngô đại cáo bằng cách đặt nó song song với các văn bản cùng thời kỳ và trong bối cảnh của cơ cấu cộng đồng người Việt vào cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV để hiểu nó đúng như-nó-là và đúng như trí thức đương thời hiểu nó. Mặt khác, tác giả khảo sát Bình Ngô đại cáo trong và bằng chính văn bản chứ không phải săm soi những gì nằm ngoài nó, trong lúc vẫn không quên đối chiếu với những sự kiện lịch sử khác có liên hệ. Theo tác giả, “Đại Cáo chỉ là một đơn vị trong phức hợp huyền thoại gồm Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử ký, Dư địa chí, thơ phú sơ Lê…Chúng dù bị biến dạng nhiều do tam sao thất bổn nhưng vẫn rõ nét là những tập hợp ký hiệu phát đi lời biện minh cho tính chính đáng của tông tộc quyền lực” và “Tuy là văn bản hành chính, Đại cáo lại ôm trong lòng nó nhiều mô-típ truyện kể dân gian như: nhân vật phẩm cách cô đơn, tha thứ kẻ thù đã chịu phục, núi thiêng, sự tái sinh…” Từ đó, tác giả đã sử dụng khái niệm hiện đại về huyền thoại theo một trong những nhà ngôn ngữ học lớn của phương Tây, Roland Barthes, để soi sáng văn bản Bình Ngô đại cáo như là một công cụ nghệ thuật hiệu quả để gieo rắc niềm tin trong quần chúng nhằm đoàn kết mọi người tham gia vào công cuộc đánh đuổi quân Minh.

Lê Tư cho rằng “Trong Phú núi Chí Linh, Nguyễn Trãi nhắc đến việc binh sĩ vì thọ ơn mà sẵn lòng chết cho lãnh đạo. Thời đó, cấu trúc xã hội chưa đủ độ cố kết mà đầu óc con người cũng chưa đủ phong phú để tưởng nên dân tộc và tổ quốc. Bình dân chiến đấu vì chủ, người nuôi nấng bảo bọc bản thân họ và gia đình”. Bởi thế, theo ông, “Ý thức về căn cước dân tộc Việt Nam không tồn tại trước cuộc xâm lược của nhà Minh, cũng không nảy sinh trong thời gian quân Minh chiếm đóng.” Phải đợi đến cuối thế kỷ thứ XIX, ý thức đó mới manh nha, rồi vào đầu thế kỷ thứ XX, mới tượng hình và đến nay vẫn còn trong quá trình hoàn thành. Do đó, xem Đại cáo như một hình thức “tuyên ngôn độc lập”, tưởng là đề cao, nhưng thực sự là vô tình hạ thấp giá trị của Lê Lợi và Đại Việt. Nước Đại Việt không độc lập, bình đẳng với Trung nguyên và các nước trong thiên hạ mà cao hơn thế vì nó chia nửa thế giới với đế quốc phương Bắc, theo tác giả. Quan điểm lịch sử này dựa vào những “lý thuyết được cộng đồng học thuật quốc tế thảo luận rộng rãi”, tương đối khác hẳn với những quan điểm đã từng được đưa ra và thảo luận từ trước đến nay, dựa vào “những ý tưởng chỉ trong nhà nhìn nhận với nhau”, do đó, có thể “không quen mắt, không quen nghĩ” đối với nhiều người.

Da Màu trân trọng giới thiệu “Đại Cáo: Huyền Thoại về Vị Vua Khai Quốc Lê Lợi” như là một đóng góp mới của tác giả Lê Tư vào việc nghiên cứu lịch sử nước nhà. Vì tài liệu này khá dài, tương đương với một tập sách nhỏ, nên chúng tôi sẽ lần lượt cho đi 5 tuần liên tiếp, mỗi tuần một phần, chia làm nhiều kỳ. Mong quý độc giả thông cảm và kiên nhẫn theo dõi. Tác giả cũng như tòa soạn Da Màu mong mỏi sẽ nhận được những ý kiến đóng góp nghiêm túc từ tất cả những độc giả quan tâm đến đề tài này.




Bình Ngô đại cáo, gọi gọn là Đại Cáo, có lẽ là văn bản được quan tâm nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, không chỉ bởi người Việt mà còn bởi học giả ngoại quốc. Quan niệm về Đại Cáo thay đổi theo thời và không gian. Riêng ở Việt Nam, từ lúc văn bản được chuyển sang quốc ngữ, chủ yếu nó được đọc và hiểu dưới tán che của chủ nghĩa dân tộc. Góc nhìn đặc biệt cường điệu mang lại phấn chấn cho cả người giải thích lẫn người được giải thích, tuy nhiên, nhiều yếu tố quan trọng khác của văn bản vô tình bị bỏ qua. Bài viết này nhặt nhạnh những gì chìm lấp để dựng lại giá trị của Đại Cáo đúng như nó đã từng có.

Trước hết, xin lược qua một số ý kiến liên quan đến Đại Cáo từ vài nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.



I. CÁC HỌC GIẢ VÀ ĐẠI CÁO

Stephen O’Harrow (1979)

Stephen O’Harrow, giáo sư Ngữ văn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Hawai’i at Mãnoa, Hoa Kỳ. Ông chuyên giảng dạy, nghiên cứu ngôn ngữ-văn chương, các văn bản thời thuộc địa-tiền thuộc địa và phim ảnh tại Việt Nam. Ông còn là giáo sư tiếng Việt của Phân khoa Ngữ Văn khu vực Ấn Độ-Thái Bình dương.

Dưới đây chỉ xét riêng bài báo tựa đề “Bình Ngô đại cáo 平吳大誥 năm 1428: Sự Phát Triển Một Căn Cước Dân Tộc Việt Nam” đăng trên tạp chí Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 1 vào tháng 3 năm 1979.(1)

O’Harrow đã cẩn thận điểm lại nguồn gốc và đi vào tiểu sử Nguyễn Trãi từ ngoại tổ Trần Nguyên Đán, thân phụ Nguyễn Phi Khanh để từ đó tìm hiểu sự hình thành suy nghĩ trình bày trong Đại Cáo. Ông cho rằng thông qua bài cáo, Ức Trai đã kêu gọi một ý thức về căn cước dân tộc Việt Nam.

Theo giáo sư, khi đặt chúa Lam Sơn ngang hàng với Câu Tiễn hay Lưu Bang, Ức Trai đã làm nên một chân chúa xứng đáng để tầng lớp ưu tú thần phục. Soạn giả cảm nhận được khao khát của dân tộc về một anh hùng thật nhưng mang tầm vóc sử thi; ông tin rằng việc xây dựng hình tượng văn học tương hợp với con người bằng xương thịt sẽ cùng lúc cung cấp một nhân vật vừa có khả năng thống nhất các vùng, các tầng lớp, vừa kết hợp được tinh túy quá khứ với hiện tại. Như thế tạo ra cảm thức về sự liên tục lịch sử trên cơ sở đạo đức rất cần thiết vào thời điểm bấy giờ.

Đối chiếu các văn bản hình thành trong quá trình chống giặc Bắc trước đó như thơ chống Tống đời Lý, hịch chống Nguyên đời Trần, O’Harrow phát hiện một số yếu tố mang tính dân tộc trong Đại Cáo chống Minh. Thay vì khuyến khích kháng cự dựa vào cách biệt địa dư thiên định như thơ kháng Tống, qua danh dự và quyền lợi cá nhân như hịch kháng Nguyên, Nguyễn Trãi đã nêu chiến công mẫu mực của anh hùng Việt, đã đề cập đám đông “manh lệ”. Giáo sư nhận thấy viễn kiến về dân tộc được Ức Trai trình bày hợp lý và toàn diện hơn.

Trên hành trình tìm hiểu bước phát triển của khái niệm dân tộc trong Đại Cáo, O’Harrow làm sáng tỏ nhiều điểm liên quan.

Tin rằng tựa đề chính thức của bài văn chúng ta đang bàn là “Bình Ngô đại cáo”, O’Harrow tìm hiểu “Ngô” mang những nghĩa gì. Theo ông, Nguyễn Trãi đã ngầm so sánh đối kháng Minh-Việt với mối thù Ngô-Việt giữa Phù Sai và Câu Tiễn thời Xuân Thu chiến quốc. Có thể xem Lê Lợi như hậu duệ nước Việt xưa, Minh ở vị trí nước Ngô thời cổ. Như vậy, “Bình Ngô” hàm ý giải quyết thành công hận thù lưu cữu. Ngô còn là tên một nước trong tam quốc, đô tại Kiến Nghiệp (Nam Kinh nay), đương thời kiểm soát vùng đất Giao Chỉ Cửu Chân. Mặt khác, thủ phủ Tập Khánh (Nam Kinh nay) cũng chính là nơi Minh Thành tổ Chu Nguyên Chương phát khởi sự nghiệp, có lúc họ Chu mang tước “Ngô quốc công” hoặc “Ngô vương”. Như vậy, “Bình Ngô” nêu rõ địa chỉ tư gia của đối phương.

Về nội hàm hai chữ nam-bắc trong “Nam bắc chi phong tục diệc dị 南北之風俗亦異”, O’Harrow không nghĩ đó là hai miền nam bắc thuộc Đại Việt như các dịch giả Ưng Quả, Cao Xuân Huy-Gamarra và Trương Bửu Lâm đã hiểu. Ông dùng một bức thư gửi Lương Nhữ Hốt trong “Quân trung từ mệnh tập” để lập luận rằng “Bắc” chỉ China và “Nam” chỉ Việt Nam. Ông nhận thấy hai bản dịch mới nhất từ Hà Nội của Nguyễn Khắc Viện và D.T.B. cũng thể hiện Bắc-Nam theo nghĩa như vậy.

O’Harrow xem Đại Cáo chủ yếu hướng về tầng lớp ưu tú biết đọc chữ Hán, những kẻ nhìn vua Lê bằng cặp mắt e dè. Theo ông, Nguyễn Trãi có thể dùng Nôm để soạn thảo vì ông thiện nghệ làm văn bằng tiếng mẹ đẻ; hơn nữa, Hồ Quý Ly từng khích lệ phổ biến chữ Nôm trước đó. Tuy nhiên văn ngôn Hán được lựa chọn có chủ ý như một thừa nhận thầm lặng vai trò xã hội của lớp tinh hoa; hành động này dù có thể thông cảm nhưng lại khá mỉa mai đối với giới cần lao hiện diện quanh Lê Lợi vào thời điểm cần kíp.

Nhận xét giá trị nhất của Stephen O’Harrow có lẽ là về cách vận dụng Nho học tại Việt Nam. Ông quan niệm rằng trí thức Việt thế kỷ XV khai thác mọi khía cạnh của Nho giáo để quản trị xã hội vì họ xem chúng như công nghệ quản lý tiên tiến nhất thời đó. Đạo Nho hình thành một khuôn khổ để sự kiện xảy ra bên trong nó nhưng không là động lực thúc đẩy sự kiện. Tương tự ngày nay (năm 1979), người Việt áp dụng chủ nghĩa Marxism không vì bắt chước Liên Xô hay Trung quốc mà vì nhắm đạt được mục đích sau cùng. Họ xem Nho giáo hay Marxism chỉ như phương tiện.

O’Harrow tổng kết như sau:

“Nếu dành chút thời gian tiếp nhận thế giới quan của Nguyễn Trãi, chúng ta hẳn đi ngay đến kết luận rằng quan niệm xem Việt Nam như một phiên bản Trung Hoa thực quá đỗi sai lầm. Với ông Nguyễn, các định chế Hoa Hán hoàn toàn không thuộc về Trung Hoa và Việt Nam không là một thực thể bên ngoài bắt chước các định chế ấy. Đúng hơn họ là những người cùng chia xẻ một phạm vi rộng lớn – điều này gợi nhớ sợi dây Cơ Đốc ràng buộc các ông hoàng và các dân tộc ở châu Âu sơ kỳ trung đại khi họ đối mặt với quân Norseman vô thần. Chính dựa vào lý lẽ này mà Nguyễn Trãi qua Bình Ngô đại cáo đã khai thác mọi mặt truyền thống Trung Hoa để chỉ ra tính đúng đắn của việc ngăn trở các ý đồ từ người Minh. Khi làm như thế, ông đã tiến một bước về hướng biến truyền thống đó thành phổ quát. Sự phổ quát hóa xác lập trật tự thế giới của Nguyễn Trãi, thế giới mà Việt Nam chiếm chỗ vừa vặn một cách độc lập, căn cước Việt Nam được bảo đảm bởi tự nhiên và bởi những con người đức độ sinh sống trong cương thổ của nó.”

Bài viết thực sự độc đáo và gợi mở. Tuy nhiên, sau bốn mươi năm, dễ nhận ra vài điểm có thể tường thuật rõ ràng hơn. Tác giả đã khai thác tài liệu thứ cấp để thuật lại tiểu sử Ức Trai. Theo thiển ý, tiểu truyện như thế đậm chất giai thoại. Vì khởi điểm sai, O’Harrow mới tin rằng tư tưởng thể hiện trong Đại Cáo là của Nguyễn Trãi, thậm chí giả định cả trường hợp ngòi bút chi phối thanh gươm. Ông không biết rằng vấn đề quân sự, dân tộc, quyền mưu… mà Đại Cáo hay “Quân trung từ mệnh tập” nêu ra chưa bao giờ là chủ đề trăn trở trong các sáng tác Hán cũng như Nôm của cá nhân quan Thừa chỉ. Ức Trai chẳng quan tâm nhiều tới chúng, ông chỉ truyền đạt mọi sự theo ý chủ tướng.

Về từ ngữ, những từ như “Trung Hoa” (China) hay “Việt Nam" (Vietnam) chưa đủ tinh tế để đại diện nước Minh hay Đại Việt đương thời. Khái niệm “độc lập" (independence) dành cho An Nam cũng thiếu tính thực tiễn. Lập luận liên quan đến “dân tộc" (nation) càng mơ hồ khi O’Harrow không đưa ra định nghĩa về khái niệm. Như đã biết, khảo sát về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc chỉ bùng nổ sau sự sụp đổ dây chuyền của hệ thống Đông Âu và Liên bang Xô Viết bắt từ đầu cuối thập niên 1980. Sang thập niên 1990, dân tộc và chủ nghĩa dân tộc mới dần trở thành lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt. Việc sử dụng chữ nghĩa như tác giả, do vậy, cũng bình thường vào thời điểm đăng bài.

Giáo sư nhận xét xác đáng về Nho giáo ứng dụng tại Đại Việt nhưng đã bỏ qua sự đa dạng của cộng đồng phương Nam. Như bất cứ cộng đồng nào khác, luôn có người Việt vận dụng lý thuyết như phương tiện nhưng cũng có vô số người Việt muốn tin lý thuyết mang giá trị tuyệt đối và bắt buộc.

Trần Nho Thìn (2000)

Giáo sư Trần Nho Thìn giảng dạy tại khoa Văn Học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội. Ông viết và dịch thuật về văn học, văn hóa, điện ảnh.

Dưới đây chỉ khảo sát bài viết “Bình Ngô đại cáo dưới ánh sáng của loại hình học văn hóa trung đại” ban đầu đăng trên Tạp chí Văn học số 5/2000, sau đó được đưa lại trên trang web của Khoa.(2)

Theo giáo sư, các nhà triết học cổ đại Trung Hoa cảm nhận thế giới có tính lưỡng nguyên; một mặt là “thế giới trần thế, hiện thực”; mặt khác là “thế giới tâm linh, thế giới của những biểu trưng của đạo trời.” Dựa vào đó ông tạm dùng khái niệm “thực tại trần thế” và “thực tại vũ trụ” để chỉ hai loại thực tại của văn hóa xưa. Tiếp cận Bình Ngô đại cáo, ông mượn tác phẩm Dư địa chí nhằm minh họa phương thức nhà nho cảm thụ không gian địa lý. Không gian địa lý với người xưa không chỉ là môi trường sinh tồn với mọi đặc điểm tự nhiên mà còn là không gian chịu ảnh hưởng năng lượng Đức của hoàng đế. Nói theo ngôn ngữ hiện đại: có thể hình dung mô hình không gian địa lý-xã hội của nhà nho như là một từ trường mà nguồn phát ra từ trường này chính là vua. Năng lượng Ðức mà nhà vua phát ra có khả năng thu hút vạn vật khắp bốn biển châu tuần về quanh mình. Do đó Dư địa chí thực hiện hai việc: một là, ghi chép vạn vật hữu hình hoặc vô hình nằm trong từ trường Đức nói trên; hai là, năng lượng Đức có sức tỏa ra ngoài biên giới nhuần thấm đến ngoại bang. Nguồn năng lượng Đức từ trung tâm phát ra bốn biển chứ không có chiều ngược lại. Ông kết luận: Cảm hứng của Dư địa chí là khẳng định một vùng không gian độc lập nằm trong “từ trường” ảnh hưởng của Ðức của các nhà vua Ðại Việt.

Do hiểu thế giới được cổ nhân cảm thụ gồm hai “không gian vũ trụ” và “không gian trần thế” chồng xếp lên nhau, Trần Nho Thìn khuyên nên thận trọng với chủ trương rằng Nguyễn Trãi đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về dân tộc. Theo ông, Đại Cáo mô tả cương vực, văn hóa, hiền tài, phong tục nhằm tạo một vùng không gian vũ trụ nằm trong vùng ảnh hưởng năng lượng Đức của các triều đại phong kiến Đại Việt; nghĩa là vấn đề “độc lập dân tộc” được Ức Trai hình dung theo thời đại của ông.

Giáo sư cho rằng nhân nghĩa, tâm điểm đạo đức trong Đại Cáo, là cách hành xử của nhà cai trị đối với tầng lớp bị trị. Ông tìm hiểu nội hàm “nhân nghĩa” qua hoạt động “bất nhân nghĩa” của giặc Minh mà cốt lõi thể hiện qua sự lừa dối, tàn hại người và thiên nhiên…, đi lệch cả nhân đạo lẫn thiên đạo. Do người Minh xử sự như vậy, không chỉ người phẫn uất mà trời đất, thánh thần cũng chẳng dung. Ông còn bắt gặp ở Đại Cáo không gian vũ trụ chịu ảnh hưởng từ trường “Đức” lan tỏa từ vua Đại Việt thể hiện qua hiền tài, phong tục tốt đẹp, kỳ trân dị thú các miền. Ông viết: Nguyễn Trãi diễn tả cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong một không gian vũ trụ, trong đó vị lãnh tụ Lê Lợi hội tụ đầy đủ năng lượng vũ trụ để có thể toả phát ảnh hưởng tích cực tới toàn bộ không gian đó. Theo giáo sư, Lê Lợi có quá trình tích đức lâu dài, trên nền tảng này nhân nghĩa được phát huy mà thể hiện rốt ráo không gì khác hơn là lòng yêu thương con người và ý chí làm điều thiện vô vụ lợi.

Đại Cáo trình bày thất bại của quân thù cũng ở tầm kích vũ trụ vì đó là sự trừng phạt do hợp lực của trời, thần và người.

Trần Nho Thìn xác định đối tượng Bình Ngô đại cáo hướng đến là nhân dân Đại Việt, thông điệp từ văn bản gồm nhiều ý tứ nhưng quan trọng nhất là khẳng định đế vị của Lê Lợi và tính “hợp hiến hợp pháp” của triều đại mới. Đặc biệt do nguồn gốc xuất thân, Lê Lợi khó chinh phục sự ủng hộ từ trí thức đồng bằng sông Hồng. Để biện luận ngai vàng cho vua Lê, ngay từ đoạn mở đầu bài Cáo, Nguyễn Trãi đã khẳng định vùng không gian ảnh hưởng Đức của riêng các triều đại Việt Nam, nằm ngoài vùng không gian ảnh hưởng Đức của các triều đại Trung Hoa. Qua quá trình hoạt động vua Lê dần tích tụ đủ năng lượng Đức để tỏa phát từ trường trong không gian vũ trụ các triều đại trước tạo dựng. Trong phạm vi thế tục, vua phải thực hiện công việc của trời là sinh thành nuôi nấng vạn vật, nói ngắn gọn là phải có đức hiếu sinh. Hiếu sinh không hướng lên đến thần thiêng mà hướng xuống, trải rộng khắp thiên hạ. Theo giáo sư, hiếu sinh áp dụng cho muôn vật, nhân nghĩa là hiếu sinh áp dụng cho con người. Lòng nhân nghĩa và đức hiếu sinh đã được Lê Lợi chứng tỏ qua cuộc kháng chiến, vì thế ông giữ địa vị Thiên tử tiếp nối Triệu, Đinh, Lý, Trần là tự nhiên. Ông nhận xét: “Nguyễn Trãi vận dụng văn hoá cổ để củng cố quyền lợi Lê Lợi và sự thống nhất của đất nước vào đầu đời Lê.”

Trần Nho Thìn tổng kết: “Nguyễn Trãi cũng như các nhà nho chân chính khác, tuy biện chính cho đế quyền song luôn đứng về phía nhân dân để nêu lý tưởng chính trị của mình. Ðó là lý do vì sao họ không quan tâm tổng kết các “thuật trị quốc” là những thủ đoạn cai trị thuần tuý chỉ mang lại lợi ích cho giai cấp phong kiến thống trị. Họ quan tâm mô tả thứ không gian vũ trụ, nơi thi thố đạo nhân nghĩa của Trời – Người mà không mô tả một không gian thế tục nơi thi thố những thứ mà họ gọi là quyền mưu.”

Giữa rừng tài liệu quốc ngữ trĩu nặng tính “dân tộc-hiện đại” về Nguyễn Trãi, bài viết của Trần Nho Thìn nổi lên đặc sắc qua cái nhìn khác thường trong môi trường học thuật cùng thời. Tuy nhiên, để phần nào hiểu thêm ông Trần nay và ông Nguyễn xưa, chúng ta cần chỉ ra nguồn gốc cái nhìn thực tại bao gồm “thế giới trần thế, hiện thực” và “thế giới tâm linh, thế giới của những biểu trưng của đạo trời” ảnh hưởng trực tiếp đến Đại Cáo.

Nguyễn Trãi không chọn theo Tống Nho mà chọn Nho giáo Tiên Tần vì lý do thực tiễn. Có thể vận dụng quan niệm chính trị của Mạnh Tử, hay sâu hơn là quan niệm chính trị thể hiện trong Thượng Thư, để giải quyết những vấn đề Lê Lợi đang đối diện. Vị đầu mục họ Lê vùng ngoại vi Đại Việt thập niên 1420 có vị thế khá tương đồng với Tây Bá Cơ Phát vùng ngoại vi Thương Ân vào thập niên 1120 (trước công nguyên). Đối tượng tranh chiến của cả hai đều là đương kim thiên tử; do vậy tầm quan trọng binh lực chỉ chiếm nửa phần, sự chính đáng của sử dụng vũ lực chiếm nửa phần còn lại. Nói cách khác, chống vua đương nhiệm thành công hay không thì nửa do hợp lòng người, nửa do thuận ý trời.

Tạo cơ sở giành tính pháp lý về mình, Cơ Phát định nghĩa “vua” như sau:

“Cổ nhân hữu ngôn viết “phủ ngã tắc hậu, ngược ngã tắc thù”, độc phu Thụ hồng duy tác uy nãi nhữ thế thù 古人有言曰:[撫我則后,虐我則仇] 獨夫受洪惟作威乃汝世仇, Cổ nhân có nói rằng “yên ủi ta ắt là vua, tàn hại ta ắt là kẻ thù” tên kém đức Thụ tác oai quá quắt chính là kẻ thù truyền kiếp của các ngươi.” (Thượng Thư, Chu Thư, Thái thệ hạ)

Cơ Phát xem Ân Trụ là “thế thù”, thay vì là vua, do ông ta tàn hại nhân dân. Sau khi liệt kê tội ác giặc Minh, Lê Lợi nói: “niệm thế thù khởi khả cộng đới”, nhớ thù truyền kiếp há đội trời chung; ông cũng không xem kẻ chủ trì tội ác là thiên tử của mình.

Chu Vũ vương nói về Đức của vua cha đã khuất, thể hiện trong “thế giới của những biểu trưng của đạo trời” như sau:

“Ô hô! Duy ngã văn khảo nhược nhật nguyệt chi chiếu lâm, quang vu tứ phương, hiển vu tây thổ. Duy ngã hữu chu đản thụ đa phương. Dư khắc thụ, phi dư vũ, duy trẫm văn khảo vô tội; thụ khắc dư, phi trẫm văn khảo hữu tội duy dư tiểu tử vô lương 嗚呼!惟我文考若日月之照臨,光于四方,顯于西土.惟我有周誕受多方.予克受,非予武,惟朕文考無罪;受克予,非朕文考有罪,惟予小子無良, Than ôi! (Đức của) Vương khảo Văn như mặt trời mặt trăng soi chiếu, sáng khắp bốn phương, rạng rỡ cõi tây. Bởi vậy nước Chu ta nhận được (sự quy thuận) khắp mọi nơi. Nếu ta thắng Thụ, đó không do sức ta, mà do phụ vương vô tội (tức có đức); nếu Thụ thắng ta; không phải phụ vương có tội (tức kém đức), mà do ta là đứa trẻ không thiện lành.” (Thượng Thư, Chu Thư, Thái thệ hạ)

Lê Lợi cũng nói một trong những nguyên nhân giúp ông thắng trận là “thiên địa tổ tông chi linh.”

Hai vì vương đều phải giải quyết vấn đề quyền lực trong cả thế giới thực tại lẫn thế giới tâm linh vì họ là giao điểm của hai thế giới ấy. Nho giáo nguyên thủy hỗ trợ họ vì chủ trương uy quyền tối thượng thuộc về người có Đức và thiên mệnh không nhất thiết phải kế tập. Nó mở khóa bài toán của thủ lĩnh Lam Sơn đồng thời giúp Ức Trai biện hộ cuộc đời cá nhân luân lạc.

Khi cho rằng Nguyễn Trãi tạo nên một vùng không gian vũ trụ nằm trong vùng ảnh hưởng năng lượng Đức của các triều đại phong kiến phương Nam qua đoạn văn “Duy ngã Đại Việt chi quốc…nhi hào kiệt thế vị thường phạp”, giáo sư đã có lý hơn những người quan niệm đoạn văn đó xác lập định nghĩa khá hoàn chỉnh về dân tộc. Phần nhập đề nói về Đại Việt quốc, “người” chỉ là thành tố trong “quốc”. Ức Trai trình bày sự việc dựa trên sở học và chủ ý của Lê Lợi thay vì dựa trên kiến thức và ước muốn phát sinh từ thế kỷ XX.

Về đối tượng và mục đích của Đại Cáo, quan điểm đưa ra bởi Trần Nho Thìn và O’Harrow rất gần nhau. Cả hai đều xem đối tượng là người Việt, riêng O’Harrow thu hẹp lại trong giới trí thức. Cả hai đều tin Đại Cáo biện minh tính hợp pháp của triều đại mới, đều nhận ra khó khăn vua Lê gặp phải khi chinh phục trí thức châu thổ sông Hồng. Hai bộ óc duy lý xem xét cùng vấn đề dễ đi đến kết luận tương đồng; thú vị là dù xem bài cáo hướng tới quần chúng, ông Thìn lại dẫn các khái niệm Đức, hiếu sinh… những ý tưởng người nông dân ít học nếu hiểu được cũng khó am tường.

Riêng đoạn cuối bài viết dường như cuốn theo cảm xúc. Chúng tôi không thấy Nguyễn Trãi đứng về phía nhân dân. Ông đứng hầu cạnh Lê Lợi, và cũng như vị minh quân, luôn nghiêng lòng xuống kẻ dưới.

Nguyễn Đăng Na (2002 – 2004)

Phó giáo sư Nguyễn Đăng Na giảng dạy tại Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 1994, chuyên ngành Văn học Việt Nam trung đại và Hán Nôm. Ông nghỉ chế độ năm 2009 nhưng vẫn tiếp tục công việc, qua đời năm 2014. Nguyễn Đăng Na viết nhiều bài góp ý về các vấn đề văn bản, dịch giả, dịch bản và một số nghĩa từ của Đại Cáo.

Về mặt văn bản, đối chiếu các bản Đại Cáo chép trong Trùng san Lam Sơn Thực lục, Hoàng Việt văn tuyển, Đại Việt sử ký toàn thư, giáo sư xác định văn bản thuộc Toàn Thư là chuẩn nhất vì được in sớm nhất (năm 1697) bởi cơ quan nhà nước.(3) Bản Trùng san Lam Sơn Thực lục, theo ông, không đáng tin cậy; bản Hoàng Việt văn tuyển dù nội dung rất gần gũi bản Toàn Thư nhưng chỉ do tư nhân Bùi Huy Bích biên soạn và xuất bản muộn hơn nhiều (1825). Lại xét hai bản Đại Cáo trong Trùng san và Toàn Thư không có câu “Thay trời hành hóa, Hoàng thượng truyền rằng…”, và xét vị thế phát biểu của Lê Lợi không thể tự xưng “Hoàng thượng”, Nguyễn Đăng Na kết luận câu nói trên nằm ngoài Đại Cáo. Cũng từ cụm “Đại thiên hành hóa” tác giả suy đoán Cáo Bình Ngô được viết ra vào cuối năm 1427, trước khi Lê Lợi lên ngôi với niên hiệu Thuận Thiên.(4)

Theo giáo sư, dịch giả đầu tiên của Đại Cáo là Trần Trọng Kim. Ban đầu Lệ Thần chỉ lược dịch để đăng trên sách Sơ học An Nam sử lược do Phổ thông giáo khoa thư xã xuất bản tại Sài Gòn năm 1916. Ba năm sau (1919), ông Kim chuyển ngữ toàn văn để công bố trong Việt Nam sử lược. Sách được tái bản năm 1928. Về sau, do cách Bùi Kỷ giới thiệu bản dịch Trần Trọng Kim kém rõ ràng trong quyển Quốc văn cụ thể (1932) nên Dương Quảng Hàm, tác giả Việt Nam văn học sử yếu (1943), ghi nhầm thành văn bản do Bùi Kỷ dịch. Sai lầm đã phổ biến hơn 60 năm. Nguyễn Đăng Na nhận xét toàn bộ các bản dịch về sau đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bản dịch đầu tiên của Trần Trọng Kim.(5)

Về mặt chữ nghĩa, tác giả giải thích chi tiết các từ “Đại Cáo”, “Ngô” và “chử”.

Dựa vào Hán Việt đại từ điển, giáo sư cho biết “đại cáo” khởi thủy là tên một thiên trong Kinh Thư, dần dần biến thành từ cố định chỉ một loại đặc biệt của thể cáo. Theo ông, Nguyễn Trãi muốn nhân dịp công bố Bình Ngô đại cáo để bày tỏ cho nhân loại thấy đạo lý lớn nhất của Việt Nam: “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Mặt khác, bằng tên gọi Bình Ngô đại cáo, tác giả muốn sánh Lê Lợi ngang với Chu Thành vương, sánh quân sư dưới trướng vua Lê ngang với Chu Công Đán; đồng thời nâng ý nghĩa Cáo Bình Ngô lên tầm thiên Đại cáo thời cổ đại. Đại cáo còn là danh xưng của văn kiện pháp luật do Minh Thành tổ ban hành năm 1385, sau đó bổ sung bằng “tục biên”, “tam biên”, “vũ thần” trong các năm 1386-1387. Đại cáo đời Minh thống nhất luật pháp, tạo điều kiện cai trị nhân dân, diệt trừ tội phạm. Giáo sư nghĩ rằng Nguyễn Trãi muốn bài Cáo do ông thay mặt dân tộc viết ra mang tính pháp luật, có ý nghĩa trọng đại như Đại cáo công phu của vua Hồng Võ. Tuy nhiên Đại cáo Hồng Võ tượng trưng uy quyền và là công cụ bảo vệ nhà Minh, Đại Cáo Việt Nam lại dùng để “bình Ngô”.

Về chữ “Ngô”, theo tác giả, đó chính là đất tổ của Chu Nguyên Chương người xứ Hào châu vốn thuộc nước Ngô thời Chiến quốc. Họ Chu xưng Ngô quốc công (1356) rồi Ngô vương để nhớ nguồn gốc, cũng để mơ về sự nghiệp sáng chói của Ngô Hạp Lư, Ngô Phù Sai từng chiến thắng Sở, Việt. Như vậy, “Bình Ngô” là “bình” tận ông thượng tổ năm đời “đứa trẻ ranh” Tuyên Đức. Về chữ “chử” trong “Lãnh câu chi huyết chử phiêu”, Nguyễn Đăng Na dẫn Hán ngữ đại từ điển để đề xuất cách hiểu khác lối hiểu “chử” như một yếu tố trong cụm thành ngữ. “Chử” có nghĩa “cái thuẫn lớn”; “thuẫn” nhẹ hơn “chày” nên khả năng dễ nổi trên dòng máu hơn.(6)

Chúng tôi tán đồng hầu hết ý kiến của giáo sư, trừ các điểm sau:

– Về thời điểm công bố Đại Cáo: chưa thể biết Nguyễn Trãi soạn bài cáo lúc nào nhưng thời điểm công bố phải sau khi Vương Thông triệt thoái ngày 17 tháng 12 năm Đinh Mùi, tức ngày 3 tháng 1 năm 1428. “Đại thiên hành hóa” trong câu thiệu ngoài ý nghĩa danh hiệu do tướng soái suy tôn, còn có nghĩa “thay trời thực hành giáo hóa.” Hai chữ Hoàng thượng cho thấy khi tuyên đọc bài cáo, Lê Lợi đã đăng quang.
– Trong các bài viết, Nguyễn Đăng Na có những khẳng định sau: “Nguyễn Trãi muốn nhân dịp này, bày tỏ để nhân loại thấy cái “đại đạo” [大道] – đạo lí lớn nhất của Việt Nam – là, “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”; hoặc “Rõ ràng, ông muốn người đọc thấy rằng, bài cáo mà mình thay mặt dân tộc viết ra, chính là một văn kiện mang tính pháp luật…” Xem chừng tác giả đã hạ bút khi nhã hứng văn chương tràn lấp.
– Sau lời mắng Tuyên Đức là “giảo đồng” (ranh con) hiện lên tia mắt của anh hùng, nhưng đằng sau đòi hỏi “bình” tận thượng tổ năm đời vua Minh lại thô ráp nỗi sân si của mụ nhà quê mất gà. Độ lượng quân tử e đâu phải như thế!

(còn tiếp)



Ghi chú:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long.
B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010).
C. Văn bản Đại Cáo lấy từ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long.
D. Các câu trích Kinh Thư lấy từ trang web https://ctext.org/shang-shu.
E. Trong bài viết, các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc”, “cộng đồng sắc tộc” có nghĩa tương đương với “nation”, “ethnic group” và “ethnie” trong tiếng Anh.

Chú thích:

(1) Xem Nguyen Trai’s “Binh Ngo Dai Cao” 平吳大誥 of 1428: The Development of a Vietnamese National Identity. Tác giả: Stephen O’Harrow. Nguồn: Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 1 (Mar 1979), pp. 159-174. Nxb: Cambridge University Press theo ủy quyền của Khoa Lịch sử, Đại học Quốc gia Singapore. Bản điện tử https://bit.ly/2F8S0rf
(2) Xem Trần Nho Thìn, Bình Ngô đại cáo dưới ánh sáng của loại hình học văn hoá trung đại.
Nguồn: Tạp chí Văn học, số 5/2000, tr. 44-52. Bản điện tử: https://bit.ly/2Ad9Wjf
(3) Nhiều người lại tin rằng bản Toàn Thư hiện được chính thức xem như bản in năm 1697 thực ra chỉ là bản Nội Các đời Nguyễn.
(4) Xem Nguyễn Đăng Na, Bình Ngô đại cáo – Một số vấn đề về văn bản, Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 4 (53), năm 2002. Bản điện tử http://bit.ly/2W12nE4
(5) Xem Nguyễn Đăng Na, Bình Ngô đại cáo: Vấn đề dịch giả và dịch bản, Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 5 (54), năm 2002. Bản điện tử http://bit.ly/2Jfrrpz
(6) Xem Nguyễn Đăng Na, Bình Ngô đại cáo: Một số vấn đề về chữ nghĩa, năm 2004 Bản điện tử: https://bit.ly/2NzqbKM

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)