Trang chính » 50 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (1975-2025), Nhận Định Email bài này

2025, những điều trông thấy và sau đó – Suy nghĩ sau khi đọc Tôi làm tôi mất nước của Lê Văn Phúc

0 bình luận ♦ 27.05.2025

Ông Lê Văn Phúc có lý do riêng để quy trách nhiệm ai làm mất nước của ông. Ông nói: “Tôi làm tôi mất nước”. Người viết bài này không biết ông nói như thế là đúng hay sai, nghiêm chỉnh hay đùa cợt, nhưng dường như ông thành thật nhận lỗi về mình, chứ không tìm cách chối quanh hay đổ tội cho người khác hoặc giúi cho hoàn cảnh và số phận. Ông viết giản dị, kể câu chuyện lúc còn ở quê, học bốn năm trung học và Vovinam tại Hà Nội, đi lính Ngự Lâm Quân ở Đà Lạt, rồi làm nhiều việc đến khi chạy qua Mỹ vào phút chót và đặt bút ghi lại đời mình sau “mười năm lưu lạc giang hồ, làm dăm bẩy thứ nghề lao động chẳng giống ai”, qua đó gián tiếp mô tả xã hội ở những nơi ông đã sống. Ông tự phê phán, đôi khi khắt khe, và khuyến khích chúng ta nhìn lại quá khứ từ một góc khác. Thậm chí ông còn cẩn thận bày vẽ cách thành lập “Hội những người làm mất nước”, nhưng có lẽ không mấy ai muốn gia nhập. Đọc sách của ông khiến chúng tôi nghĩ lại một số điều đã xảy ra hơn nửa thế kỷ qua.

Thanh Tịnh trong cuốn Quê Mẹ xuất bản năm 1941, mở đầu truyện ngắn “Tôi đi học” bằng một câu được nhiều người nhớ: “Hằng năm cứ vào cuối thu…” Suốt nửa thế kỷ nay, hằng năm cứ vào tháng Tư, người Việt thường có nhiều cách để nhớ lại mình đã mất nước hay được nước, thua cuộc hay thắng cuộc, uất ức hay hả hê, buồn hay vui, thất vọng hay phấn khởi hay dửng dưng…, và cố tìm xem ai chịu trách nhiệm cho những tâm trạng trái ngược nhau như thế.

*

Vì đâu nên nỗi? Vì đâu có cuộc chiến tranh ấy? Phải chăng người Việt hiếu chiến hơn hiếu hòa? Phải chăng vì chúng ta là tiền đồn của thế giới tự do và thành trì của quốc tế vô sản? Phải chăng vì ở đâu theo đó, ở miền Nam nên đành cầm M16 và ở Bắc nên phải ôm AK47? Phải chăng chúng ta giết nhau vì tự do, vì độc lập, vì quyền, vì tiền, vì nghe xúi dại, hay chẳng rõ vì cái gì? Trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn của thế kỷ 20 ấy, thị dân hiếm khi nghe tiếng súng, trừ những lần đảo chính và khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1968 và 1972 và 1975 ở miền Nam, hoặc những lúc hàng đoàn máy bay từ xa đến dội bom vào các thành phố miền Bắc lúc dồn dập, lúc tạm ngớt. Trong khi đó, nông dân và người nghèo chịu bom đạn nhiều nhất, nhưng họ ít có tiếng nói nhất. Dường như giới có chữ mỗi khi bàn đến chiến tranh thường nghĩ cao xa và ít lúc nào đoái hoài đến ước vọng sống yên bình của đa số thấp cổ bé miệng. Nhưng mỗi người có quan điểm riêng, hoặc có thể thản nhiên chẳng nghĩ ngợi gì, kẻ gian thậm chí cũng có lời biện minh của họ, còn ông Lê Văn Phúc bảo là tại ông ấy.

Tháng 4/1975, ông Phúc phải bỏ nước mà đi, và câu chuyện mất nước không phải của riêng ông vẫn tiếp tục kéo dài cho đến bây giờ. Vì đâu nên nỗi? Vì đâu mất nước vẫn hoàn mất nước, bất kể sống ở đâu, mặc dù tâm trạng “mất nước” năm 1975 có thể rất khác với hôm nay?

Nửa thế kỷ đã qua từ khi cuộc chiến ấy chấm dứt, sau khi chính quyền bớt cuồng tín và bớt tàn ác để ngưng các chính sách làm khổ dân hàng chục năm, rốt cuộc đất nước thoát khỏi nạn đói, đời sống tương đối ổn định, một tầng lớp trung lưu thành hình và phần lớn yên phận. Tuy nhiên, cảnh cơ cực vẫn là hình ảnh hằng ngày của đa số, nhất là ở thôn quê và miền núi, trong khi tại thành phố lớn là các tòa nhà hoành tráng và kẹt xe kèm theo ô nhiễm. Nói chung, thành quả kinh tế không xứng với tiềm năng và những thiệt hại về tài nguyên và môi trường, và hố cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn, đất đai của cải bị thu tóm vào vài ba tập đoàn đầu sỏ. Về mặt chính trị, trong mấy năm gần đây, một số người vận động cho tự do dân chủ đã bớt lên tiếng hoặc thay đổi cách bày tỏ, có thể vì mệt mỏi, hoặc vì công chúng không hưởng ứng, hoặc nhà cầm quyền đàn áp hiệu quả hơn. Vì thế, ngay khi hết chiến tranh và tiếp tục cho đến ngày nay, hàng triệu người Việt thuộc mọi tầng lớp – giàu và nghèo, cai trị và bị trị, đối lập hay a dua, vọng ngoại hay day dứt nhớ quê – đã tìm mọi cách bỏ nước đi sống khắp nơi trên thế giới, học cái hay và cái dở của xứ người, rất nhiều người không muốn trở về vì đủ thứ lý do.

Mặt khác, thời thế không như một số ông kiểng xa lông và lý thuyết gia hải ngoại nói linh tinh để vuốt đuôi dư luận, ru ngủ lẫn nhau và nhiều khi chỉ là để tự khoe mình. Đôi khi dăm ba vị nổi hứng rủ nhau lập đảng lập chính phủ có đủ ban bệ, từ chủ tịch đến tổng bí thư, từ tổng thống đến thủ tướng, lúc hội kín, lúc công khai, lặp đi lặp lại rằng chỉ vài năm nữa, thường là hai năm, sẽ băng rừng vượt núi hoặc lên máy bay về làm chủ đất nước vì chế độ bên kia đang giãy chết. Hôm nay hội tưng bừng khai trương, ngày mai hội âm thầm đóng cửa sau khi giành nhau chức vụ trong cái hội hữu danh vô thực, hoặc vì nhập nhèm tiền bạc. Một hội có thể biến thành nhiều hội vì không ông bà nào chịu được ông bà nào, rồi dăm bảy hội ấy cũng lặng lẽ biến mất. Người ta có thể thấy vô số hội đoàn chỉ có một hay vài hội viên quanh năm không làm gì nhưng mỗi khi đến tháng Tư lại nổ ì xèo như pháo. Thói háo danh và hoang tưởng vẫn không bỏ, mặc dù đã sống hằng chục năm ở nước ngoài.

Vì đâu nên nỗi? Chúng tôi không rõ lắm nhưng nhận thấy một điều: bên cạnh sự chết chóc cùng vết thương thể xác và tâm lý, hậu quả đáng sợ nhất của cuộc chiến nồi da xáo thịt là sự hận thù và mâu thuẫn giữa các thành phần trong dân tộc đã quá sâu và chưa thể xóa mờ. Mỗi khi nhắc đến cuộc chiến ấy lại thấy nhiều người tiếp tục đào sâu mối chia rẽ, lại nghe xôn xao lời dằn vặt hoặc trịch thượng đối với người khác mình, hơn là tuyên bố “tôi làm tôi mất nước” như ông Lê Văn Phúc. Thế là hằng năm cứ vào tháng Tư, rất đông bình luận gia cả trong và ngoài nước lại tiếp tục phán: chính nghĩa đứng về phía ta, chân lý trong tay ta, cái gì của ta cũng hay, cái gì của địch cũng dở, và không theo ta là kẻ thù của ta.

Nhưng trên đời không ai hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu. Tương tự, tổ chức nào do con người lập ra cũng có điểm hay điểm dở. Vì thế, con người cũng như các định chế của họ cần có khả năng tự đánh giá và thay đổi cho phù hợp với thực tế để có thể tồn tại. Người viết bài này ước rằng từ nay, không nhất thiết phải vào tháng Tư mà quanh năm suốt tháng, các câu chuyện trên mọi phương tiện truyền thông từ trong nước đến ngoài nước sẽ bớt lời giận dữ hay kiêu ngạo để bình tâm mà hiểu được phần nào nỗi đau của người khác, người cùng chí hướng cũng như người đối nghịch. Sau đó, mỗi người thử thành thật nhìn lại mình và xã hội mình đã và đang sống, như ông Lê Văn Phúc, để khiêm tốn hơn và tìm một hướng thoát khỏi sự bế tắc và thù nghịch ngột ngạt đã trở thành quen thuộc suốt nửa thế kỷ qua.

*

*

Tháng Tư năm ngoái, một cuốn hồi ký mới phát hành, My Vietnam, Your Vietnam, tác giả là hai cha con, Christina Vo và Nghia M. Vo. Họ nhìn quê hương từ hai quan điểm khác nhau, nhưng qua cuốn sách viết chung, họ trở nên gần gũi nhau hơn. Trước đó, Phan Thúy Hà, con gái một cựu bộ đội, đã thăm hỏi và ghi lại với lòng tôn trọng nỗi đọa đày của những người lính miền Nam và gia đình họ dưới chế độ mới trong cuốn Tôi là con gái của cha tôi. Những cuốn sách như thế, ra đời cách nhau nửa vòng trái đất và mặc dù còn khá hiếm hoi, sẽ lấp dần hố sâu ngăn cách đã có từ hơn ba phần tư thế kỷ, và hy vọng rằng sau đó một trang giấy mới sẽ mở ra để những người chung một quê hương có thể cùng nhau viết câu chuyện của tương lai.

Mong lắm thay! Hay đó vẫn chỉ là hy vọng viển vông cho nửa thế kỷ sắp tới?

Tháng Tư năm nay,
Phạm Văn

Tham khảo:

– Lê Văn Phúc (1934 – 2020), Tôi làm tôi mất nước, https://vietmessenger.com/books/?title=toi%20lam%20toi%20mat%20nuoc, không rõ nhà xuất bản và năm phát hành, nhưng ở trang cuối ghi “Houston, Texas, 1984”.
– Christina Vo và Nghia M. Vo, My Vietnam, Your Vietnam, Three Rooms Press, New York, 2024.
– Phan Thúy Hà, Tôi là con gái của cha tôi, nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2020.

bài đã đăng của Phạm Văn

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)