Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nghệ Thuật, Nhận Định, Song ngữ, Tạo hình Email bài này

Một Bọn – Điêu Khắc Ta Thán của Nguyễn Thúy Hằng / THAT BUNCH OF WOMEN – The Sculptural Lament of Nguyen Thuy Hang

 

 

RIMG0054

tác phẩm điêu khắc – Nguyễn Thúy Hằng

Sanh ra ngay sau thời chiến tranh với Mỹ, Nguyễn Thúy Hằng thuộc vào thế hệ trưởng thành trong lúc Việt Nam mở cửa hướng ra thế giới và cấp bách xúc tiến phát triển và đô thị hóa. Thế hệ của cô ít cam chịu những nổi đau và khủng hoảng thời chiến, chỉ gián tiếp biết đến những thế hệ liên quan đến chiến tranh, những chiến thắng và sai lầm. Tuy nhiên, đây vẫn là một thế hệ vẫn phải đối đầu với những hậu quả—mặc dù họ đã trở nên tự tin và mạnh dạn hơn, ít nhiều họ ích kỷ hơn, và hiểu biết rõ về một vai trò khả dĩ trên thế giới.

Trong thời gian sau khi có chính sách Đổi mới, một số nghệ sĩ chỉ đơn giản hướng đến những hình ảnh Việt Nam đã quá sáo mòn và bị lãng mạn hóa—một nhà sư núp bóng dưới lá chuối hay lá sen, một cô gái trong chiếc áo dài truyền thống, hoặc một quang cảnh đồng quê thanh bình với đám trẻ con, bầy trâu và ruộng lúa—trong khi các nhà văn khơi dậy những điều kinh khiếp và sai lầm của một cuộc chiến từng được tung hô.

Trong số những nghệ sĩ thuộc thế hệ này, có một số đã đưa ra một cái nhìn đen tối về xã hội thời hậu chiến ở Việt Nam, chỉ trích một thế giới bị đảo ngược và những người dân chưa đủ khả năng sống với sự hiện đại hóa và đô thị hóa. Một số nghệ sĩ đã trở nên danh tiếng từ New York đến Tokyo, từ Shanghai đến Dubai, chính vì những thông điệp được coi là phản kháng có tính chính trị, chống đối, với những hình ảnh kém tinh thần tôn vinh—hoặc ngay cả xấu xí, thô bỉ—về những ông bà chuyên mặc côm-plê hay đồng phục, trông giống những nhân vật thuộc xã hội đen hơn là những lãnh đạo của một xã hội dân sự đương đại.

Thúy Hằng cũng đưa ra một phát biểu bất bình, nhưng cô gián tiếp hơn. Những gì cô nói đến trong những bức tranh và tác phẩm điêu khắc, cũng như trong những bài thơ, truyện ngắn của cô, ít có liên quan đến những giới có trách nhiệm về việc hiện đại hóa thiếu suy nghĩ, mà chính là nói về những giới phải chịu đựng những hậu quả.

Như thế, Thúy Hằng gần gủi với các phụ nữ cùng trang lứa—đặc biệt là những người chiếu rọi ánh sáng vào những khó khăn và cuộc sống đầy khổ nhục của phụ nữ Việt Nam.

Đinh Ý Nhi (s. 1967) và Lý Trần Quỳnh Giang (s. 1975) từ lâu đã dẫn chúng ta đến chiêm nghiệm về những con người buồn bã, những khuôn mặt ưu sầu—trong trường hợp của Đinh Ý Nhi là những hình vẽ thô thiển như của trẻ con, có ba màu đen, trắng, xám, và những mặt người ít có những nét riêng tư dễ nhận. Họ mang vẻ ma quái, ghê sợ, nhưng cùng lúc gây cho ta một phản ứng vừa khó nhọc vừa đầy tình cảm. Tuy họ có vẻ xa lạ, ít nét dáng đặc trưng, đây là những người rõ ràng đã bị đẩy vào những số phận và định mệnh khó khăn.

dyn5tranh – Đinh Ý Nhi    

                             in-the-boxtranh – Lý Trần Quỳnh Giang

Những bức chân dung sơn dầu của Lý Trần Quỳnh Giang cũng tạo nên một cảm giác buồn bả, kết hợp của những gam màu nhạt—màu lá mạ, xanh nhạt, vàng nâu,… với một lớp đệm trắng xám. Những người đàn bà mà cô vẽ với những nét cọ mạnh và dày có khi cũng không có nét vẻ riêng biệt, nhưng hầu như họ đều chọn một sự im lặng riêng cho mình, một nhân cách đúng đắn, và sự cam chịu trong những ánh mắt xa xăm của họ. Những bức khắc gỗ của cô gồm những người đàn bà gầy ốm, co quắp, hoặc những chân tay đã biến dạng. Từ vẻ mặt, tư thế, đến chân tay—ở đây là những người đàn bà hình như bị bó buộc, không cử động được, và sự cam chịu lại là một cá tính nổi bật hiện hình trước mắt chúng ta.

Đinh Thị Thắm Poong, sanh năm 1970 với hai dòng máu, vẽ những phụ nữ dân tộc trong những bộ y phục truyền thống: mới nhìn thì ta cứ tưởng đây là những bức tranh trong những cửa tiệm bán đồ lưu niệm, nhắm vào khách du lịch đang tìm một hình ảnh văn hóa lạ. Nhìn kỹ hơn sẽ thấy đây là những phụ nữ ôm ấp cả những phong cách cổ truyền lẫn những thói quen hiện đại.

Cách vẽ của Thắm Poong nêu lên những câu hỏi và sự hiểu biết về quan hệ của những người đàn bà này với thiên nhiên, cũng như về phong thái tự biểu hiện với phục trang mà thông thường người ta chỉ cảm nhận với một tinh thần tìm cái lạ, tính biểu tượng chung của một dân tộc thiểu số, thay vì nhìn nhận cá tính của những cá nhân riêng biệt.

Nguyễn Thị Châu Giang (s. 1975) cũng vẽ những người đàn bà mang sự đau đớn: tranh của cô tinh anh, gần như có tính “dễ thương,” với những nét vẽ trung thực và lãng mạn: những chiếc lá, đám mây, làm thành một bố cục dễ chịu. Nhưng trước một bối cảnh đẹp như thế, ta lại bị buộc phải đương đầu với những vết thương nham hiểm: một con mắt chột, một khoang mắt bị chọc thủng, những cành cây khô trên y phục tựa như những mạch máu và những căn bịnh lan truyền, tương tự như cách Frida Kahlo mô tả những cái đau thể xác và tinh thần. Những hình ảnh phụ nữ khác trong các tác phẩm của Châu Giang cũng nói đến những thân xác co quắp, héo mòn, bị bó kẹt giữa một đời sống nhọc nhằn, những đòi hỏi của chồng con, và sự lão hóa.

Những phụ nữ trong tác phẩm của Thúy Hằng cũng bị bóp méo, buộc phải biến dạng thể xác lẫn tinh thần, phải phục tòng những đòi hỏi cổ truyền cũng như đương đại. Đây không phải là một đề tài hay quan tâm mới mẻ của những phụ nữ tại phương Tây, nhưng ở đây Thúy Hằng biểu hiện được những sự đấu tranh của một phụ nữ sống trong một xã hội Việt Nam thời hậu chiến đang hiện đại hóa.

Sanh tại Sài Gòn năm 1978, Thuý Hằng tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật, T.P. Hồ Chí Minh vào năm 2002. Cô được giải Tài Trợ Nghệ Sĩ Trẻ năm 2006 tại Melbourne, Úc, và cũng từng tu nghiệp tại bang Minnesota và California ở Mỹ.

Đã lâu, Thúy Hằng ít tham gia vào thế giới nghệ thuật ở Việt Nam, bởi vì cô ngại rằng những hoạt động văn hóa công cộng ở Việt Nam có ít liên quan đến phẩm chất của tác phẩm—đặc biệt là trong lãnh vực tạo hình—mà thật ra liên quan nhiều hơn đến những “biểu lộ nghệ thuật chấp nhận được,” và mối quan tâm không tránh được về danh vọng và tiền bạc, và thêm nữa là sự chú ý từ bên ngoài.

Thúy Hằng đã có những cuộc trưng bày rời rạc, gồm ba đợt triển lãm: “Nghệ sĩ Sài Gòn” (Van Art Gallery, T.P. Hồ Chí Minh, 2008), “Cây” (Phnom Penh, Cambodia, 2006) và “Trốn,” (studio tư nhân, T.P. Hồ Chí Minh, 2003.) Mới đây nhất, cô đã có cuộc triển lãm cá nhân, “The Gang,” tại Viet Art Centre, Hà Nội vào năm 2008.

Khi không tham gia trưng bày tác phẩm nhiều, Thúy Hằng gián tiếp bình phẩm về mốt thế giới nghệ thuật mà cô cho là trọng nam giới, tương tự như cả xã hội Việt Nam. Theo cô, “nghệ sĩ phái nữ làm việc nhiều hơn, đều đặn hơn.” Đây là một cách thừa nhận khéo léo một “bí mật” nhiều người thừa biết trong giới nghệ sĩ khi mà cuộc sống của các nghệ sĩ phái nam gồm những thời gian làm việc thất thường, và những giai đoạn thường tình hơn gồm chuyện giải trí, nhậu nhẹt, tán tỉnh, yêu đương—nhưng ngược lại họ lại có nhiều cuộc triển lãm hơn, và được biết đến nhiều hơn.

Thúy Hằng đôi khi bông đùa về những chuyện “ăn chơi” của mình, và đấy gần như là một thông điệp về cái quyền của cô—ý thích vui sống như giới nam. Sống, vui chơi, ứng xử như một người đàn ông không còn là một quyền hạn đặc biệt, nhưng là một cơ hội bình đẳng cho cả họ và cả phụ nữ. Thật ra Thúy Hằng thích và vật lộn với những thời gian cô lập tự nguyện, chú tâm vào những bức tranh, các tác phẩm điêu khắc, và chuyện viết lách. Trong khi cô có vẻ cởi mở, họa hằn lắm cô mới mở lời nhắc đến vấn đề giới tính của cô trong tác phẩm hoặc cuộc sống của mình.

Khi viết văn, làm thơ, Thúy Hằng thường bàn về cảm giác cô lập của phụ nữ ở Việt Nam, có khi trong những bài “văn xuôi” siêu thực. Cô đã cho ra đời bốn cuốn sách: “Bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ”, NXB Trẻ và Nhà sách Kiến Thức, Hà Nội, 2008; bộ sách ba tập “Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý,” NXB Trẻ và Nhà sách Kiến Thức, Hà Nội, 2006.

Gân đây, Nguyễn Thúy Hằng đã vẽ một số tranh có các khuôn mặt tái, trắng, miệng mở rộng, biểu tỏ nhu cầu hét lên—nhưng nội dung vẫn bị kìm hãm, im lặng, hoặc không có người nghe. Trong những tác phẩm điêu khắc của cô, những khó khăn của những phụ nữ cùng thế hệ được biểu lộ với những hình hài xiêu vẹo, những thân hình tự biến dạng cong queo trong khi cưu mang những thân thể khác cũng bị bóp méo như thế—một lời bình phẩm về những đòi hỏi cũ xưa áp đặt vào đời sống của phụ nữ khi họ làm tròn nhiệm vụ một người vợ và người mẹ, cũng như người chăm lo cho cả xã hội.

DSC_0028 copy

tác phẩm điêu khắc – Nguyễn Thúy Hằng

Thứ vải thô Thúy Hằng dùng để buộc những thân hình bằng gỗ và thép cũng là vải tang. Đây là loại vải tang cô dùng để tỏ sự tiếc nuối cho về những cành lá, thân cây, bị phá hủy trong khi Việt Nam đua theo kế hoạch đô thị hóa. Vải trắng cũng mang ước vọng của Thúy Hằng để có được một xã hội đơn giản hơn, một sự tinh khiết đang nhanh chóng tan biến đi trong đường phố và đời sống ở Hà Nội. Người xem buộc phải nhìn những tác phẩm này—và những phụ nữ được biểu tượng ở đây, từ những góc cạnh lạ kỳ. Một số những tác phẩm này gây ấn tượng ta đang đứng trong một cửa hàng bán thịt, hay trong một tủ đông đá tại lò mổ, khi thân thể và chân tay loài vật bị treo ngược từ trên trần nhà một cách ma quái. Có khi những tác phẩm gợi cho ta nhớ đến những màn vũ đương đại với những cành cây và đầu người vươn qua không gian với một hy vọng nào đó, nhưng cùng lúc các động tác cũng bị hạn chế.

Những tác phẩm điêu khắc có tên là “Một Bọn,” một từ ngữ mà, theo Thúy Hằng, có thể dùng để gọi thế hệ hậu chiến. Nó có một tinh thần khinh miệt, khi người ta muốn nói đến một thế hệ được coi là ích kỷ và không biết nhiều về những sự hy sinh thời chiến của những thế hệ trước đó. Tuy nhiên, tự đặt cho mình một tên gọi như thế cũng là một cách khôi hài mỉa mai để nói đến “một bọn đàn bà” đang phải tranh đấu tự đặt dấu ấn trong một xã hội đang lao vào cơn lốc điên loạn của thời phát triển quá nhanh.

 


THAT BUNCH OF WOMEN – The Sculptural Lament of Nguyen Thuy Hang

By Nguyen Qui Duc

DSC_0083 copy

sculpture – Nguyen Thuy Hang

Born in the immediate aftermath of the Vietnam-American War, Nguyen Thuy Hang belongs to a generation that came of age as Viet Nam opens up to the world and is fast on road to development and urbanization. Her generation is, expectedly, less burdened with the sorrows and trauma of war, indirectly aware of its players, its triumphs and failures. Nonetheless, this generation is constantly confronted with its consequences—even as it becomes more confident and expressive, somewhat self-centered and aware of its potentials in the world.

In the period ushered in by the policy of reform called Đổi mới, or Renovation, ten years after the war, some artists merely turned to clichéd and romanticized images of Viet Nam—a monk under banana or lotus leaf, a girl in a traditional tunic, or a peaceful country scene with children, buffaloes and rice fields—while writers exposed the horrors and mistakes of a long-heralded war. Among the artists of this generation, some did turn a critical eye on the post-war society that Viet Nam has become, decrying a world turned upside down with a population unable and unskilled to cope with modernization and urbanization. Some artists have become well-known and celebrated in circles from New York to Tokyo, and from Shanghai to Dubai, precisely because of what is perceived as political, anti-state messages, with less than flattering—or downright “crude and rude” images of suited or uniformed men and women resembling underworld figures more than leaders in a modern civil society.

Thuy Hang also provides an expression of discontentment, but she remains more indirect. What she describes in her paintings and sculptures, as well as in her poems and prose, is less about those responsible for unchecked modernization but rather those having to suffer its consequences. In this, Thuy Hang remains close to her female contemporaries—in particular those who choose to highlight the difficulties and pained lives of Vietnamese women.

Painters like Dinh Y Nhi (b. 1967) and Ly Tran Quynh Giang (b. 1975) have long asked their viewers to contemplate melancholic figures and troubled faces—in the case of Dinh Y Nhi, black, white and gray, cartoon-like stick figures, and faces with little personal features. They can sometimes be ghostly and harrowing, nonetheless evoking both a troubled and sympathetic response. As impersonal as they seem, these are characters clearly forced into the same difficult fate and destiny.

Ly Tran Quynh Giang’s oil portraits of women equally evoke a melancholic sensibility, often mixing somber canvases with pale colors—aquamarine, light greens, beige…, with a white and gray undertone. The women she paints with strong and thick brush strokes sometimes also carry indistinct features, except all seem to have adopted the same voluntary silence, dignity in their pose, and stoicism in their distant eyes. Her wood carvings consist of emaciated and distorted women, or disfigured limbs. Faces, poses or disjointed limbs—the women here seem bound, unable to move, and stoicism again a strong personality trait in the images confronting us.

Dinh Thi Tham Poong, born of mixed ethnic heritage in 1970, depicts women in traditional tribal costumes: at first they resemble paintings found in souvenir shops catering to tourists looking for an exotic image. A closer examination will reveal that these women too are straddling ancient and modern customs, and Tham Poong’s approach to her paintings raises questions and understanding about the women’s relationship with nature, and about their means of self-expression through ethnic garments, accessories, and decorations that otherwise are viewed singularly in their exotic, tribal representation, rather than individualistic identity.

9077Man_and_Woman painting – Dinh Thi Tham Poong 

             my_son painting – Nguyen Thi Chau Giang

Nguyen Thi Chau Giang (b. 1975) also paints women in pain: hers are delicate, almost pretty, portraits, with romantic and realistic renderings of leaves, flowers or clouds forming a pleasant background. But against such an attractive backdrop, her images confront you with unforgiving wounds: a missing eye, a pierced eye socket, dried branches on clothing that convey blood veins and spreading injuries, much in the same ways Frida Kahlo depicted her physical and psychological pain. Other images of women in Chau Giang’s paintings also refer to shriveling bodies, caught in a life of hardship, spousal or motherhood demands, and the aging process.

So are the women in Thuy Hang’s sculptural works. Distorted, forced into difficult and unnatural physical (and mental) states, they are conforming to both traditional and modern demands. These are not new themes or concerns for women in the West, but here, Thuy Hang succeeds in expressing what women still struggle with in the post-war, modernizing context of Vietnamese society.

Born in Saigon in 1978, Thuy Hang graduated from the University of Fine Arts of Ho Chi Minh City with a B.A. in 2002. She was a recipient of The Young Artists’ Arts Grant Program 2006 of Melbourne, Australia, and also studied privately in Minnesota and California, U.S.A.

For many years, Thuy Hang was reluctant to participate in the art world in Viet Nam, as she fears the public cultural activities in Vietnamese society often has less to do with quality of the work—particularly in the field of visual arts—and more to do with “acceptable artistic expressions,” and the unavoidable issues of fame and fortune, and by extension, attention from the outside world.

Thuy Hang has held infrequent exhibitions. They include three group shows, “Saigon Artists” (Van Art Gallery, Ho Chi Minh City, 2008), “Trees” (Phnom Penh, Cambodia, 2006) and “Hide away,” (private studio, Ho Chi Minh City, 2003.) Most recently, she had a solo exhibition, “The Gang” at Viet Art Centre, Hanoi 2008.

By not exhibiting much, Thuy Hang indirectly comments on the artistic world that she sees as male-dominated, much in the same way Vietnamese society is. “We women work all the time, and are more steady,” she says. It’s a subtle acknowledgement of a well known “secret” in the artistic world in which the lives of male artists are marked by infrequent periods of work, and more frequent periods of entertainment, drinking, romantic dalliances—and yet, they have more frequent exhibits and are more well known.

Thuy Hang sometimes refers playfully to “hedonistic” activities, and it verges on a message about how it’s her rights and desire to enjoy life like a man. Behaving like men is no longer a privilege but an equal opportunity for them and women. And yet in truth, Hang enjoys and struggles with long periods of self-imposed isolation, concentrating on her paintings, sculptures, or writing. While she appears quite open, it will be rare when she will discuss her sexuality either in her work or in life.

As a writer and a poet, Thuy Hang often deals with a sense of alienation among modern women of Viet Nam, sometimes in surrealistic “prose poems.” She has published four books: her publications include “Because We Haven’t Been Able to Sleep” (Youth Publishing House & Knowledge Publishing House, Hanoi, 2008) and the trilogy “Current Times, Good Sensations, and Reasonable Insanity,” (Youth Publishing House & Knowledge Publishing House, Hanoi, 2006).

Thuy Hang has currently been working with paintings of pale white faces, with large open mouths, expressing a desire to scream out—yet the message remains somehow muted, silenced, or left unheard. In her sculptural works, the difficulties of women of her generation are presented with distorted bodies, the figures forcing themselves into twisted positions while carrying new, equally deformed bodies—a comment on the traditions placed on women as they fulfill their roles as wives and mothers, and societal caregivers.

The rough, white cloth Thuy Hang uses to bind these figures of wood and metal also is a cloth of mourning. The same cloth is used to mourn the branches and trees destroyed as Viet Nam embarks on a process of urbanization. The white cloth also carries Hang’s wish for a simpler society, a purity fast disappearing in the streets and lives of Ha Noi. The viewer is forced to look at these sculptures, and the women they represent, from odd angles. Some of these pieces remind us of a butcher shop or a slaughterhouse freezer, with figures and limbs hanging from the ceiling in ghostly manners. Other pieces are reminiscent of modern dance movements, with branches and heads made of resin reaching across space in hopeful yet stunted strides.

The sculptures are called “That Bunch,” a term one may use, Hang says, to describe people of her post-war generation. It is somewhat derogatory in the way people refer to a generation thought to be self-absorbed and unfamiliar with the war-time sacrifices of previous generations. However the self-appellation could also be a tongue-in-cheek, ironic way to describe themselves, “that bunch” of women struggling to define themselves in a society caught in the mayhem of rapid development.

bài đã đăng của Nguyễn Quí Đức


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)