Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Một sự im lặng không chấp nhận được


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 29.01.2009

LTS: Bài viết dưới đây của nhà văn Nguyễn Quí Đức (do dịch giả Trần Thiện Huy chuyển ngữ) ấn hành trên nhật báo Los Angeles Times ngày 8 tháng 8 năm 1999. Đã gần mười năm trôi qua, nhưng bài viết hoàn toàn không mất đi tính thời sự, và hơn thế nữa, nói về cùng một điều mà tác giả của “Nạn Nhân” đã đặt toàn bộ sức nặng bài viết của mình vào đó.

Nguyên văn bản Anh ngữ của “Một sự im lặng không chấp nhận được” có thể tìm thấy ở đây: http://articles.latimes.com/1999/aug/08/local/me-63778

Gần đây, tôi đã phải tính đến khả năng không giữ một lời hứa, mà cuối cùng tôi đã thực hiện tháng trước, về việc phát biểu về nghệ thuật Việt Nam tại Bảo tàng Bowers nhân dịp có triển lãm “Dòng sông uốn khúc – Hành trình Nghệ thuật Việt Nam đương đại”. Là một người trong cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, việc tôi đến bảo tàng Bowers đồng nghĩa với chọc giận những người đang biểu tình phản đối, coi cuộc triển lãm như một thứ tuyên truyền cho Cộng sản.

Tôi không phải là kẻ thờ ơ vô cảm trước những sự thương tổn và giận dữ của những người biểu tình. Có ai bỏ ngoài tai được những câu chuyện về sự đàn áp và đày đoạ dưới chế độ Cộng sản trong thế kỷ này không? Có người Việt nam nào quên được những gì chủ nghĩa Cộng sản đã làm trong đất nước mình 55 năm qua không? Làm sao người ta ngoảnh mặt không nhìn thấy câu chuyện của hàng trăm ngàn người bị cầm tù trong 25 năm vừa qua?
Một năm trời làm việc trong trại tị nạn ở Indonesia khoảng gần 1980, tôi cố hết sức mà vẫn không giải thích nổi sự liều lĩnh tuyệt vọng, những chịu đựng và lòng dũng cảm tưởng như không thể có của các thuyền nhân – già có, trẻ có, căm giận có, sợ hãi có, nhưng trên hết cả là lòng quyết tâm tạo dựng cuộc sống mới ở bên ngoài Việt Nam. Những người sống sót được sau hành trình gian lao ra khỏi Việt Nam nay đã tìm được đến thế giới tự do. Thật là vô lý khi trong số họ có những người đang đòi áp đặt kiểm duyệt các tác phẩm nghệ thuật đưa từ Việt Nam qua.
Tôi không có cách nào cho phép mình trốn tránh không xuất hiện ở bảo tàng Bowers vì có những cuộc biểu tình ngán ngẩm. Sự im lặng sẽ là một cách giễu cợt tất cả những khổ đau tôi đã thấy và đã nghe nói. Nó sẽ làm lu mờ những bài học lịch sử mà tôi đã được dạy về những anh hùng chống áp bức của Việt Nam. Nó sẽ làm những năm trời cha tôi phấn đấu để sinh tồn qua vô số trại tù Cộng sản trở thành hoàn toàn vô nghĩa. Và sự im lặng sẽ phản bội lại niềm tin của tôi về nhu cầu, và bổn phận, tuyệt đối của người cầm bút – bảo vệ tự do phát biểu, cả cho chính mình lẫn bất cứ ai.

Bạn bè và đồng nghiệp đã cố gắng thuyết phục tôi đừng đến viện bảo tàng. Tôi sẽ bị chụp mũ là kẻ thân Cộng, và làm tổn hại danh tiếng, cũng như cơ hội làm ăn của đài truyền hình nơi tôi đang làm việc. Nhưng có cơ quan truyền thông nào lại chấp nhận được sự kiểm duyệt, trừ ở trên các quốc gia Cộng sản? Có người cảnh cáo là những người khuấy động biểu tình không cần lý lẽ gì cả, và họ chỉ dùng chiêu bài chống Cộng để tạo quyền lực cho mình. Ngay giữa những người biểu tình, có thể có những cá nhân nghĩ tôi quá ngây thơ, vì chưa từng sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng cả ngàn bức hoạ tuyên truyền cũng không xoá đi được những dấu hiệu thất bại rõ ràng của hệ thống cầm quyền.

Tôi có thể đồng tình với những người nhận xét rằng trao đổi văn hoá với nước Việt Nam Cộng sản chỉ là con đường có qua không có lại. Nhưng kiểm duyệt không phải là một giải pháp. Những ai quan tâm nên mở cuộc đối thoại với đại sứ Việt Nam ở Washington xem những lãnh đạo Việt Nam đã sẵn sàng chấp nhận tự do phát biểu trong nước chưa. Tôi chỉ e rằng những nghệ sĩ hải ngoại đem tác phẩm về Việt Nam trưng bày lại sẽ bị coi là thân Cộng – chuyện đã từng xảy ra.

Nhiều người trong giới chủ báo, nghệ sĩ và người viết khuyên tôi không nên ra mặt đối đầu ở bảo tàng Bowers, dù họ biết rõ khi tôi xuất hiện ở đó vào ngày 18 tháng 7, tôi sẽ chiếu những hình ảnh tác phẩm của nghệ sĩ Mỹ gốc Việt, và nói đôi điều về những gì họ muốn phát biểu, và được quyền phát biểu, trên đất nước này.
Họ là những người bạn và đồng nghiệp đáng kính, những đàn anh mong muốn cuộc
sống bình yên trên nước Mỹ. Nhưng tôi kêu gọi họ tham gia cùng với tôi và những người trẻ, những người khẩn thiết mong giữ được quan hệ với cộng đồng mình. Sau khi im lặng bao lâu nay vì sợ chụp mũ, phải chăng đã đến lúc họ lên tiếng? Họ đã tranh luận riêng tư về những vấn đề liên quan với tôi. Họ có lý do gì không thể làm như vậy trước công luận? Liệu họ có dám viết những bài chủ trương phản đối sự kiểm duyệt? Liệu rồi đây họ có thể làm như Vaclav Havel và những nghệ sĩ, người viết bị đàn áp khắp thế giới, và công bố những bức thư ngỏ trên các tờ báo cộng đồng?

Họ đã thổ lộ với tôi là chính họ cũng thấy những lời kêu gọi sự kiểm duyệt tại bảo tàng Bowers là không thể chấp nhận được. Họ cũng phải thấy, từ đáy lòng, rằng chính sự im lặng của mình cũng không thể được chấp nhận.
Tôi tin rằng, có một đa số thầm lặng đại biểu cho suy nghĩ đó trong một cộng đồng Mỹ gốc Việt vốn dĩ hiền hoà và biết tình biết lý. Đó là một đa số phản đối mọi sự kiểm duyệt, kể cả ở quê nhà lẫn trên nước Mỹ. Đa số thầm lặng này sẽ cứ thầm lặng mãi, hay đã đến lúc phải lên tiếng?

bài đã đăng của Nguyễn Quí Đức


1 bình luận »

  • Nguyễn-Khoa Thái Anh viết:

    Tôi đã đọc bài ̣bình luận này từ năm 1999 và đúng như ban biên tập Da Màu nhận định: đã gần 10 năm mà câu chuyện “chống Cộng” trong cộng đồng Việt hải ngoại vẫn không cũ (triển lãm VAALA).

    Tôi không phải là một người “thầm lặng” trong số những bạn bè và thân nhân mà Nguyễn Quí Đức đã nêu lên trong bài, nên cũng xin lặp lại lập trường của mình, tôi đồng ý 99 phần trăm với bài Nguyễn quí Đức. Nhưng 1 phần trăm không tán thành do hơn vấn đề của câu sau đây:

    “I fear that Vietnamese American artists who exhibit their works in Vietnam will be called Communist sympathizers, as has happened.”
    “Tôi chỉ e rằng những nghệ sĩ hải ngoại đem tác phẩm về Việt Nam trưng bày lại sẽ bị coi là thân Cộng – chuyện đã từng xảy ra.”

    Cái khó của sự giao lưu hai chiều Hoa Kỳ Việt-Nam không chỉ giới hạn trong chuyện giao lưu văn hóa một chiều — nảy nguồn từ sự thiếu sót trầm trọng trong căn cội của văn kiện hiệp ước thương mại song phương giữa hai nước (US-VN Bilateral Trade Agreement, có hiệu lực kể từ 10/12/2001), bảo đảm cho sự hội nhập văn hoá phẩm của hai bên — mà chính ở tư duy sợ sệt, hạ mình và né tránh vấn đề tất nhiên phải có của những văn nghệ sĩ hải ngoại khi về trình diễn ở Việt Nam.

    Cho nên tôi không hiểu anh Đức muốn nói đến trường hợp cá nhân nào khi phát biểu câu trên? Cho đến nay, theo hiểu biết của tôi, chưa có một cuộc triển lãm nào khả dĩ có thể gọi là có tẩm vóc ở Việt-Nam mà các tác giả hải ngoại có thể trình bày một cách tự do hay vô tư tác phẩm của mình.

    Nói tóm lại, giữa sự độc quyền của nhà nước Việt Nam trong chuyện giao lưu một chiều này và sự hợm hĩnh của một số người Việt hồi hương (người Việt hải ngoại về VN sinh sống) vẫn còn một hố sâu khoảng cách rộng lớn không vùi lắp được. Vì họ cho rằng mình lúc nào cũng hiểu biết về giá trị khôi nguyên của dân chủ cao xa hơn thành phần cực đoan nên cố ý hoặc vô tình “im lặng” trước sự bất công và bất cập của cầm quyền Việt Nam.

    Nguyễn-Khoa Thái Anh

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)