Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 17, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Stewart Crenshaw

0 bình luận ♦ 16.12.2006
Phan Nhiên Hạo chuyển ngữ

 

 

Hơn một thế kỷ sau khi qua đời, Stewart Crenshaw còn gây tranh cãi không ngớt. Bằng một quyết định siêu phàm hay đạo đức giả, Creshaw đã mãi ghi dấu cá nhân vào lịch sử Hoa Kỳ. Tương tự như Billy the Kid, Tokyo Rose, Muhammad Ali, hay Jeffrey Dahmer, Crenshaw là biểu tượng Mỹ, nhưng trong khi những nhân vật trên đi vào lòng người bằng cách phạm pháp, Crenshaw chưa bao giờ là tội đồ. Mặc dù tự biến mình thành nô lệ, ông chưa bao giờ ngồi tù. Crenshaw chỉ đi ngược lại niềm tin sâu thẳm nhất của thời đại ông, và có thể của cả thời đại chúng ta.
Steward Crenshaw là một thị trấn mỹ nghệ Friarspoint, Mississippi. Tên ông trang điểm (và làm xấu đi) hầu hết các tòa nhà trong vùng. Cửa hàng đồ lưu niệm bán áo thun Crenshaw, xâu chìa khóa, roi da, đàn banjo, dây xích, cốc uống café. Tại tiệm ăn Crenshaw, có thể gọi món đặc biệt hàng ngày gồm bắp hầm, nửa chân giò, nước lạnh (giá 3 đô la 95). Khuôn mặt khá xoàng xĩnh của Crenshaw được bất tử hóa qua bức tượng đồng bán thân dựng sau tòa án xinh đẹp.

Ngày ngày, xe bus chở cả ngàn du khách (phần lớn từ Mobile, Alabama và Nhật Bản) đến đồn điền Crenshaw. Đa số du khách bỏ qua ngôi nhà đồ sộ, đổ dồn đến túp lều đổ nát ở rìa mảnh đất. Trong khoảng không tối tăm, chật hẹp, thiên hạ chen nhau chụp những tấm hình lờ mờ chiếc mền mà Crenshaw rên rỉ hạnh phúc chui vào mỗi đêm sau cả ngày cực khổ chặt mía trên đồng dưới cái nóng trăm độ. Thiên hạ xem xét đôi ủng, cây búa, chiếc nón nỉ, muỗng gỗ, những chiếc đinh, lưỡi liềm.

Một tấm bảng đồng trên tường tóm lược tiểu sử Crenshaw cho những kẻ dốt nát hoặc chóng quên:

Stewart Crenshaw sinh năm 1802 ở Savannah, Georgia. Thân phụ là chủ một công ty thép, Crenshaw lớn lên trong sung túc với mười hai cuốn sách. Năm 1828, cha mẹ chết trong trận hỏa hoạn. Crenshaw bán công ty gia đình, chuyển đến Friarspoint, tậu ba trăm mẫu đất hoang (là nơi quý vị đang đứng đây). Crenshaw xây một ngôi nhà mà y cho là kiểu Georgia, lò hun thịt, kho chứa cỏ, chuồng ngựa, khu nô lệ. Tọa lạc trên gò đất, ngôi nhà nổi bật bởi sự cân xứng, đường nét mạch lạc, góc cạnh bí ẩn. Lối đi trải sỏi râm mát bởi hàng cây bách, mười hai bậc thềm dẫn lên hàng hiên có những cột chống. Dây leo Tây Ban Nha, hoa lan, và những bụi hồng tăng vẻ duyên dáng cho khu vườn.

Tuy không xuất thân nghề nông, Crenshaw thừa biết thứ đất đen trong đồn điền rất lý tưởng để trồng mía. Y mua hai mươi nô lệ, gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, tất cả thuộc một đại gia đình, 700 đô la mỗi mạng. Thế rồi Crenshaw làm chuyện chấn động quốc gia. Y nói với đám nô lệ rằng ngôi nhà lớn, và đồ đạc trong đó, thuộc sở hữu của họ. Phần mình, y dọn đến túp lều rìa đồn điền.

Đứng đầu gia đình nô lệ là Ezekiel Moses. Moses không thể hiểu quyết định kỳ quái của Crenshaw. Ông đinh ninh Crenshaw đang gài bẫy gì đây. Chỉ cần họ dọn vô ngôi nhà lớn, địa ngục sẽ bắt đầu. Dân da trắng giận dữ khắp thị trấn sẽ nhào đến trói từng người vào cọc quay chín.

Crenshaw trấn an Moses: “Tôi mới tốn 15 ngàn đô la mua các ngươi. Đời nào tôi để bọn họ đốt tài sản của tôi?”

Moses nhìn vào cặp mắt xanh nheo cười của Crenshaw: “Nhưng sao ông làm vậy?”

“Vì tôi là chủ nhân của các người. Là chủ, tôi có thể đòi hỏi các người trở thành chủ của tôi. Tôi có quyền làm nô lệ cho các người.”

“Làm nô lệ không phải là một quyền”, Moses đính chính, cười mỉa.

“Ông sai, bạn tôi. Trở thành nô lệ là quyền duy nhất mà ta có được.”

Moses biết ông đang đối thoại với tên ngốc. Lẽ ra ông đã cười vào mặt gã nếu không cảm thấy giận dữ vì gã đang biếm nhạo đồng bào khốn khổ của mình. Moses nhổ nướt bọt: “Trò này sẽ kéo dài bao lâu?”

“Đây không phải trò chơi, bạn tôi.”

“Từ giờ ông là nô lệ của tôi?”

“Phải.”

“Vậy chấm dứt ngay việc gọi tôi là bạn.”

Moses đợi thêm một đêm rồi dọn gia đình vào ngôi nhà lớn. Tuần đầu tiên, họ dọn hết vào phòng cạnh bếp. Căn nhà đồ sộ được tiến chiếm từng phòng. Mất gần nửa năm đại gia đình của Moses mới sở hữu toàn bộ ngôi nhà.

Đứng trên hiên nhà mỗi sáng, Moses có thể thấy Crenshaw làm việc đơn độc trên đồng, một hình nhân nhỏ xíu lẩn khuất trong đám mía. Gã đàn ông da trắng chẳng có mấy kiến thức đồng áng. Một trong những con trai của Moses thỉnh thoảng phải chạy ra dạy Crenshaw vài đường căn bản nghề trồng mía. Mặt trời xuống, họ mang cho Crenshaw cơm, đậu, và mề gà. Crenshaw cải thiện bữa ăn đạm bạc bằng cách trồng rau dền và bắp cải trên đám đất nhỏ. Mặc dù không ai giám sát, y vẫn làm việc từ sáng đến chiều, ngoại trừ Chủ Nhật.

Tiếng đồn chẳng bao lâu lan xa về hành động kỳ quặc của Crenshaw. Ngày nào đám đông cũng tụ tập trước cổng. Không ai dám trèo qua hàng rào vì Crenshaw đã cảnh báo, rất rõ ràng, sẽ nã đạn lập tức vào kẻ nào dám làm vậy. (Moses cho y mượn súng). Lẫn trong đám đông tò mò và hung hăng là những kẻ vận động giải phóng nô lệ, ca ngợi Crenshaw như thánh. “Ông ta đang cứu chuộc tội lỗi của các người”, họ la lên giữa những tiếng ề à chế giễu. Báo chí cả nước, thậm chí từ Âu Châu, phải đến cả trăm phóng viên, nhưng Crenshaw từ chối tất cả phỏng vấn.

Moses, tuy vậy, không hoàn toàn trầm lặng. Từ chỗ khiếp sợ đám đông sôi sục ngoài cổng, ông quen dần sự hiện diện giận dữ và thú vị của họ. Đầu tiên ông đứng trong phòng ngủ chính tầng hai, quan sát đám người lộn xộn qua khe màn cửa. Rồi ông ra hiên nói đùa với họ. Sau cùng Moses ngồi trên ghế lớn ngay sau rào sắt trả lời câu hỏi.

“Crenshaw là tên ngốc, đúng không Moses?”

“Ông ta rất can đảm.”

“Y mất trí!”

“Ông ta là thiên tài.”

“Nói vậy là sao?”

“Chỉ thiên tài mới có thể tạo ra mẫu hình mới.”

“Nói lại coi.”

“Mẫu hình mới.”

“Ông đối xử với Crenshaw thế nào?”

“Như con.”

“Y có được ăn uống đầy đủ không?”

“Tôi không để ông ta chết đói.”

“Crenshaw làm gì khi rảnh.”

“Cầu nguyện.”

“Làm gì nữa?”

“Hát và viết.”

“Viết à?!”

“Đúng vậy.”

“Viết gì?”

“Đời một nô lệ.”

“Viết bằng đèn dầu?”

“Bằng đèn cầy.”

“Ông cho phép y làm điều đó?”

“Tôi không có gì phải che dấu.”

“Y có hay than phiền?”

“Luôn vui tươi.”

“Nhưng y không thể hạnh phúc!”

“Ông ta cô đơn.”

“Thế y cần vợ.”

“Không, cần nô lệ.”

“Sao không mua cho Crenshaw?”

“Crenshaw không tin tưởng hôn nhân tạp chủng.”

Mặc dù tính tân kỳ của sự kiện da trắng làm nô lệ cho da đen không bao giờ mất hẳn, đám đông cũng thưa dần đến khi chỉ còn hơn chục khán giả mỗi ngày. Có hôm không mạng nào. Crenshaw và Moses mỗi người quay về đời sống đơn điệu riêng tư. Năm tháng trôi qua…

Liệu một nô lệ có thể nghĩ xa vài năm? Rất ít khả năng. Nô lệ thậm chí không nghĩ xa vài ngày. Người ta không thể nhận thức tương lai khi không dự phần hoạch định tương lai.

Mỗi sáng thức dậy, Crenshaw cảm thấy kinh sợ, gần như buồn nôn. Đôi khi y nôn hết mớ thức ăn khốn khổ tối qua. Y không thể tin được điều gì đang đợi chờ phía trước. Cả buổi sáng, y chỉ có thể nghĩ đến món bắp nghiền bữa trưa. Vào khoảng đầu giờ chiều, tuy vậy, Crenshaw thường trở nên trầm tĩnh. Mặc cảm tội lỗi, lo lắng, tự thương hại biến mất. Trí óc sáng rõ đến độ có thể sắp xếp mọi chuyện. Trong khoảng nửa tiếng, Crenshaw quên thân phận nô lệ. Nhưng chiều đến y thậm chí trở nên lo sợ hơn cả lúc sáng.

Dưới chiếc mền ngứa ngáy mỗi đêm, quá khứ quay về như một ảo giác kinh hoàng. Nhung nhúc mệnh đề và bộ phận cơ thể. Savanah hiện ra như con đường sáng ánh đèn, rồi như ngôi nhà mù tối, phòng tầng hầm chật chội. Mười hai cuốn sách y đọc giảm thiếu xuống thành từ “sách.”

Một lần, Crenshaw nghĩ y sẽ bước vào nhà quát lớn, “Trò chơi chấm dứt.” Ta sẽ dạy tên khốn Moses một bài học! Nhưng y đã không làm vậy, không phải vì lời hứa với Moses mà vì điều này sẽ hủy hoại chân dung chính y. Nó sẽ khiến câu chuyện trở nên rẻ tiền.

Sống trong ngôi nhà lớn, bước đi trên thảm giữa đám đồ đạc màu gụ, Moses không tự mãn cũng chẳng thấy cần biện hộ. Những thay đổi quan trọng thường đi kèm chối bỏ ngượng ngùng quá khứ và nhận thức rằng, rốt cuộc, đây mới là sự thật. Nhưng bản chất trầm tĩnh của Moses không cho phép ông choáng váng chỉ vì một vụ chuyển mệnh như vậy. Mặc dù hiện tại đang được cảm nhận thật hơn, khả tín hơn quá khứ, ông không chắc cái nào là sai lầm. Khi còn là nô lệ, Moses mong mỏi vô vọng rằng ít nhất mình cũng được xem là người. Ông thậm chí cho rằng số phận cá nhân có thể phản ảnh kinh nghiệm nhân loại. Giờ thì ông thấm thía nhận ra, rằng đời người hoàn toàn vô định, và chẳng biểu tượng điều gì.

 

Niềm vui đổi đời của Moses nặng nề và chua chát vì những thoáng giận dữ. Ông không bao giờ quên rằng, căn bản, về mặt pháp lý, ông vẫn là nô lệ.

Mặc dù sống cạnh nhau, Moses và Crenshaw chẳng bao giờ thăm viếng hay trò chuyện quá vài câu. Bất cứ điều gì người này nói cũng sẽ có vẻ như nhái giễu người kia. Họ hoán đổi đời nhau, nhưng chẳng thể thâm nhập thế giới nhau.

Lúc còn là nô lệ, Moses thường đi bộ xuyên rừng lén lút gặp gỡ nô lệ các nông trại gần đó. Giờ ông bị cột chặt vào ngôi nhà. Thế giới thật ra thu nhỏ lại. Chỉ cần bước ra khỏi cổng ông sẽ là tên nô lệ bỏ trốn và bị săn đuổi như con vật. Không là kẻ hoàn toàn tự do cũng không hẳn nô lệ, số phận Moses và Crenshaw buộc vào nhau.

Trong những khoảng khắc cay đắng hiếm hoi, Moses nguyền rủa Crenshaw đã tước đoạt nơi ông phẩm hạnh và chính nghĩa của người nô lệ, trong khi vẫn là chủ nô của ông.

Thật hay giả, Crenshaw cảm nhận đầy đủ thân phận nô lệ. Đời nô lệ của y quá tàn nhẫn, quen thuộc, và hiển nhiên đến độ, dần dần y đi đến chỗ xem nó như tình trạng tự nhiên của con người. Nô lệ đồng nghĩa với đời sống.

Một buổi chiều tháng Tư năm 1861, Crenshaw quyết định chợp mắt sau bữa ăn trưa. Y chưa bao giờ trốn việc. Hình ảnh thoáng qua cuối cùng trên trái đất này là một con sáo ngang bầu trời không mây. Ý nghĩ sau cùng của y là, thật đáng đời mày. Ba bốn ngày sau Moses mới phát hiện xác Crenshaw nằm trên đất.

Moses chết một cách cổ điển hơn. Ông qua đời bởi cơn đau tim rạng sáng ngày 21 tháng Giêng, 1865.

Bất chấp tuyên bố của Moses, người ta không chắc Crenshaw có viết tự truyện nô lệ. Không văn bản gốc nào được tìm thấy. Trong vòng một năm sau cái chết của Crenshaw, cả tá đầu sách được in ra, tất cả đều nhận tự truyện Crenshaw. Cuốn đồ sộ nhất dày gần ba ngàn trang. Cuốn mỏng nhất năm trang. Vài cuốn có tựa đề như Túp Lều của Chú Tom, Absalom! Absalom!, Tự Truyện Malcom X, Câu Lạc Bộ Vận Hội.

Moses cao giọng phản đối tất cả những cuốn sách ngớ ngẩn này như sự nhạo báng cuộc đời bi thảm và kỳ vĩ của nô lệ Crenshaw. Tuy vậy, là một nô lệ thật, ông không có quyền pháp lý đối với tài sản tinh thần của người nô lệ dỏm. Mỗi khi có cơ hội, ông trưng ra một bản viết tay lem nhem bùn đất và tuyên bố rằng đây là bản thảo gốc của Crenshaw. Chẳng ai buồn để ý. Có dịp lướt qua nội dung lôi thôi của nó, ai cũng có thể khẳng định, tác giả đích thực là Moses.

 

 

(dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Stewart Crenshaw”, trích từ tuyển tập truyện ngắn Thư Lạ của Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo chuyển ngữ, sắp ấn hành bởi nhà xuất bản Văn Mới, Los Angeles, 2007)

bài đã đăng của Đinh Linh


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)