tác phẩm của Mel Bochner tại Viện Bảo Tàng Serralves- Bồ Đào Nha
Mel Bochner là một trong những người tiên phong trong Nghệ Thuật Khái Niệm (Conceptual Art), với khuynh hướng đưa ngôn ngữ vào …
trên con thuyền ngược dòng sông Hậu tôi hóa thành trăm mảnh, tôi có đủ can đảm tự tha thứ mình để suốt đêm lềnh đềnh như một chiếc bè của kẻ lưu đày trong thân xác, trong quê hương và trong cuộc sống.
tôi muốn kết thúc cuộc phiếm du
không phải bằng lời trần tình óng mượt
mà bằng sự thân thiện
của giấc mơ đen
đường về em, gió hút heo
đuôi chồn lay, lạnh đến teo mào gà
anh từ trong quảng nam ra
quà cho em, nhớ, phải là dái dê
Cùm hãm dưới đáy sâu. Hỏi nhờ cây cỏ cho tôi một nhân dạng nhỏ. Không, những hành tinh. Những đường rãnh vòng cung, uốn lượn theo quĩ đạo, và một con sâu trên lá, cái khuôn đổ, đài hoa…
Anh bắt đầu cảm thấy như bằng cách nào đó anh đã tách rời khỏi khung cảnh hộ sinh này, vừa có mặt ở đó đồng thời cũng trôi nổi nơi nào khác, quan sát từ một khoảng cách an toàn. Anh nhìn ngắm mình làm cái động tác cắt rộng cửa mình một cách chính xác. Đường cắt đẹp, anh nghĩ, khi máu ứa loang một vạch, không cho phép anh nhớ lại những lần anh đã chạm vào vùng thịt da ấy với tất cả ham muốn.
Ngay từ những năm sáu mươi, khuynh hướng thế sự đã tỏ ra sắc bén ở Lưu Quang Vũ. Không có gì đáng ngạc nhiên là sau đó, những năm tám mươi, anh trở thành nhà viết kịch lừng lẫy.
Nhưng kìa, có lẽ tôi nhầm chăng, những gì đấy? Những điểm nâu, rồi những chấm trắng, vừa hiện lên trên sườn đồi thoai thoải. Thôi, thế là chiếc áo nhung đã có chỗ rách? Nhìn kỹ, những điểm, những chấm ấy đang di động chậm chạp từ bên kia ngọn đồi lũ lượt tràn qua.
Chiều rơi. Ngày qua. Còn tôi và em
Mình đi đến cuối nơi phương trời
Khi mùa thu đã về
Rồi đây. Mù sương. Nhìn lá vàng úa
Từ một cơn ác mộng đi đến một tác phẩm được nhiều người công nhận giá trị là câu chuyện của Cam, nữ ca nhạc sĩ nhạc đồng quê Mỹ sinh năm 1984, tên thật là Camaron Marvel Ochs.
Cáo trạng số 0, không phải cáo trạng không có, không phải cáo trạng hư vô, không phải cáo trạng của một ngày không hiện diện … mà là cáo trạng không phải cáo trạng. Chỉ là một cách nói “anh đã may mắn được yêu [em].” Và người may mắn đó là họa sĩ Trịnh Cung, tác giả bài thơ.
Thuở mới lớn, tôi sợ chuột kinh hoàng.
Bố dạy, bắt ăn sẽ hết sợ.
Tôi bắt chuột, lột da, nướng dầu, ăn rồi, quả nhiên, hết sợ, thấy chuột, đá văng tưng.
Một người ngủ vùi mười năm trong ác mộng
Bỗng một đêm ngồi dậy bên ánh đèn
Con chuột chạy dưới gầm bếp
Ánh trăng soi trên nóc nhà
Tôi ngồi, nửa tỉnh, nửa mê
Thấy vầng trăng, đã phù nề hết trơn
Thấy em cũng đã cô hồn
Tóc xanh nhang khói, mắt tròn lân tinh
sáu tiếng đồng hồ liên tục film noir
(lãng đãng dư vị bogart, femme fatale
vô vọng, mâu thuẫn, phẫn nộ ̶ cũ và mới)
lễ hội nuit blanche còn cháy sáng
Mười năm sau hắn bảo
tau ly hôn với vợ rồi mày ạ
Tôi cũng nâng ly chúc mừng bạn ly hôn thành công tốt đẹp
Với tôi, hậu hiện sinh không phải là vấn đề học thuật. Trước hết, nó là cuộc sống. Sau hết, nó là cuộc chết. Cùng lúc, sống và chết. Tái định nghĩa về hậu hiện sinh cũng là một cách giải thuộc địa, giải thực dân, giải cộng sản, giải học thuật… Và phục sinh trên nền tảng bản địa và bản sắc cá nhân.”
Lúc vào trung học, ông thầy dạy vẽ của anh giúp anh khám phá ra thêm nhiều điều về màu sắc nữa. Thầy bảo hình ảnh hay phim trắng đen thực sự không phải là hai màu mà chỉ có một màu. Thầy dẫn chứng rằng, trong tiếng Anh chẳng hạn, ngoài tên gọi gốc Germanic “black and white”, người ta còn dùng chữ gốc Hy Lạp là “monochrome”, nghĩa là “một màu”.
Dòng người đang chờ boarding phía trước bỗng đứng lại, có cái gì trục trặc, người nhân viên đang giải thích gì đó cho người đứng đầu hàng. Cô gái tóc vàng hầu như ôm choàng lấy chàng trai như sợ một ai đó có thể giật phắt anh ta ra khỏi vòng tay của cô.
Lần đầu tiên trông thấy A’Su, tôi biết chắc nàng và tôi cũng cùng một loại. Cả hai chúng tôi là những thiên thần đánh mất đôi cánh của mình. Mắt nhìn của chúng tôi gắn vào một cao độ chỉ có thể với tới được khi bay bổng, bàn chân trần của chúng tôi đứng trên mặt đất cháy xém, khô cằn, chẳng những thế chúng tôi còn đánh mất phương hướng mà con người phải có.
“The End of the World” là một ca khúc thuộc thể loại country pop (phổ thông đồng quê) nhạc sĩ Arthur Kent và nhà soạn ca từ Sylvia Dee viết cho nữ ca sĩ Mỹ Skeeter Davis. Ca khúc này thành công lớn hồi đầu thập niên 1960…
Vì anh muốn biết em đang nơi đâu
Và anh cũng muốn biết em đang làm gì
Nơi em sống phải chăng luôn cô quạnh?
Hay một người tình đang bên em?
[Bà] là người phụ nữ duy nhất đã nhìn ra ánh sáng của chính mình, của sự thật, và không cần đến bất kỳ thứ ánh sáng nào khác của mặt trời, khi bà đi qua những trò hèn hạ của xã hội ấy và của nền chính trị ấy
Thời gian chừ đã nằm co
Nhớ thương như chiếc lò xo nén thầm
Bi chừ gió cũng xa xăm
Mà sao bão, dội ầm ầm trong tim.
Đời sống mà không còn những giây phút chói chang của mình
đã được phong thánh để trở thành kỷ niệm – đế quốc bị giảm cân
buổi trưa đi tìm người kể lại lịch sử
tìm hoài chẳng ra
còn chăng là những tượng đồng cô đơn nhưng oai dũng
không còn chỉ tay ra biển vì đã rụng
Mỗi người Việt, mỗi Phù Đổng Thiên Vương. Sinh ra nằm câm lặng. Chờ một hôm nhảy lên ngựa sắt. Khạc lửa. Bay lên trời.
Lạ thật! Sao không ở lại quê nhà giết giặc? Giặc trong giặc ngoài lúc nào chẳng có?
Anh nào có thể đọc xong
dù mươi dòng
truyện nhỏ nghe tên đã muốn nằm lăn
Giấc ngủ trưa thứ ba*
New Comments