Trang chính » Truyện ngắn Email bài này

quốc lộ

 

 

Tác giả vào thời điểm câu chuyện

 

Rồi bỗng dưng tôi ngồi ở đây. Ðâu độ bảy, tám giờ tối, giữa những người không quen – nhưng biết – ở cái khoảng sắp vào thành phố. Người đàn ông bẻ cho tôi nửa ổ bánh mì. Bà xẩm chia cho tôi một cái bánh ú. Ðó là những người tôi hoàn toàn không biết, không quen. Người đàn ông có cái lối hỏi chuyện như tra vấn tù nhân:
– Năm này em học lớp mấy? – Lớp nhứt.
– Vô Sàigòn chi vậy? – Thăm ba.
– Ba em làm cái gì ở trỏng? – Ði làm.
– Làm gì? – Làm việc.
– Việc gì? – Việc gì ai biết?
Ngó bộ tôi sắp nổi quạo, người đàn ông không thèm hỏi nữa, bước ra cửa xe, huýt sáo nhỏ một bài hát không nghe hay chút nào hết. Hai hàng ghế trước mặt tôi hình như là của một gia đình di chuyển với tất cả đồ đạc lỉnh kỉnh làng càng. Tưởng tượng nếu bắt mấy đứa con (mà lúc xe chạy đứa nhỏ ngồi trên đùi đứa lớn) ra đứng xếp hàng hẳn sẽ thấy những cái đầu đen chạy thành một đường dốc xéo. Người con gái, hình như là chị đầu, đang giúp mẹ lôi trong giỏ lớn ra những bình thủy nước sôi, sữa ông già, núm vú cao su, muỗng và các thứ bình khuấy sữa màu trắng đục có những nấc nhỏ bằng cao su.

Má tôi kể, già đầu, năm sáu tuổi tôi đòi bú thêm sữa khuấy sau mỗi bữa ăn. Bú trong lọ thủy tinh có núm kia, không thèm uống, cũng không thèm thứ bình cao su tanh mềm. Tôi lớn rồi mà. Chỉ đập bể khi nào cố tình muốn đập mà thôi. Hôm dì Mùi
bế thằng Lu đi bác sĩ, tôi bắc cái ghế lôi cái tượng một đứa con trai nhỏ và một đứa con gái nhỏ ôm nhau (tụi nó có vẻ là hai anh em lắm và cũng chính vì cái vẻ có vẻ đó), thả xuống chân ghế rồi tỉnh bơ đi lên sân thượng đứng nhìn ông Mỹ bụng phệ hàng xóm đang tập thể dục. Ba tôi về hỏi, con Sĩ khúm núm thưa: “Chắc con Mina chạy làm rớt.” Tôi cười khẩy: “Chó mà leo được tới nóc tủ, hay há!” Mina ngu dại chạy ra vừa lúc thằng Lu bịnh hoạn ré khóc làm tăng thêm nỗi bực dọc của ba tôi. Ông đá vào bụng nó bốc bốc. Tiếng dì Mùi vọng ra cằn nhằn. Mina hứng đòn ủng oẳng chẳng cho thằng Lu ngủ. Tiếng qua tiếng lại, hai người gây nhau một cách ngon lành.

Mâm cơm thế là bỏ mứa, tôi ngồi một mình, ăn nhơi nhơi và nghĩ đến má tôi. Những thức ăn này mà lọt vào tay má tôi chắc chắc là bà chế biến ngon hơn nhiều. Má có nhiều bà bạn biết nấu nhiều món Tây, Tàu, Nam, Bắc, Trung lạ miệng và cũng
nhiều ông bạn rất thích được thưởng thức tài nấu nướng của má. Công nhận má thông minh, mấy bà bạn cứ ngạc nhiên khi thấy má vượt hẳn mấy bà sau khi được bày lại. Còn những ông bạn má thì cứ đua nhau đưa tiền để má nấu cho ăn. Và như thế, tôi đã quá quen những buổi lục đục ăn một mình dưới bếp. Ghét cái mặt làm điệu làm bộ của con Thanh: “Thanh mà en một mình loà Thanh khóac liền hoà…” lúc cô Hà giảng về thằng mõ. Thằng mõ giống ông vua ở chỗ một mình một chiếu thảnh thơi ngồi. Con Thanh khóc tại nó ngu, tưởng mình bị khinh khi như thằng mõ. Ai biểu nó không dám
tưởng tượng mình là Bà Vua-Vua một góc bếp như tôi.

Tiếng gì đó, in như là tiếng súng. Bà con cô bác trên xe nhốn nháo tuôn chạy trong bóng tối nhờ nhờ của mảng trăng huyết. Nhờ vậy tôi mới biết, đằng sau chiếc xe Hiệp Thành còn có chiếc Tân Phong Thái. Như vậy là xe đã có bạn, giữa mông quạnh đồng không. Còn người, chẳng biết ai sao chớ tôi chưa. Nửa ổ bánh mì và một cái bánh ú thì chưa hẳn là bạn. Bạn chi cái ông có lối hỏi như hỏi tù, bạn chi cái bà xẩm ù ngồi ép tôi vào thành xe muốn ngộp thở luôn. Má tôi vẫn la tôi hoài về thái độ vô ơn đó: “Cậu Ðồng cho con cái áo sao con không cám ơn.” Tôi châm bẩm: “Ổng có cái miệng giống miệng con dơi quá, em gớm mỗi lần ổng hun má em.” – “Hư chưa, người ta chuộng cái lòng, cái tình nghĩa, ai chuộng cái mặt bên ngoài…”

Nếu so về mức độ dịu dàng, chìu chuộng, dì Mùi thua má tôi xa. Chẳng biết hồi còn sống chung, má tôi có đâm ra cằn nhằn cưởi nhưởi vì bực dọc ba tôi không chớ tôi thấy với dì Mùi đó là chuyện cơm bữa. Mà dì Mùi có đẹp đẽ gì hơn má tôi cho cam. Thua xa, xa lắc. Tỉ như là kẻ đứng ngoài, nhìn thôi, không tìm hiểu, hẳn tôi đã lầm lạc rằng má tôi là vợ sau. Sao ba tôi khùng điên dữ vậy? Nhiều lúc tôi thậm thò thậm thụt định đưa ra thắc mắc đó nhưng bao lần đều rụt lại trước cái vẻ lạnh lùng của ba tôi. E ông cũng không ngần ngại đá thốc tôi lăn mấy vòng như đã đá lăn con Mina. Nhưng thế nào rồi tôi cũng phải hỏi. Từ đây đến ngày ba tôi chết, chẳng lẽ không còn dịp nào để rửa cái lớp băng trên mặt ông sao? Mặc dầu khó chịu trước bộ dạng lầm lì ít nói của ba nhưng sao tôi ham ghê, được bắt chước ông. Dịu dàng như má dễ bị ăn hiếp. Những lượt hai má con đi xi-nê, má không để ý nhưng tôi thấy hết những cái háy nguýt sắc lẽm hai bên đường phố.

Người đàn ông lúc lắc vai tôi: “Xuống, xuống nhỏ! Ðạn lạc bây giờ!” – “Xuống đâu?” – “Xuống gầm xe, hay ra hai bên bờ ruộng núp?” Bây giờ tôi mới nhận ra những hàng ghế đã trống hơ. Bà mẹ chưa kịp khuấy sữa cho con. Những đồ đạc lổn ngổn trên sàn xe. Con dao phay với miếng gòn chùi đỡ trên mũi để đục lỗ hộp sữa mới toanh. Có tiếng trẻ khóc dưới gầm xe, hẳn là thằng bé đang khát sữa. Tôi tằn mằn ngồi khui ra rồi khuấy cho nó bình sữa đầy óc tới mức 240. Người đàn ông cười cười: “Biết gì mà làm”. Tôi im im, lặng lặng. Tôi thích nghe đàn ông con trai nói xốc óc, xốc đầu nhưng xốc ai đừng xốc tôi. Má tôi nuôi tôi bằng sữa ngọt dịu dàng đã như một thói quen nên tôi dễ ói mỗi khi nuốt những lời cay chua, mặn đắng. Trước khi vặn núm vú cao su, tôi uống thử một hớp. Người đàn ông hỏi: “Ngọt không?” Tôi đáp sẵng: “Chua!” rồi ló đầu xuống gầm xe nhờ chuyển tới thằng nhỏ. Sao bỗng dưng ân cần dữ vậy. Không phải khó chịu vì tiếng khóc đâu. Cam đoan rằng tiếng khóc của thằng Lu mà những lúc tôi ở nhà ba tôi phải nghe là tiếng khóc đâm xoáy tai nhất. Có lẽ tôi thích thằng bé này vì nó cũng ham sữa ngọt như tôi.

Rồi những đóm bừng sáng. Người đàn ông hỏi: “Biết gì đó không? Hỏa châu đó! Bạn của tôi đó!”. Ông ta làm như tôi ngu ngốc đần độn đến độ không biết hỏa châu là cái quái gì. Nhưng “bạn”? Nghĩa là sao? Ông ta có phải là lính đâu? – Không lính thì là cái quái quỷ gì (ông ta nhái giọng tôi) ở thời buổi này! Em đi thường chắc đâu có thấy ông lính nào dám mặc đồ lính khi đi ngang Rừng Lá. Tôi tức cười. Ðâu có đi thường. Lần đầu đó ông ơi. Hồi đó tới giờ toàn là má đi không hà. Một tháng má vô một lần. Vô lấy tiền về đi chợ chớ vô chi. Hồi nhỏ má bồng tui theo. Ðến khi tui nhấc nổi ấm nước sôi là má để tui ở nhà. Mua mì gói, hành rau, tiêu, mỡ ở nhà nấu mì ăn đỡ. Ði học thì khóa cửa bên ngoài. Vô nhà thì khóa cửa bên rong. Ai tới hỏi thì ló đầu ở cửa sổ nói má em đi thứ sáu, thứ ba về. Ông có thấy là giống chuyện cổ tích, con thỏ má đi săn mồi dặn thỏ con ở nhà cấm cửa không? Nhưng buồn bã hơn là nhà tui không có thỏ ba, thỏ anh, thỏ chị, thỏ em. Có hai má con, trơ lơ trấc lấc.

Thời gian đó dài lắm, dài đến nổi tui rên muốn quên mất mặt ba rồi. Rên tới nổi kỳ này má dắt tui theo, rồi má bỏ về trước hồi nào tui không hay. Hỏi ra mới biết ba đòi nuôi tui, má khóc không chịu nhưng ba viện lẽ ở với ba sướng hơn nên má bằng lòng. Ðiều tui bực mình nhứt là không ai hỏi ý kiến gì tui hết. Bộ tui là đất sao? Tui lớn rồi mà. Ðầu tháng bảy tui thi vô lớp Ðệ Thất. Ðậu xong tui được mặc áo dài. Mặc áo dài vô là thành người lớn. Nghĩ vậy mà tui trốn về.

Dì Mùi ngó bộ cũng cố gắng tỏ vẻ thương tui nhưng những trận cãi vã đều đặn giữa hai người, bà và ba tui, làm tui phát ngán. Hình như bà có vẻ sợ tui nữa là khác. Tui nghe lóm được một câu của bà với bạn: “Cái giống con lai là một, mồ côi là hai, thiếu cha hụt mẹ là ba, mà mình mang về nuôi, ranh lắm chị ơi. Nó khôn quỷ khôn ma, chẳng sao qua nổi tụi nó đâu.” Khôn quỷ là khôn thế nào? Ông có thấy tui khôn quỷ không, ông lính?

Người đàn ông nhìn tôi đăm đăm: “Em lạ lắm.” Tôi bật cười, nhận ra mình nói nhiều quá, với một người lạ. Ðó là điều mà má dặn hoài, không nên, không nên!

“Thôi ông đi chỗ khác chơi, để yên em ngủ.

Tôi nói với người đàn ông. Nhưng ngủ gì nổi trong lòng ba chiếc ghế hẹp.

Tiếng súng lẹt đẹt đằng xa. Mấy ông lơ ông ống ca hát. Mấy bà già la át nhưng vẫn không giấu nổi hưởng run rẩy: “Quỷ yêu nè, câm cái họng coi. Chết đến nơi, đạn bắn bên đít còn ca với hát.” Tiếng con nít khóc ré. Giọng kim lanh lảnh. Tiếng ầu ơ ví dầu. Giọng thổ khàn đục. Tiếng cười đùa giỡn hớt của mấy chị bạn hàng rau cải. Tất cả vang lên từ dưới gầm xe, tạp nhạp vui tai.

Một bà già phát giác: “Úy ông mẹt ơi! Nó đi tiểu ác nhơn chưa. Mình nằm đây mà nó đái tưới đái dộng vô. Ðạn mà không ăn nó đi cho rồi!” Tiếng tỏn tẻn xin lỗi nhỏ rí của ông công chức già, ba của thằng nhỏ được tôi khuấy sữa. Tiếng cười dưới gầm xe ban đầu rúc rúc trong cổ họng mấy ả bạn hàng rồi vỡ òa ra, tưởng như gầm xe rung rinh, nghiêng đảo. Chắc chắc có những người không cười được, là mấy đứa con ông già, nếu tụi nó là tôi. Bọn lơ xe, thừa cơ tuyên truyền cho hảng mình: “Ai biểu đi Hiệp Thành làm chi. Bên này Tân Phong Thái! Ði hoài không mắc đái!” Dưới gầm xe tôi, với sự thúc dục của mấy nàng bạn hàng, các chàng trả đũa ngay: “Hiệp Thành của Việt em chê, Phong Thái của chệt em mê chỗ nào…” Cứ như thế, cho đến sáng…

Cho đến sáng, tình thế đảo lộn hết trơn. Người trên hai chiếc xe gấu ó như thù nghịch. Còn tôi và chủ nhân nửa ổ bánh mì tưởng khắc nhau dè đâu nói chuyện hợp quá chừng chừng. “Ðứa con gái đầu của tôi mới đi học lớp ba thôi mà hay tủi thân kỳ ngụy lắm. Tôi hay má nó la một tiếng là nó lẳng lặng rút cuốn sổ ra trốn một hốc xó mà ghi chép. Nó có vẻ người lớn lắm em. Nó vẫn nói với thằng em nó, giọng điệu của bà già: ‘Nè, chị nói cho biết lần cuối nghe không. Bố đi làm về mệt để cho bố ngủ. Ồn ào như quỷ lộng chùa hoang vậy đó hả’. Nó bắt chước giọng má nó đó mà. Nhưng càng ra vẻ người lớn bao nhiêu, nó càng để lộ vẻ bé bỏng tội nghiệp bấy nhiêu…”

Tôi buồn xo: “Khôn như con ông người ta khen là khôn như tiên. Là những mẫu chuyện tốt để ba má nó mang ra khoe. Khôn như em người ta mắng là khôn như quỷ. Em ngậm mà nghe một mình. Nhưng người ta cũng tìm tòi xục xạo biết để mang ra kể cho nhau nghe, vừa để vui tai, vừa để rủa ôn dịch mà không vật chết cái giống con lộn con ranh đó đi cho rồi…” Cái nét ngỡ ngàng của người đàn ông làm tôi lấy lại cái vẻ cười cợt nghịch ngợm tách bạch một mình ngay. Và như thế, tôi xưng em với ông ta hồi nào không hay. Lâu nay tôi chỉ xưng em với má và cô giáo, xưng con với ba, xưng tui với dì Mùi, xưng mày với tụi bạn và thằng Lu, con Mina.

Tôi thích được xưng tên với tụi bạn đỏng đảnh nhưng mà tên tôi thì khó quá, phụ âm đứng giữa, nguyên âm bao bên ngoài, ngược ngạo trặc họng chưa.

Cho đến sáng, những người bồng bế dắt díu lục đục lên xe từ dưới gầm và hai bên bờ ruộng dù tiếng súng đã ngớt từ nửa đêm. Sương tan dần lộ chiếc cầu gỗ cách đầu xe không xa. Hồi đầu hôm, xe tiến lên một chút thì nghe tạch tạch, đứng im thì tiếng tạch tạch cũng im. Người đàn ông đi do thám tình hình một vòng cho biết tác giả của mấy tiếng tạch tạch đó là những anh lính gác cầu. Cuộc chạm súng thì cũng nhỏ, trong những lùm lá thưa rít trong kia. Ðạn lấy mất một miếng bàn đạp của chiếc Honda người đàn ông mang từ Sàigòn về đây, cột trên mui.

Bà xẩm trợn mắt nhìn tôi: “Mày gan dữ vậy nhỏ. Ðạn đi thấp một chút nữa là trúng rồi.”

Tôi nhảy tung xuống đường, chạy xục đi vài nơi. Sương cỏ óng mướt là đà thân dài. Ðứa con trai đầu lòng của ông công chức già leo lên mui, sục cái giỏ cần xé to lôi ra cái réchaud bắt ấm nước. Bọn lơ xe thủ sẵn từ hồi nào mấy cái filtre càfé ngồi chực hờ. Tôi ngóng đầu, hỏi lông bông: “Nước ở đâu vậy há?” Người đàn bà son phấn đậm đỏ trỏ vào một cái máy xay lúa bỏ hoang cách đường độ mươi thước có những gốc rơm vàng úa xơ rơ: “Có cái giếng nước dưới gốc chùm ruột. Hồi hôm tôi tắm được một mách, mát quá trời.” Bà già đứng cạnh tôi lẩm bẩm: “Vô duyên vô dùng, tắm cho đã rồi còn khoe rum.”

Tôi cầm dép trên tay chạy phăng phăng lên đụn rơm, níu nhánh chùm ruột vàng ươm. Nhả liền một khi vì nó chua lòm lòm, ngoài sức tưởng tượng. Hồi xưa có lẽ nó cũng ngọt. Nhưng người đã bỏ đi. Cây trái nhớ nhung quắt queo, chua chát bùi ngùi. Có khác gì người đâu. Nếu không có má, không hiểu mấy người xung quanh còn mắng tôi khôn quỷ, độc ác, mất dạy đến độ nào nữa đây…

Cái sinh động của khung cảnh chung quanh, ăn uống cười đùa làm chẳng ai tưởng nổi cách đây vài tiếng đồng hồ, người rúc chui mất hết, xe trống hai chiếc như xe ma nằm tênh hênh giữa lộ. Chiếc xe sớm nhất từ tỉnh tôi sắp về đã đứng bên kia cầu chờ người lính xoay tấm bảng đỏ, gạch trắng ngang để vượt qua. Những người trên xe đó cười vẫy với những người bên dưới. Chúng tôi có vẻ như một gánh hát. Tài xế chào nhau. Ðó là một hãng thứ ba. Hãng Mỹ Quang. Sau đít nó có hàng chữ đề bằng phấn trắng, nét gãy gụp xấu xí: “Ðộc hành đại bảo tiêu.” Người đàn ông cười nhạo: “Lẽ ra phải ghi Ðộc hành đại bảo điền mới đúng.”

Mọi người cười rộ lên. Những người hành khách của chuyến xe này có vẻ nhạy cảm. Họ dễ cười và dễ sợ sệt. Họ chẳng giống tôi nhưng tôi thích tan lẫn vào những người như vậy. Tôi lay tay người đàn ông: “Sao vậy ông? Sao vậy ông?” – “Em không biết gì hết. Lâu nay trong mười vụ lật xe hết chín rưỡi là xe Mỹ Quang. Ðộc hành đại bảo điền có nghĩa là nó dành độc quyền ôm ruộng”.

Tôi vẫn không cười được. Nghĩ tới lát nữa về nhà, chắc tôi lẩy má tới chiều. Tôi sẽ hét: “Má không thương con! Má không thương con!” Tôi thích nghe má tôi kể lại những mẫu chuyện vụn hồi nhỏ của tôi. Hồi ba mới bỏ đi, má còn giữ con Lài nuôi tôi. Má đi đâu tôi cũng đòi đi theo cho bằng được. Ðể dọa, má hăm he không bỏ ra má đi sanh em bé bây giờ là tôi sợ, tôi nín khe. Má đi rồi, tôi mới ức mình, đành đạch khóc giãy trên sàn nhà. Con Lài dỗ không được, đét cho vài cái vào mông tôi, giận, bỏ ra lan can đứng nói chuyện với mấy con cũng đi làm cho nhà bên cạnh. Tôi kêu vọng ra: “Lài ơi, mi vô mi dỗ ta coi. Mi không dỗ ta. Ta khóc hoài”. Má tôi về tôi cười toe, cười toét: “Ở nhà em hỏng có khóc đâu, em chơi một mình cả buổi. Lài bỏ em Lài đi chơi”. Con Lài cãi không lại miệng tôi. Cãi gì lại. Kể cho bạn nó nghe, nó gọi tôi là bả: “Bả thành tinh rồi bây à!”

Ở trường, tôi khoe khoang: “Tụi bây đừng tưởng tao hiền. Tao dữ lắm đó.” Tụi bạn tôi nhận xét: “Mày không dữ nhưng mày nghịch, mày nghịch, mày ngang như con trai…”

Ông tài xế bóp kèn tin tin. Chân tôi ướt đầm sương cỏ. Bà xẩm lại ép tôi không chút xót thương. Lũy tre quận Hàm Thuận chạy lùi. Mấy bà già cằn nhằn: “Hồi hôm gắng chút xíu là tới nhà rồi. Tài xế gì mà nhát như giun.” Ông tài cười ha hả: “Chớ bộ hồi tối mấy bà không nghe tiếng súng sao? Không biết hồi hôm ai nghe tiếng súng vừa chửi vừa run như cầy sấy.” Bà già chửi đổng: “Mồ cố tổ cha bây…”

Lúc tôi đi, bến xe còn ở ven sông, giữa thành phố. Lúc về, bến đã dời ra ngoại ô. Cũng gần sông, nhưng chỗ này không ai kêu Mường Mán mà người ta gọi là Cà Ty, nghe như tiếng cà-uôm của cọp. Người đàn ông rề Honda trước mặt tôi: “Lên tôi chở về, em nhỏ!”

***

Rồi bỗng dưng tôi nằm đây, giữa căn phòng ngợp ngụa mùi phấn son rẻ tiền này. Ðứa em nhỏ đòi khăng khăng ngủ ở nhà bếp. Nhường ông giường nệm của má, em ngủ riêng ở cái divan dưới bếp lâu nay quen rồi. Con nhỏ năn nỉ tôi ngủ lại, rồi sáng mai ông cho em tới lao xá thăm má nghen ông. Con nhỏ quá tính toán, té ra việc mời tôi ngủ lại có lợi cho nó. Nhưng mà nó còn ngu dại quá, nó không khôn quỷ khôn ranh chút nào hết. Bất lương một chút tôi có thể hại nó như chơi. Ðồ đạc trong nhà này vơ vét xách đi tệ tệ cũng được vài chục ngàn. Ðùa chơi chớ nếu đã bất lương thì thiếu chi chuyện làm. Lách mật sống, đâu độ vài chục ngàn một cái. Ðó là thuở độc thân ăn chơi bạt mạng. Lần về thăm vợ đẻ thứ nhất, ngang cầu ông Tâm tôi quăng túi mật xuống. Ðể đức cho con. Có những việc tày trời mình đã làm nhưng sao lại sợ quá thế này, cái không khí nghèn nghẹt của căn phòng kín bưng. Vết giường lõm, gương, phấn, son, giày, áo… Hơi người còn nhiều quá. Như là căn phòng không phải độc nhất một mình mình. Thỏi son kéo ra nửa chừng. Mảnh áo vắt… Cuốn sách có gấp trang. Người mẹ nghe nói xe mới đến chở đi hồi đêm qua. Ðứa nhỏ ngây thơ hay giả bộ ngây thơ không nói thẳng từ đầu cái nghề nghiệp xưa rích của má nó…

Mà kỳ cục, những lọai phòng như thế này tôi vẫn thường vô, nhưng cái không khí giữa hai người và một người nó hoàn toàn khác biệt. Như là có mắt ai rình mò theo dõi. Mấy lượt nằm chuồng cọp, cũng một mình, mà xem chừng còn dễ chịu hơn ở giữa căn phòng chờm chờm hương quái đản. Rồi mới nhớ ra. Người vợ và mấy đứa con ngóng mõi ở thành phố lân cận. Sao ta dễ dàng nằm đây. Căn nhà sàn trên khúc sông nước đục. Người đàn bà đâu mất. Những vòng Honda lượn qua nhà những má Năm, má Sáu, cậu Mười, cậu Bảy, cậu Ðồng… để hỏi tin tức má đứa nhỏ. Buổi cơm trưa ở tiệm ăn gần chân cầu. Rồi phòng ngột sóng nước khua… Căn nhà kỳ quặc. Những nhân vật kỳ quặc. Thành phố kỳ quặc. Chỉ có đứa nhỏ là không kỳ quặc chút nào hết. Dường như nó lai, lai Ấn. Tôi không hỏi, nhưng chắc Ấn là người cha vì đã thấy tấm hình má nó treo nơi phòng khách. Trong hình má nó thật đẹp. Có một số con lai, nhất là lai đen trông cảm không nổi. May mắn là con nhỏ này không nằm trong nhóm đó. Nó đẹp, cái đẹp sớm thấy của một con bé lai.

Sau bữa ăn tôi có gọi cho nó một ly sữa tráng miệng. Nó ngồi lưng hơi còng nên ly sữa trước mắt che từ mũi nó trở xuống. Tay nó táy máy xoay tròn ly cối và mắt nó chớp lia: “Ai cho em sữa ngọt là em thương người đó ghê lắm. Sáng sáng má cho em khúc bánh mì, chế sữa sống vô, từ nhà đến trường đủ cho em ăn hết.” Mắt nó thành thật ra gì, chưa chắc con nhỏ khôn lanh nhưng rõ ràng nó gan lì. Nếu là con bé đa cảm của nhà tôi ở trường hợp như vậy ắt hẳn đứng khóc ròng không biết sục sạo tin tức như con nhỏ này.

Chúng tôi vào nhà bằng cách gọi đò ghé cầu tiêu de ra giữa sông của nhà nó. Con nhỏ chỉ chỉ trỏ: “Nè, chỗ này nè, hồi năm kia em lọt xuống cái ùm, má phóng người bơi ra vớt em lên, em uống đầy một bụng nước sình. Cậu Ðồng ngồi trên bụng em để ấn nước bùn ra. Má kể ổng còn thò ngón tay móc miệng em ra những rong rêu cát bẩn.”

Tôi đã thấy cái ông “cậu Ðồng” đó rồi. Chiếc Honda của tôi được con nhỏ gởi ở tiệm may của ổng. Nghĩ tới cái bụng phị và mười ngón tay như mười đòn xúc xích Mỹ của ông ta mà tội cho con nhỏ. Lúc ổng ngoắc tôi ra tủ kính nói chuyện, tôi cười hoài khi phải kê sát tai vào cái miệng mà con nhỏ kêu là miệng con dơi. “Cậu Ðồng” không biết chuyện đó nên “cậu Ðồng” nịnh: “Thầy Hai vui tính quá. Thầy Hai tốt bụng ghê. Làm ơn thì làm ơn cho trót. Nói giùm với con nhỏ là má nó bị bắt rồi. Ráng bịa cho khéo. Con nhỏ này tinh ranh lắm. Làm bộ chở nó đến đó rồi giả tuồng như lính gác không cho vô để chở về. Vô là hư rơ hết. Thiệt ra má nó nằm ở nhà thương thí. Chắc qua hổng khỏi. Loét hết trơn rồi. Bả nói như trối với tôi, con nhỏ có trốn về (bả tiên đoán điều này chắc chắn xảy ra). thì bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách tống nó vô Sàigòn lại. Có thầy Hai tôi mừng hết cỡ. Thầy Hai ráng giúp giùm em nó. Tháng này cận Tết kẹt đồ may nhiều. Bà xã tôi lại sắp đập chum. Bả có máu sản hậu, sanh xong mà nghe tôi còn dính với má con nhỏ đó sợ bả tức uất mà chết…”

Tôi muốn chửi thề khi bước ra khỏi cái bảng hiệu Hoàn Ðồng đó. Một điều thầy Hai, hai điều thầy Hai mà kít keo như hai hàm răng khít, chẳng dám chi chút tiền còm để thầy Hai đổ xăng chạy lo cho cục nợ của lão trút trên vai tôi. Tôi dịu lại khi thấy con nhỏ đứng nấp sau cột đèn bên kia đường. Tôi hỏi nhỏ nhẹ: “Em chạy biến hồi nào vậy?” Nó lấm lét: “Bả đi rồi hả ông?” – “Bả nào?”- “Bà vợ ổng á! Bả dữ như bà quỷ mẫu. Mỗi lần em tới là bả chửi ổng. Cái tiếng Nghệ nghe không được gì hết nhưng chắc chửi nặng lắm nên thường thấy bả là em phải chạy để ổng khỏi mắc cỡ.”

Nghe tới cái sứ mạng ngày mai mà phiền. Ông “cậu Ðồng” nói đúng. Nói dối với con nhỏ này không phải là chuyện dễ. Ðẩy nó vào lại Sàigòn còn khó khăn hơn. Chiếc ách giữa đàng, quàng vào thì nặng nề vô lý quá đối với một kẻ như tôi. Nhưng
có nghĩ tới chuyện quẳng đi mới thấy rằng điều đó cũng chẳng dễ dàng chút nào. Thôi coi như mình trả nợ mấy cái mật sống hồi xưa. Và nghĩ tới nỗi bi thảm của một người đàn bà mà chuyện tù rạc còn được coi như còn đẹp đẽ may mắn hơn cái chuyện phải vào nhà thương bởi một căn bệnh, nói theo giọng đểu cáng của “cậu Ðồng” là “tai nạn nghề nghiệp…”

Rồi bỗng dưng tôi nôn khan. Thôi, đầu hàng cái giường đệm, đầu hàng phấn sáp, đầu hàng hơi hướm người ta vương vất đầy phòng. Hồi nghe thằng Sinh Lùn kể cái cảm giác của nó sau khi ăn thức ăn thừa của thằng bạn tù đang bị xử bắn ngoài sân, tôi tưởng nó nhát gan, bây giờ mới thấu. Hơn cả sự sợ sệt, đó là một nỗi gì nhờm nhờm chạy dọc tủy xương. Không dám nói là mình gớm, nhưng thật sự cũng gần như vậy.

Tôi chạy ra khỏi phòng kín, đập vách gỗ gọi con nhỏ dậy: “Nhỏ ơi, đổi chỗ, đổi chỗ!” Con nhỏ ló đầu ra, tần ngần: “Em chỉ ngủ được chỗ này thôi.” Tôi bực dọc ra phòng khách kê ghế nằm đỡ nhưng khó co duỗi nên cuối cùng nằm chuồi xuống nền
gỗ. Gỗ mát không ngờ, mát ngọt.

Nửa khuya có chiếc gối ôm dài ném mạnh vào mặt tôi: “Cho ông mượn nè, kê đầu mà ngủ cho êm”. Cây đèn Hoa-kỳ nhỏ xíu giơ cao ẩn hiện lờ mờ ngấn nước long lanh trên mắt đứa nhỏ. Ðịnh gọi tên nó nhưng chợt nhớ ra mình chưa biết tên. Lúc cái tiếng kêu: “Nhỏ! Nhỏ!” sắp thoát ra khỏi cổ họng thì đứa nhỏ đã lững chững xoay lưng mang ánh sáng đi. Tôi nuốt xuống. Tỉ như tôi là một anh chàng văn sĩ nào đó. Sống qua hai đêm kỳ cục như thế này, tôi có thể thêm thắt viết thành cái truyện được. Ðoạn kết thì làm sao cho nó có vẻ ma quái để hù chơi bằng cách cho má đứa nhỏ tắt thở trước lúc nó liệng gối đến tôi và cũng rất có thể người cầm đèn liệng gối là hồn người mẹ.

Ðiều rủi ro là tôi không phải nhà văn để nằm đó tơ tưởng hão. Ðiều đáng tội là đứa nhỏ không khôn quỷ khôn ranh chút nào hết. Người nào gán cho em những điều đó, người đó ngu hết sức, em nhỏ à!

1972

bài đã đăng của Nguyễn Thị Minh Ngọc

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)