
Nguyễn Viện, qua ống kính Lý Đợi (2023)
“Văn chương tôi là một sản phẩm của thời đại. Trong hoàn cảnh đặc thù của xã hội đương đại, giả dối và tàn bạo, tôi là kẻ muốn sống sót và sống sót bằng chữ nghĩa, một cách chân thật.” –
“Với tôi, làm báo chỉ là việc kiếm cơm. Viết văn, tôi mới coi là sự nghiệp là cuộc đời mình” – Nguyễn Viện.
LÝ ĐỢI phỏng vấn NGUYỄN VIỆN
Lời tòa soạn: Bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Viện do nhà thơ Lý Đợi thực hiện được chia làm hai phần. Đây là phần thứ nhất.
* Để cho độc giả mới hôm nay có thể tiện theo dõi, xin bắt đầu câu chuyện từ khoảng 20 năm trước. Tiểu thuyết “Rồng và rắn” (2002), hay “Thời của những tiên tri giả” (2003) đã mở ra tinh thần phản kháng của anh trong trang viết?
– NGUYỄN VIỆN: Tiểu thuyết Rồng và rắn của tôi được Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ xuất bản năm 2002 tại Mỹ, gồm 4 tác phẩm: Thời của những tiên tri giả, Đâm sừng vào bóng tối, Người dẫn đường đã tới, Rồng và rắn. Sau đó, Thời của những tiên tri giả đã được in lại ở Việt Nam do NXB Công An phát hành vào năm 2003. Tuy nhiên, cuốn sách đã bị thu hồi ngay sau đó mà không có bất kỳ một văn bản quyết định chính thức nào của chính quyền.
Tuy không phải là những tác phẩm đầu tiên của tôi được xuất bản, nhưng quả thật, với Rồng và rắn, trong đó có Thời của những tiên tri giả, đã mở ra một cách viết khác, không chỉ là một tinh thần phản kháng không khoan nhượng, mà tôi đã tự đổi mới mình bằng một bút pháp hay nghệ thuật khác, một hình thức thể hiện khác nhằm tương thích với nội dung truyền đạt của mình. Tôi gọi đó là không gian văn chương Nguyễn Viện. (*)
Sự mở đầu ấy đã đến một cách tự nhiên như nó phải thế của tâm thế tôi trước thời đại. Nói cách khác, đó cũng là sự thức ngộ của tôi trước lịch sử và những vấn nạn chính trị xã hội đương thời. Tôi đã bước ra khỏi dòng văn chương chính thống một cách triệt để nhất theo mọi nghĩa và hệ lụy của sự thức ngộ ấy là tên tôi bị loại trừ trên tất cả các phương tiện truyền thông, cũng như bị cấm cửa trong hệ thống xuất bản phát hành trong nước.
Bạn không cần phải ái ngại cho tôi, bởi tôi cho đấy là một niềm vui, một sự may mắn. Tôi đã tự vất bỏ vòng kim cô của hệ tư tưởng độc đoán và lỗi thời ra khỏi cuộc sống mình. Tôi trở thành người tự do. Và phản kháng là một phẩm chất tất yếu của một nhà văn tự do. Tôi không còn bận tâm viết thế này thì có đụng chạm đến chế độ không, có in ấn được không. Tôi không phải luồn lách như loài rắn, hoặc phải ẩn dụ, ám chỉ như những tên chỉ điểm.
* “Phản kháng là một phẩm chất tất yếu của một nhà văn tự do”. Anh nói “không cần phải ái ngại cho anh”. Nhưng xin hỏi thật, lúc ấy tòa soạn và vợ con có ái ngại không? Anh làm sao để vượt qua?
– NGUYỄN VIỆN: Khi tôi bị buộc phải rời khỏi báo Thanh Niên chỉ vì có truyện đăng ở hải ngoại, với chapeau giới thiệu của tạp chí Hợp Lưu rằng “Nguyễn Viện là Trưởng ban Văn Nghệ báo Thanh Niên”, điều ấy giống như tôi là kẻ “hồi chánh” trong thời chiến tranh và là kẻ phản bội ở thời bình. Một kẻ “vượt biên” trái phép. Vào thời điểm năm 2001, cho dù chỉ là đăng một câu chuyện tình ở hải ngoại, thì nó vẫn được coi như một scandal văn nghệ. Quả thật, đáng quan ngại với tòa soạn, tôi tin thế, bằng chứng là tôi bị đuổi việc. Nhưng cá nhân tôi hay gia đình tôi, đấy không phải là điều gì quá ghê gớm. Tôi vốn từng là một tù nhân lương tâm mà. Nó cũng không gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình tôi bao nhiêu, bởi ngay ngày hôm sau, tôi đã có việc làm bên phụ san Chủ Nhật của báo Gia ĐÌNH & Xã Hội tại Sài Gòn. Nhưng cũng phải thú thật rằng, tôi đã rất lận đận khi phải đi qua nhiều báo khác nhau với áp lực từ phía an ninh để kiếm cơm.
Trong giai đoạn khó khăn này, tôi không quên ơn các nhà thơ Trần Quang Quý, Trương Nam Hương, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa giúp tôi về báo Gia Đình & Xã Hội. Nhà thiết kế Minh Hạnh giới thiệu cho tôi vài chỗ làm, tuy không thành công. Nhà thơ Ý Nhi và nhà báo Hoàng Hoài Sơn giúp tôi làm tạm tại báo Pháp Luật (văn phòng phía Nam). Nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, tuy không thể đưa tôi về tuần báo Doanh Nghiệp, nhưng luôn sẵn sàng đăng thơ cho tôi kiếm bạc cắc, bất cứ lúc nào. Cho đến bây giờ, anh Thái vẫn là người rất tử tế với tôi, luôn có sẵn café và đường kiêng cho tôi khi ra uống với ảnh ở quán cuối nhà thờ Đức Bà, thậm chí có thể uống café ở đó miễn phí, khi không có ảnh. Nhiếp ảnh gia Dương Minh Long giúp tôi về báo Đẹp. Đặc biệt, Dương Minh Long còn nhờ tôi làm một loạt phỏng vấn các tên tuổi quan trọng với số tiền nhuận bút rất lớn so với thời ấy, một bài phỏng vấn bằng một tháng lương của báo Gia Đình & Xã Hội. Hồ Thu Hồng (Beo) đưa tôi về báo Thể Thao & Văn Hóa. Phạm Tường Vân nuôi tôi ở Saigon City Life. Có một người tôi cũng không bao giờ quên là nhà báo Nguyễn Hồng Lam bên báo Công An Nhân Dân, dù chỉ là một lời nói: “anh viết bài ký tên khác đưa tôi đăng”, cũng là cách Trương Nam Hương giúp tôi bên báo An Ninh Thế Giới. Một “đồng chí công an” khác là nhà văn Nguyễn Thành Phong giúp tôi in cuốn tiểu thuyết Thời của những tiên tri giả (NXB Công An Nhân Dân)…
Còn một chỗ tôi không thể không nhắc ở đây là BBC của nước Anh xa xôi nhưng rất gần gũi với người Việt Nam. Tiền bạc quả thật không đáng kể, nhưng tình nghĩa thì quá lớn. Nguyễn Giang và Hồng Nga đã mang đến cho tôi một niềm vui lớn. Hồi ấy, Hồng Nga còn muốn đưa tôi qua Bangkok tập huấn về kỹ thuật làm báo truyền thanh, nhưng tôi bị cơ quan chủ quản của báo Thanh Niên giữ hộ chiếu nên không đi được.
Và tôi chỉ thật sự ổn định khi về làm cho một công ty quảng cáo của cô bạn từ năm 2006 cho đến lúc nghỉ hưu, đúng 65 tuổi. Tất nhiên là cô ấy cũng không tránh khỏi bị an ninh “sờ gáy” như mấy chỗ khác.
Sau này, tôi còn biết một nhân vật “trong bóng tối, tôi đã cứu ông nhiều lần”. Đó là chị Phan Thanh Lệ Hằng ở Cục Báo chí.
Nhưng trên hết, yếu tố giúp tôi vượt qua hoạn nạn chính yếu là một động lực sáng tạo dựa trên sự nghịch thường của đời sống. Tôi tìm thấy trong cái vũng lầy của xã hội một quặng mỏ chất liệu cho sáng tác và với ý chí làm thay đổi đời mình, văn chương mình, tôi đã viết miệt mài, viết như không thể không viết. “Viết như ma ám” như một vài người đã nhận xét về tôi như thế. Văn chương trở thành dưỡng chất nuôi sống tôi phương phi khỏe mạnh. May thay, lúc ấy trang văn học Tiền Vệ ở Úc ra đời với chủ trương cách tân không giới hạn, sau đó không lâu có thêm trang Da Màu ở Mỹ, tôi có đất để sống. Rồi talawas bên Đức nữa, tôi có thêm chỗ để đọc và viết.
Tôi đã coi hoạn nạn như một cơ hội. Và cái nghịch thường trong cuộc đời ấy đã biến tôi từ một kẻ khó chịu thành một kẻ giễu nhại và phạm thánh.
* Anh có thể tóm tắt ngắn gọn hai tiểu thuyết này trong vài dòng và cả ẩn ý, thông điệp, để khiến nó trở thành cái gai trong mắt của phía quản lý thời bấy giờ?
– NGUYỄN VIỆN: Có lẽ tôi nên bắt đầu với tiểu thuyết Thời của những tiên tri giả (TCNTTG). Trước hết, TCNTTG là truyện đã được in chung trong cuốn Rồng và rắn (RVR), trước khi quay lại in ở trong nước với tư cách độc lập. Đồng thời, TCNTTG cũng là tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự thay đổi của tôi trong bút pháp, từ cấu trúc đến nghệ thuật ngôn ngữ. Nó đã tạo ra sự khác biệt của một Nguyễn Viện như nhiều người nhận xét.
Có thể nói, TCNTTG là tác phẩm viết về chiến tranh VN đầu tiên được nhìn từ phía những nạn nhân của nó sống ở miền Nam sau 1975, xuất hiện ở hải ngoại cũng như trong nước. TCNTTG kể về những khốn khổ mà người dân miền Nam đã kinh qua từ những biến cố khốc liệt nhất của cuộc chiến, Mậu Thân 1968, mùa Hè đỏ lửa 1972 và cuộc tổng tấn công 1975 dẫn đến chấm dứt chiến tranh và những hệ lụy của cuộc thống nhất đất nước, xuyên qua câu chuyện của một gia đình có người thân vốn đã thuộc về hai phía như bản chất của cuộc chiến tranh ấy. Nội chiến.
Lồng trong thảm kịch của người dân, tôi đã cho chen ngang vào mạch truyện những đoạn như sấm truyền của chủ nghĩa duy ý chí để phơi bày cái linh hồn của cuộc chiến. Một kẻ dẫn dắt điên cuồng cuộc chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Chính ở điều này, nó tạo cho tác phẩm một khác biệt không chỉ trong tư duy, quan điểm mà còn ở cấu trúc mang dấu ấn cách tân của tôi.
Truyện thứ hai trong Rồng và rắn là Đâm sừng vào bóng tối (ĐSVBT). Nó cũng có một cách viết như TCNTTG, trong ĐSVBT cũng đã có hai dòng chảy song hành giữa một cuộc tình lãng mạn say đắm của một đôi tình nhân “bên bờ vũ trụ” và nỗi cô đơn khốn cùng của một con tê giác lầm lũi đâm sừng vào cái vô tận của bóng tối. Truyện này, được đăng lần đầu trên tạp chí Hợp Lưu vào năm 2001, cũng là lần đầu tiên truyện tôi xuất hiện ở hải ngoại. Và chính nó đã là cái nguyên khởi của mọi gian truân trong cuộc sống tôi. Kẻ bị khai trừ.
Truyện thứ ba, Người dẫn đường đã tới (NDĐĐT). Người dẫn đường ở đây là một bà thầy bói bằng lá. Vì thế, được gọi là bà Năm Lá. Và nhờ tài bói toán, bà Năm Lá nhếch nhác trong xóm nhà tôi đã trở thành một giáo chủ lừng lẫy uy quyền. Đấy, ngay cả bạn, nếu bạn muốn, bạn cũng có thể trở thành một giáo chủ, lãnh tụ, hoặc đại gia, bằng cách kinh doanh tâm linh, hoặc niềm tin của con người. Lịch sử nhân loại chẳng phải đã được dẫn dắt bởi các nhà tiên tri hoặc thầy bói sao?
Truyện cuối, Rồng và rắn (RVR). Có lẽ RVR là thành quả hay trải nghiệm của một cuộc sống bị giám sát, theo dõi. Cái bóng ma trong truyện không chỉ là ám ảnh của một quá khứ chiến tranh, mà còn là một xung đột của thì hiện tại về ý thức và mối quan hệ xã hội trong hệ thống cai trị của chế độ độc tài. Con người bị mai phục và trấn áp toàn diện theo mọi chiều kích của sống và chết, quá khứ và hiện tại.
Tất cả bốn tiểu thuyết ấy không chỉ là những bi kịch trầm uất của cuộc sống con người Việt Nam hôm nay, mà còn đầy chất bi hài của chính những người trong cuộc, cai trị và bị trị. Vì thế, văn chương tôi bỗng thành giễu nhại một cách hậu hiện đại. Cũng bởi, không đâu hơn Việt Nam, một xã hội hỗn độn đa tầng, rất hậu hiện đại và kỳ quái.
* Còn về bút pháp tiểu thuyết, nếu so với mặt bằng chung thời bấy giờ, anh tự thấy cách viết của mình ra sao?
– NGUYỄN VIỆN: Thời bấy giờ và ngay cả bây giờ, tôi tự thấy tôi không giống ai. Văn phong và cách viết hoặc bút pháp của Nguyễn Viện là một Nguyễn Viện, độc nhất.
Văn chương tôi là một sản phẩm của thời đại. Trong hoàn cảnh đặc thù của xã hội đương đại, giả dối và tàn bạo, tôi là kẻ muốn sống sót và sống sót bằng chữ nghĩa, một cách chân thật.
* Với các tiểu thuyết như “Chữ dưới chân tường” (2004), “Em có gì bí mật, hãy email cho anh” (2008)… thì nhiều người còn cho rằng nó đang phản tiểu thuyết. Anh bình luận hoặc bào chữa nhận định này ra sao?
– NGUYỄN VIỆN: “Phản tiểu thuyết”? Thật tuyệt. Tôi chẳng có gì phải bào chữa. Vì đúng là tôi muốn phản tiểu thuyết. Chẳng những thế, tiểu thuyết của tôi còn được Phạm Thị Hoài cho là “phản lịch sử, phản hư cấu, phản hiện thực” như trong lời giới thiệu tiểu thuyết Đĩ thúi đăng trên Blog Pro&Contra của nhà văn này. Hoặc nhà báo Mặc Lâm viết trên RFA (đài Á châu Tự do của Mỹ), rằng nhân vật của tôi đã “khai mở một cách nhìn khác về tiểu thuyết hiện đại”.
Bằng cách từ chối mọi lề thói hoặc định hướng, tôi có tham vọng thiết lập một thế giới văn chương định danh Nguyễn Viện. Được định danh, nhưng chắc chắn, nó vẫn là một thế giới mở cho những khả thể. Tôi đi đến đâu, đường mở ra đến đó. Và tôi vẫn đang trên đường đi tới.
Cho dù, tôi bị cho là một tác giả gây chia rẽ người đọc nhất, tôi vẫn luôn cảm thấy thú vị vì điều ấy.
* Nhờ anh nói rõ hơn một chút về các đặc điểm của “không gian văn học Nguyễn Viện” mà anh muốn tập trung vào?
– NGUYỄN VIỆN: Khi tự định danh “không gian văn học Nguyễn Viện”, tôi tự xác định tôi là một tác giả khác. Cái khác ấy, xét trong bối cảnh hiện thực, tôi phi chính thống, tôi ngoài lề và cũng ngoại lệ. Văn chương tôi dẫu có thể là dưỡng chất hoặc độc dược, nó khác với tất cả các tác giả trong quá khứ hoặc đương thời, ít nhất là trong nền văn học Việt. Từ nghệ thuật ngôn ngữ đến cấu trúc. Tôi phi tuyến tính, phản lịch sử, phản hiện thực, phản tiểu thuyết, phản hư cấu. Nhân vật của tôi không chân dung. Tôi hỗn độn như chính sự hỗn độn. Tôi phù phiếm như chính sự phù phiếm. Và bởi hỗn độn và phù phiếm là bản chất của cuộc sống, tôi phạm thánh và giễu nhại thần tượng, cũng như tôi dè bỉu các giá trị giả tạo.
Cái tôi truy cầu không phải là kể một câu chuyện hoặc triết lý của câu chuyện, mà sự quyến rũ của chữ làm tôi mê đắm. Và tôi khát khao khai mở cái bất khả của ngôn ngữ, cũng như cái bất khả của hiện hữu. Bởi thế, viết là một cuộc phiêu lưu bất tận của chữ và cách tôi thực hiện cuộc phiêu lưu ấy.
* Vì sao lúc ấy anh nghĩ mình cần phải phản kháng hoặc đổi mới, phá cách trong sáng tác? Nhất là về tuổi tác, ở lứa tuổi đã tri thiên mệnh, lại đang làm ở báo Thanh Niên nữa, làm điều này với anh khó hay dễ?
– NGUYỄN VIỆN: Không phải đến “lúc ấy” tôi mới “nghĩ mình cần phải phản kháng hoặc đổi mới…”. Thật ra, từ năm 1979 tôi đã có những hoạt động mang ý thức cách mạng xã hội. Việc này dẫn đến hậu quả là tôi đã phải đi tù ít năm. Cũng cùng một cách ấy, khi các trang mạng Tiền Vệ ở Úc, Da Màu ở Mỹ, Talawas ở Đức mở ra cũng là cơ hội để tôi có chỗ đăng đàn những diễn ngôn văn chương mới của mình. Thật lòng, nếu không có các trang mạng ấy, tôi cũng khó tìm được niềm hứng khởi cho cuộc phiêu lưu chữ nghĩa.
Với tôi, làm báo chỉ là việc kiếm cơm. Viết văn, tôi mới coi là sự nghiệp là cuộc đời mình.
Mất việc ở báo Thanh Niên chỉ vì tôi đăng truyện trên tạp chí Hợp Lưu ở Mỹ, cũng chỉ có nghĩa là tôi không còn gì để mất. Tôi được giải phóng và tôi tự do. Tôi có cơ hội để toàn tâm với văn chương, dấn thân không sợ hãi. Nhưng quả thật, tôi đã gặp nhiều khó khăn trong việc kiếm cơm sau tai nạn này. Trong hoạn nạn, may mắn thay, tôi đã gặp nhiều “quý nhơn” giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi kiếm sống, tuy không phải ai cũng là bạn tôi. Họ đã không ngại khi tôi bị coi là “phản động”. Tôi luôn luôn biết ơn họ. Bên cạnh đó, tôi cũng phải thành thật khai báo rằng, cho đến tận bây giờ vẫn còn rất nhiều người trong giới văn nghệ e ngại, tránh né tôi, đặc biệt là các nhà phê bình. Họ sợ liên lụy. Cái bóng ma trong các vụ án văn nghệ trước đây vẫn làm họ khiếp đảm. Nhiều khi tôi tự hỏi, sĩ khí có phải là thứ quá xa xỉ trong đời sống xã hội hiện nay không? Và văn chương có cần sĩ khí không?
* Vậy theo anh thì văn chương có cần sĩ khí không?
– NGUYỄN VIỆN: Nếu hỏi: Con người có cần sĩ khí không? Tôi tin là mọi người sẽ nói cần, cho dù sĩ khí thật sự chỉ là của hiếm. Văn chương, bọt bèo hoặc trường cửu, tầm phào hoặc xuất sắc, tôi nghĩ đều cần sĩ khí. Nó là phẩm hạnh của nhân cách và là cái đẹp của văn chương.
* Nếu anh không ngại, anh có thể chia sẻ thêm một chút về sự việc dẫn anh đến phải đi tù ít năm như đã nói ở trên?
– NGUYỄN VIỆN: Có lẽ không một ai có thể quên một xã hội mới, xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam sau thống nhất 1975. Từ một thể chế văn minh theo xu thế chung của nhân loại, chúng ta quay ngược lại với sự mông muội của áp chế, cấm đoán mọi hình thức để con người có thể sống với phẩm giá của mình. Một đường lối cai trị độc đoán theo chủ thuyết cộng sản và sự điều hành đất nước theo cách mà chúng ta quen gọi là “ngăn sông cấm chợ” đã đưa cả cuộc sống con người vào khó khăn tăm tối, một cách vô lý. Trong bối cảnh ấy, tôi đã không thể ngồi yên. Và tôi nghĩ tranh đấu cho một xã hội tốt đẹp, nhân bản và hạnh phúc hơn là trách nhiệm công dân của mỗi người. Tôi đã làm việc ấy theo cách của mình là “tranh đấu trong điều kiện hợp pháp”.
Rồi tôi bị bắt. Cuối năm 1980.
Một trải nghiệm mà tôi tìm thấy kết luận: Khi đi đến đường cùng (như ở tù), người ta không còn gì để sợ, vì thế sẽ bình an như cái chết.
(Còn một kỳ)