Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 26, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Người nhặt tro

 

Ông đứng lặng yên trước chiếc mâm hình chữ nhật bằng kim loại đựng đầy tro của hài cốt vừa được hỏa thiêu chiều nay. Bên ngoài, buổi chiều đang xuống nhanh, khiến những tia nắng rọi nghiêng vào phòng chóng nhạt nhòa, lẫn vào nền gạch xám nhạt của căn phòng. “Một người nữa đã ra đi,” ông tự nhủ trong khi mân mê chiếc lọ gốm có chạm trổ mà người thân của kẻ quá cố đã để lại. Ông không xem ảnh của người đã mất được đặt cạnh quan tài, đến khi thân nhân của người này đến chia tay lần cuối đã mang đi mọi thứ còn lại. “Chẳng hề gì,” ông nghĩ thầm, “rồi mình cũng sẽ biết.”

Rồi như mọi lần, ông cẩn thận cúi xuống trút mớ tro tàn vào chiếc lọ và niêm kín nút. Ông tẩn mẩn dán ngay ngắn mẩu giấy có keo dính in tên và ngày sinh, lẫn ngày mất, của người quá cố lên lọ, nhưng ông cũng quên không đọc qua cho biết như mọi lần. Ông đặt chiếc lọ lên giá rồi quay lại chiếc mâm kim loại đựng tro. Ông đứng lặng một thoáng, trước khi thật cẩn trọng dùng một chiếc cọ mịn vét lấy những hạt tro còn bám quanh viền chiếc khay và dưới đáy, rồi trút cả vào một gói giấy nhỏ và cho vào túi quần. Xong đâu đấy, ông chùi rửa cẩn thận các dụng cụ rồi xếp đặt mọi thứ trong phòng hoả thiêu cho ngay ngắn trước khi tắt đèn và khoá phòng. Bên ngoài hành lang, ông mặc lên người chiếc áo khoác dày, mang khăn choàng, găng tay và đội mũ trước khi bước ra lề đường lúc hoàng hôn vừa bắt đầu buông xuống.

Ông cúi gập người, nép mình đi men theo những mái hiên, những bờ tường trơ trụi, cố chống chọi với cơn gió giữa mùa Đông buốt giá. Về đến nhà, ông mệt mỏi treo áo choàng, khăn, mũ lên giá rồi vào phòng khách đặt gói giấy trong túi quần lên bệ gỗ phía trên lò sưởi. Ông đi vào phòng tắm, chậm rãi trút bỏ bộ đồ đi làm, tắm rửa cẩn thận và thay bộ đồ mặc ở nhà. Rồi ông xuống bếp, chuẩn bị thức ăn, nấu bữa tối, và chậm rãi dùng bữa. Xong đâu đấy, ông thu dọn thức ăn thừa vứt đi, rửa dọn cẩn thận mọi thứ trong bếp, sắp đặt ngay ngắn các vật dụng rồi pha một bình trà mang lên phòng khách.

Ông mồi lửa, thắp lò sưởi bằng củi trong phòng, rồi vặn thấp đèn, nhẩn nha ngồi chờ cho đến khi lửa đượm và những tiếng nổ tí tách thưa dần cùng với hương khói ấm áp quen thuộc tỏa lan quanh phòng. Ông uống nốt tách trà còn lại, trước khi rời khỏi ghế ngồi, tiến đến cạnh bệ gỗ trên lò sưởi và vất vào ngọn lửa chiếc gói giấy ông vừa mang về chiều nay. Ông đứng lặng người, chăm chú nhìn vào chiếc gói giấy bùng cháy trong khoảnh khắc rồi tàn lụi giữa ngọn lửa hừng hực trong lò sưởi. Rồi ông chậm rãi quay về chiếc ghế bành quen thuộc. Ông từ từ rót một tách trà mới, nhấp một ngụm đầy, tận hưởng vị trà nồng đậm đang thấm dần xuống cổ và nhắm mắt chờ đợi.

*

Tiếng gió quật cùng với những đợt mưa chợt đổ xuống bên ngoài khiến cho ông nhớ lại, cách đấy hơn bốn mươi năm về trước, cũng trên chiếc ghế bành này, trong căn phòng ấm mùi khói thế này, ông đã lần đầu tình cờ chạm phải, và hé mở cánh cửa vô hình vào một nơi chốn mà con người không bao giờ ngờ đến được. Đó là một đêm đầy bão tố bên ngoài, với bao cây cối, dàn hoa… nhà ông bị quét trụi, lẫn bão tố trong lòng, khi ông vừa trải qua ngày đen tối nhất trong đời, vì người thân yêu duy nhất, mẹ của ông, vừa mới mất và được hỏa thiêu chiều hôm ấy.

Ông còn nhớ ánh mắt thông cảm và xót thương của người nhân viên lò hỏa thiêu, khi ông ta đọc thấy được nỗi đau và tuyệt vọng còn in đậm trong nét mặt, và ánh mắt, của chàng trai trẻ, trong suốt mấy giờ đồng hồ anh ngồi chờ hài cốt của mẹ được thiêu hủy. Đến khi các thủ tục hoàn tất, người nhân viên cho phép anh đến gần, trong lúc ông ta trút mớ tro tàn của người mẹ vào chiếc lọ gỗ cho chàng trai.

Có lẽ vì vội vã, lẫn xúc động trước nỗi đau trong đôi mắt ráo hoảnh, ông đã lỡ tay làm vương vãi một ít tro ra ngoài. Đến khi người nhân viên đã niêm kín nút và dán mảnh giấy tên mẹ lên thành lọ, anh vẫn không rời mắt khỏi nhúm tro tàn còn vương lại trên mặt chiếc khay kim loại. Chỉ sau một thoáng do dự, anh vội vã vơ lấy mảnh giấy cạnh bàn và vét sạch nhúm tro rồi gói lại cẩn thận và cất vào túi. Anh có cảm tưởng đấy là một phần của mẹ mà anh không thể nào để sót lại và để mất đi cùng với những thứ rác rưởi ở đây. Anh đưa mắt biết ơn nhìn người nhân viên lò hỏa thiêu, rồi anh cất giọng khàn nghẹn trao lời cảm ơn và từ biệt ông ta, trước khi ôm lấy chiếc lọ gỗ đựng tro hài cốt của mẹ về nhà.

*

Trời đã tối hẳn và mưa gió chuyển sang bão tố lúc anh về đến nhà. Anh đặt chiếc lọ, lẫn gói giấy đựng tro của mẹ lên bệ gỗ trên lò sưởi nơi phòng khách, rồi anh vội vã thắp lò sưởi và chất đầy những thanh củi còn lại vào lò. Sau đó, anh đi nhóm bếp, đun nước và pha một bình trà rồi mang trở lại phòng khách. Anh mệt nhoài và rã rời buông người xuống chiếc ghế xô pha đã được kéo sát lại bên lò sưởi để tìm chút hơi ấm trong căn nhà lạnh giá.

Anh đã cố nén mình trong suốt mấy ngày qua, đã ráng giữ cho đầu óc được tỉnh táo để thu xếp mọi việc cho chu đáo. Anh đã cố hết sức để dằn lòng trong tang lễ của mẹ, cố ghìm mình trong lúc chứng kiến cảnh quan tài của mẹ được đưa vào phòng hỏa thiêu, cũng như trong trong suốt phần còn lại của buổi chiều hôm ấy. Nhưng đến lúc này, khi mọi việc đã hoàn tất, anh có cảm giác như tấm đê ngăn con sông dữ đã sụp lở và bao nhiêu cảm xúc bị dồn nén suốt cả thời gian qua, kể từ ngày mẹ anh ngã bệnh cho đến phút này như cơn lũ đã tràn bờ.

Anh để mặc cho nước mắt tuôn rơi và đắm mình trong nỗi đau mất mẹ. Anh đã không ngờ rằng, cùng lúc ấy, ở ngoài trời, cơn bão cuồng nộ đã quét trụi bao nhiêu cây cối, trụ điện… cho đến khi mạch điện vào nhà anh bị cắt đứt. Khi đèn trong nhà chợt phụt tắt, anh chỉ thoáng ngỡ ngàng, và cho đến giây phút ấy, anh mới nhận ra tiếng mưa bão cuồng phong đang gầm rú bên ngoài. Nhưng anh không còn màng đến bất cứ điều gì xảy ra xung quanh mình, nên anh vẫn ngồi đấy, mặt úp giữa đôi tay. Anh cảm thấy sâu sắc nỗi cô đơn, trống vắng bao trùm lên mình trong bóng tối phủ dày khắp nhà, ngoại trừ làn ánh sáng chập chờn hắt ra từ bên trong lò sưởi.

Sau một khoảng thời gian dài mà anh không biết được là bao lâu, anh dần dần cảm thấy khối xúc cảm đè trĩu trong lòng vơi đi đôi chút, anh bắt đầu nghĩ đến thực tại và những điều anh cần phải làm trước mắt. Khi anh nghĩ đến những chọn lựa trong việc cất giữ tro hài cốt của mẹ: ở nhà, mang đi gửi ở đền thờ, hoặc mai táng ở nghĩa trang giữa những người xa lạ, cuối cùng anh đã chọn cách đơn giản nhất là giữ lại nhà. Nghĩ đến điều này, anh chợt nhớ đến gói giấy nhỏ anh mang về có chứa một ít tro của mẹ mà anh không thể để vương vãi và mất đi. Anh rời ghế bành, tiến lại cạnh bệ gỗ và lần tìm gói giấy nhỏ trong bóng tối.

Cầm gói giấy trong tay, anh nhớ lại từng nét rõ rệt về mẹ: vóc người mẹ nhỏ nhắn, đôi mắt sâu, thật buồn và hiền từ… Anh có cảm giác như thể mẹ đang hiện có mặt bên cạnh mình. Tim anh thắt lại trong nỗi nhớ thương và mất mát mà anh biết được chẳng có điều gì khác trên đời này có thể bù đắp. Anh ngậm ngùi nhớ lại những tháng ngày lớn lên cạnh mẹ, tình thương yêu mẹ đã dành cho anh là nguồn hơi ấm, là phần thưởng lớn nhất cho đứa trẻ không có bố. Bên cạnh mẹ, anh đã mỏi mòn chờ đợi cho đến ngày bố anh trở về từ một nơi nào đó ở chiến trường, mà mẹ anh đã tin rằng ngày ấy sẽ đến trong tương lai. Anh nắm chặt gói giấy trong tay, xót xa cho cuộc sống trong bao nhiêu năm cô quạnh của mẹ. Bây giờ mẹ đã khuất, anh cảm thấy như thể điều anh hằng chờ đợi ấy chẳng còn là nguồn khao khát nung nấu với anh nữa. Đã quá muộn màng nếu có một hôm bố anh trở về lại căn nhà này, vì mẹ đã mãi mãi đi xa và bà sẽ chẳng còn ở nơi đây để vui niềm vui đoàn tụ ấy.

Anh miên man suy nghĩ về những điều anh và mẹ đã chia sẻ với nhau trong quá khứ, những năm tháng thật ngọt ngào, êm đềm mà với anh, giờ đây chúng là những kỷ niệm quý báu mà anh sẽ mang theo suốt đời. Với ý nghĩ này, lòng anh bỗng thấy nhẹ đi và cảm giác an bình chợt tràn về khiến anh thấy lòng mình ấm lại. Anh nhớ lại những điều mẹ đã căn dặn trong những ngày cuối, và anh tự hứa, bằng mọi cách, mình sẽ phải thực hiện cho được.

Anh đứng lặng người, lòng tràn ngập bao xúc cảm và thương nhớ, nhưng nỗi đau xót giờ đây đã được thay thế bằng niềm an ủi sưởi ấm trong lòng. Mắt anh không rời ngọn lửa đỏ thắm rực sáng trong lò sưởi, rồi trong nỗi xúc động, anh nhẹ nhàng thả gói giấy đựng tro của mẹ đang cầm trên tay vào giữa ngọn lửa. Anh thấy lòng mình ấm lên với ý nghĩ rằng, từ đây, một phần của mẹ sẽ mãi mãi bên mình như những ngày xưa bé. Anh biết, ý nghĩ ấy sẽ theo anh suốt đời như một tấm lụa vô hình bảo bọc anh trong tình thương yêu của mẹ.

Anh nhẹ nhàng quay về ghế bành, ngả đầu lên tay ghế. Lần đầu tiên sau bao nhiêu ngày thức trắng, anh cảm thấy lòng thật bình yên, ấm áp, và anh thanh thản chờ đợi cơn buồn ngủ đến. Anh lắng tai nghe tiếng mưa rơi đều đều, êm êm trên mái, và trong phút chốc, anh được sống lại lần nữa những ngày thật hạnh phúc, êm đềm thời thơ ấu trong bóng tối dịu ngọt với mùi khói từ lò sưởi tỏa lan ấm áp quanh mình.

Nhưng khi anh vừa thoáng chợp mắt, anh có cảm giác như thể có tiếng di chuyển trong phòng. Khi anh hé mắt nhìn vào lò sưởi, anh ngỡ như đang trong mơ lúc thấy mẹ nhẹ nhàng bước ra từ bên trong khung lò sưởi. Mẹ của anh hệt như hôm nào, vẫn mái tóc gợn sóng mềm mại, bước chân nhẹ nhàng và nụ cười ấm dịu lạ thường. Anh chưa kịp đứng dậy thì mẹ đã đi đến bên cạnh. Rồi như bao nhiêu năm tháng trước đây, mẹ ân cần cúi xuống bên anh và cất tiếng dịu dàng hỏi:

“Chưa ngủ sao con?”

Anh ngỡ ngàng đưa tay dụi mắt. Anh không thể tin vào điều đang xảy ra cho mình, và không thể phân biệt được là mình đang ngủ hay thức.

“Dạ chưa, mẹ ạ!” anh sung sướng đáp lời.

Mẹ ngồi xuống chiếc ghế bành cạnh anh, bàn tay mềm mại, ấm áp của mẹ đặt lên tay anh. Rồi nhìn sâu vào mắt anh, mẹ dịu dàng bảo:

“Con, có điều này mẹ muốn nói với con.”

Anh ngồi thẳng dậy, hoàn toàn tỉnh táo và biết chắc rằng mình đang rõ ràng không mơ.

“Có việc gì thế mẹ?” anh ân cần cầm tay mẹ trong hai tay mình.

Mẹ anh thở dài thật nhẹ, rồi đưa mắt nhìn xuống hai bàn tay con trong tay mình. Anh thoáng đọc thấy điều gì đó hơn cả nỗi buồn trong đôi mắt sâu mà anh vẫn thường gặp mỗi khi anh tình cờ trông thấy mẹ ngồi suy tư một mình. Mãi lâu, mẹ mới cất giọng êm và buồn, anh có thể cảm nhận được những giọt nước mắt đang được đè nén qua giọng nói run rẩy, nghẹn ngào của mẹ.

“Con, mẹ đã giấu con một điều, mà giờ đây, mẹ cần phải cho con biết để con không còn phải ngóng đợi trong mỏi mòn nữa. Mẹ đã thật yếu đuối khi không có đủ can đảm cho con biết sự thật trước kia, nhưng bây giờ con đã trưởng thành và mẹ không còn có thể ở bên con để chia sẻ với con điều con vẫn hằng mong chờ. Mẹ mong con tha thứ cho mẹ điều này, và hãy hứa với mẹ rằng con sẽ không vì thế mà nản lòng, hoặc từ bỏ những giấc mơ mà con đã ôm ấp và thôi không cố gắng xây đắp cho tương lai.”

Bà cúi xuống, giấu tiếng nức nở trong lòng bàn tay người con trai và anh choàng tay ôm lấy đôi vai gầy nhỏ của mẹ. Mẹ anh ôm lấy cánh tay con, rồi cố nén cơn thổn thức, bà vừa cất giọng đẫm nước mắt nói với anh:

“Con ơi, bố con đã không mất tích nơi chiến trường như điều mẹ đã lỡ bảo với con ngày con còn bé. Lẽ ra mẹ phải kể cho con nghe sớm hơn về bố, nhưng mẹ đã không đành lòng khi phải phá vỡ niềm hy vọng nhỏ nhoi của con, mặc dù mẹ luôn mong chờ có được dịp để bày tỏ với con điều mẹ luôn cất giữ trong lòng. Bố con đã trở về từ sau chiến tranh, hiện vẫn còn sống, và là người mà con có biết đấy, con ạ.”

Anh siết chặt lấy đôi vai nhỏ bé của mẹ, lòng tràn ngập niềm vui tột cùng với mẩu tin hết sức bất ngờ này. Anh níu lấy mẹ, cố nhìn vào khuôn mặt thân yêu còn đẫm nước mắt và không hiểu được lý do khiến mẹ đã phải sầu khổ. Anh lay cánh mẹ, hối hả giục mẹ kể tiếp.

“Mẹ, mẹ, thế bây giờ bố ở đâu?”

Mẹ anh đưa mắt buồn bã nhìn con, rồi bà cố nuốt cơn nghẹn ngào trước khi cất lời lần nữa.

“Con, bố con ngày ấy quả thật có ra trận. Mẹ và bố đã yêu nhau và có bí mật hứa hôn trước khi bố lên đường trong lúc mẹ đang đi học đại học năm cuối. Mẹ không ngờ mẹ đã có con trước khi bố lên đường, nên bố chưa bao giờ được biết về con. Rủi ro thay, bố chỉ ra trận lần đầu đã bị trọng thương, đến khi họ đưa về lại nhà, bố con tưởng như không qua nổi, và đến khi bình phục, bố con đã mất hết ký ức. Mẹ vẫn hằng chờ đợi có ngày bố nhớ lại mối tình xưa với mẹ và tìm đến thăm mình, nhưng có lẽ phần ký ức ấy đã bị xoá nhoà, mà mẹ thì không có đủ can đảm để tìm đến gia đình bố và cho hay về mẹ con mình. Vì thế cho nên mẹ đã không thể dối con là bố đã mất nơi chiến trường, cũng như không thể cho con hay sự thật này. Mẹ vẫn mong chờ có ngày bố con phục hồi ký ức, mà mẹ biết, nếu bố nhớ lại, bố sẽ chẳng bao giờ từ nan điều gì để đến với mình.”

Anh đọc thấy ánh nhìn ấm áp của mẹ thoáng qua sau làn nước mắt. Anh nhận ra một cách rõ ràng, mẹ anh vẫn còn yêu người tình xưa, và điều này cũng khẳng định lần nữa với anh rằng, bố chắc hẳn phải là một người thật đặc biệt. Anh nôn nóng muốn được biết thêm về bố, anh cần hỏi ngay bố đang ở đâu, làm gì… và anh sẽ tìm đến để thăm ông. Như đọc thấy điều này trong ánh mắt ngời sáng của con, mẹ anh lại buồn bã cúi đầu. Rồi với giọng đượm buồn, mẹ anh bảo:

“Không được đâu con! Bố con đã lập gia đình sau nhiều năm trở lại từ chiến trường và đã có con cái. Vả lại, lý do mà mẹ không thể tìm đến thăm bố là do sự cách biệt giữa giai cấp và hoàn cảnh của hai gia đình. Vì lý do này, từ ngày đầu, bố và mẹ đã phải trải qua bao cản trở nên phải giấu kín mối tình xưa, và nuôi hy vọng đến ngày bố trở về, bố sẽ tự mình tạo dựng một sự nghiệp vững chãi trước khi kết hôn với mẹ. Đôi khi mẹ có nghĩ, có lẽ bố và mẹ đã không có duyên nợ với nhau thật, cho nên đã có con với nhau mà cuối cùng vẫn không thành. Tuy nhiên, mẹ vẫn yêu bố và cầu mong cho bố được mọi sự tốt lành, cũng như cố gắng nuôi con từng ngày và mong cho con sau này hiển đạt để xứng đáng với mối tình ngày xưa mẹ đã có được với bố.”

Anh hết sức bối rối và hoang mang trước những điều mẹ kể lại, nhất là anh vẫn không thể hiểu được tại sao mình không thể đến thăm bố, người cha suốt đời vắng mặt mà anh đã mong mỏi được trông thấy dù chỉ một lần trong đời. Anh bối rối nhìn mẹ vẫn đắm mình trong im lặng, những giọt lệ của mẹ làm anh xót xa.

“Mẹ, bố ở đâu, mẹ cho con hay đi!” anh nài nỉ với tất cả tấm lòng.

Không ngước mắt nhìn anh, mẹ trả lời trong cơn nghẹn ngào.

“Bố con là ngài Bộ trưởng Ngoại giao đương thời, con có nhận ra không?”

Anh choáng váng như vừa có vật gì va phải vào đầu. Anh cố mường tượng khuôn mặt của ngài Bộ trưởng Ngoại giao, một người hết sức lịch duyệt và nổi tiếng vì những chính sách hết sức tiến bộ, nhưng cùng một lúc, anh nhận ra cái hố ngăn cách giữa gia đình mình và dòng họ bên bố. Gia đình bố anh ở phía bên kia thành phố, nơi hội tụ của các nhà lãnh đạo, giới thượng lưu và các siêu sao cư ngụ, trong khi mẹ con anh sống phía bên này, trong căn nhà cũ kỹ được xây cất từ cả trăm năm trước đây mà ông bà ngoại đã để lại. Còn hơn thế nữa, mọi người đều biết đến dòng dõi thế tộc lâu đời của gia đình ngài Bộ trưởng Ngoại giao, lẫn gia đình vợ của ông, mà ngay cả với lối bươi móc của giới báo chí, truyền thanh, truyền hình… đương thời, chưa có điều gì mà nhóm này có thể đàm tiếu về họ.

Anh cố tập trung để mường tượng lại khuôn mặt của ngài Bộ trưởng ngoại giao như anh đã từng xem trên truyền hình và qua báo chí, rồi cố hình dung thử mình giống bố ở điểm nào, như mẹ anh thỉnh thoảng vẫn bảo. Anh chưa thể nghĩ ra, nhưng có một điều anh hoàn toàn không thể nghi ngờ gì nữa: tên bố anh trong giấy khai sinh, và toàn bộ hồ sơ học hành, hồ sơ gia đình… đúng là tên của ngài Bộ trưởng. Trong phút chốc, anh cảm thấy một nỗi thất vọng và cay đắng bao trùm lên mình. Anh không bao giờ ngờ đến giây phút anh biết được tin tức về bố, điều anh hằng khắc khoải mong chờ như là một tia sáng nhỏ nhoi trong suốt bao năm sống quạnh quẽ bên mẹ, lại không là giây phút hạnh phúc nhất đời như anh vẫn nghĩ, mà là một nỗi đau và mất mát ngoài sức tưởng tượng của mình.

Anh ngồi đắm mình trong chiếc ghế bành, cả thân thể như lún sâu trong mớ đệm cũ kỹ với nỗi đau nặng trĩu trong lòng. Lẫn trong nỗi bàng hoàng xót xa, anh nhận ra cảm giác tiếc nuối bao trùm lấy mình, và anh ước ao, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, rằng mẹ anh đã giấu kín mãi không cho mình biết về sự thật ấy. Có lẽ cuộc sống của anh sẽ mãi chìm lắng trong cái hạnh phúc êm đềm với nỗi chờ mong ngày bố trở lại. Nhưng ngay cả nếu điều này không bao giờ đến, anh vẫn có thể tự ru mình bằng cái giả thuyết rằng bố đã mất ở nơi nào đó trên chiến trường, và đối với anh, điều đó nằm trong mức định liệu của mình và tất nhiên là chấp nhận được.

Nhưng bây giờ, giấc mơ êm đềm ấy đã tan vỡ. Anh xót xa hơn khi nghĩ đến bao năm tháng mẹ anh đã sống trong cô quạnh, trong khi biết được bố đã trở về với cuộc sống phía bên kia thành phố. Anh cảm nhận được những nỗi đau và mất mát mà mẹ anh đã trải qua khi phải chứng kiến từng chặng đường đời của bố, mà với mỗi bước tiến trên đường công danh, cũng như thành đạt trong cuộc sống riêng tư, khoảng cách của họ ngày một xa hơn. Anh cảm thấy bất lực khi không thể làm được điều gì để xoa dịu hoặc bù đắp cho những nỗi đau mà mẹ đã phải trải qua, và nỗi tuyệt vọng khiến cho anh rối trí và cùng quẫn.

Như đọc được nỗi lòng của con, mẹ anh cúi xuống bên anh thật dịu dàng, rồi xoa tay lên mái đầu con như những ngày xưa bé, mẹ anh nhẹ nhàng bảo:

“Đừng buồn con ạ, quá khứ là một phần của cuộc sống mà mình không thể thay đổi được, nhưng tương lai thì ở trong tay mình. Mẹ mong muốn con dành công sức cho một tương lai như con vẫn ao ước được có, và hãy nhớ rằng mẹ vẫn mãi ở bên con.”

Rồi mẹ âu yếm cúi xuống hôn lên trán anh, trước khi nhẹ nhàng quay gót. Trong lúc anh còn chới với nhìn theo, chưa kịp có cử động nào, mẹ anh đã tiến đến bên khung lò sưởi. Mẹ quay lại nhìn anh lần cuối, ánh mắt mẹ thật hiền từ và anh cảm thấy lòng mình ấm lại khi nhận ra nỗi đau không còn nữa, mà thay vào đấy, ánh nhìn của mẹ lấp lánh nụ cười. Rồi mẹ nói với anh, giọng êm dịu quen thuộc như hôm nào:

“Ngủ đi con, đã quá muộn rồi đấy!”

Chỉ có thế, rồi mẹ nhẹ nhàng đi vào giữa những ngọn lửa đỏ hồng, lúc ấy chợt chao đi như có làn gió thoảng qua. Anh ngồi lặng người trong giây lát, rồi vội vã chồm về phía trước như muốn níu lại bóng dáng mẹ lần nữa, nhưng phía bên trong khung lò sưởi chỉ còn những tàn lửa lấp lánh nhẹ nhàng bay lên.

*

Anh bàng hoàng ngồi dán mắt vào những ngọn lửa đang nhảy múa trong lò sưởi, hoàn toàn chưa định thần được điều gì vừa xảy đến với mình. Tuy nhiên, anh đã biết chắc rằng mình đã không hề ngủ mơ, cũng như những điều mẹ anh nói là sự thật. Anh chợt nhớ lại một lần, cách đấy không lâu, mẹ anh có kể cho anh nghe rằng bố anh ngày xưa chỉ say mê sách vở chứ không ưa thích chuyện chinh chiến hay làm việc chính trị, nhưng vì áp lực của gia đình trong giới chính khách từ nhiều đời, bố anh đã phải đi theo con đường này. Rồi anh nhớ lại, một lần khác, mẹ anh đã ca ngợi chính sách mới mà ngài Bộ trưởng bộ ngoại giao vừa đưa ra khiến anh hoàn toàn ngạc nhiên vì mẹ anh vốn là người không say mê theo dõi chính trị. Anh dần dần nhớ lại những điều mẹ anh đã nhắc đến, cũng như nhận ra, như mẹ vẫn bảo nhiều lần, anh có khuôn mặt và đôi mắt giống bố – ngài Bộ trưởng ngoại giao, và ý nghĩ này thật lạ lẫm khiến cho anh cảm thấy ngộp thở. Và như thế, anh ngồi đắm mình với bao nhiêu ý nghĩ về gia đình mình cho đến khi tia sáng đầu tiên của ngày mới ửng lên ngoài cửa sổ.

*

Hôm sau, anh không đến trường đại học mà đón xe buýt đi về hướng ngược lại, sang phía bên kia thành phố tìm đến nhà của ngài Bộ trưởng ngoại giao. Anh cảm thấy bước chân mình như nhẹ hẫng đi, khi anh bước xuống xe ở trạm cuối và đi vào con đường nhà bố. Anh không rõ lắm vào giây phút ấy, anh đã có những cảm xúc, ý nghĩ gì, nhưng chắc chắn, chúng không phải là cảm giác mừng rỡ, hân hoan như anh đã từng mơ ước bao năm trước đây vào giây phút chờ được gặp người cha thân yêu. Bên cạnh đó, cảm giác ngượng ngùng và lo âu khiến cho anh đôi lần chùn bước, toan quay trở lại. Nhưng có điều gì đó đã thúc đẩy anh tiếp tục cất bước cho đến khi anh đến trước cổng nhà ngài Bộ trưởng.

Anh đắn đo không biết có nên gọi cửa, hoặc chỉ ở bên ngoài chờ cho đến khi nào có người ra vào căn nhà hãy nhân tiện hỏi thăm. Trong lúc anh còn đang phân vân với hai chọn lựa này, cánh cửa lớn mở ra, và tim anh như bị nén lại khi thấy ngài Bộ trưởng – bố của anh xuất hiện ở ngưỡng cửa. Mặc dù anh đã xem ông trên truyền hình và báo chí nhiều lần, anh vẫn không khỏi ngạc nhiên lẫn xúc động khi nhận ra mình giống bố thật nhiều, ở những điểm như mẹ vẫn kể.

Ngài Bộ trưởng tiến ra cổng khi trông thấy anh, và trong một thoáng thật ngắn ngủi, anh có cảm tưởng như thể ông khựng lại với ánh nhìn thật khó diễn tả được, rồi ông chậm rãi cất bước đến gần chàng trai. Trong cái khoảnh khắc khi hai cha con đối diện nhau, nhìn vào mắt nhau và chỉ ngăn cách bằng chiếc cổng có song sắt, anh có cảm tưởng như thời gian dừng lại. Có lẽ chỉ trong tích tắt, anh đã suýt buột miệng kêu lên: “Bố ơi, con của bố đây!” Nhưng anh vừa kịp dừng lại khi ngài Bộ trưởng lên tiếng trước. Giọng của ông trầm ấm, rõ ràng, và mặc dù đó là lần đầu tiên trong đời anh được nghe thấy tiếng bố, anh vẫn có cảm giác gần gũi, quen thuộc như đã từng được sống bên ông cả đời.

“Chào cậu,” ông nói giọng điềm đạm, “cậu cần tìm ai đấy?”

Ông vừa hỏi vừa kéo song sắt, nhẹ nhàng kéo mở chiếc cổng ngăn cách giữa hai cha con. Anh bối rối và xúc động đến cực độ nhưng phải cố hết sức để đè nén cảm xúc, rồi lắp bắp trả lời:

“Thưa… thưa… ngài Bộ trưởng,” anh nuốt nước bọt, tranh thủ thì giờ cố tĩnh tâm lại, “tôi… tôi cần… viết bài phỏng vấn để làm sáng tỏ thêm đôi điều về…,” anh khựng lại trong giây lát rồi mới tiếp tục được, “về… về… chính sách đối ngoại của ông.”

Anh nuốt nước bọt, cố làm thông cổ họng đang nghẹn lại, trong khi ráng hết sức để kiềm chế cảm xúc đang dâng tràn, có nguy cơ khiến anh bộc lộ nỗi niềm riêng của mình. Ngài Bộ trưởng dừng lại trong giây lát trong khi ánh mắt của ông không rời khuôn mặt chàng trai trẻ. Rồi ông từ tốn rút trong túi ra tấm danh thiếp đưa cho anh và nhẹ nhàng bảo:

“Tôi cần phải đi đây có chút việc. Cậu hãy gọi cho thứ ký riêng của tôi hẹn giờ gặp, để tôi xem có thể giúp cậu được gì không.”

Trước khi ông quay trở vào nhà, anh có cảm tưởng như thể ông đã dừng lại trong khoảnh khắc và có ý định nói thêm với anh điều gì đó. Nhưng ông lại thôi, và ông vẫy tay chào anh khi người tài xế mang xe ra đến bên cạnh đón ông đi. Chàng trai vẫn còn trong cơn bối rối xúc động, anh muốn được níu giữ và kéo dài mãi cái khoảnh khắc quý báu khi bố nhìn sâu vào mắt mình lần nữa, và anh tin rằng ông đã nhận ra vẻ giống nhau thật rõ rệt giữa hai người. Nhưng ông đã quay lưng đi và tim anh như bị nén chặt trong nỗi tiếc nuối vô biên. Khi bố anh bước lên xe ô tô, chuẩn bị sập cánh cửa lại, anh mới cất giọng yếu đuối, rời rạc gọi với theo:

“Cảm ơn ông.”

Qua lần kính xe, anh thấy bố quay lại nhìn mình khi chiếc xe lăn bánh ra khỏi cổng và mất hút ở cuối đường. Anh thẫn thờ cầm tấm danh thiếp của bố trong tay, mắt anh vẫn không rời hàng chữ tên của bố in đậm ở giữa. Anh thấy lòng mình nhói đau với cái gần gũi vô biên giữa tình cảm anh dành cho bố, lẫn cái xa cách muôn trùng giữa hoàn cảnh của hai cha con. Đến giây phút ấy, anh mới thấu hiểu được lý do mà mẹ đã không tìm đến bố và nối lại tình xưa, mặc dù mẹ vẫn không nguôi nhớ thương người cha của đứa con mình. Anh thẫn thờ quay gót rời nhà bố và đi đến cuối đường. Anh nhận ra, trong nỗi đớn đau một cách sâu sắc, anh sẽ chẳng bao giờ quay lại nơi này lần nữa.

*

Đã hơn bốn mươi năm kể từ ngày ấy. Bố của ông đã mất cách đấy khá lâu, và mặc dù nhiều lần ông đã lên đường đi đến nhà bố để được thăm cha mình lần nữa, lần nào ông cũng bỏ dở nửa chừng và quay về nhà. Từ ngày gặp bố, ông không còn thiết đến chuyện học hành và xây dựng tương lai cho mình nữa. Nhiều lần, ông nhận ra rằng, ông không còn thiết đến điều gì nữa trên đời, chỉ khao khát được gặp lại mẹ, dù chỉ một lần, để giãi bày nỗi niềm của mình và mong mẹ tha thứ vì đã không giữ được lời hứa xây đắp công danh sự nghiệp như mẹ vẫn hằng mong mỏi. Nhưng ông không thể nào gọi mẹ trở lại được lần nữa, vì trong một lần cùng quẫn với nỗi tuyệt vọng sẽ chẳng bao giờ được gặp lại bố, cũng như bị giày vò bởi ý nghĩ đã phụ lòng mẹ, ông đã mang vứt lọ tro hài cốt của mẹ xuống biển với mong mỏi mẹ sẽ được thảnh thơi nơi trùng dương mênh mông.

Sau một thời gian khá dài sống trôi nổi, vô định, ông chợt nhận ra có một công việc mà ông muốn làm: đó là trở thành nhân viên của lò thiêu hài cốt. Với công việc đó, ông có thể nhặt tro của người quá cố và biết được thêm về những bí mật được cất giấu sang phía bên kia của cái chết, mà ông tin rằng, dù ít hay nhiều, chẳng có ai mà không cất giữ đôi điều cho riêng mình cho đến cuối đời. Thế là ông cất công đi xin việc ở nơi này, và chẳng lâu sau, ông đã được nhận vào làm chính thức ở lò hoả thiêu của thành phố.

Ngày ngày, ông tận tuỵ và miệt mài với công việc để hoàn thành thật chu đáo mọi thủ tục cho tang lễ hỏa thiêu. Ông ân cần giúp đỡ, chia sẻ cùng thân nhân của kẻ quá cố và mang đến cho họ niềm an ủi rằng người thân của họ đang được ông chăm chút cẩn trọng. Dần dần, ông được giao hẳn toàn bộ các khâu làm việc với lò thiêu, và mỗi ngày, ông lại nhặt một ít tro còn sót lại của một người nào đó trong những người được mang đến trong ngày.

Rồi khi đêm về, ông nhanh chóng hoàn thành công việc cá nhân, trước khi thảy tro của người quá cố đã nhặt được vào lò sưởi ở nhà. Bằng cách này, ông đã làm sống lại lần nữa những linh hồn, và trở thành người duy nhất trên đời được biết đến những điều thầm kín của những con người xa lạ. Ông cũng nhận ra rằng, dù là sang hay hèn, giàu hay nghèo, sung sướng hay khổ cực, những linh hồn quá vãng đều bước qua khung lò sưởi ấy với vẻ bối rối, kinh ngạc như nhau, và cùng mở lòng ra, kể cho ông nghe những điều thầm kín đã được vùi sâu trong tâm hồn trước khi họ ra đi vĩnh viễn.

Hàng mấy chục năm qua, mỗi đêm, ông đều thức suốt để nghe chuyện của những con người xa lạ. Bao nhiêu điều bí mật, bao chuyện đau lòng, nhiều điều hết sức kinh hoàng hoặc cực kỳ quý giá của những người quá cố đã mang lại cho ông một cuộc đời hết sức phong phú và thú vị. Nhiều lần, ông tình cờ biết được những bí mật vô cùng giá trị về những người danh tiếng, khiến cho ông có lúc thầm nghĩ “nếu mình muốn, mình có thể, bất cứ lúc nào, trở nên giàu có và nổi danh bằng cách truyền bá rộng rãi những bí mật của họ.” Nhưng ông chỉ cất giữ cho riêng mình, và lấy làm thú vị mỗi khi đọc báo, hay xem tin tức với những mẩu tin hoặc phỏng đoán hoàn toàn lệch lạc về những người này.

Chẳng hạn, có lần, ông đọc tin mới nhất trong ngày, sau tang lễ của một chính khách giữ một chức vụ quan trọng trong bộ tài chính. Theo ông, bài báo chắc hẳn đã được “đặt hàng” để viết bằng một giọng điệu hết sức cung kính và bi ai, mà ngoài những lời ca tụng hết sức nhạt nhẽo, ông còn đọc thấy ở phần cuối là lời ca thán và tiếc nuối cho vị chính khách đã ra đi mà chưa thực hiện được mơ ước cuối cùng là trở thành bộ trưởng bộ tài chính và tạo ra một ngân quỹ giàu có cho đất nước. Ông đã bật cười thành tiếng khi đọc đến đoạn này, vì chỉ mới đêm hôm trước, ông tình cờ nhặt phải tro của vị chính khách và trò chuyện với ông ta suốt một đêm. Nhờ đó, ông đã biết được nguyện vọng cuối cùng của vị này là được hôn lên đôi chân kiều diễm của cô thư ký riêng trẻ tuổi mà ông đã thầm say mê mà chưa một lần dám bày tỏ.

Hoặc một lần khác, ông xem tin tức phỏng đoán về nguyên nhân cái chết của một minh tinh màn bạc. Mẩu tin đưa ra nhiều “bằng chứng” để kết luận đấy là hậu quả của một tai nạn xảy ra trong phòng tắm, sau khi nạn nhân uống say quá độ. Chỉ cách đấy vài tuần, ông tình cờ được biết toàn bộ diễn tiến của vụ án mạng, sau khi nhặt được tro của người nữ minh tinh xinh đẹp. Trong nỗi uất hận, cô gái kể cho ông nghe là đã bị hành hung và ngất đi từ trong phòng ngủ trước khi bị người tình mang ra dìm vào nhà tắm. Ông đã phẫn nộ khi đọc được điều này, và cho rằng, có lẽ thế giới không nên phung phí tiền bạc trả lương cho cái đám làm điều tra án mạng, khi họ hoàn toàn không để ý đến những vệt máu trong mớ chăn gối trong phòng ngủ, lẫn những chi tiết cho thấy cô gái đã bị hành hung, mà đã nhanh chóng kết luận là cô ta bị chết đuối vì say.

*

Trong những lần gặp gỡ và đối thoại với những linh hồn, ông còn biết thêm được nhiều điều về tâm tính con người. Nhiều lần, ông đã hết sức ngạc nhiên về sự khác biệt giữa cái ấn tượng mang lại từ những biểu hiện bên ngoài của những người mà ông đã được biết qua tin tức, báo chí… và cuộc sống riêng, lẫn tâm tư, tình cảm của họ. Có nhiều người suốt đời mang một bề ngoài trầm lặng, mẫu mực, nhưng thật ra, họ chỉ là những kẻ khéo che đậy một cuộc sống phóng túng, mục ruỗng, có khi còn tồi tệ hơn cả cái đám cặn bã của xã hội. Những điều họ kể lại khiến cho ông kinh tởm, và có lúc gây cho ông một nỗi hoài nghi cho tất cả những người quanh mình, mà ông đã phải cố gắng lắm mới vượt qua được và tìm lại quân bình trong cách suy nghĩ. Hoặc có lúc khác, những người quá cố kể về những nỗi đau và bao điều vất vả, nhọc nhằn… họ đã trải qua, mà suốt cả đời, chẳng có ai bên ngoài có thể đoán được khi cho rằng họ đã có một cuộc sống hạnh phúc trọn vẹn.

Nhưng điều đặc biệt và hết sức thú vị đối với ông trong những lần gặp gỡ những linh hồn, đó là khi ông được nhờ cậy để đi nhắn tin cho những người thân của họ. Không ít lần, ông đã bí mật làm kẻ đưa tin từ bên dưới nấm mồ cho những người còn ở lại. Đối với ông, đó là một sứ mệnh cao cả và ông không quản ngại điều gì để hoàn thành công việc được giao phó. Ông có cảm tưởng như thể mình là một thiên thần, người duy nhất làm cầu nối giữa sự sống và cái chết. Ông lấy làm hạnh phúc khi biết được mình đã giúp ích cho những con người trong lúc khốn khó, hoặc trước cơn hoạn nạn, hiểm nguy… Ý nghĩ này cũng là nguồn động lực thôi thúc ông hăng say và tận tuỵ với công việc mỗi ngày, vì qua những điều ông biết được về cuộc đời riêng của mỗi con người mà ông tình cờ nhặt được tro của họ, ông lại thấy công việc của ông không chỉ dừng lại ở lò hỏa thiêu. Sứ mệnh của ông còn đi xa hơn là chăm chút lần cuối những con người đã nằm xuống, khi ông là người duy nhất có thể lắng nghe và giải toả giúp cho họ những uẩn khúc trong lòng, và mang lại niềm an ủi, thảnh thơi cho những linh hồn. Việc nhặt tro đã trở thành mục tiêu và lẽ sống của cuộc đời ông, và ông biết, ông sẽ mãi say mê, cũng như chỉ cất giữ cho riêng mình những điều mà ông đã biết được từ những linh hồn.

*

Và như thế, đã hơn bốn mươi năm từ ngày ông lần đầu phát hiện ra phép mầu kỳ diệu này. Ông đã sống một cuộc đời hết sức phong phú, tâm tưởng của ông luôn đầy ắp những điều mới lạ mà ông góp nhặt được hàng ngày qua bao nhiêu cuộc gặp gỡ với những linh hồn. Có lúc ông thầm nghĩ “mai sau khi mình qua đời, liệu sẽ có ai biết đến điều kỳ diệu này và mang linh hồn mình trở lại lần nữa, để khám phá ra một cuộc đời hết sức thú vị của mình đàng sau cái bề ngoài thật là tẻ nhạt của người nhân viên lò hỏa thiêu?” Nhưng ông cho rằng, mãi mãi sẽ chẳng có ai biết đến điều này, bởi lẽ trí tưởng tượng của con người đã được đóng khuôn trong cái nhìn về thực tại, lẫn bị ăn mòn bởi hoài nghi về những điều có thể xảy ra, đã khiến cho họ tự xóa bỏ cái khả năng tìm đến những điều bên ngoài nếp sống hàng ngày. Ông lặng lẽ thở dài, và thầm tiếc nuối rằng ông không còn ai thân thích trên đời để chia sẻ với họ cuộc đời đầy sắc màu mà ông đã được hưởng. Ông thầm mong đến một ngày nào đó, ông có thể truyền lại cái bí mật quý báu này cho một nhân viên mới của lò hỏa thiêu mà ông phải tin chắc là xứng đáng để được chia sẻ.

*

Có tiếng động nhẹ trong phòng, rồi có tiếng hắt hơi nhẹ từ hướng lò sưởi. Ông mở mắt nhìn lên vừa lúc bóng dáng một cô gái trẻ có vẻ mặt ngơ ngác bước qua khung lò sưởi tiến đến bên cạnh ông. Cô gái trẻ đưa tay vén mái tóc xõa tung, đưa mắt nhìn quanh phòng với vẻ ngạc nhiên và cất giọng hỏi ông:

“Đây là đâu? Xin ông vui lòng cho biết, ông là ai?”

Ông từ tốn đứng lên rồi tiến lại gần cô gái. Ông vồn vã đưa tay mời cô ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh và cho cô hay, cô hiện đang ở tại phòng khách nhà ông, người nhân viên lò hỏa thiêu vừa mới xử lý hài cốt của cô chiều nay. Cô gái bỡ ngỡ nhìn quanh, và chỉ sau một thoáng đắn đo, cô lao đến ôm chầm lấy cánh tay ông nức nở. Rồi cô khóc lóc, van vỉ, xin ông giúp đỡ bằng cách nhắn tin đến gia đình về cái chết của mình. Ông chăm chú lắng nghe câu chuyện hết sức thương tâm của cô gái trẻ về một quãng đời thật bi thảm với cái chết giữa những người xa lạ. Ông long trọng hứa với cô rằng ông sẽ ghi lại tất cả những điều cô đã kể và gửi đến gia đình của cô ở một nơi xa xôi hẻo lánh tận vùng cuối cùng của đất nước. Ông cũng hứa sẽ cất giữ giúp lọ tro hài cốt của cô cho đến ngày người thân cô đến nhận lại. Ông đã an ủi người phụ nữ trẻ bằng những lời lẽ thật thân ái và chân thành khiến cô hết sức cảm động và bình tâm trở lại.

*

Khi ánh lửa trong lò sưởi bắt đầu thấp dần và ông cũng đã chép xong câu chuyện thật thương tâm của người phụ nữ trẻ, ông thân ái bắt tay từ biệt cô gái trước khi tiễn cô đi vào giữa khung lò sưởi còn đượm hồng. Khi cô xoay người lần cuối mỉm cười chào ông, ông có thể đọc thấy niềm vui trong ánh mắt còn lấp lánh những giọt lệ. Ông thấy tim mình ấm lại với niềm tự hào rằng, nhờ có ông, những điều mong ước cuối đời của người phụ nữ trẻ đã được thực hiện.

*

Ông chậm rãi uống nốt tách trà đã nguội lạnh từ bao giờ, rồi thong thả lên giường.

Bên ngoài, bình minh vừa ửng lên sau chòm mây. Ông đón chờ giấc ngủ trong sự hài lòng về một ngày làm việc hiệu quả. Rồi như bao nhiêu ngày đã qua, ông tự hỏi “điều gì đang chờ đợi mình khám phá hôm nay?” Ông thầm mong rằng, mớ tro mà ông sẽ nhặt về hôm ấy sẽ mang đến cho mình những điều hết sức thú vị, và biết đâu, ông lại được lần nữa làm điều gì có ích.

Adelaide, 2/2006 & 10/2006

 

 

 

bài đã đăng của Hoàng Ngọc Thư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)