Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 28, Đọc và Đọc lại Email bài này

Đọc “Bình thủy 1969” của nhà văn Trần Mộng Tú

 

 

Đọc “Bình thủy 1969” của nhà văn Trần Mộng Tú

 

Tôi là một người say mê văn chương và đã đọc được khá nhiều từ thời còn bé. Tuy nhiên, tôi có thể đếm được bao nhiêu lần trong đời mình tôi đã bị tác động mạnh mẽ bởi một bài viết. Hồi ký “Bình thủy 1969” của nhà văn Trần Mộng Tú là một trong những bài viết đã để lại ấn tượng rất sâu sắc trong tôi, mà tôi nghĩ rằng bài viết ấy đã trở thành một trong những tác phẩm mà tôi sẽ không bao giờ quên được.

*

Thật khó có thể dùng từ ngữ để diễn tả đủ những cảm xúc và suy nghĩ của tôi lần đầu tiên tôi được đọc bài hồi ký ấy của chị trên báo mạng Da màu. Cho đến bây giờ, sau nhiều tuần lễ, và bao nhiêu điều mà tôi phải lo nghĩ trong cuộc sống hằng ngày đã làm dịu bớt tác động của bài viết ấy đối với tôi, mỗi lần nhớ đến bài ký của chị vẫn còn làm tôi cảm thấy đau đớn và dao động. Không phải chỉ bằng trực giác của người đọc, mà chính là ở sức nặng về cảm xúc, hình tượng, và cường độ áp lực tinh thần đã được chuyên chở trong bài viết không dài ấy đã khiến cho tôi có thể nhận ra ngay, đây là một hồi ký chứ không phải là chuyện hư cấu (fiction) như tác phẩm này đã được xếp loại.

Điều đầu tiên, và cũng là điều gây tác động sâu sắc nhất đối với tôi là, bài hồi ký của chị đã được viết một cách hết sức từ tốn, bình dị và đơn giản đến mức tôi có cảm tưởng như thể chị đang kể về chuyện của ai khác chứ không phải của chính mình. Có thể nào viết đơn giản hơn như thế này không, để kể lại giây phút đen tối nhất mà một phụ nữ còn quá trẻ đã trải qua, khi chị nhận được tin chồng vừa tử trận ngay sau ngày cưới chỉ mới có mấy tháng:

Cả hai người bước vào phòng khách, cả hai nhìn tôi, rồi cả hai nhìn nhau, không ai muốn là mình nói trước.

Tôi linh tính có điều không tốt, nhưng không hiểu chuyện gì. Cuối cùng, Carl nói:

– Sở nhận được điện thoại từ Rạch Giá gọi về chiều nay, nói là Cung, chồng của cô đã tử trận.

Tôi đứng ngẩn người, không nói được tiếng nào.

Carl nói tiếp:

– Suốt từ chiều, chúng tôi liên lạc được với Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang), xác định tin rõ ràng, có gọi điện thoại nói chuyện với bà giám thị của đại học xá Trần Quý Cáp, mẹ Cung, cụ cũng nhận được tin rồi.

Tôi ngồi xuống hai gót chân mình, không nghe được gì tiếp, ngoài tiếng xôn xao của cha, mẹ và gia đình.”

Giọng văn mạch lạc, ráo hoảnh của chị trong suốt cả bài viết đã khiến cho tôi cảm thấy đau đớn khốc liệt gấp bao nhiêu lần nếu chị dùng lối diễn đạt để làm bi kịch hóa câu chuyện. Những cảm xúc, những sự kiện xảy ra từ lúc chị hay tin chồng chị qua đời, diễn tiến trong lúc đi nhận xác anh, cho đến đám tang của anh, kết thúc bằng ngày trở về thăm lại quê hương và thăm nơi yên nghỉ cuối cùng của anh đã được chị kể lại một cách chậm rãi, tĩnh lặng đến mức nghẹt thở.

Lối viết dung dị và tả thực của chị đã khiến cho tôi có cảm tưởng như thể tôi đã được đưa ngược dòng thời gian trở về lại thời điểm câu chuyện ấy bắt đầu, và đang tận mắt chứng kiến những điều chị đã trải qua. Tôi không thấy trong cả bài viết có từ ngữ nào thuộc loại to lớn, mạnh bạo, mà chị chỉ dùng toàn những chữ đơn giản, nhỏ nhoi để diễn tả từ chuyện trọng đại nhất, cho đến lúc bi thảm nhất của cả bài ký. Như trong chỉ vài dòng ngắn ngủi sau đây, chị đã dựng lại toàn vẹn khung cảnh và lột tả được tâm trạng của người vợ trẻ bơ vơ bên quan tài chồng khi họ bị thả xuống giữa phi trường quân sự mênh mông mà chưa biết làm cách nào để về lại thành phố Sài Gòn:

“Buổi trưa tháng Tám, mặt trời tóe những chùm nắng rát bỏng, chói chang trên sân bay, cái sân bay rộng lớn chỏng chơ một chiếc áo quan có phủ xộc xệch lá quốc kỳ, mấy giọt nến đóng thành mảng khô cứng, trắng đục trên màu vàng của lá cờ, một vài chiếc lá quăn queo sót lại của vòng hoa chiều qua còn dính ở đó. Tôi thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt nhầu nát, tóc tai bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mông mênh thế mà cái quan tài thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn. Sân bay không một bóng người, vài ba chiếc máy bay quân sự đậu rải rác bên cạnh những “phuy” dầu chưa kịp xếp vào kho. Hình như đã có mùi hôi bốc ra từ quan tài, tôi đứng lui ra một tí nữa, xoa tay lên ngực, thấy mình nghẹn thở, ngực nặng và đau buốt, đau thấu xuống tận bụng, tôi muốn ngất đi.”

Gần như toàn thể bài viết của chị là bài miêu tả chân dung của những con người và khung cảnh của từng sự kiện với rất ít từ ngữ diễn tả cảm xúc. Nhưng qua những bức tranh tư tưởng ấy, người đọc có thể cảm nhận được một cách sâu sắc sức nặng của bao nhiêu đau thương chị đã đè nén từ lúc câu chuyện xảy ra cho đến tận bây giờ, suốt mấy chục năm sau. Như trong đoạn văn sau đây, chị kể lại giây phút đen tối và kinh hoàng nhất lúc chị đi cùng với mẹ và người anh chồng đi nhận xác chồng:

“Tôi không uống được, cái mùi tử khí trưa nay của mấy chục cái xác xếp chất lớp trước cửa nhà xác vẫn ràn rụa trong thân thể tôi. Nó phủ chụp từ đỉnh đầu xuống hai bàn chân, khi tôi len lỏi bước qua những xác lính bên ngoài để vào bên trong, chỗ người ta để xác sĩ quan. Tôi đã phải bước qua từng cái túi có bọc thây người ở trong, có cái thòi hai bàn chân còn nguyên đôi giày sautra một đầu, có cái thì lòi ra ở đầu kia một đỉnh tóc bết đất, có cái thòi nguyên một khuôn mặt tái mét vàng khè có mấy con ruồi đậu trên đôi mắt chưa khép kín hẳn. Tôi đi theo bàn tay dắt của người anh chồng, xúc động và kinh hoàng đã làm tôi không còn cảm giác nữa. Không biết tôi có giẫm phải ai không. Tôi cố gắng không giẫm lên những người đàn ông nằm đây. Vào được đến bên trong thì tôi có nhìn thấy gì đâu, chỉ nghe tiếng bật khóc của mẹ chồng, tiếng anh chồng bảo: “Đúng là Cung rồi”.

Tôi thấy hình như tôi được bế lên, được đặt ngồi xuống một cái bậc thềm, gió ở sông thổi vào mặt tôi, giúp tôi tỉnh lại, tôi mở mắt ra, nhìn xuống. Tôi thấy một giòng nước đục chẩy lờ đờ bên dưới. Thì ra nhà xác của bệnh viện Kiên Giang nằm sát cạnh bờ sông. Tôi không dám nhìn vào những người đàn bà đang đi lật từng cái ponchoquấn thây người để tìm chồng, tìm con họ trước cửa nhà xác. Tôi thấy mình còn may mắn hơn họ.”

Chỉ có thế: những từ ngữ ráo hoảnh, không một giọt nước mắt, không một tiếng kêu than, nhưng những điều chị kể lại chất chứa nỗi đau đớn tột cùng trong thẳm sâu câm lặng. Điều này đã khiến cho tôi – một độc giả chưa từng được quen biết chị và không hề biết gì về chiến tranh – đã khóc không ngừng từ mấy dòng đầu cho đến chữ cuối cùng. Có thể nói rằng tôi đã từng nếm trải nhiều hơn một lần những nỗi đau cùng cực về thể xác cũng như tinh thần mà không hề rơi nước mắt. Nhưng những điều chị phải trải qua đã khiến cho tôi cảm thấy đau đớn, khiếp đảm, thương cảm và lẻ loi đến cùng cực. Và có lẽ chính ở tác động của những cảm xúc, suy tưởng mà chị không hề nhắc đến trong cả bài viết lại là nỗi ám ảnh không dứt đối với tôi. Tôi đã khóc với nỗi đau xót không thể đè nén được suốt mấy ngày sau đó mỗi khi nhớ đến bài viết của chị, cũng như lúc đọc thư chị hồi âm cho tôi khi tôi gửi thư thăm hỏi và chia sẻ cùng chị những nỗi đau mà chị đã trải qua.

*

Đọc hồi ký “Bình thuỷ 1969” của nhà văn Trần Mộng Tú đã khiến cho tôi nhớ lại hai hồi ký khác về chiến tranh mà tôi đã đọc được trước đây. Và cũng như bài viết của chị, hai hồi ký này đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong tôi, và tôi biết rằng tôi sẽ chẳng bao giờ quên được. Bài viết thứ nhất tôi đọc được cách đây đã khá lâu và cũng là hồi ký chiến tranh đầu tiên mà tôi được đọc. Đó là bài viết của vợ tướng Lê Văn Hưng kể lại diễn tiến của những ngày cuối của cuộc chiến vào tháng Tư năm 1975 và chồng của bà đã tự vẫn tại nhà, sau khi ông hay tin chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã trao chính quyền cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, và kết hoạch hành quân mật để tử thủ đến cùng của hai tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng không thành vì một số sĩ quan nòng cốt đã không thi hành nhiệm vụ mà đã mang gia đình bỏ trốn. Hồi ký thứ hai tôi mới đọc được năm ngoái là tác phẩm “Tháng Ba Gãy Súng” của nhà văn Cao Xuân Huy kể về những ngày cuối cùng của cuộc chiến đẫm máu mà anh đã trực tiếp tham dự, kết thúc bằng cái chết tức tưởi của không biết bao nhiêu người lính bị chỉ huy bỏ rơi và số còn lại bị bắt làm tù binh ngay trên bờ biển Thuận An của Huế.

Cả hai hồi ký này đã gây khủng hoảng cho tôi và để lại trong tôi những ám ảnh không nguôi về tác động của chiến tranh. Đọc bài viết “Bình thủy 1969” của nhà văn Trần Mộng Tú và trải qua những ngày xót xa sau đó, đã khiến cho tôi nhớ lại nỗi đau đớn và khiếp đảm kéo dài đến nhiều ngày mà tôi đã trải qua trước đây khi đọc được hai hồi ký này. Mặc dù hồi ký của vợ tướng Lê Văn Hưng và của nhà văn Trần Mộng Tú là những câu chuyện được viết bằng cảm quan và nếm trải của những người phụ nữ trong phạm vi thu hẹp của gia đình, trong khi hồi ký của nhà văn Cao Xuân Huy đã được viết bằng kinh nghiệm của một người lính chiến đấu giữa đồng đội ngay trong cuộc chiến, nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ mức độ của những điều mà họ đã phải hứng chịu đều đau đớn và khốc liệt như nhau.

*

Bây giờ nhìn lại, tôi nghĩ rằng có lẽ những câu chuyện trong thời chiến, mà nhất là những bài hồi ký đã để lại cho tôi những tác động và ám ảnh sâu đậm bởi vì chúng đã kể lại những sự thật về chiến tranh mà chẳng có ai bên ngoài có thể biết được nếu không có những bài viết này. Mặc dù câu chuyện của mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều ghi lại những mất mát, đau thương và cay đắng cùng cực mà nhiều triệu người đã và đang trải qua (trong những cuộc chiến của Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới) nhưng họ hoàn toàn không hề có lựa chọn nào. Trong guồng máy của chiến tranh, số phận của những người lính chuyên nghiệp hoặc lính bị động viên, và ngay cả người dân thường đều nằm dưới quyền định đoạt của những người điều hành cuộc chiến.

Nhưng cũng qua những khổ ải của chiến cuộc, bao nhiêu ưu khuyết điểm của mỗi người đều được (hoặc bị) phơi bày. Và chính ở trong những tình thế bi thảm cùng cực nhất, chúng ta có thể thấy được những đức tính, tình cảm tốt đẹp nhất hiển hiện; thấy được những con người can đảm, mạnh mẽ, sẵn sàng dùng hết tâm trí, sức lực để vượt qua những thử thách và vững vàng bước tới. Họ có thể là những người phụ nữ ở hậu phương như vợ tướng Hưng đã can trường ủng hộ chồng cho đến giây phút cuối cùng và một mình ở lại nuôi con sau khi ông đã tự sát, như bà mẹ chồng cực kỳ tháo vát và can đảm của nhà văn Trần Mộng Tú và bản thân chị Tú, như muôn nghìn người phụ nữ khác trong thời chiến đã là chỗ dựa vững chắc cho những người lính xả thân nơi mặc trận. Và chắc chắn chúng ta đã thấy được điều này ở những người lính trong lúc họ chiến đấu nơi tiền tuyến, hoặc sau khi chiến tranh đã chấm dứt, lúc họ bị vùi dập ở những trại tù. Chỉ đến khi người ta phải đối diện với chuyện sống còn của bản thân mình, và (hoặc) của những người mình chịu trách nhiệm thì bản chất thật của họ mới được lộ diện.

Điều này đã được nhà văn Cao Xuân Huy khẳng định trong một bức thư anh viết cho tôi. Sau khi tôi đọc hồi ký “Tháng Ba Gãy Súng” của anh và viết thư thăm hỏi, chia sẻ với anh, anh Huy đã viết cho tôi về chiến tranh:

“Chiến tranh là một trò chơi tàn bạo mà mọi người, tham dự hay không tham dự, đều phải chấp nhận và hứng chịu những tàn bạo đó chụp xuống đầu mình, dĩ nhiên, trừ những kẻ điều hành cuộc chiến. Bây giờ, sau một thời gian đã khá dài, ngồi nhìn lại, ta có thể khách quan thấy rằng, những người sống chết với lính hay phản bội lính để bỏ chạy lấy thân, cũng chỉ là những chuyện thường tình trong đời sống. Và cũng rất thường tình trong đời sống, những kẻ hèn nhát, trong cuộc chiến cũng như những kẻ hèn hạ trong các trại tù, mới là những kẻ lớn tiếng nhất, huênh hoang nhất.”

Có một điều đặc biệt, nhưng không phải là điều ngạc nhiên là, chính bản năng sống còn, sức chịu đựng gan thép và lòng thương yêu cuộc sống đã giúp cho những người lính hoặc người dân vượt qua được những năm tháng đen tối nhất của chiến tranh, cũng là sức mạnh để họ vững bước tiến về phía trước sau khi cuộc chiến đã chấm dứt. Với tinh thần không chịu khuất phục trước hiểm họa trong thời chiến, họ đã tiếp tục xây dựng cuộc sống mới ở thời bình. Bằng lòng kiên trì và sức chịu đựng bền bỉ, họ đã không để cho những mất mát, đau thương của quá khứ làm mất đi những điều tốt đẹp mà họ vẫn còn giữ lại được, và vẫn tiếp tục xây đắp cho tương lai của bản thân mình và gia đình.

Vì tôi lớn lên sau khi chiến tranh đã chấm dứt và không biết gì về cuộc chiến ngoại trừ những điều được nghe kể lại, tôi đã cho rằng những nạn nhân trực tiếp của chiến tranh chắc phải bị khủng hoảng nặng nề và bị ảnh hưởng lâu dài bởi những điều họ đã trải qua. Nhưng tôi đã hết sức khâm phục khi biết được rằng, mặc dù đó là sự thật đối với một số người, phần đông những người Việt Nam đã từng trải qua những khổ ải của chiến tranh vẫn bằng mọi cách để xây dựng và bồi đắp cho cuộc sống mới. Điều này cũng đã được nhà văn Cao Xuân Huy khẳng định trong thư anh viết cho tôi, khi tôi bày tỏ với anh nỗi băn khoăn về ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh đối với người Việt Nam. Anh Huy đã viết cho tôi:

“Người Việt Nam, từ tận đời thuở nào, mới sinh ra, đã là tài nguyên của chiến tranh. Cô nhìn suốt chiều dài lịch sử của đất nước, đã có được bao nhiêu thời gian gọi là thanh bình. Bởi vậy, “hội chứng Việt Nam” chỉ đúng cho những người ngoại quốc tham chiến ở Việt Nam, mặc dù họ tham dự cuộc chiến chỉ trong một thời gian ngắn. Còn chính người Việt Nam, số người bị khủng hoảng tinh thần sau cuộc chiến, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Không biết tôi có chủ quan không.”

Có lẽ anh Huy đã không chủ quan, bởi vì không chỉ có những người lính mới có cùng quan điểm như anh, mà ngay cả những người dân, đặc biệt là những người phụ nữ đã từng gánh chịu bao nhiêu đau thương, tàn phá khốc liệt của chiến tranh cũng đã mạnh dạn bước về phía trước và tìm mọi cách để hàn gắn những vết thương trong quá khứ. Như vợ của tướng Hưng, như bà mẹ chồng của chị Trần Mộng Tú, như bản thân của chị Tú, khi chị lấy chồng lần nữa và dành trọn cuộc đời mình để xây đắp hạnh phúc gia đình với chồng con.

Riêng với chị Tú, tình thương yêu của gia đình và đức tin vào Đấng Cứu Rỗi đã mang đến cho chị nguồn an ủi và sức mạnh để chị có thể tiếp tục thầm lặng đắp lành dần vết thương trong quá khứ, cũng như không ngừng dốc lòng nuôi dưỡng hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại và cho cả tương lai của gia đình. Bằng nghị lực và lòng đôn hậu, chị đã tìm lại được cuộc sống yên bình sau bao nhiêu mất mát thương đau. Với sức chịu đựng bền bỉ và sức mạnh tinh thần, chị đã không để cho hậu quả của chiến tranh làm mất đi những điều tốt đẹp mà chị đã và đang có được. Điều này đã được bộc lộ qua bức thư chị viết cho tôi khi tôi viết thư thăm chị sau khi đọc “Bình Thủy 1969”:

“Chị lập gia đình lại ở Mỹ, tháng 9 này là được 31 năm. Con trai đầu lòng của chị sắp 30 tuổi, con gái thứ hai của chị 28, con trai út 27. …

Vết thương nào rồi cũng được Chúa băng bó hết. Lâu lâu chị cũng cảm thấy cô đơn, thấy muốn khóc, khóc một hồi rồi thôi. …

Bây giờ chị sống an bình với chồng con…”

Chị Tú ơi, em thành tâm cầu mong cho những vết thương của chị rồi sẽ lành, và chị sẽ thôi không còn phải trải qua những phút đau thương trong những giấc mơ hay trong đời sống hiện tại. Bài viết “Bình Thủy 1969” của chị đã tác động đến nhiều người, trong đó có em, và em mong rằng hồi ký ấy đã giúp làm vơi bớt gánh nặng trong tâm tưởng của chị, giúp chị san sẻ bớt những điều chị đã phải lặng lẽ cưu mang trong suốt bao nhiêu năm qua.

Và tôi cũng thầm cầu mong cho tất cả những người đã từng phải nếm trải những nỗi đau thương, mất mát trong chiến tranh sẽ tìm lại được sự yên bình trong tâm tưởng. Tôi cũng hy vọng rằng, bằng cách viết lại, hoặc chia sẻ với những người thân, họ có thể xếp cất phần ký ức về những nỗi đau trong cuộc chiến. Tôi mong sao họ sẽ xem chúng như một phần đời không thể nào quên nhưng đã được dàn hòa của một thời quá khứ.

Adelaide, 27/5/2007

bài đã đăng của Hoàng Ngọc Thư


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)