Trang chính » Sáng Tác, Tùy bút Email bài này

Tháng Bảy

Tháng bảy chiếu sáng như sự thật.

Không một người nào có thể sống an vui khi cứ nhìn mãi vào sự thật.

Rời xa đô thị náo nhiệt, chúng tôi trở lại căn nhà trên vịnh biển vắng. Những đứa trẻ ném vali và đồ đạc của chúng vào hai cái giường hai tầng. Tôi nhận ra chúng đã lớn, những cái giường trông nhỏ bé khác thường. Tôi thay quần áo, mặc đồ nhẹ, đi chân không dọc theo bờ nước, sóng tấp vào mắt cá chân mát lạnh. Những nỗi buồn bực trong lòng giờ đây trở nên xa vắng, hài hước. Không khí trong suốt, gió đầy mặt trời và muối, tôi nhìn những con chim lạ tới tấp bay về từ phương bắc, qua mặt vịnh xanh lơ, chúng bay gần đến nỗi có thể nhìn thấy những cặp chân dài dưới cánh. Bây giờ buổi chiều, mặt trời vẫn còn nhưng trăng lên sớm. Khi bầu trời có cả trăng và mặt trời, chúng làm cho con người quên đi dĩ vãng. Tôi bước ven bờ nước. Mọi thứ đều tỏ ra tốt đẹp. Thế mà đằng sau lưng tôi mới ngày hôm qua tôi nhận được một tin nhắn, một người bạn của tôi vừa bị bắt. Mùa hè nào chúng tôi còn ngồi đọc bản thảo tập thơ của tôi. Tháng bảy 1966, đại cách mạng văn hóa, đấu tố nhà văn Lão Xá ở Trung Quốc, tôi nghe trên đài phát thanh Gươm Thiêng Ái Quốc, đặt trụ sở ở Đông Hà. Tháng bảy 1954, bắt đầu cuộc ra đi của người dân miền Bắc. Trong một tấm hình chụp bởi Life tôi nhìn thấy một người đàn bà, ôm ngang nách hai đứa con nhỏ tí, quấn khăn mỏ quạ, răng đen, chạy bằng chân không lên một chiếc tàu lớn. Sau lưng họ là cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất. Sự suy tàn, từ thời trẻ, tôi đã đọc thấy trong bài thơ của Lý Thương Ẩn:

Hướng vãn ý bất thích
Khu xa đăng cổ nguyên
Tịch dương vô hạn hảo
Chỉ thị cận hoàng hôn

Bóng chiều vô hạn đẹp
Chỉ tiếc sắp hoàng hôn

Matsuo Basho, kẻ sinh sau Lý Thương Ẩn tám thế kỷ, 1644, ở Ueno, cách năm mươi cây số về phía Đông Nam của Kyoto.

On the blue ocean
Waves smell of rice wine
Tonight’s moon

Trên biển xanh
Sóng thơm mùi rượu gạo
Trăng đêm nay

Rượu nấu bằng gạo có lẽ giống như sake Nhật hay rượu đế bên mình. Tôi có ngửi thứ mùi ấy trên biển, nhưng vào lúc ấy tôi không nhận ra. Hai câu sau thật đẹp, tuổi càng già càng thấm. Gần đây đọc lại mới nhận ra cái lạ của câu đầu tiên, ngày trước bỏ qua.

Cái gì làm thi sĩ không thích ý?

Tôi ngồi trên sân xem hai trận bóng đá mùa World Cup 2026 ở Bắc Mỹ. Khi ngồi giữa những người khác, hò hét, vui mừng, buồn bã, thất vọng, tôi bỗng nhận ra rằng vui buồn của con người vốn thánh thiện. Đó không phải chỉ là tình trạng cảm xúc về một quả bóng đá vào khung thành. Đó còn là cảm giác được tham dự vào đời sống vào giây phút này đây. Có nhiều sự kiện lịch sử, người ta thường ghi nhận nó trên sách vở, tức là về chuyện đã qua. Những giây phút khi bạn sống giữa đám đông, ví dụ trong một cuộc biểu tình ở miền Nam trước năm 1975, bạn khó có thể hiểu được nếu bạn không tham dự vào việc ấy. Không phải chỉ bằng mắt, mà bằng tất cả cơ thể, sự tồn tại của bạn với các giác quan, nhìn, sờ, nghe, nếm. Tôi ghi lại điều này bởi vì đó là cố gắng cao nhất của một người. Nhưng bạn không thể sống giây phút ấy nữa. Vì vậy, đời sống của một người trước hết là hiện tại. Trong hiện tại, bạn yêu thương, bạn căm ghét, bạn phản đối chính quyền, bạn ủng hộ nó. Cái chết mang bạn đi xa, nhưng sự tồn tại trong không gian sẽ còn lại mãi với người thân yêu. Nhờ vào sự rung động của hiện tại như rung động của âm nhạc. Khi bạn viết một câu văn đẹp, chính xác, ngắn gọn, câu văn ấy không phải chỉ là sự biểu lộ bút pháp mà chính là sự hiện hữu của bạn trong cuộc đời. Khi bạn nói lời tốt đẹp về người khác, không phải chỉ là một lời khen làm vui lòng, mà còn là hiện hữu của chính bạn. Bạn sống như một sự cảm kích đối với cuộc đời và khi ra đi, bạn để lại sự cảm kích ấy cho người khác. Khi bạn trở nên giận dữ một cách vô cớ, yêu đương một cách quá đáng, bạn ra khỏi sự cân bằng, chạm tới giới hạn cuối cùng, và như một bức tường, nó ném trả bạn trở lại. Một trạng thái cân bằng như vậy, tuy nhiên, chỉ có thể duy trì liên tục bởi sự va chạm vào những bức tường giới hạn. Giữa những va chạm ấy, đời sống của bạn trở nên có ý nghĩa.

Dựa vào bờ vực thẳm, con người tồn tại.

Trong dạ hội, trong tiếng dương cầm, giữa các tầng lá thấp lấp lánh đèn, vào lúc ấy bạn là cái đẹp nhất của bạn. Chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam cũng thế. Trong khi bạn hoàn toàn đúng về khía cạnh độc lập quốc gia, lại hoàn toàn sai lầm về tự do cá nhân. Tự do chính là tự do cá nhân, nó sinh ra từ văn minh. Độc lập thì không sinh ra từ văn minh. Điện và cây đèn dầu hỏa Huê Kỳ có thể không mang lại độc lập, nhưng giúp bạn đọc sách và làm cho bạn trở nên tự do hơn. Người đàn bà miền Bắc miệng nhai trầu bỏm bẻm, chân đất, khăn mỏ quạ, nhờ có một xã hội cởi mở mà góp phần làm nên Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, làm nên âm nhạc và nghệ thuật của dân tộc, trong hai mươi năm, không có gì về sau thay thế được. Đời sống như một âm bản, gần nhất với hiện hữu nhưng bạn không đọc được nó, vì chưa thành. Nó chỉ trở thành qua nghệ thuật và văn học. Một diễn viên chỉ thực sự là cô ta khi đứng trên sân khấu, trước ống kính, được trang điểm, không phải là cô ta trong phòng ngủ hay trong phòng vệ sinh.

Con người muốn xuất hiện trên thế gian như một diễn viên cho vở kịch của riêng mình. Những năm gần đây có dịp về nước, tôi đi khắp phố phường một mình, quan sát. Tôi nhận ra điều mới lạ.Trên đường phố có nhiều người táo tợn, nhiều tiếng chửi thề hơn, nhưng không phải bao giờ cũng vậy, tôi đã gặp những người tử tế, lễ phép, nhất là người trẻ tuổi. Tuy nhiên hầu hết đều giống nhau một điểm: họ thiếu lòng tin vào người khác. Con người càng mất lòng tin ở người khác thì càng lo âu, ngờ vực. Những nghiên cứu y học gần đây chứng minh người có lòng tin sống mạnh khỏe hơn, ít mắc các bệnh tim mạch, tâm thần. Trong kinh nghiệm của tôi, những bệnh nhân có khả năng tin tưởng vào người khác là người có khả năng phân biệt người nào đáng tin người nào không đáng tin.

Hãy để tình yêu làm thay đổi bạn.

Trong thần thoại Hy Lạp nữ thần ban mai Eos đem lòng yêu Tithonus, hoàng tử của thành Trojan, nàng liền đến thần Zeus xin cho chàng quyền bất tử. Zeus ban cho Tithonus quyền ấy. Tuy nhiên Eos quên mất xin cho người yêu của mình được mãi mãi trẻ trung. Vì thế Tithonus sống rất lâu, và cũng như chúng ta mỗi ngày một già đi, nhưng không chết. Mới đầu Eos vì yêu chàng, làm hết bổn phận của người tình về sau chàng mỗi lúc một trở nên lẩn thẩn, ngày càng bảo thủ và ngớ ngẩn, không thể tự mình săn sóc mình được, Eos đành phải mang chàng đến viện dưỡng lão. Từ đó con người ngày một sống lâu, gần như không bao giờ chết, nhưng ngày một già đi, khô héo. Đó là tương lai của dân tộc chúng ta chăng? Tại sao chúng ta đọc thơ? Vì chúng ta chống lại sự già nua ấy. Có những ngày tôi không đọc bài thơ nào, có khi suốt một tháng liền. Có những ngày lúc nào tôi cũng cầm trên tay một tập thơ khi vừa thức dậy, tôi nhìn thấy ở đó mọi thứ mà tôi cần cho một ngày, cho một cuộc đời. Đọc thơ đem lại niềm vui thú và sự hiểu biết, làm cho cuộc đời trở nên giàu có. Tất nhiên điều này chỉ đúng với những người có khả năng xúc động. Không phải ai cũng biết xúc động, cũng như không phải ai cũng biết làm toán. Không phải ai cũng biết thương xót và để cho thói ích kỷ lụi tàn. Thơ làm cho giây phút mà bạn đọc nó trở nên phong phú, mạnh mẽ, làm cho giây phút mà bạn nhớ lại nó, đọc thầm hay đọc vang lên, trở thành một dấu vết của đời sống. Buổi chiều sau đám cháy rừng, khi tôi đi một mình trên đường mòn của những người chạy bộ, nhớ lại câu thơ của Xuân Diệu:

Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung

Giây phút ấy, lúc nhớ câu thơ ấy, trở thành một nghi lễ.

Đọc thơ là một công việc có tính chọn lọc và dở dang, không bao giờ hoàn tất. Xúc động chủ quan, suy tư chủ quan là đặc tính của việc đọc thơ, và không hẳn là một khuyết điểm, chừng nào sự chủ quan ấy phải dựa trên một nền tảng học vấn vững chắc, sự chiêm nghiệm lâu dài, sự phán xét sắc bén, công tâm. Hiểu và thưởng thức một văn bản đòi hỏi quá trình nhận thức phức tạp, những tâm trạng khác nhau, các kiến giải, những kinh nghiệm về ngôn ngữ trước đó, ý nghĩa của ngôn ngữ xét về mặt ký hiệu học, các phép tu từ. Phương pháp đọc gần một bài thơ không phải là cách làm cho bài thơ ấy trở nên phức tạp hơn, đa tầng đa nghĩa hơn. Đọc gần một bài thơ là cách lột bỏ các lớp áo bên ngoài và các định kiến và các kinh nghiệm đọc có từ trước, chúng ngăn cản bạn tiếp cận bài thơ. Việc phân tích quá trình thưởng thức có thể là việc của các nhà nghiên cứu, nhưng không phải là công việc của người đọc. Đoạn thơ ngắn sau đây của Mary Oliver: sự giản dị tuyệt đẹp vang lên như buổi sáng mùa hè, nó ở lại mãi trong tâm trí tôi.

It doesn’t have to be
the blue iris, it could be
weeds in a vacant lot, or a few
small stones

Không cần phải
hoa diên vỹ xanh, chỉ cần
cỏ dại trong khoảng sân, hay một vài
viên đá nhỏ

Bạn mở toang các cánh cửa và đi vào căn phòng của thơ ca, ngồi xuống trước mặt một người mà bạn hằng tưởng nhớ nhiều năm, và hỏi:

Em có yêu anh không?

Tháng bảy là tháng của sự phong nhiêu, của viên mãn, tháng của mùa gặt, của lời chia tay đầu tiên. Thời bé tôi không bao giờ nghĩ rằng khi lớn lên tôi sẽ trở thành nhà thơ. Chính sách vở và báo chí đã dẫn tôi đi trên con đường của mình. Tôi không phải là người quá yêu văn chương nghệ thuật, tôi có khuynh hướng khoa học. Thế rồi năm 15, 16 tuổi, mọi thứ thay đổi. Ngăn nắp và vui vẻ, tôi không quan tâm nhiều lắm đến văn chương. Sự đau khổ của trần gian mang tôi đến với thơ. Nhưng có trần gian nào mà không đau khổ. Bài thơ giúp tôi suy nghĩ, nó suy nghĩ cùng với tôi, nó suy nghĩ trước tôi về tình yêu và khổ ải, về ly biệt và đoàn tụ. Ý tưởng của nó đôi khi thật giản dị và bất ngờ, đôi khi thật khó hiểu. Tôi không được học một trường lớp nào để làm thơ hay viết văn, nhưng tôi yêu các chữ biết bao, yêu tiếng nói của con người, nhạc điệu của chúng, sức mạnh của chúng, sự thuyết phục của chúng. Tôi cẩn trọng khi ngồi trước các chữ, tôi yêu mến các trang sách. Khi tôi bắt đầu làm thơ hay viết tiểu thuyết, tôi không biết gì về chúng cả. Tôi không hề biết rằng có một thứ ngôn ngữ gọi là ngôn ngữ thơ hay ngôn ngữ tiểu thuyết. Tôi viết trực tiếp từ đời sống của mình, tức là những điều tôi nhìn thấy và những điều tôi nghĩ, cái gì là đẹp và cái gì không phải là đẹp, cũng như một chính quyền nào là tốt và chính quyền nào là xấu, cũng như liệu pháp nào là tốt liệu pháp nào là sai. Một bài thơ hay mang bạn tới một tình trạng mà bạn không thể có được nếu chưa từng đọc. Mấy câu thơ sau đây của Hàn Mặc Tử, năm mười bốn tuổi:

Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về

Làm tôi đi vào một tâm trạng khác. Đó không phải là những câu thơ xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử, hình ảnh cũng thường gặp. Nhưng nó đưa tôi vào một trạng thái.

Nếu mặt trời không còn chiếu sáng nữa, anh sẽ ở nhà.

Bài thơ mang lại cho tôi ba sự thay đổi: giữ gìn và mở rộng ký ức, nhìn thấy phép lạ và tính chất thiên liêng của đời sống, và nhìn thấy khả năng giao tiếp của ngôn ngữ. Có một năng lượng gần như bất tận được giải phóng từ một bài thơ hay, mỗi lần đọc lại là mỗi lần tôi nhận được nó.

Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm xưa

Chúng ta đều biết rằng bài thơ ấy được Quang Dũng viết khi ông đi kháng chiến và nhớ lại một phần đời trước đây, những người đẹp Hà Nội. Thơ Quang Dũng bị chính quyền lúc ấy cấm đoán, là có lý do: chúng là sự nhớ lại cái đẹp trong tự do của Hà Nội, trong khi không có độc lập vẫn có tự do.

Mặt khác một bài thơ không thể có thông điệp rõ ràng. Bạn chỉ có thể đặt hết chú ý vào ngôn ngữ của bài thơ, cũng như khi bạn lắng nghe một bản nhạc, và chỉ bằng cách ấy các chữ, các hình ảnh và ý tứ mới tràn ngập tâm trí, cũng hệt như khi bạn thưởng thức một dĩa thức ăn nóng, ngon lành, khác với việc bạn ăn nó khi đã hoàn toàn nguội lạnh. Sức mạnh của một câu thơ ở chỗ hoang mang ấy khi chính thi sĩ cũng không hề có ý định rõ ràng, không cố ý gởi đi một thông điệp. Tôi đi băng qua con đường dọc theo hồ nước, trời sắp mưa mây xuống thấp, đổi màu dưới ánh trời chiều.

Ơn em ngực ngải môi trầm

Du Tử Lê. Còn nhớ năm nào tôi ngủ trong lều của người đi săn. Sau một bữa tối đàn hát vui chơi mọi người lăn ra ngủ, có đứa say mèm, tôi nằm bên cạnh em, trên chiếu khác. Nửa đêm có mùi hương lạ xông vào, nửa như mùi sả, nửa như mùi hoa bưởi hoa cau, nhưng tôi đang ở Bắc Mỹ, giữa rừng gần suối, làm gì có những thứ ấy. Tôi thức dậy mở cửa sổ ra, thấy trăng bị che mờ sau đám mây, trời đầy hơi ẩm có lẽ sắp mưa, nhớ ra mùi của cơn mưa. Thời tôi còn bé ở thôn quê người nông dân rất mừng khi trời sắp mưa, nghe mùi của nó, lúc ấy thật rộn ràng, người ta chạy vội mang quần áo phơi phóng vào nhà, trời sắp mưa trái cây chín thật nhanh nở phồng ra, vào lúc ấy bạn vui tay hái một trái ổi hay một trái cam, ngon phải biết. Trong những ngày khổ cực mới biết tài năng tần tảo của người mẹ, lúc nào cũng lo cho chồng cho con trước bản thân mình. Nếu may mắn có một bữa trời mưa lớn, cá ngoài đồng nổi lên bắt không kịp, cá tràu, cá rô người ta mang bán đầy chợ. Quê tôi có món cá rô chiên, ăn với cơm trắng dưa cải chua. Trong khi trời mưa sầm sập trên mái nhà, tạt cả vào hiên ngồi, cả nhà quây quần bên mâm cơm. Mẹ tôi sai tôi ra vườn hái thêm mấy trái ớt đỏ, bà cắt mấy lát gừng, cho thêm củi vào bếp để nồi cơm cháy khét bên dưới, vì biết tôi thích ăn món cơm cháy. Văn chương cần chính xác, nếu bạn không biết một cậu bé lên mười tuổi nặng bao nhiêu cân, thì bạn dừng lại, tra cứu, trước khi viết. Điều đó đúng cho văn xuôi và đúng cho thơ, cũng như phê bình văn học. Khi viết, tôi quan tâm đến phản ứng của cơ thể. Tôi muốn biết tim đập nhanh hay chậm khi người ta nhớ đến người yêu dấu. Khi người ta nói dối thì mồ hôi ra nhiều hơn, chân tay lạnh ngắt. Một người có khả năng gây tội ác là một người có khuôn mặt như thế nào. Bên cạnh tình yêu, tôi quan tâm đến tội ác của con người, những kẻ không quan tâm đến điều này không nên viết. Những kẻ không ám ảnh bởi tội ác thì không có lòng thương xót, nói cho cùng là những kẻ ích kỷ. Văn chương chống lại sự ích kỷ. Nó cũng chống lại nhiều thứ khác vì nó là Don Quichotte de la Mancha.

Có thể chúng ta sẽ còn một cơ hội thứ hai.

Trước cơn mưa, tôi quay lại nhìn em, ngủ trên một mảnh chiếu với mấy người con gái khác. Có thể chúng ta sẽ qua được. Khi anh mở mắt ra, sau giấc ngủ dài sau cuộc giải phẫu vì chấn thương, anh nhìn thấy một khuôn mặt. Mắt em mở lớn. Bây giờ tôi ngồi dựa lưng vào một tảng đá lớn, nhìn một con ong bay qua, đời sống ngắn ngủi của chúng trở nên bất tận vì sự tập hợp, vì những con ong là bất tận. Một con ong một mình là vô nghĩa, chúng tạo nên một bầy, một mùa, một cơn nóng của tháng bảy. Trong khu vườn của tôi, mà đường chạy bộ bao quanh, chúng tôi đã làm xong những phần việc đầu tiên, cày xới mảnh đất hoang mua lại với giá rẻ, đào những rễ cây lớn, tôi phải dùng cưa máy để cắt ngang chúng, hì hục khuân những bao đất lớn để trồng cây. Tuyết và mưa đã tan vào đất, những tảng băng cuối cùng đã thấm vào cỏ dại, mặt đất trở nên mềm mại thân mật đón tôi vào: đó là cách mà con người sở hữu trái đất, trong khi sở hữu thì thuộc về nó trọn vẹn. Cuộc chung sống kỳ lạ này giữa thiên nhiên là bí mật trọng đại nhất của tạo hóa.

Tôi vướng phải một cành cây cong giấu mình sau bụi gai, nó bật lên đập vào mặt, đau điếng, xây xước. Tôi dừng lại, nghĩ rằng đó là lời nhắc nhở. Tiếng ếch nhái vang lên từ phía bờ nước, tôi đi qua đám cỏ mà tôi dự định sẽ cắt bỏ, tôi đứng lại lắng nghe, có một nỗi vui sướng tràn ngập trong tiếng ếch nhái, tôi đổi ý, quyết định không cắt đám cỏ dại đi nữa. Bây giờ tôi đã biết dừng lại khi thiên nhiên gọi. Ngày hòa bình lập lại, mùa hè năm 1975 lúc tôi trở về vườn cũ, dọn dẹp những đống gạch đá sau cuộc tàn phá, chúng tôi mất nửa năm để làm sạch chúng. Tôi đứng trước đống gạch đá cuối cùng, cái xẻng trong tay, dừng lại để thở, trên trời mây xám bạc bay gấp, tôi đứng một hồi định quay đi thì nghe con dế kêu vang trong đống gạch đá đó. Tôi dừng lại quyết định không thu dọn nữa và dành riêng một góc trong vườn cho chiến tranh. Con người cần thu xếp cho mình một chỗ của đau thương, của người đã chết, của sự thất bại vĩnh viên của chúng ta.

Tôi bắt đầu cuộc đời mình từ trong một khu vườn, tôi đọc sách ở đó, tôi viết ở đó, tôi suy nghĩ ở đó. Một khu vườn bị tổn thương cũng như một thân xác bị tổn thương, nó để lại những thông điệp mà bạn không đọc được nếu vội vàng. Từ trong khu vườn của tôi đôi khi nghe được tiếng chim lạ kêu trong cỏ tựa như tiếng chim cuốc ở quê nhà, không biết ở bên mình nó bắt đầu kêu vào tháng mấy, nhưng ở đây tháng bảy tháng tám, tiếng kêu trầm buồn buồn như kẻ nhớ nhà, đôi khi cũng đổi giọng líu lo như mừng rỡ như gặp người bạn tình.

Càng đi nhiều nơi tôi càng thấy muông thú, cỏ cây, ở những xứ khác nhau có nhiều điểm giống nhau nhưng chúng không phải là một. Trái xoài ở Thái Lan to hơn và ngọt hơn xoài miền Nam nhưng lại không thơm bằng. Nhãn ở Bắc Mỹ không biết nhập từ xứ nào cũng to hơn trái nhãn ở Huế nhưng không thể ngon bằng. Tôi vào miền Nam, đi nhiều nơi những ngày trước lúc ra đi, gặp nhiều chim cá, khác hẳn quê tôi. Thế bao giờ bạn đã ăn cá thu ở biển Đà Nẵng chưa, và cá hanh ở Quảng Trị, cá kình ở Thuận An, mực tươi ở biển Mỹ Thủy, món ốc ở Quảng Bình, cá ngừ ở Phú Yên, xứ nẫu, hoang sơ và đậm đà, tôi thì thấy chẳng nơi nào sánh được. Tôi chưa đi nhiều ở các vùng biển phía Bắc nhưng tôi đoán rằng chúng chẳng hề thua sút. Người đi xa nhớ về quê hương nhớ cả mùi vị của cá và tôm, nước mắm và ruốc, cũng chẳng thua gì nhớ những ngôi sao trời, mái tóc xanh như đêm, nhớ một cơn mưa như cuộc làm tình như nơi trú ẩn, nỗi nhớ thương làm sao giấu được như lúa mùa giông bão dâng lên, vừa lo sợ nạn mất mùa, mà em còn ngoái lại vì mùi sen thoang thoảng. Nước mất nhà tan, sá gì một mùa sen cũ. Nếu có đem mà khoe những món ăn quê hương thì có khi bạn đành từ bỏ giấc mộng giang hồ, sự phản kháng đối với chiến tranh và tội ác, mà ý thức của người ta chùn nhụt đi chăng. Tôi không biết. Nhưng làm sao lại không yêu đất nước của mình được. Tôi nhớ bữa ăn cuối cùng của mẹ tôi trước khi chia tay, đó là những năm đói kém, nồi cơm trắng trong niêu thơm ngào ngạt, quả cà dầm nước mắm với ớt xanh.

Trong khu vườn mới của chúng tôi, một cây mận vừa ra trái đầu mùa đỏ như son. Vườn nhà tôi ngày trước có hai cây mận lớn ngoài sân và hai cây phía sau nhà, giữa hai gốc ấy những người lính đã đào một cái hầm trú ẩn rất lớn, khi tôi trở về thì cái hầm ấy không còn nữa, nó trúng một quả đạn đại bác xuyên thấu, tôi không biết rằng có người nào ở trong hầm lúc ấy, lính miền Nam hay lính miền Bắc, tôi không tìm thấy một dấu vết nào cả. Nhiều năm sau, trong khi làm cỏ dại tôi tìm thấy một cái nắp bi đông nước, tôi biết rằng có người nào ở đó. Tôi giữ cái nắp ấy thật lâu và trước khi xa nhà tôi đặt nó lên bàn thờ. Tháng bảy có những cơn mưa rất lạ, ngắn, quê mình gọi là mưa đám mây. Nó tới bất ngờ ào ạt, vừa đủ để rửa sạch bụi bám trên những cái lu sành mà tôi mua về định trồng lily, rồi tan biến để lại khí ẩm trên mặt đất. Tháng bảy năm nào tôi cũng về dự đại hội trường Nguyễn Hoàng. Năm nay tôi không về được. Tôi đến bãi biển hoang sơ này, nghĩ về thầy xưa bạn cũ, sống những ngày đầy ánh nắng, để cho da sạm lại, tóc khô cháy đi, rụng lả tả, để cho biển làm đầy ngực mình với những hy vọng mới trong khi tất cả những niềm hy vọng cũ đã chết. Trên hàng rào bằng gỗ ngăn cách khu vườn của chúng tôi và đường chạy bộ có một cái áo choàng cũ nâu nâu đã rách nát. Khi tôi còn bé một người hàng xóm đã vắt cái áo sơ mi lên hàng rào khi bắt đầu cày ruộng, tôi nhớ cái dáng của anh đi sau lưng cái cày, quất roi vun vút lên không trung, nhưng anh đã không mặc lại chiếc áo ấy được nữa.

Đêm chúng tôi đốt lửa trại, vì tuy là tháng nóng bức, cháy rừng khắp nơi nhưng đây là vùng hoang dã, lệnh cấm đốt lửa tạm thời chưa có hiệu lực. Tôi ngồi ăn bữa tối bên ngọn lửa. Thịt nướng, cà chua, salads, và những loại sốt có mùi mà nhà tôi thích chế biến. Tháng bảy tôi sống với hình ảnh. Tháng bảy là khi bầu trời trong suốt, ánh sáng rực rỡ nhất, các hình dáng đường nét sắc sảo nhất. Vào lúc ấy ký ức của tôi làm việc, nó không chỉ ghi chép, nhớ lại, nó suy nghĩ. Một ký ức biết suy nghĩ vì nó chọn lọc những điều đáng nhớ và những điều nên quên đi. Vì vậy khi nhớ lại một sự kiện, tôi bao giờ cũng nhớ một hình ảnh, một hình ảnh tối giản đến nỗi nó chỉ còn một vài đường nét mà người khác không hiểu được. Đó là bí ẩn của tôi. Hình ảnh là ý tưởng nhưng không chỉ là ý tưởng, chúng im lặng hơn và vì im lặng hơn, chúng chứa đầy ý nghĩa. Ký ức không phải là huyền thoại, chúng không gởi đi các thông điệp, không giải thích, chúng tồn tại ở đó như những dấu ấn của thời gian, không mai một và hiện ra trở lại khi bạn cần đến chúng như một tấm bản đồ, một mùa hạ yêu dấu, sự sợ hãi cùng cực, sự trống rỗng bất tận. Hình ảnh cũng như thơ, khiêm tốn và kiêu hãnh. Wallace Stevens:

Beauty is momentary in the mind

Cái đẹp là chốc lát trong tâm trí

Nếu tôi đi dọc theo bờ nước nhiều dặm tôi sẽ rẽ vào một đường mòn chạy xuyên qua đám cỏ cao, lên dốc, ngày càng cao cho đến núi. Tôi càng lên cao những dấu vết của mùa tuyết hãy còn chưa tan hẳn, không khí lạnh dần, những cây thường xuân và tùng bách xanh ngát đang mọc thêm cành lá chi chít, đường đi khó khăn. Mỗi năm tôi một đi lên dốc chậm lại và tránh đi qua những chỗ hiểm trở. Không ai chống lại được thời gian, tôi cũng già đi như người khác, ý tưởng ấy làm tôi mỉm cười. Mặt trời ở đây trắng và trong suốt như pha lê, mùi gỗ thông thơm ngát, tôi chọn một gốc cây gãy, ngồi nhìn xuống mặt biển. Trời nóng dần, mồ hôi của tôi vã ra, tôi cởi chiếc áo khoác quấn ngang thắt lưng, cảm thấy vị mặn trên đầu lưỡi. Vị của muối, của tuyết tan, của lá thông. Tôi cố gắng không suy nghĩ về những ngày đen tối vừa qua, những ngày đen tối sắp đến, nghĩ đến số phận của một người bạn cũ, nghĩ đến không khí khủng bố và sự hoảng loạn của trí thức hôm nay. Tôi nhắm mắt lại, tôi nghe tiếng nói của một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết của tôi, giọng nói ấy mới đầu văng vẳng, về sau nghe được từng tiếng. Tôi nhớ đến một bài thơ của Issa:

Nhìn qua kính viễn vọng
Mười xu
Đáng với một sương mù

Trong bài thơ ấy có niềm vui chất phác, nhi nhiên, rực rỡ như ánh sáng mùa xuân, mùa hè, rạng đông, ánh sánh trong hoa lê trắng trên lúa ngậm đòng, trong sự hoang dại ngày mới lớn. Dân tộc chúng ta từng đi qua ngày mới lớn, sôi nổi, ngây thơ, bồng bột. Dân tộc ấy đã chọn lầm đường và vẫn lầm lũi đi mãi trên con đường của mình, cay đắng nhẫn nhục, sống sót với sự tự biện hộ. Dân tộc ấy yêu thơ biết bao, vì thơ là sự phê bình đối với đời sống. Hình ảnh sinh ra từ ánh sáng. Không có ánh sáng thì không có hình ảnh. Nghệ thuật sinh ra từ mong muốn tạo ra một điều gì, tác động lên thế giới, làm thay đổi nó. Làm cho một người yêu thích một cảnh vật, làm cho người khác thưởng thức một thời tiết, một người khác nữa chia sẻ với khổ đau, căm giận, nhục nhã. Nghệ thuật đánh thức lương tâm không phải vì đó là nhiệm vụ của nó, mà vì bản chất của nghệ thuật là sinh ra từ đó, từ lương tâm. Issa là một trường hợp của lương tâm. Nhà thơ Nhật lừng danh sinh năm 1763, mất 1827, tên ông có nghĩa là một tách trà, là một nhà thơ được yêu mến. Ông viết nhiều về ruồi, muỗi, dế, rệp, châu chấu. Mặt khác, ông cũng giống Charles Dickens ở giọng điệu hài hước, mang đầy những tổn thương từ thời thơ ấu, ngớ ngẩn, sâu sắc và buồn rầu. Thật lạ kỳ: các tài năng đều ngớ ngẩn hài hước và buồn rầu.

Ta đi ra ngoài một lát
Bây thoải mái, những ruồi
Cứ làm tình

Issa sinh ở Kobayashi, trong một ngôi làng trên núi ở miền trung nước Nhật. Cha ông, một người nông dân, có sở thích văn học. Mẹ ông mất khi Issa mới hai tuổi. Cha ông lập gia đình trở lại khi Issa lên tám tuổi. Mối quan hệ giữa người kế mẫu, người con trai của chồng và những đứa em ra đời sau này, đầy những tổn thương. Cha ông thu xếp để gởi ông về kinh đô theo học, và khi chia tay, ông bảo con trai: con đừng ăn cái gì độc hại, đừng để cho người ta nghĩ xấu về con và hãy để cho cha được nhìn thấy gương mặt xương xẩu của con trai một lần nữa. Tôi nhớ những câu chuyện về cuộc đời của các nhà thơ haiku Nhật Bản như Issa, chúng dạy cho tôi nhiều điều không kém gì chính thơ ca của họ.

Tôi không tin vào sứ mệnh của văn học nhưng tôi tin rằng văn học chống lại sự dối trá và sự ngụy biện cho các thế lực. Chúng ta nói quá nhiều về văn học, nhưng điều khởi đầu của văn học là lương tâm, thì đã quên. Lương tâm đến từ sự thật, từ lịch sử. Basho:

Cái thế giới khốn kiếp này
Những con muỗi gầy nhom, ruồi gầy nhom
Trẻ con gầy trơ xương

Thời bây giờ những con muỗi trên quê hương chúng ta không còn gầy nữa, chúng mập ú, nhưng tâm hồn chúng ta thì ngược lại. Trên đường đi xuống núi, qua những tàng lá thông sẫm, tôi nhìn thấy một điều gì trên mặt biển ngoài xa. Tôi dừng lại. Những con cá voi tung mình lên mặt nước, chúng nhảy lên liên tiếp như những đứa trẻ chơi đùa trong mùa nghỉ học. Tôi mỉm cười, nhớ câu ca dao:

Con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc
Con cá ngư ông móng nác ngoài khơi

Hãy để tình yêu làm thay đổi bạn. Hãy biết căm thù tội ác, sự bất công, sự độc tài và hiếp đáp người yếu thế, hãy sống sự phẫn uất trước thói nô lệ, nhưng đừng để sự căm hận ấy thay đổi bạn. Hãy để cho vẻ đẹp của buổi chiều mùa hạ tràn ngập tâm hồn. Bạn đã đi qua quãng đường, khúc quanh, những khúc quanh cay nghiệt, tôi biết thế, và giờ đây bạn đã đến đây, trong buổi chiều tháng bảy này, xin bạn ngồi xuống. Em ngồi trong im lặng, vì em có nhiều thứ hơn là những thứ mà em nhìn thấy, em biết nhiều câu chuyện hơn những câu chuyện mà em đã kể lại. Mặt đất cũng vậy, và khu vườn của tôi, và một con ong, chúng đã nhìn thấy nhiều thứ mà con người không nhìn thấy. Khi em đi qua sự khổ đau, một người nào sẽ nhìn thấy điều ấy. Một người nào sẽ kể lại câu chuyện của em, thay cho em, đó là công việc của các nhà văn.

Tháng bảy nóng bức, điên rồ, ngạt thở.
Mưa sẽ rơi ở một nơi nào.

NĐT

 

bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)