Trang chính » Tùy bút Email bài này

di loan

 

 

Bạn hỏi: anh có nhớ gì về nhà thờ Di Loan ở Quảng Trị không. Nhà thờ Di Loan, hay Di Luân, nay không còn nữa, khi xây dựng gần xong, bắt đầu sử dụng, thì xảy ra chiến tranh Việt Pháp, phải bỏ hoang.

Người có công xây dựng và coi sóc nhà thờ trong gần ba mươi năm (1918-1945) là linh mục Léopold-Michel Cadière, còn được gọi là Cha Cả,  thuộc dòng thừa sai, sinh năm 1869 ở Pháp. Cha đến Việt Nam từ năm 1892, làm việc ở Huế cho đến 1895 thì chuyển đến Quảng Trị. Cha về ở hẳn Di Loan từ năm 1918, đến năm 1945 bị Nhật bắt giữ năm tháng, sau đó bị Việt Minh quản chế cho đến 1953 mới được thả về Huế trở lại. Cha Cadière có nhiều công trình nghiên cứu về Việt học và Huế học, đặc biệt là về lịch sử, văn hóa học, ngôn ngữ học, dân tộc học tôn giáo. Cha được coi là nhà Việt học kiệt xuất và đầu tiên. Cha có đầu óc tân tiến, về tôn giáo là người hòa đồng với các tôn giáo khác, về tình cảm là người thương yêu người Việt, tự cho mình là đồng bào của họ. Ngài qua đời ngày 7 tháng 6, 1955, được an táng tại đại chủng viện Kim long, Huế, giữa sự thương tiếc của biết bao người.

 Cha Leopold Michel Cadière (1869- 1955)

Từ năm 1954, đất nước chia đôi, nhà thờ Di Loan thuộc miền Bắc, xứ đạo có lẽ bị tàn phá hoặc bỏ hoang, nên trong suốt cuộc chiến tranh hai mươi năm chúng ta không biết gì về nó. Sau năm 1975, hòa bình lập lại, ba tôi đi thăm sông Bến Hải, mang tôi theo, có dừng lại cửa Tùng là nơi mà thời kỳ kháng chiến chống Pháp, trong cương vị sĩ quan của Đại đoàn Bình Trị Thiên, dưới quyền tướng Trần Quý Hai, ông từng có thời gian đóng quân ở đó. Cửa Tùng là cửa của sông Bến Hải, một trong hai cửa biển lớn nhất của tỉnh Quảng Trị, cửa Tùng và cửa Việt. Cửa Tùng ít người biết hơn nhưng rất đẹp, ở đó có làng Di Loan, nằm kề bên làng Tùng Luật, là một làng nổi tiếng về ca hát, sinh quán của hai nàng Châu Loan ngoài Bắc và Châu Phụng trong Nam, ngâm thơ và hát điệu lý điệu hò đều hay, nhưng Châu Loan nổi tiếng vì theo đuổi nghiệp cầm ca, Châu Phụng lấy chồng ở Huế và thôi không hát nữa.

Làng Di Loan là sinh quán của đức cha Lê Hữu Từ, một lãnh tụ công giáo nổi tiếng có tinh thần dân tộc ở vùng Bùi Chu- Phát Diệm. Làng Di Loan là làng đẹp nằm gần biển, bờ Bắc của sông Bến hải, có những ruộng muối lớn, ruộng lúa xanh tươi, nhà cửa vườn tược sinh hoạt nhộn nhịp, ngay chính giữa làng có một nhà thờ lớn với ba quả chuông.

Trong khuôn viên của nhà thờ là dòng nữ tu Mến thánh giá, gồm các soeurs sinh hoạt lặng lẽ, dạy các em chữ quốc ngữ, dạy nhạc, dạy nông dân làm muối, nuôi tằm dệt lụa. Làng Di Loan còn nổi tiếng với những lò vôi, cũng như làng Xuân An bên sông Thạch Hãn, cung cấp vật liệu xây nhà, quét tường, vôi ăn trầu.

Sông Bến Hải xuất phát từ Trường sơn dài sáu mươi km, khi chảy qua bến Hiền Lương cũng còn gọi là sông Hiền Lương, sông Hiền Lương chảy qua thôn Xuân Mị phía bờ nam là nơi cha tôi đã đến mở lớp dạy học cho trẻ con trong làng, năm 1953, 1954, trong thời kỳ ông rời bỏ mặt trận Việt Minh sau cuộc cải cách ruộng đất vừa khởi đầu năm 1953, khi ông nội tôi bị bắt giữ vì thuộc thành phần địa chủ. Xuân Mị bờ Nam, Di Loan bờ Bắc đối diện nhau qua sông Bến Hải. Ba tôi thường nhắc đến Xuân Mị, Tùng Luật và Di Loan nơi ông có nhiều kỷ niệm, miền hát hay, gái đẹp, nhiều nghề thủ công. Cửa Tùng là nơi sông bến Hải đổ ra biển. Bờ biển hình vành trăng, bờ cát mịn, cát trắng phau, sóng biển màu xanh biếc gió nồm thổi mát lạnh dọc những hàng dương liễu reo vi vu trong gió, cảnh vật yên tĩnh, thơ mộng, thật thanh bình. Ngoài khơi là hòn đảo nhỏ Cồn Cỏ. Phía tây là bãi tắm. Đi sâu hơn vào làng mạc sẽ gặp vùng đất đỏ trồng chè và trồng tiêu.

Cửa Tùng là một thắng cảnh, ở đấy người ta còn nhắc nhiều đến những kỷ niệm của vua Duy Tân, mối tình đầu thơ mộng của đức vua.

Năm 1914 vua Duy Tân ra nghỉ mát ở cửa Tùng, năm ấy ngài mười lăm tuổi, muốn có bạn chơi nên truyền cho thượng thư bộ học Hồ Đắc Trung có nhà gần đó dẫn mấy đứa con cùng trang lứa với nhà vua đến làm bạn. Trong những người con của thượng thư có một cô gái mười ba tuổi được ngài đem lòng thương mến. Mùa hè năm sau vua lại ra Cửa Tùng, nhưng lần này không gặp cô gái, khi về Huế, ngài xin phép thái hậu, gửi tặng một đôi bông tai và một đôi vòng vàng để làm tin. Một thời gian sau, tháng 12 năm 1915, vua Duy Tân báo tin từ hôn, thu hồi bông tai và vòng vàng. Đó là lúc ngài quyết tâm chống Pháp, và không muốn để gia đình của người đẹp bị liên lụy vì hành động của mình. Cũng có một giai thoại khác ở đây về vị vua yêu nước này. Tay vua chơi cát bị bẩn, quan thị vệ đem chậu nước để rửa. Vua rửa tay và hỏi: tay bẩn thì lấy nước rửa, nước bẩn thì lấy chi mà rửa. Thị vệ không trả lời được. Vua nói tiếp: nước bẩn thì lấy máu mà rửa, ngươi đã biết chưa.

Tôi tới nơi mới biết làng Tùng Luật ở đây gọi là làng Tùng, vì vậy cửa biển vốn là một phần của làng, gọi là cửa Tùng. Chúng tôi đi qua những con đường còn dấu vết chiến tranh, những ngôi nhà đổ nát, những khu vườn hoang cỏ mọc bằng đầu, vì sợ đạp phải bom mìn, không dám đi sâu để xem hết quang cảnh. Mới mấy mươi năm, người già như ba tôi còn nhớ, còn nhắc, mà dấu vết của nhà thờ Di Loan xinh đẹp kỳ vĩ nay không thấy đâu nữa. Tuyệt không. Hay là nó vẫn còn đâu đó, vùi sâu trong cát nóng?

Trong ký ức của chúng ta?

 

 

 

Nguyễn Đức Tùng

 

bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)