Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Nhân xưng thứ nhất đơn lẻ

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 13.01.2026

 

 

NhanXungThuNhat-PVT

 

 

Lời người dịch: Truyện ngắn dưới đây được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật của Murakami Haruki là truyện thứ 8 trong tuyển tập cùng tên “Ichininsho Tansu – Nhân xưng thứ nhất đơn lẻ” từ nhà xuất bản “Bungei Shunju – Văn nghệ Xuân thu” tái bản lần thứ ba tháng 9 năm 2020. – PVT

 

 

Tôi hiếm khi có dịp mặc “đồ bộ” (vest). Nhiều nhất là hai hoặc ba lần một năm thôi, vì hiếm khi có tình huống nào mà tôi cần phải ăn mặc trang trọng. Thường ngày thì tùy trường hợp mà có khi tôi phải mặc thêm áo khoác nữa, nhưng không thắt cà vạt. Và càng hiếm khi đi giày da. Thói quen như thế kết cuộc trở thành lối sống tôi tự chọn cho mình.

Tuy nhiên, đôi khi, cho dù không cần thiết, tôi vẫn quyết định mặc bộ vest và thắt cà vạt. Tại sao ư? Khi tôi mở tủ quần áo kiểm xem đang có những quần áo nào (chứ nếu không thì tôi không rõ mình sở hữu những loại quần áo nào), mà ngắm một hồi những bộ vest tôi hầu như không bao giờ mặc, những chiếc áo sơ mi kiểu cách vẫn còn trong túi nhựa của tiệm giặt sấy khô và những chiếc cà vạt trông như mới, không có dấu hiệu đã từng được sử dụng, tự dưng tôi bắt đầu cảm thấy có lỗi với những bộ quần áo ấy. Tôi nảy ra ý thử xem mình có còn nhớ đúng cách không, mà lấy cà vạt ra thắt thử vài kiểu khác nhau, tạo cả vết lúm đồng tiền nữa. Nhưng chỉ làm những việc này khi nào tôi ở nhà một mình thôi. Chứ nếu có ai khác ở đây, tôi ngại phải giải thích những gì mình đang làm.

Mà một khi tôi đã mất công mặc thử bộ đồ nào đó vào rồi, thì việc cởi hết ra ngay sau đấy có vẻ là chuyện lãng phí quá, vì thế tôi lại muốn cứ mặc nguyên như vậy mà đi ra ngoài một hồi xem sao. Rồi cứ thế mà đi dạo một mình quanh phố trong bộ vest và cà vạt ấy. Và có cảm giác khoan khoái nữa chứ. Cảm thấy như cả khuôn mặt lẫn dáng điệu của mình cũng khác ngày thường đôi chút. Cảm giác tươi mới, như vừa thoát ra khỏi cuộc sống thường ngày. Tuy nhiên, sau chừng một giờ lang thang vô định trên phố xá thì cảm giác mới mẻ ấy dần phai nhạt. Đóng bộ vest, thắt cà vạt kiểu này nghe mệt, quanh cổ bắt đầu ngứa ngáy ngột ngạt, khó thở. Đôi giày da nện xuống mặt đường kêu vang tiếng quá to quá cứng. Thế là, tôi quay về nhà, cởi đôi giày da, cởi bỏ bộ vest và cà vạt, thay vào một bộ quần áo bằng vải sợi cũ mòn, rồi nằm lăn xuống ghế sofa mà cảm thấy thư thái bình yên. Đấy là nghi thức bí mật riêng tư kéo dài chừng một giờ của tôi, hoàn toàn vô hại, hoặc ít nhất cũng chẳng phải là điều gì đó khiến tôi phải cảm thấy tội lỗi.

*

Hôm đó tôi ở nhà một mình. Vợ tôi đã ra ngoài ăn đồ Tàu. Tôi thì hoàn toàn không ăn đồ Tàu (bởi có vẻ thức ăn ở các tiệm Tàu dùng nhiều loại gia vị trong đó có những chất gây dị ứng), vì vậy vợ tôi thường rủ bạn gái thân thiết của cô ấy đi cùng mỗi khi cô thèm ăn đồ Tàu.

Xong bữa tối đơn giản một mình, tôi bật máy chơi một album nhạc cũ của Joni Mitchell và ngồi xuống chiếc ghế đọc sách đặc biệt của mình, đọc một cuốn tiểu thuyết trinh thám. Tôi thích album ấy, mà cuốn tiểu thuyết này là tác phẩm mới nhất của một tác giả tôi yêu thích. Thế nhưng chẳng hiểu vì lý do nào đó, tôi không sao dứt khoát tập trung vào âm nhạc hay vào cuốn sách được. Tôi đã cân nhắc việc xem một phim gì đấy mà tôi đã thâu sẵn, nhưng rồi cũng không thấy có phim nào tôi thực sự muốn xem cả. Thỉnh thoảng lại có những ngày như vậy đấy. Mình có thời giờ rảnh rỗi nên định làm chuyện gì đấy mình thích, thế mà không thể nghĩ ra chuyện gì ráo. Đáng lẽ phải có hàng tấn chuyện mình muốn làm chứ…

Khi tôi đang bước loanh quanh vô định trong phòng như thế, một ý tưởng chợt lóe lên trong trí tôi: Ừ nhỉ, mặc thử một bộ vest xem sao! Tôi bèn trải bộ Paul Smith lên giường (bộ vest này tôi đã mua vì cần thiết nhưng chỉ xỏ tay vào vỏn vẹn có hai lần), rồi chọn một chiếc cà vạt và áo sơ mi thật phù hợp. Một chiếc áo sơ mi cổ rộng màu xám nhạt và một chiếc cà vạt Ermenegildo Zegna có họa tiết paisley tỉ mỉ đã mua ở sân bay Rome. Tôi đứng trước gương soi toàn thân, kiểm lại dáng vẻ của mình. Không tệ, tôi kết luận. Ít nhất thì bộ trang phục này chẳng có gì sai hỏng thấy rõ.

Nhưng đúng vào ngày hôm đó, khi tôi đứng trước gương soi, cảm giác khó ở ập đến, có chút gì như là áy náy. Áy náy ư? Diễn tả như thế nào cho đúng đây?… Có lẽ giống như thứ lương tâm cắn rứt mà người ta cảm thấy khi sống trên đời với một bản sơ yếu lý lịch được tô vẽ thêm. Cho dù có thể không phải là bất hợp pháp đi nữa, nhưng vẫn là cố ý trình bày sai lệch đến gây ra vấn đề về đạo lý. Vẫn biết làm thế là sai, kết cuộc chẳng thể nào tốt đẹp, nhưng rồi cũng không thể kiềm chế được. Để phải có một loại cảm giác khó ở nhất định mà những hành vi như thế gây ra. Tuy chỉ là tưởng tượng của tôi thôi, nhưng có lẽ giống như cảm giác của những người đàn ông lén lút mặc trang phục phụ nữ.

Nhưng ngẫm lại thì thật là kỳ lạ việc tôi lại cảm thấy như vậy. Tôi đã là một người đàn ông trưởng thành đàng hoàng trong bao nhiêu năm nay rồi. Tôi nộp thuế đầy đủ đúng kỳ hạn, cho đến nay chưa bao giờ phạm pháp, ngoại trừ vài lần bị phạt vi phạm luật giao thông, và dù tôi có thể chẳng phải là người lịch lãm xuất chúng, nhưng tôi có đủ tri thức cần thiết. Tôi thậm chí biết cả chuyện người nào lớn tuổi hơn—Bartók hay Stravinsky (chắc chắn là ít ai khác biết được thế). Và bộ quần áo tôi đang mặc đây đều là những món đồ tôi đã chi trả bằng thu nhập kiếm được từ việc làm hợp pháp hàng ngày. Hoặc ít nhất là không phi pháp. Hoàn toàn chẳng có yếu tố nào để cho ai có thể chỉ trỏ sau lưng tôi được. Thế thì tại sao tôi lại thấy có cảm giác tội lỗi hay lương tâm bị cắn rứt nhỉ? Tại sao lại phải có cảm giác khó ở, như thể về mặt đạo lý có điều gì đấy không ổn?

Ôi, hẳn là ai cũng có những ngày như vậy, tôi tự nhủ thế. Tôi nghĩ, ngay cả Django Reinhardt cũng có những đêm chơi sai một hai hợp âm, hay Niki Lauda cũng có những buổi chiều lỡ tay đổi sai tốc độ chứ. Vì vậy, tôi quyết định không nghĩ sâu hơn về điều đó nữa. Thế là cứ mặc nguyên bộ vest và cà vạt ấy, tôi xỏ chân vào đôi giày da cordovan mà ra phố một mình.

Thật ra hôm ấy, đáng lẽ tôi nên nghe theo trực giác của mình mà ngoan ngoãn ngồi nhà xem phim thì tốt biết bao nhiêu, nhưng đấy là điều tôi chỉ nhận ra sau khi sự việc đã xảy ra rồi.

Tối hôm ấy là một buổi tối mùa xuân thật khoái thích. Vầng trăng tròn soi sáng bầu trời, bao nụ xanh non tươi mới nhú lên trên những hàng cây dọc theo các con phố. Thời tiết hoàn hảo cho cuộc dạo chơi. Tôi đi dạo quanh một lúc, rồi quyết định dừng chân ở một quán bar để uống một ly rượu pha. Không phải quán bar gần nhà tôi thường lui tới, mà là một quán xa hơn một chút mà tôi chưa từng đến. Chứ nếu đến quán bar tôi quen, ắt hẳn người pha rượu sẽ hỏi ngay, “Hôm nay có chuyện gì thế ạ? Bộ vest và cà vạt ấy trông khác ngày thường quá chứ!” và thật khó cho tôi phải giải thích cho ra lý do. Ngay từ đầu, đã chẳng có lý do nào cả.

Đêm ấy vẫn còn sớm, tôi xuống tầng hầm đến một quán bar. Mới chỉ có hai người khách đàn ông ngoài bốn mươi tuổi ngồi đối diện nhau ở một bàn. Có vẻ là nhân viên công ty trên đường về nhà sau giờ làm việc, căn cứ vào hai bộ vest màu tối và cà vạt không có gì nổi bật. Cả hai đang nghiêng người về phía trước, đầu chụm vào nhau, nhỏ giọng bàn tán gì đấy. Có một chồng thứ gì trông như là tư liệu trên bàn. Hẳn là họ đang bàn công việc. Hoặc cũng có thể là dự đoán kết quả đua ngựa. Thế nào đi nữa thì cũng chẳng liên quan gì đến tôi. Tôi ngồi xuống quầy bar cách xa họ, chọn chiếc ghế đẩu nơi có ánh đèn sáng nhất, vì tôi định đọc sách, và gọi một ly vodka gimlet từ người pha chế trung niên thắt nơ bướm.

Một lát sau, khi ly rượu ướp lạnh được đặt lên một chiếc đế lót ly bằng giấy trước mặt, tôi rút từ túi áo ra cuốn tiểu thuyết trinh thám, đọc tiếp. Tôi đã đọc được khoảng một phần ba cuốn sách rồi. Như đã nói, tác phẩm mới của một nhà văn mà tôi khá thích đấy, nhưng đáng tiếc là cốt chuyện của cuốn sách này không hợp với tôi. Lại nữa, đọc được nửa cuốn thì tôi đã không còn nhớ các nhân vật liên quan với nhau như thế nào. Dù vậy tôi vẫn đọc tiếp, nửa theo thói quen, nửa như bổn phận. Từ xưa đến nay tôi không thích bỏ nửa chừng cuốn sách nào một khi đã bắt đầu đọc. Tôi luôn luôn hy vọng đến gần cuối sẽ có diễn biến đột ngột hấp dẫn đưa đến kết cuộc thú vị. Tuy thực tế thì khả-năng-tính đó rất mong manh.

Tôi thư thả nhấm nháp vodka gimlet và tiếp tục đọc thêm chừng hai mươi trang nữa. Thế nhưng, không hiểu sao ở đây tôi cũng không tập trung được vào việc đọc sách, chẳng khác gì lúc nãy ở nhà. Mà không chỉ vì cuốn tiểu thuyết không hấp dẫn gì mấy. Cũng chẳng phải vì không khí quán bar này khiến tôi không yên (Nhạc nền nhẹ nhàng vừa đủ, ánh sáng êm dịu, gần như là bầu không khí không còn gì chê được cho việc đọc sách.) Mà tôi nghĩ có lẽ là do cảm giác khó ở mơ hồ mà tôi đã cảm thấy từ trước đó lưu lại. Như thể chợt để ý thấy có tí chút lệch lạc gì đấy. Có cảm giác như thể nội dung tâm tình mình không lọt vừa vặn vào khuôn khổ bao bọc, hoặc như thể tính tề chỉnh nhất quán phải có trong đó đã bị tổn hại ở một thời điểm nào đấy rồi. Thỉnh thoảng tôi lại có cảm giác như thế.

Phía sau quầy bar là một kệ tủ sắp đầy một hàng chai rượu đáng giá. Đằng sau đó là một tấm gương lớn, đang phản chiếu hình ảnh tôi. Tôi nhìn đăm đăm vào đó một hồi, và đúng như nghi ngại, hình tôi trong gương cũng nhìn lại tôi đăm đăm. Một ý nghĩ đột nhiên ập đến với tôi, rằng ở đâu đó tôi đã rẽ sai hướng đi trong cuộc sống. Và tôi càng chăm chú nhìn vào hình ảnh của mình trong bộ vest và cà vạt ấy, cảm giác này càng mãnh liệt thêm. Tôi càng đăm đắm nhìn, hình người ấy lại càng ra vẻ một người nào tôi chưa từng thấy bao giờ. Nhưng nếu hình ảnh trong gương chẳng phải là tôi, vậy thì là ai thế chứ?

Cho đến bây giờ cuộc đời tôi, cũng như hầu hết mọi người khác, đã có một số bước ngoặt quan trọng, khi có thể rẽ trái hoặc rẽ phải. Và mỗi lần như thế, tôi đã chọn rẽ phải hoặc rẽ trái. (Cũng có những trường hợp có lý do rõ ràng để chọn phía nào, nhưng phần nhiều thì không thấy. Vả lại thông thường không phải lúc nào tôi cũng tự lựa chọn được, mà vài lần chính bước rẽ đó đã chọn tôi.) Để bây giờ nơi đây có tôi, nhân xưng thứ nhất đơn lẻ. Giá như tôi đã chọn hướng đi khác, chỉ cần một lần thôi, thì hẳn chắc chắn là tôi đã chẳng có ở đây rồi. Thế nhưng dù gì đi nữa, ai là người hiện ra trong gương kia?

Tôi gập sách lại, rời mắt khỏi gương và hít thở thật sâu vài lần.

Chợt để ý là quán bar đã bắt đầu đông khách. Có một phụ nữ ngồi bên phải tôi, cách hai chiếc ghế trống. Cô ta đang uống một ly rượu pha màu lục nhạt mà tôi không biết gọi là gì. Cô ta ngồi một mình, cũng có thể đang đợi một người bạn. Tôi giả vờ đọc sách mà ngắm cô ta trong gương. Cô trông không còn trẻ, có lẽ khoảng năm mươi tuổi. Cô có vẻ không cố gắng gì mấy để ra dáng trẻ hơn tuổi của mình. Có vẻ khá tự tín. Nhỏ nhắn mảnh khảnh, mái tóc cắt ngắn vừa đủ. Quần áo trông khá điệu đà—áo đầm kẻ sọc may khéo bằng chất liệu mềm mại, và áo khoác cardigan bằng len cashmere màu beige. Khuôn mặt tuy không có những nét đẹp giai nhân, nhưng phảng phất vẻ thanh lịch từng trải. Hẳn là khi còn trẻ đã là một cô nàng quyến rũ, lôi cuốn lắm đàn ông. Khiến người ta cảm nhận được hơi hướm của dĩ vãng như thế từ hình dáng và cử chỉ tự nhiên của cô.

Tôi gọi người pha rượu lại, gọi một ly vodka gimlet thứ hai, nhai một vài hạt điều, rồi tiếp tục đọc sách. Thỉnh thoảng chạm tay vào nút thắt cà vạt, như để đảm bảo vẫn còn được thắt gọn gàng.

Khoảng mười lăm phút sau, cô ta đến ngồi xuống chiếc ghế đẩu ngay bên cạnh tôi. Quán bar đang đông khách quá, có lẽ cô ta đã dời sang để nhường chỗ cho khách hàng mới đến. Giờ thì tôi chắc chắn được rằng cô ta chỉ có một mình. Dưới ánh đèn ẩn nửa trong tường, tôi đọc sách tiếp cho đến khi chỉ còn vài trang. Câu chuyện trong sách vẫn không có dấu hiệu gì là sắp chuyển sang hồi gay cấn.

“Xin ông thứ lỗi,” người phụ nữ đột nhiên lên tiếng.

Tôi ngẩng mặt lên nhìn cô ta.

“Có vẻ ông đang nhiệt tâm đọc sách, nhưng tôi xin mạo muội hỏi một đôi câu có được không ạ?” Một phụ nữ nhỏ nhắn như vậy mà lại có giọng nói trầm và sâu. Không đến nỗi lạnh lùng, nhưng chắc chắn không phải là giọng nói nghe thân thiện hay thu hút.

“Được chứ. Cuốn sách này cũng không thực sự hấp dẫn gì mấy,” tôi đáp. Tôi đặt mẩu giấy đánh dấu trang vào cuốn tiểu thuyết rồi gấp sách lại.

“Ông làm như thế thì có gì thú vị nào?” cô ta hỏi.

Tôi ngạc nhiên không hiểu cô ta muốn nói chuyện gì. Tôi quay người đối mặt chính diện với cô ta. Tôi không nhớ là đã từng gặp cô ta hay chưa. Tuy không giỏi nhớ mặt người ta, nhưng tôi khá chắc chắn là chưa từng gặp cô này. Chứ nếu đã có gặp trước đây rồi thì chắc chắn là tôi sẽ nhớ ra ngay. Cô ta là mẫu phụ nữ như vậy.

“Làm như thế…?” Tôi lặp lại.

“Ăn mặc điệu đà, ngồi một mình ở quầy rượu trong quán bar, vừa nhâm nhi một ly gimlet vừa lặng lẽ chăm chú đọc sách.”

Chẳng khá gì hơn trước, tôi vẫn không hiểu cô ta đang cố gợi chuyện gì với tôi. Mặc dù tôi có thể cảm nhận được không ít ác ý, hoặc đối địch trong giọng nói của cô. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô, chờ cô nói tiếp. Khuôn mặt cô trông vô cảm một cách kỳ lạ. Có vẻ như cô quyết tâm che giấu mọi cảm xúc trên khuôn mặt. Cô ta im lặng một hồi lâu. Tôi nghĩ là khoảng một phút.

“Một ly vodka gimlet,” tôi nói để phá vỡ sự im lặng.

“Ông nói gì vậy?”

“Không phải một ly gimlet, mà là một ly vodka gimlet.”

Có thể là một chú thích vô ích, nhưng vẫn có sự khác biệt đấy chứ.

Cô ta lắc đầu gượng nhẹ, như xua đuổi một con ruồi nhỏ đang vo ve xung quanh đầu cô.

“Gì cũng được, nhưng ông cho rằng như thế là tuyệt vời lắm sao? Lịch lãm, sành điệu,… gì đấy?”

Đáng lẽ tôi nên trả tiền mà rời đi ngay lúc ấy. Tôi đã hiểu rõ đấy là đáp ứng tốt nhất trong tình huống như thế này. Vì một lý do nào đó, người phụ nữ này lại muốn gây sự với tôi đây. Có lẽ thách thức tôi đấy. Tôi hoàn toàn chẳng biết điều gì đã thúc đẩy cô ta làm thế. Có thể chỉ là cô ta đang trong tâm trạng bực dọc gì đấy. Hoặc có gì đó trong dáng điệu của tôi đã động chạm vào huyệt thần kinh khiến cô ta tức bực. Nhưng dù gì đi nữa, khả-năng-tính có được kết quả gì đó tốt đẹp từ cuộc chạm trán với một đối phương như vậy, thì gần như bằng không. Lựa chọn khôn ngoan nhất lúc ấy là lịch sự thoái thác, mỉm cười mà đứng dậy (nụ cười thì tùy thích thôi), nhanh chóng trả tiền rồi rời đi càng xa càng tốt. Và tôi đã chẳng thể nghĩ ra bất kỳ lý do gì để không làm thế. Tôi vốn không phải là mẫu người ghét phải chịu thua, và tôi cũng không thích chiến đấu khi không thấy được ý nghĩa trong đó. Tôi thích im lặng rút lui chiến lược hơn.

Thế nhưng chẳng hiểu vì lý do nào đó mà tôi đã không làm ngay như thế. Có thứ gì đó đã ngăn tôi lại. Có lẽ thứ người ta gọi là tò mò.

“Xin thứ lỗi, nhưng chúng ta có quen biết nhau không đã chứ?” Tôi hỏi thử.

Cô ta nheo mắt nhìn tôi lạ lẫm. Những nếp nhăn bên cạnh mắt cô hằn sâu thêm. “Quen biết nhau…?” cô ta nói, cầm ly rượu pha lên (đấy là ly thứ ba của cô, nếu tôi nhớ không lầm), và nhấp một ngụm thứ gì đó bên trong, thứ gì tôi chẳng biết, rồi tiếp. “Quen biết nhau à? Làm sao ông lại nghĩ ra từ ngữ đó?”

Tôi cố lục lại trí nhớ của mình một lần nữa. Mình đã gặp người phụ nữ này ở đâu đó rồi chăng? Câu trả lời vẫn là—không. Chắc chắn đây là lần đầu tiên tôi gặp cô ta.

“Tôi nghĩ là cô nhầm tôi với người khác rồi,” tôi nói. Nhưng giọng tôi đều đều mà khô khan dị thường, nghe chẳng giống giọng của mình.

Cô ta mỉm nụ cười thoáng qua, lạnh nhạt. “Ông muốn nghĩ như thế à?” cô nói, tay đặt chiếc ly mỏng đựng rượu pha Baccarat xuống chiếc đế giấy lót ly trước mặt.

“Bộ đồ tuyệt vời đấy,” cô ta nói. “Mặc dù trông không đẹp mấy trên thân người ông. Giống như ông đang mặc quần áo mượn vậy. Và chiếc cà vạt đó nữa—không hợp với bộ đồ cho lắm. Có phần đối chọi nhau lạ lùng. Cà vạt thì của Ý, mà bộ đồ, tôi cho là hàng của Anh.”

“Cô hiểu biết nhiều về quần áo nhỉ.”

“Hiểu biết nhiều về quần áo?” Cô ta nói, lộ vẻ hơi ngạc nhiên. Cô hé môi nhìn tôi trừng trừng. “Đến bây giờ còn nói như thế sao? Khỏi cần nói cũng biết chứ.”

Khỏi cần nói cũng biết kia à?

Tôi lục tung trong trí tìm xem những người tôi biết trong ngành may mặc. Tôi chỉ biết vài người, mà tất cả đều là phái nam. Suy nghĩ mấy cũng vẫn không thông suốt được chuyện này.

Tại sao lại khỏi cần nói chứ?

Tôi thoáng nghĩ đến việc giải thích với cô ta tại sao tôi lại mặc bộ vest và cà vạt tối nay, nhưng nghĩ lại, rồi thôi. Có giải thích cũng chẳng làm giảm bớt khí thế tấn công của cô đang hiển hiện rõ ràng lúc này. Mà ngược lại có thể còn đổ thêm dầu vào ngọn lửa giận dữ của cô ta nữa.

Tôi uống nốt những giọt vodka gimlet cuối cùng của mình rồi lặng lẽ rời khỏi chiếc ghế đẩu ở quầy bar. Nghĩ gì đi nữa, có vẻ đã đến lúc tôi chấm dứt câu chuyện rồi.

“Tôi nghĩ có lẽ ông không quen biết tôi,” cô ta nói. Tôi im lặng gật đầu. Chắc chắn là thế rồi.

“Không phải trực tiếp,” cô ta nói. “Tuy đã gặp nhau một lần thôi, ở đâu đấy. Nhưng chẳng phải đã chuyện trò thân thiết gì, vì vậy tôi nghĩ có lẽ ông không thực sự quen biết tôi. Vả lại lúc đó ông đã quá bận rộn với việc gì khác kia. Như thường lệ.”

Như thường lệ…?

“Nhưng tôi là bạn của một người bạn của ông đấy,” cô ta nói với giọng bình thản mà quả quyết. “Người bạn thân này của ông—người mà trước đây đã từng là bạn thân của ông, nói thế thì đúng hơn—hiện nay đang rất tức giận với ông, và tôi cũng tức giận với ông như chị ấy vậy. Ông hẳn biết tôi đang nói về chuyện gì rồi chứ. Ông nhớ lại xem. Về những gì đã xảy ra ba năm về trước, bên bờ nước đấy. Điều tệ bạc, ghê gớm như thế nào ông đã làm. Ông phải thấy xấu hổ về chuyện đó.”

Nghe đến thế là đã quá đủ cho tôi. Như phản xạ, tôi nhặt cuốn sách của mình lên, chỉ còn vài trang chưa đọc, mà nhét vào túi áo khoác. Tuy đã chẳng còn định ráng đọc cho hết cuốn sách ấy nữa.

Tôi nhanh chóng trả bằng tiền mặt rồi rời khỏi quán bar. Cô ta không nói gì thêm, chỉ đăm đăm nhìn theo tôi rời đi. Tôi không hề ngoái lại, nhưng vẫn cảm thấy ánh mắt trừng trừng của cô ta cháy bỏng trên lưng mình mãi cho đến khi tôi ra đến bên ngoài. Cảm giác đó, giống như bị châm chích bằng một cây kim dài sắc nhọn, xuyên qua lớp vải mịn cao sang của bộ vest Paul Smith, để lại vết hằn sâu, lâu dài trên lưng tôi.

Tôi dấn bước trên cầu thang hẹp lên tầng mặt đường, vừa cố gắng chỉnh đốn lại suy nghĩ của mình.

Lẽ ra tôi đã phải phản ứng như thế nào mới đáng? Có phải tôi nên hỏi cô ta, “Cô đang nói về chuyện quái quỷ gì thế?” để yêu cầu cô giải thích cụ thể? Những gì cô ta nói khiến tôi cảm thấy bị lên án thật bất công về một chuyện nào đấy mà tôi không nhớ ra được là gì cả.

Thế mà vì lý do gì đó, tôi đã không thể làm được như thế. Tại sao nhỉ? Tôi nghĩ là vì tôi sợ. Sợ phải biết rằng đã có một tôi nào khác không thực sự là tôi (như bây giờ), ba năm trước ở một bờ biển nào đó, đã phạm một tội lỗi khủng khiếp đối với một phụ nữ, một người mà tôi có lẽ không quen biết. Sợ cô ta (có thể) lôi ra ánh sáng một điều gì đó bên trong tôi, điều gì đó hoàn toàn xa lạ với tôi. Thay vì đối mặt với điều lo sợ ấy, tôi đã chọn cách im lặng đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu và chạy trốn, trong lúc phải chịu đựng một cơn lũ những lời buộc tội mà tôi chỉ có thể coi là vô-căn-cứ.

Tôi làm thế đã đúng chưa? Nếu điều tương tự xảy ra với tôi một lần nữa, tôi có hành động như vậy không?

Nhưng “bên bờ nước” mà cô ta nhắc đến—nó ở đâu thế chứ? Từ ngữ đó nghe có vẻ kỳ dị. Có phải là bên cạnh một bãi biển không? Hay một hồ nước? Hay một con sông? Hay một tập hợp nước kỳ dị gì khác? Ba năm trước đây, tôi đã đến bên cạnh một vùng rộng lớn đầy nước nào đấy sao? Tôi không làm sao nhớ lại được. Thậm chí không thể nắm được “ba năm trước” là khi nào. Mọi điều cô ta đã đối mặt tôi mà nói ra đều cụ thể, nhưng đồng thời lại có tính cách tượng trưng cực độ. Từng thành phần nghe rõ ràng, nhưng đồng thời lại thiếu tiêu điểm. Và chính sự bất-nhất đó đã làm tôi hoang mang.

Dù sao đi nữa, toàn bộ sự việc đã để lại một dư vị vô cùng khó chịu trong miệng tôi. Tôi cố nuốt nó xuống nhưng không xong, mà cố nhổ ra cũng chẳng được. Tôi muốn nổi giận, đơn giản thế thôi. Bởi đâu có lý do gì tôi lại phải lâm vào tình cảnh bực bội vô lý như thế này. Mà cung cách cô ta đối xử với tôi, nghĩ sao đi nữa, cũng không thể bảo là công bằng được. Cho đến thời điểm cô ta lên tiếng gợi chuyện, thì đã còn là một buổi tối mùa xuân êm đẹp và yên tĩnh cơ mà. Thế mà kỳ lạ thay, tôi đã chẳng làm sao nổi giận lên được. Trong khoảnh khắc đó, một đợt sóng hoang mang bối rối đã trùm phủ lên tôi, cuốn phăng mọi cảm xúc và luận lý đi đâu mất hút.

*

Khi tôi lên hết cầu thang ra khỏi tòa nhà, thì đã không còn là mùa xuân nữa rồi, và mặt trăng đã biến mất khỏi bầu trời. Nơi đây chẳng còn là con phố quen thuộc của tôi nữa. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy những hàng cây như thế này dọc theo con phố. Những con rắn to dày, nhờn nhớt nhầy nhụa quấn chặt quanh các thân cây ấy, trông như những vật trang trí sống sít đang ngọ nguậy. Vảy chúng cọ xát vào vỏ cây thành tiếng sột soạt khô khan. Vỉa hè phủ đầy tro trắng ngập đến mắt cá chân những người đàn ông và phụ nữ tôi không thấy mặt mũi đâu cả đang bước đi, vừa thở ra hơi thở màu vàng nồng mùi lưu huỳnh từ sâu trong cổ họng họ. Không khí lạnh buốt đến gần như đóng băng, khiến tôi phải kéo cao cổ áo vest lên.

“Ông phải thấy xấu hổ về chuyện đó.” cô ta đã nói thế đấy.

Phạm Vũ Thịnh dịch
Sydney 10 December 2025

bài đã đăng của Haruki Murakami

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)