Trang chính » Dịch Thuật, Truyện ngắn Email bài này

Lễ hội Hóa trang

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 3.10.2025

*

Lời người dịch:

Carnival là lễ kỷ niệm cơ hội được tận hưởng những thú vui trong cuộc sống. Nhiều năm trước khi khám phá ra Tân Thế giới, Giáo hội Công giáo ở Ý đã bắt đầu truyền thống tổ chức lễ hội hóa trang hoang dã này vào đêm trước ngày đầu tiên của Mùa Chay (Lent).
“Carnaval” là nhạc phẩm của Robert Schumann soạn cho piano độc tấu, được sáng tác vào năm 1834–1835, gồm 21 đoạn ngắn mô tả những người vui chơi đeo mặt nạ tại lễ hội hóa trang Carnival. Robert Schumann (8 June 1810 – 29 July 1856) là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano và nhà phê bình âm nhạc người Đức thời kỳ Lãng-mạn (1798 – 1837).
Âm nhạc cổ điển gợi lên đủ mọi cung bậc cảm xúc nơi người giám thưởng, và đủ mọi cung cách biểu hiện tùy theo nhạc sĩ sáng tác hay trình diễn. Thật ra, những hình ảnh “smoke and mirror – khói và gương” ấy chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Có bao nhiêu phần trong những gì chúng ta thấy được qua biểu hiện của người khác phản ánh đúng bản chất thực sự của họ? Murakami Haruki viết: “Tất cả chúng ta, ít nhiều đều đeo mặt nạ mà sống cả. Bởi nếu không có mặt nạ, chúng ta không thể sống sót được trong thế giới bạo liệt này.”
Tác phẩm được dịch từ nguyên tác tiếng Nhật của Murakami Haruki là truyện thứ 6 trong tuyển tập “Ichininsho Tansu – Nhân xưng thứ nhất đơn lẻ” từ nhà xuất bản “Bungei Shunju – Văn nghệ Xuân thu” tái bản lần thứ ba tháng 9 năm 2020, và đã đăng lần đầu trên tạp chí “Bungakkai – Văn học giới” số tháng 12 năm 2019.

*

Trong tất cả những phụ nữ mà tôi từng biết cho đến giờ, cô ấy là người xấu xí nhất. Nói như thế có lẽ không phải là cách diễn đạt công bằng. Bởi thực tế thì hẳn là có nhiều phụ nữ khác có vẻ ngoài còn xấu xí hơn kia. Thế nhưng, xét trong tất cả những phụ nữ mà tôi từng gần gũi trong đời —những người mà hình ảnh đã bám rễ sâu vào mảnh đất ký ức của mình— tôi nghĩ bảo rằng cô ấy là người xấu xí nhất, thì cũng không sai. Tất nhiên, tôi cũng có thể dùng cách nói quanh co, như bảo là “kém đẹp nhất” thay cho “xấu xí nhất”, để dễ chấp nhận hơn đối với độc giả, đặc biệt là độc giả phái nữ. Nhưng tôi quyết định sử dụng thuật ngữ trực tiếp hơn (tuy có phần thô bạo) ở đây, vì thể hiện được rõ ràng hơn bản chất thực sự của cô ấy.

Tôi gọi cô ấy là F*. Có vài lý do khiến việc tiết lộ tên thật của cô ấy là không thích hợp. Lại nữa, tên thật của cô ấy không liên quan gì đến F hoặc *. Mà cũng có thể F* sẽ đọc thấy truyện này ở đâu đó không chừng. Cô ấy thường nói với tôi rằng cô chỉ quan tâm đến tác phẩm của các nhà văn nữ còn sống mà thôi, thế nhưng cũng chẳng phải là không thể có chuyện cô ấy tình cờ mà bắt gặp những dòng chữ này. Và nếu cô ấy đọc được, chắc chắn là sẽ nhận ra mình ở đây. Tuy nhiên, ngay cả khi điều đó xảy ra, tôi vẫn nghĩ rằng câu tôi viết “Trong tất cả những phụ nữ mà tôi từng biết cho đến giờ, cô ấy là người xấu xí nhất” sẽ chẳng làm cô ấy khó chịu chút nào. Theo những gì tôi biết, cô ấy thậm chí có thể thấy buồn cười. Bởi cô ấy đã nhận thức rõ chẳng kém gì ai khác rằng ngoại hình của mình kém hấp dẫn, hay xấu xí; và thậm chí ngược lại cô còn có thể dùng câu ấy mà vui đùa nữa kia.

Tôi không nghĩ là có nhiều trường hợp như thế này. Trước hết, không có bao nhiêu phụ nữ xấu xí nhận thức rằng họ xấu xí, và trong số đó, những người tiếp tục tìm thấy niềm vui trong sự xấu xí của mình chắc chắn chỉ là một phần rất nhỏ. Theo nghĩa đó, tôi nghĩ cô ấy là người độc đáo. Và chính sự độc đáo đó đã thu hút người khác đến với cô. Giống như nam châm thu hút mọi loại kim loại —một số hữu ích, số khác vô giá trị.

*

Nói về sự xấu xí cũng có nghĩa là nói về cái đẹp.

Tôi biết được một vài phụ nữ xinh đẹp, những mẫu người mà bất kỳ ai cũng thấy đáng yêu và quyến rũ. Nhưng theo tôi, những phụ nữ xinh đẹp ấy, ít nhất là phần lớn trong số họ, hầu như không bao giờ có thể thực sự, vô điều kiện, có được niềm vui vì mình xinh đẹp. Điều đó tôi nghĩ là hơi kỳ lạ. Phụ nữ sinh ra đã xinh đẹp rồi luôn luôn là tâm điểm chú ý của phái nam. Những phụ nữ khác ghen tị với họ, và họ được chìu chuộng tận tình. Người ta biếu tặng họ những món quà đắt tiền, và họ có ưu tiên lựa chọn đàn ông.Vậy thì tại sao họ lại không tỏ vẻ hạnh phúc hơn? Tại sao đôi khi họ thậm chí còn lộ vẻ chán nản nữa kia?

Điều tôi quan sát được là hầu hết những phụ nữ xinh đẹp mà tôi biết đều không hài lòng, thường bực bội vì những khuyết điểm nhỏ nhặt, không đáng kể, loại khuyết điểm chắc chắn tìm thấy ở đâu đó trên ngoại hình của bất cứ ai. Họ bị ám ảnh về những chi tiết nhỏ nhặt ấy. Ví dụ ngón chân cái của họ quá to, hoặc móng tay của họ lệch đi một cách kỳ lạ, hoặc núm vú của họ không đều nhau. Một người phụ nữ kiều diễm mà tôi biết, tin rằng dái tai của mình dài quá khổ nên luôn luôn để tóc dài che lại. Tôi thì không quan tâm gì đến độ dài dái tai của người nào (cô ấy đã từng cho tôi xem dái tai của cô và tôi thấy chúng hoàn toàn bình thường). Tuy nhiên, có lẽ tất cả những băn khoăn về dái tai này chỉ là một sự thay thế hay biểu hiện của điều gì đó khác kia.

So với những người ấy, một phụ nữ không đẹp (thậm chí bị coi là xấu xí) mà vẫn vui hưởng sự thật đó, chẳng phải là người hạnh phúc hơn nhiều sao? Một phụ nữ cho dù có đẹp đến đâu đi nữa, cũng vẫn luôn luôn có khuyết điểm. Tương tự như vậy, một phụ nữ cho dù có xấu xí đến đâu đi nữa, vẫn luôn luôn có yếu tố gì đấy được cho là tốt đẹp. Và họ có vẻ thoải mái tận hưởng yếu tố đó của mình, chứ không như những phụ nữ đẹp. Sự thực là như thế chứ chẳng phải chỉ là nói lách hay ẩn dụ.

Ý kiến như thế này nghe có vẻ tầm thường, nhưng thế giới chúng ta đang sống đây thì lắm khi tùy thuộc vào cách chúng ta nhìn mà khác hẳn đi. Như chỉ cần cách tiếp nhận tia sáng chiếu vào như thế nào đấy thì có thể chỗ tối thành sáng, hoặc chỗ sáng thành tối. Tích cực thành tiêu cực, hoặc tiêu cực thành tích cực. Tôi không phán đoán được tác dụng như thế có phải là một phần bản chất trong cách thế giới vận hành, hay chỉ đơn giản là một ảo tưởng thị giác. Nhưng đấy chính là cách mà cô F* hiện hữu, đúng là một ảo-thuật-gia dùng ánh sáng.

*

Một người bạn của tôi đã giới thiệu cô ấy với tôi lần đầu tiên. Thời đó tôi vừa ngoài năm mươi, và cô có lẽ trẻ hơn tôi chừng mười tuổi. Nhưng với cô ấy, tuổi tác không thành vấn đề. Ngoại hình của cô vượt lên trên tất cả yếu tố cá nhân khác. Tuổi tác, chiều cao, hình dạng và kích thước bộ ngực, chưa kể hình dạng ngón chân cái hay độ dài của dái tai, tất cả đều trở thành không đáng kể so với sự thiếu vắng (đáng kinh hoàng) nét đẹp trên bề ngoài của cô ấy.

Hôm đó, trong một buổi hòa nhạc ở Suntory Hall, tôi tình cờ gặp một người bạn nam của tôi đang uống ly rượu vang với cô F* trong giờ nghỉ giải lao. Chương trình tối hôm đó có ghi một bản giao hưởng của Mahler (tôi quên mất là bản nào) và nửa đầu chương trình có bản “Romeo và Julie” của Prokofiev. Bạn tôi giới thiệu tôi với F* và ba chúng tôi đã uống một ít rượu vang, trò chuyện về nhạc Prokofiev. Cả ba đều đến buổi hòa nhạc một mình và bạn tôi cũng tình cờ mà gặp cô ấy ở đó. Người đi nghe hòa nhạc một mình luôn luôn chia sẻ chút cảm giác liên đới đoàn kết.

Tất nhiên, khi gặp F*, ấn tượng đầu tiên của tôi là: một phụ nữ xấu xí quá đỗi. Tuy nhiên, cô ấy rất thân thiện và thẳng thắn, khiến tôi thầm xấu hổ về phản ứng ban đầu của mình. Tôi không biết phải diễn đạt như thế nào cho chính xác, nhưng khi chúng tôi trò chuyện, tôi đã dần quen với vẻ ngoài của cô ấy. Hầu như chuyện dung mạo của cô không còn quan trọng nữa. Cô ấy là một người vui vẻ, trò chuyện hứng thú, hoạt bát. Thêm vào đó là đầu óc nhanh nhạy và trình độ thẩm định âm nhạc cao. Khi tiếng chuông báo hiệu kết thúc giờ nghỉ giải lao, và chúng tôi tạm biệt, tôi nghĩ giá mà cô ấy xinh đẹp, hoặc ít nhất là vẻ ngoài dễ nhìn hơn một tí, thì cô chắc hẳn là một phụ nữ rất hấp dẫn.

Nhưng sau đó, tôi đã thống thiết mà nhận ra rằng suy nghĩ của tôi đã nông cạn hời hợt đến thế nào. Bởi chính vì vẻ ngoài khác thường của mình mà cô ấy đã có thể phát huy thật hiệu quả cá tính mạnh mẽ của mình, hay có thể nói cho đúng hơn, sức thu hút mọi người của cô ấy. Nghĩa là, chính khoảng cách to lớn giữa dung tư xấu xí và phong thái lịch lãm tinh tế của cô ấy, đã tạo nên thương hiệu độc đáo cho tính năng động của riêng cô. Và cô hoàn toàn nhận thức được uy lực đó, và có tài năng điều chỉnh, sử dụng nó khi cần thiết.

Quả là một kỹ xảo tuyệt khó để có thể mô tả cho cụ thể được dung-tư của cô ấy kém hấp dẫn hay xấu xí như thế nào. Cho dù có cố gắng hết sức chọn chữ nghĩa cho đạt rồi mô tả cho tinh mật đến mức nào đi nữa, cũng chẳng thể nào truyền đạt cho hết những nét thực sự kỳ dị đặc biệt trong dung mạo của cô ấy. Duy có một điều tôi có thể quả quyết được là: không thể nào tìm ra được bất kỳ khiếm khuyết gì về chức năng trên cấu trúc của khuôn mặt cô ấy cả. Nghĩa là, hoàn toàn chẳng phải chuyện có chỗ này hơi kỳ dị, hoặc cứ sửa chữa khéo léo chỗ kia, thì cô ấy sẽ trông đẹp hơn một tí. Mỗi bộ phận đều không có gì khiếm khuyết cả. Thế mà kết hợp tất cả lại, thì lại thấy có một sự xấu xí tổng hợp trên toàn diện một cách hữu cơ. (Diễn tả so sánh như thế này nghe có phần kỳ quái, nhưng tôi liên tưởng đến sự ra đời của thần Vệ Nữ.) Trước hết, không thể nào dùng từ ngữ hay luận lý để giải thích hiệu quả kết hợp thành tổng thể là vẻ xấu xí đó. Mà giả dụ có thể giải thích được đi nữa, thì cũng chẳng có ý nghĩa gì bao nhiêu. Chúng ta có được ngay trước mắt “hiện thực là như thế”; và chỉ có hai lựa chọn mà thôi, hoặc hoàn toàn chấp nhận vô điều kiện trạng huống ấy vốn có phải có, hoặc hoàn toàn phủ nhận nó, thế thôi. Giống như kiểu chiến tranh không chấp nhận tù binh, “một sống hai chết” vậy.

Trong phần mở đầu của truyện Anna Karenina, Tolstoy đã viết rằng: mọi gia đình hạnh phúc đều hạnh phúc giống nhau; còn mỗi gia đình bất hạnh thì bất hạnh theo kiểu riêng của họ. Tôi nghĩ điều tương tự cũng đúng với chuyện khuôn mặt đẹp hay xấu của phụ nữ. Tôi nghĩ (xin hiểu cho rằng chỉ là quan điểm cá nhân mà thôi) rằng đại khái thì phụ nữ đẹp có thể được tóm tắt đơn giản trong một lời chung là “xinh đẹp”. Mỗi người trong bọn họ đều như cõng trên lưng một con khỉ lông vàng xinh đẹp. Có thể có một chút khác biệt về độ bóng và sắc thái của bộ lông, nhưng sự rực rỡ mà chúng chia sẻ khiến tất cả đều có vẻ giống hệt nhau.

Đối lại, phụ nữ xấu xí thì cõng trên lưng một phiên bản khỉ nhếch nhác của riêng từng người. Có những điểm khác biệt nhỏ nhưng nổi bật giữa những con khỉ của họ, như từng bộ lông đã sờn cũ ra sao, đã thưa đi ở đâu, đã dơ bẩn như thế nào. Và chúng hoàn toàn không có sự rực rỡ nào ở đấy cả, vì vậy không có ánh vàng huy hoàng làm cho chúng ta lóa mắt.

Tuy nhiên, con khỉ mà F* cõng trên lưng thì khuôn mặt có nhiều biểu hiện khác nhau, và bộ lông —mặc dù không bao giờ lấp lánh rực rỡ— có sẵn sự kết hợp hài hòa của nhiều sắc thái cùng lúc. Ấn tượng của người ta về con khỉ đó thay đổi kịch liệt tùy thuộc vào góc nhìn của họ, cùng với thời tiết, hướng gió, và thời điểm trong ngày. Nói cách khác, vẻ xấu xí trên dung mạo của cô ấy là kết quả của một loại quy tắc nghiêm túc đã tập hợp tất cả các yếu tố kém hấp dẫn ở mọi hình dạng và kích thước lại cùng một chỗ, rồi kết tinh lại dưới một sức ép đặc biệt mà thành hình. Và con khỉ của cô ấy đã bình lặng yên nghỉ thoải mái, không chút âu lo gì trên lưng cô, cứ như thể nguyên nhân và kết quả của mọi chuyện trên đời đều đã được an bài trọn vẹn thành một khối hài hòa ở ngay trung tâm của thế giới.

Tôi đã nhận thức được tất cả những điều ấy, ở một chừng mực nào đó, vào lần thứ hai tôi gặp F*, mặc dù vẫn chưa thể diễn đạt bằng ngôn từ cho suôn sẻ được. Còn cần thêm thời gian để lý giải được vẻ xấu xí của cô ấy. Còn cần thêm cả trực giác, triết lý, đạo đức, và có lẽ một chút kinh nghiệm thực tế nữa. Và việc chia sẻ cuộc sống với cô ấy, đến một giai đoạn nào đấy, sẽ dẫn đến cảm giác tự hào dịu dàng. Tự hào về sự thực rằng mình thế mà đã thu thập được những trực giác, triết lý, đạo đức và kinh nghiệm sống như thế.

Lần thứ hai tôi gặp cô ấy cũng vẫn là ở một phòng hòa nhạc, một thính phòng nhỏ hơn Suntory Hall. Buổi hòa nhạc của một nữ nghệ sĩ vĩ cầm người Pháp. Theo như tôi nhớ, bà ấy đã chơi các bản sonata của Franck và Debussy. Bà vốn là một nhạc sĩ tuyệt vời, và các bản nhạc ấy đã là một phần trong bộ các tiết mục đặc biệt yêu thích của bà. Thành thật mà nói thì vào hôm đó, bà ấy đã không biểu diễn được ở mức độ tuyệt vời nhất. Dù vậy, hai bản nhạc của Kreisler mà bà diễn tấu đã thật là duyên dáng, xứng đáng để được yêu cầu trình diễn một lần nữa.

Lúc tôi đã ra ngoài phòng hòa nhạc, đang đợi taxi, thì nghe tiếng cô ấy gọi tôi từ phía sau. F* bước đến, cùng một người bạn gái nhỏ nhắn, mảnh khảnh và xinh đẹp. Bản thân F* thì khá cao, chỉ thấp hơn tôi một tí thôi.

“Này anh, em biết một quán rượu khá lắm gần đây. Nếu được, chúng ta cùng đến đó uống chút rượu vang gì đấy nhé?” cô ấy nói.

Được chứ, tôi đáp. Đêm vẫn còn dài, và tôi vẫn còn vương vấn chút bực bội vì buổi hòa nhạc vừa xong. Tôi cảm thấy muốn uống một hai ly rượu vang và nói chuyện với ai đó về âm nhạc đáng thưởng thức.

Ba chúng tôi chọn một quán rượu nhỏ trên con phố gần đấy, gọi rượu vang và một ít thức ăn nhẹ, nhưng rồi người bạn kiều diễm của cô ấy đã sớm đứng dậy để nghe điện thoại. Một người nhà đã gọi cho cô ta bảo rằng con mèo của cô ngã bệnh. Thế là chỉ còn F* và tôi. Nhưng tôi không thực sự thất vọng, vì đến lúc ấy tôi đã bắt đầu quan tâm đến F*. Cô ấy có năng khiếu trang phục tuyệt vời, cô mặc một bộ áo lụa xanh thượng hạng. Đồ trang sức cô ấy đeo cũng hoàn bích. Đơn giản, nhưng bắt mắt. Lúc đó tôi mới nhận ra cô ấy đang đeo nhẫn cưới.

Cô ấy và tôi đã nói chuyện về buổi hòa nhạc. Chúng tôi đồng ý rằng người nghệ sĩ vĩ cầm ấy đã không biểu diễn ở phong độ cao nhất của bà. Có thể bà không được khỏe, hoặc ngón tay đang bị đau, hoặc có thể bà không hài lòng với phòng khách sạn mà ban tổ chức cung cấp. Nhưng chắc chắn là đã có điều gì đó không ổn. Thường xuyên tham dự các buổi hòa nhạc thì chắc chắn là có lúc gặp phải những điều như vậy.

Chúng tôi chuyển sang nói về các loại nhạc mình yêu thích, và đồng ý là thích nhạc piano nhất. Tất nhiên chúng tôi cũng nghe nhạc opera, nhạc giao hưởng và nhạc thính phòng, nhưng chúng tôi cùng thích nhất là nhạc piano độc tấu. Và kỳ lạ thay, có rất nhiều trùng hợp trong các tác phẩm chúng tôi yêu thích. Cả hai đều không thể hào hứng tiếp tục nghe nhạc Chopin quá lâu. Ít nhất thì cũng chẳng phải là thứ chúng tôi muốn nghe đầu tiên vào buổi sáng. Nhạc piano của Mozart rất duyên dáng quyến rũ, chắc chắn thế, nhưng thành thật mà nói thì cả hai chúng tôi đều đã nghe nhiều đến mệt rồi. The Well-Tempered Clavier của Bach thì tuyệt vời, nhưng có hơi quá dài để có thể thực sự tập trung vào. Và phải có thể lực tốt mới có thể đánh giá đúng mức được. Nhạc piano của Beethoven đôi khi khiến chúng tôi cảm thấy quá nghiêm trang, và (chúng tôi tin rằng) đã được mổ xẻ quá đủ rồi, từ mọi góc độ có thể tưởng tượng được. Nhạc piano của Brahms thì tùy trường hợp mà nghe thật tuyệt, nhưng nếu nghe liên tục lại rất mệt mỏi. Chưa kể là lúc thường thì nhàm chán. Còn với Debussy và Ravel, phải cẩn thận lựa chọn thời điểm và địa điểm để nghe nhạc của họ, chứ nếu không, thì sẽ chẳng thể nào thưởng thức trọn vẹn được.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng tôi quả quyết: đỉnh cao của bộ danh-mục piano phải là một số bản sonata của Schubert, và nhạc của Schumann.

“Trong tất cả những bản nhạc đó, anh chọn bản nào?”

“Chỉ một bản thôi sao?”

Đúng vậy, F* nói, chỉ một bản thôi. “Bản nhạc piano duy nhất mà anh chọn mang theo đến một hòn đảo hoang đấy nhé.”

Chẳng phải là một câu hỏi dễ trả lời. Tôi phải suy nghĩ nghiêm túc mới được.

Cuối cùng tôi tuyên bố là bản Carnaval của Schumann.

F* nheo mắt nhìn tôi rất lâu. Sau đó, cô ấy đặt tay lên bàn, đan ngón lại và bẻ khớp ngón tay thành tiếng lớn. Đúng mười lần. Tiếng lớn đến nỗi những người ngồi các bàn gần đấy liếc mắt về phía chúng tôi. Âm thanh cứng, giống như tiếng bẻ đôi một ổ bánh mì dài để quên đã ba ngày, trên đầu gối của mình. Không có nhiều người, dù đàn ông hay phụ nữ, có thể bẻ khớp ngón tay thành tiếng lớn đến như vậy. Về sau tôi mới biết việc bẻ khớp ngón tay thật to đến mười lần như thế là thói quen của cô ấy khi cô cảm thấy phấn khích và nhiệt thành. Chứ lúc đó thì tôi đâu biết, nên chỉ tự hỏi liệu có điều gì đó đã làm cô ấy bực tức chăng. Có lẽ tôi chọn bản Carnaval là không phù hợp. Nhưng làm sao khác được, bởi sự thật là tôi hằng yêu thích tác phẩm này. Cho dù có khiến ai đó tức giận đến mức muốn đấm tôi, tôi vẫn không thể nói dối về điều đó được.

“Anh thực sự chọn bản Carnaval sao?” Cô ấy nhíu mày, giơ một ngón tay dài lên, hỏi lại cho chắc chắn. “Trong tất cả các nhạc phẩm piano, đấy là bản duy nhất anh chọn mang theo đến đảo hoang à?”

Tôi cảm thấy bối rối nghe cô nói thế lúc này. Để bảo vệ âm nhạc piano có phần rối rắm của Schumann, dù đẹp như kính vạn hoa và bay bổng khỏi ranh giới của trí tuệ con người, có thực là tôi sẵn sàng loại bỏ các bản Goldberg Variations hay Well-Tempered Clavier của Bach được không? Hay các bản sonata cho piano cuối đời của Beethoven, và bản Concerto Thứ Ba dũng cảm và quyến rũ của ông ấy?

Một khoảng im lặng ngắn ngủi mà nặng nề bao trùm, trong khi F* siết chặt nắm tay của mình vài lần, như thể kiểm tra kỹ tình trạng hai bàn tay.

Cuối cùng cô ấy nói, “Anh có khiếu thẩm mỹ tuyệt vời đấy. Và em ngưỡng mộ lòng dũng cảm của anh. Em đồng ý với anh, Carnaval của Schumann cũng là lựa chọn của em nữa.”

“Thật sao?”

“Thật chứ. Em luôn luôn yêu thích bản ấy. Không bao giờ chán được, bất kể có nghe bao nhiêu lần đi nữa.”

Chúng tôi đã tiếp tục thảo luận về tác phẩm ấy một hồi lâu. Cùng gọi một chai vang Pinot Noir và uống cạn trong cuộc trò chuyện. Chúng tôi đã trở thành thân thiết vào tối hôm đó. Bạn thiết Carnaval. Mặc dù mối quan hệ này chỉ kéo dài khoảng nửa năm.

*

Thế là chúng tôi đã lập ra Câu lạc bộ Carnaval riêng tư chỉ dành cho hai thành viên. Chẳng có lý do gì để phải giới hạn chỉ hai thành viên mà thôi, nhưng rồi đã không bao giờ vượt quá con số đó. Bởi chúng tôi chưa bao giờ gặp người nào khác phát cuồng vì tác phẩm này đến như chúng tôi cả.

Chúng tôi đã nghe nhiều đĩa nhựa và đĩa CD về các buổi trình diễn bản Carnaval, và khi có nghệ sĩ piano nào đưa tác phẩm này vào buổi hòa nhạc của mình, chúng tôi đã làm mọi cách có thể để cùng nhau tham dự. Theo sổ tay của tôi (tôi đã ghi chép rất kỹ về từng buổi biểu diễn ấy), chúng tôi đã đến xem các buổi biểu diễn nhạc sống Carnaval của ba nghệ sĩ piano khác nhau, và đã cùng nhau nghe bốn mươi hai đĩa CD và đĩa nhựa thu âm tác phẩm này. Sau đó, chúng tôi đã thân mật trao đổi ý kiến đánh giá. Hóa ra là rất nhiều nghệ sĩ piano, ở mọi thời đại và địa phương, đã thu âm tác phẩm này rồi, có vẻ như đấy là phần ăn khách bậc nhất trong bộ tiết mục của họ. Dù vậy, chúng tôi nhận thấy các buổi trình diễn xứng đáng thì chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Một buổi biểu diễn có thể hoàn hảo về mặt kỹ thuật, nhưng nếu kỹ thuật không hoàn toàn đồng bộ với âm nhạc, bản Carnaval sẽ sụp đổ thành một bài tập cho các ngón tay máy móc, khiến không còn sức hấp dẫn nữa. Quả thật, biểu hiện cho thật đúng cảm giác âm nhạc là thách thức rất lớn, vượt quá khả năng của đám nghệ sĩ piano thông thường. Tôi không nêu tên người nào, nhưng không ít nghệ sĩ piano cao cấp đã thu âm những màn trình diễn vụng về, không có chút sức hút nào. Và nhiều nghệ sĩ piano khác đã cực lực tránh chơi bản nhạc này (Chứ còn lý do gì khác đâu, tôi đoán thế.) Vladimir Horowitz yêu thích và đã biểu diễn âm nhạc của Schumann trong suốt sự nghiệp của mình, nhưng vì lý do nào đó, ông chưa bao giờ thu âm Carnaval một cách đàng hoàng. Và điều tương tự cũng có thể nói về Sviatoslav Richter. Và tôi không thể là người duy nhất một ngày nào đó muốn nghe xem Martha Argerich biểu diễn tác phẩm này ra làm sao.

Ngẫu nhiên mà hầu như không ai trong số những người cùng thời với Schumann thấu hiểu được âm nhạc của ông tuyệt vời đến thế nào. Chẳng hạn Mendelssohn và Chopin đã không đánh giá cao âm nhạc piano của Schumann. Ngay cả góa phụ của Schumann, Clara (một trong những nghệ sĩ piano hàng đầu thời bấy giờ), người đã tận tụy chơi nhạc của ông, cũng thầm kín ước muốn ông tập trung vào các vở opera hoặc nhạc giao hưởng đúng theo tiêu chuẩn, hơn là loại sáng tác dị-thường này. Về cơ bản, Schumann không mấy ưa thích những hình thức cổ điển như sonata, và đôi khi các tác phẩm của ông nghe có vẻ mộng tưởng mơ màng quá. Ông đã xa rời những hình thức cổ điển đã có sẵn, dẫn đến sự ra đời của một thể loại âm nhạc mới, là trường phái Lãng mạn, nhưng hầu hết những người cùng thời với ông đều cho rằng tác phẩm của ông lập dị, thiếu nền tảng và nội dung vững chắc. Thế nhưng, chính tính cách khác người táo bạo này đã thúc đẩy sự trỗi dậy của âm nhạc Lãng mạn.

*

Dù sao thì trong sáu tháng đó, hai chúng tôi đã nghe bản Carnaval bất cứ khi nào có cơ hội. Tất nhiên, đó không phải là tất cả những gì chúng tôi nghe, thỉnh thoảng chúng tôi cũng nghe Mozart và Brahms, nhưng bất cứ khi nào gặp nhau, rốt cuộc chúng tôi cũng cùng nghe một phiên bản Carnaval, và chia sẻ cảm nhận của mình về buổi trình diễn. Tôi đã là thư ký của câu lạc bộ nhỏ của chúng tôi, ghi lại tóm tắt ý kiến của cả hai. Cô ấy đã đến nhà tôi vài lần, nhưng thường thì tôi đến nhà cô ấy, vì cô sống gần trung tâm thành phố, trong khi tôi ở ngoại ô. Sau khi nghe bốn mươi hai phiên bản thu âm của tác phẩm Carnaval, lựa chọn số một của cô ấy là phiên bản của Arturo Benedetti Michelangeli thu âm cho Angel Records, và của tôi là bản thu âm của Arthur Rubinstein cho RCA. Chúng tôi đã cẩn thận đánh giá từng đĩa nhạc mà chúng tôi nghe, tất nhiên vẫn biết rằng lối xếp hạng chủ quan của mình thực sự không có ý nghĩa gì nhiều. Chỉ là một chút niềm vui phụ thêm mà thôi. Điều quan trọng nhất đối với chúng tôi là được chuyện trò thâm sâu về âm nhạc mà chúng tôi yêu thích, chia sẻ với nhau cảm giác chung cùng đam mê một thứ gì đó không vì mục đích tư lợi gì cả.

Một người đàn ông mà cứ gặp hoài một phụ nữ trẻ hơn mười tuổi thường xuyên như vậy thì thông thường là gây ra sóng gió trong gia đình, thế nhưng vợ tôi thì hoàn toàn không hề lo ngại gì về cô ấy. Tôi không phủ nhận rằng vẻ ngoài không hấp dẫn của F* đã đóng một vai trò chính yếu trong sự thờ ơ ấy của vợ tôi. Nàng không hề có chút nghi ngờ rằng F* và tôi có thể rơi vào mối quan hệ tình dục; hóa ra bất lợi về ngoại hình của cô ấy lại là một ân huệ cho chúng tôi. Có vẻ vợ tôi chỉ thấy chúng tôi là một cặp tò mò những chuyện lạ đời, thế thôi. Bản thân vợ tôi thì không thích gì nhạc cổ điển, thường chán ngán hầu hết các buổi hòa nhạc. Vợ tôi gọi F* là “bạn gái anh”. Và đôi khi, với một chút mỉa mai, “bạn gái đáng yêu của anh”.

Tôi chưa bao giờ gặp chồng của F*. (Cô ấy không có con). Có thể là do trùng hợp tình cờ mà anh ta ra ngoài mỗi khi tôi đến nhà cô ấy, hoặc cô ấy đã chọn đúng thời điểm để anh ta không có mặt ở đó. Hoặc cũng có thể anh ta ra ngoài hầu hết thời gian. Sự thật là thế nào thì tôi không rõ. Nhân đang nói về chuyện này, tôi thậm chí còn không thể chắc chắn liệu cô ấy thực sự có chồng hay không nữa kia. Bởi cô chẳng bao giờ nói gì về người chồng, và theo như tôi nhớ lại thì, cũng chẳng thấy dấu vết hay hơi hướm gì của người đàn ông ở bất cứ đâu trong nhà cô cả. Mặc dù cô ấy đã công bố là có chồng, và đeo một chiếc nhẫn cưới bằng vàng chói sáng ở ngón áp út của bàn tay trái.

Cô ấy cũng không bao giờ nói một lời nào về quá khứ của mình. Cô không bao giờ đề cập đến quê quán, gia đình như thế nào, trường nào cô đã theo học hay công việc cô làm. Nếu có hỏi cô ấy về những chuyện riêng tư, tôi cũng chỉ nhận được những lời bóng gió lơ lửng hoặc nụ cười không lời. Tất cả những gì tôi biết được chỉ là cô ấy làm việc trong một lĩnh vực chuyên môn gì đó và có một lối sống khá sung túc. Cô ấy sống ở khu phố Daikanyama thời thượng tại Tokyo, một căn hộ ba phòng ngủ thanh lịch trong một tòa nhà có đám cây xanh bao quanh, lái một chiếc xe BMW sedan hoàn toàn mới và có một hệ thống âm thanh nổi đắt tiền trong phòng khách. Một bộ khuếch âm Accuphase cao cấp và máy chơi đĩa CD, với loa hiệu Linn lớn trông rất tráng lệ. Và cô luôn luôn mặc những bộ trang phục hấp dẫn, thanh lịch. Không biết gì nhiều về quần áo phụ nữ, nhưng ngay cả tôi cũng đoán được đó là những món đồ hàng hiệu đắt tiền.

Khi nói đến âm nhạc, cô ấy rất hùng biện. Cô có đôi tai nhạy bén, và nhanh chóng chọn được cách mô tả chính xác nhất về những gì đã nghe. Kiến thức của cô về âm nhạc cũng sâu sắc và rộng khắp. Thế nhưng khi nói đến bất cứ điều gì khác ngoài âm nhạc, cô ấy hầu như hoàn toàn là một ẩn số. Điều gì mà cô ấy không muốn nói ra thì cho dù có cố khêu gợi đến đâu đi nữa, cô cũng quyết không hé môi.

Có lần cô ấy đã nói với tôi về Schumann.

“Giống như Schubert, thời trẻ Schumann đã chiến đấu với bệnh giang mai, và căn bệnh dần ảnh hưởng đến cả trí não của ông. Thêm vào đó, ông có khuynh hướng tâm thần phân liệt nữa. Ông thường xuyên khổ não vì huyễn tưởng thính giác khủng khiếp khiến cơ thể ông run rẩy đến không kiềm hãm được. Và ông nhập tâm rằng mình đang bị ma quỷ truy đuổi. Ông tin chắc là có ma quỷ. Bị truy đuổi trong những cơn ác mộng kinh hoàng không dứt, ông đã nhiều lần cố tự tử. Thậm chí có lần ông đã lao mình xuống sông Rhine. Ảo tưởng trong đầu và thực tế bên ngoài tròng tréo vào nhau bên trong ông. Carnaval là một tác phẩm trong thời kỳ ban sơ của ông, vì vậy những linh hồn ma quỷ chưa lộ diện rõ ràng lắm. Vả lại tác phẩm ấy nói về lễ hội hóa trang, nên có rất nhiều nhân vật đeo mặt nạ trông vui nhộn, nhưng đấy không chỉ đơn thuần là một lễ hội hóa trang tràn đầy hân hoan. Rốt cuộc, những linh hồn ma quỷ ẩn núp trong ông cũng đã lần lượt xuất hiện trong tác phẩm ấy, như thể được giới thiệu trong mỗi khoảnh khắc riêng một linh hồn đeo mặt nạ lễ hội hóa trang vui thú. Xung quanh đó, cơn gió đầu xuân bất-tường rờn rợn thổi. Những miếng thịt rướm máu được dọn ra cho mọi người. Lễ hội hóa trang Carnival đúng nghĩa là lễ hội tạ ơn thịt, mà cũng là lời tạm biệt với thịt khi Mùa Chay bắt đầu. Chính xác là loại nhạc như thế đấy.”

“Vì vậy mà người diễn tấu phải biểu hiện bằng âm nhạc, cả mặt nạ lẫn khuôn mặt ẩn bên dưới đó cho tất cả các nhân vật xuất hiện. Có phải cô muốn nói thế không?” Tôi hỏi.

Cô ấy gật đầu. “Đúng thế. Chính xác là thế đấy. Nếu không thể biểu hiện được tình cảnh đó, thì việc trình diễn còn có ý nghĩa gì nữa? Tác phẩm ấy là cực điểm của loại âm nhạc vui chơi, thế nhưng chính trong sự vui tươi đùa bỡn đó, có thể nhìn thấy thấp thoáng những khuôn mặt ma quỷ ẩn núp sâu kín trong tâm lý con người. Những âm sắc vui đùa ấy dụ-dỗ chúng bước ra khỏi bóng tối đấy.”

Cô ấy im lặng một lúc, rồi nói tiếp.

“Tất cả chúng ta, ít nhiều đều đeo mặt nạ mà sống cả. Bởi nếu không có mặt nạ, chúng ta không thể sống sót được trong thế giới bạo liệt này. Bên dưới mặt nạ của ác quỷ là khuôn mặt tự nhiên của một thiên thần; bên dưới mặt nạ của thiên thần lại là khuôn mặt của một ác quỷ. Không thể chỉ có một mặt mà thôi được. Con người chúng ta là như thế. Và đấy là bản Carnaval. Schumann đã có thể nhìn thấu nhiều bộ mặt cùng lúc của người ta, cả mặt nạ lẫn mặt thực, bởi chính ông đã là một tâm hồn bị phân liệt sâu sắc, một người sống trong khoảng hẹp ngột ngạt giữa mặt nạ và mặt thật.”

Có lẽ cô ấy thực sự muốn nói là “mặt nạ xấu xí và mặt thật xinh đẹp bên dưới đó—hay mặt nạ xinh đẹp và mặt thật xấu xí”. Ý nghĩ này chợt lóe lên trong trí tôi lúc đó. Có lẽ cô ấy thực sự đang nói về một khía cạnh nào đó của chính mình.

“Có thể cũng có người đeo mãi thì mặt nạ bị dính chặt đến không thể gỡ ra được nữa,” tôi nói.

“Vâng, có thể cũng có người như thế thật.” cô ấy khẽ nói. Và mỉm cười nhẹ. “Nhưng ngay cả khi mặt nạ bị dính chặt đến không thể gỡ ra, điều đó vẫn không thay đổi được sự thật rằng bên dưới đấy, khuôn mặt thật vẫn còn đó.”

“Mặc dù không ai có thể nhìn thấy được.”

Cô lắc đầu. “Hẳn phải có người nhìn thấy được chứ. Thế nào cũng phải có ở đâu đó.”

“Nhưng Robert Schumann là người đã nhìn thấy được thì rốt cuộc không hạnh phúc. Bởi vì bệnh giang mai, tâm thần phân liệt và linh hồn ma quỷ.”

“Dù sao thì ông ấy cũng đã để lại được cho hậu thế loại âm nhạc tuyệt vời này,” cô ấy nói. “Loại âm nhạc tuyệt diệu không ai khác có thể viết ra.” Cô lần lượt bẻ từng khớp ngón tay của cả hai bàn tay, thành tiếng lớn khô khốc. “Nhờ ở bệnh giang mai, tâm thần phân liệt và linh hồn ma quỷ đấy. Hạnh phúc luôn luôn là thứ tương đối thôi mà. Anh không nghĩ thế sao?”

“Có thể lắm,” tôi nói.

“Vladimir Horowitz đã từng có lần thu âm bản Sonata cung Fa thứ của Schumann cho đài phát thanh đấy,” cô nói. “Anh đã nghe câu chuyện này chưa?”

“Chưa, tôi chưa từng nghe,” tôi đáp. Tôi hình dung rằng lắng nghe bản Sonata số 3 cho piano ấy của Schumann thì hẳn là một công việc vất vả lắm.

“Khi nghe lại bản thu âm này của mình trên đài phát thanh sau đó, Horowitz đã ngồi lặng, ôm đầu, hoàn toàn chán nản. Ông ta bảo rằng: thật là kinh khủng.”

Cô ấy khuấy đều rượu vang đỏ trong chiếc ly còn đầy một nửa rồi nhìn đăm đăm vào đấy một hồi.

“Và đây là những gì ông ta nói: ‘Schumann đã nổi điên, nhưng tôi đã làm hỏng mất cơn điên ấy rồi.’ Ý kiến như thế thì tuyệt vời chứ nhỉ. Anh có nghĩ thế không?”

“Tuyệt vời,” tôi đồng ý.

*

Tôi nhận thấy cô ấy, theo ý nghĩa nào đó, là một phụ nữ quyến rũ, mặc dù tôi chưa bao giờ thực sự nghĩ đến chuyện quan hệ tình dục với cô ấy. Trong ý nghĩa đó thì phán đoán của vợ tôi là đúng. Nhưng chẳng phải vẻ kém hấp dẫn của cô đã ngăn cản tôi khỏi quan hệ tình dục với cô ấy đâu. Tôi không nghĩ rằng vẻ ngoài xấu xí của cô ấy tự nó ngăn cản chúng tôi có quan hệ xác thịt với nhau. Điều đã khiến tôi không ngủ với cô ấy —thực sự tôi đã chẳng bao giờ cảm thấy ham muốn chuyện ấy với cô— chẳng phải là vẻ đẹp hay xấu từ chiếc mặt nạ của cô ấy, mà hơn thế, có lẽ là nỗi sợ hãi về khuôn mặt ẩn bên dưới đấy mà tôi sẽ nhìn thấy. Dù có là khuôn mặt của ác quỷ, hay của thiên thần.

*

Khoảng đầu tháng 10, F* ngừng liên lạc với tôi. Tôi đã có thêm hai đĩa CD mới, khá hấp dẫn về bản Carnaval, và tôi đã gọi điện thoại cho cô ấy vài lần, nghĩ rằng có thể cùng nhau nghe chung, nhưng điện thoại di động của cô luôn luôn chuyển qua hộp thư lưu-thoại. Tôi cũng đã gửi email cho cô ấy vài lần, nhưng không nhận được hồi đáp. Vài tuần mùa thu trôi qua, rồi tháng Mười kết thúc. Tháng Mười Một đến, mọi người bắt đầu mặc áo khoác. Đấy là khoảng thời gian lâu dài nhất chúng tôi không liên lạc với nhau. Tôi đoán có lẽ cô ấy đang đi xa, hoặc có thể là không được khỏe.

Vợ tôi là người đầu tiên nhìn thấy cô ấy trên TV. Tôi đang ngồi làm việc ở bàn trong phòng mình.

“Có thể em nhầm, nhưng em nghĩ bạn gái anh đang lên bản tin TV đấy”, vợ tôi nói. Nghĩ lại thì, vợ tôi chưa bao giờ nhắc đến tên F*. Cô luôn luôn gọi là “bạn gái anh”. Nhưng khi tôi đến trước TV thì bản tin đã chuyển sang tin về một gấu trúc panda bé con rồi.

Tôi phải đợi đến trưa mới xem được chương trình tin tức tiếp theo. F* xuất hiện trong bản tin thứ tư. Cô ra khỏi nơi trông giống như đồn cảnh sát, bước xuống cầu thang và lên một chiếc xe van màu đen. Hành trình chậm rãi đó đã được máy quay phim ghi lại toàn bộ. Không còn nghi ngờ gì nữa, đấy chính là F*. Dù gì đi nữa cũng không thể nhầm lẫn được khuôn mặt của cô ấy. Có vẻ như cô bị còng tay, cả hai tay cô đều đưa ra trước, được che phủ bởi một chiếc áo khoác màu tối. Hai nữ cảnh sát đứng hai bên cô ấy, giữ chặt cánh tay cô. Dù vậy cô ấy vẫn không cúi mặt. Môi cô khép lại, ánh mắt bình thản nhìn thẳng phía trước như chẳng có gì xảy ra. Nhưng đôi mắt hoàn toàn vô cảm, giống như mắt cá. Ngoại trừ một vài lọn tóc xõa rời, cô ấy trông vẫn như thường lệ. Tuy nhiên, khuôn mặt cô trên TV thiếu đi nét gì đó đặc biệt thường mang lại nét sống động cho cô. Hoặc có lẽ cô cố tình giấu đi dưới chiếc mặt nạ.

Cô dẫn chương trình TV đã nêu tên thật của F* và báo cáo trình tự đồn cảnh sát đã bắt giữ cô ấy với tình nghi là đồng phạm trong một vụ lừa đảo quy mô lớn. Theo báo cáo của cảnh sát, thủ phạm chính là chồng cô, người đã bị bắt vài ngày trước đó. Một đoạn video đã được phát về thời điểm anh ta bị bắt giữ. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy chồng cô ấy, và thành thật mà nói, tôi đã bị sốc đến không thốt lên được lời nào vì anh ta đẹp trai đến thế. Một người đàn ông tuyệt đẹp đến gần như là không thực, trông hấp dẫn như một người mẫu chuyên nghiệp. TV cho biết anh ta kém cô ấy sáu tuổi.

Tất nhiên, chẳng có lý do gì để tôi phải bị sốc khi biết cô ấy kết hôn với một người đẹp trai kém cô sáu tuổi. Đây đó vẫn có đủ loại cặp dung tư so le nhau mà. Xung quanh tôi cũng có vài cặp như thế. Vậy mà, khi tôi cố gắng hình dung cụ thể về cuộc sống vợ chồng hàng ngày tất nhiên của họ —F* cùng người đàn ông cực kỳ hấp dẫn này, sống chung dưới một mái nhà trong căn hộ chúng cư ngăn nắp ở khu Daikanyama— chẳng hiểu sao tôi không khỏi cảm thấy hoang mang. Tôi hình dung được rằng hầu hết mọi người nhìn thấy cặp này trên bản tin TV có thể đều kinh ngạc về mức độ chênh lệch xấu đẹp đến kịch liệt của họ, nhưng cảm giác khó ở mà tôi cảm thấy lúc xem TV thì có tính cách cá nhân hơn nhiều, cục bộ hơn và sâu đậm hơn. Thậm chí cảm thấy nhói đau thực sự đây đó trên da mình. Có chút gì không lành mạnh trong đó. Và có cả cảm giác bất lực vô vọng đặc thù của người đã bị lừa đảo.

Hai người ấy bị buộc tội gian lận quản lý tài sản. Họ đã tạo ra một công ty đầu tư giả mạo, huy động vốn từ những người bình thường, hứa hẹn tỷ lệ lợi nhuận cao, nhưng thực tế đã không hề quản lý tài sản gì, chỉ đơn giản là chuyển tiền vốn qua lại để bù đắp cho khoản thiếu hụt ở bất kỳ phía nào. Cách làm như đi dây làm xiếc táo bạo mà thô tạp như thế rõ ràng là sớm muộn gì thì thế nào rồi cũng phải sụp đổ.

Tại sao một phụ nữ thông minh như thế, một người có lòng trân quý sâu sắc đối với âm nhạc piano của Schumann, mà lại có thể tiếp tay cho một tội ác đơn thuần và xuẩn động như vậy, đến nỗi sa chân vào một ngõ hẹp không có lối thoát? Tôi thật không thể nào lý giải được. Có lẽ một sức mạnh âm-tính nào đó trong mối quan hệ của cô với người đàn ông kia đã cuốn cô ấy vào vũng xoáy tội lỗi đấy rồi. Có lẽ chính linh hồn ma quỷ trong cô đã âm thầm ẩn náu ở trung tâm của vũng xoáy ấy. Tôi chỉ có thể hiểu được như thế thôi.

Trong vụ này, thiệt hại lên đến trên 10 triệu Mỹ kim. Phần nhiều nạn nhân là những người đã về hưu lớn tuổi. Vài người trong số họ đã được phỏng vấn trên TV, thổ lộ rằng từng xu trong số tiền tiết kiệm hưu trí quý giá của họ, tất cả những gì họ nương tựa vào để sống những ngày tháng cuối đời, đã bị cướp giật mất rồi, họ hoảng loạn không biết phải làm sao đây. Tôi cảm thấy xót thương họ, nhưng chuyện đã xảy ra mất rồi. Rốt cuộc, sự việc vẫn chỉ là loại tội ác thường thấy. Vì lý do nào đó mà rất nhiều người dường như bị mê hoặc bởi những lời dối trá tầm thường như thế. Cũng có thể chính sự tầm thường quá đỗi ấy lại đã thu hút họ không chừng, ai mà biết được? Thế giới này không bao giờ hết những kẻ lừa đảo, và những người cả tin nữa. Bất kể được giải thích như thế nào trên TV, bất kể ai bị phê phán như thế nào đi nữa, thì vẫn là một sự thật rõ ràng, như bãi cát trơ trơ sau khi thủy triều rút xuống.

“Thế anh tính sao?” vợ tôi hỏi sau khi bản tin chấm dứt.

“Tính gì? Anh có thể làm gì được chứ?” Tôi nói, bấm điều khiển từ xa tắt TV.

“Nhưng cô ấy là bạn của anh mà!”

“Chỉ gặp nhau thỉnh thoảng và trò chuyện về âm nhạc thôi. Chứ anh có biết gì hơn đâu.”

“Cô ấy không bao giờ gợi ý anh đầu tư với họ sao?”

Tôi im lặng lắc đầu. Dù sao thì cô ấy cũng chưa bao giờ lôi kéo tôi vào những chuyện như vậy. Gì chứ điều đó thì tôi chắc chắn lắm.

“Em không biết rõ về cô ấy, nhưng đã chẳng bao giờ nghĩ cô là người có thể làm điều gì khủng khiếp đến như thế”, vợ tôi nói. “Em nghĩ là khó mà dò được lòng người.”

Không, tôi đột nhiên nghĩ, không hoàn toàn đúng như thế đâu. F* có một loại lực hút đặc biệt đối với người ta. Và trong đó, bên trong dung mạo đặc biệt khác thường của cô ấy, tồn tại một loại sức mạnh có thể thu hút lòng người. Như đã khơi dậy lòng tò mò của tôi về cô ấy. Và khi sức hấp dẫn đặc biệt đó hòa hợp làm một với vẻ ngoài ngoạn mục như người mẫu thời trang của người chồng trẻ kia, thì mọi chuyện đều trở nên có thể làm được. Có lẽ người ta đã không làm sao cưỡng lại được mà phải bị sức hấp dẫn kết hợp đó thu hút vào. Một động lực xấu xa ma mị nảy sinh từ đó, vượt quá mọi ý thức hay luận lý thông thường. Mặc dù tôi không thể nào hiểu ra được điều gì đã làm thế nào mà có thể kết nối hai người bất-tương-xứng này lại với nhau.

Trong nhiều ngày tiếp theo, bản tin truyền hình liên tục cho tin về vụ này, nhiều hình ảnh được chiếu lặp đi lặp lại lắm lần. Cũng hình ảnh cô ấy với đôi mắt cá chết nhìn thẳng về phía trước, người chồng trẻ tuổi đẹp trai của cô hướng khuôn mặt đoan trang cân chỉnh đến máy quay phim. Khóe môi mỏng của anh ta, có lẽ theo phản xạ, hơi nhếch lên. Kiểu nụ cười nhếch mép khinh khỉnh thường thấy nơi các ngôi sao điện ảnh chuyên nghiệp. Nhờ vậy mà trông anh ta như đang gửi nụ cười kênh kiệu đến toàn thế giới. Khuôn mặt đó quả giống như một chiếc mặt nạ được tạo hình khéo léo.

Nhưng thế nào đi nữa, một tuần sau thì vụ bắt giữ ấy đã hầu như bị lãng quên đi mất. Ít nhất thì các đài truyền hình cũng không còn hứng thú cho tin nữa. Tôi tiếp tục theo dõi vụ việc trên nhật báo và tạp chí hàng tuần, nhưng những bàn tán loại này cũng thưa dần, như một vũng nước bị hút vào cát, càng lúc càng thu hẹp lại, và cuối cùng thì tiêu tán hoàn toàn.

Và rồi F* cũng hoàn toàn biến mất khỏi thế giới của tôi. Tôi không sao biết được cô ấy ở đâu. Không có cách nào để biết liệu cô ấy vẫn còn bị câu lưu, hay bị giam giữ trong tù, hay đang ở nhà vì được tại ngoại. Không thấy có bài viết nào về việc cô ấy bị xét xử, mặc dù hẳn phải ra tòa chứ, vì hành vi gian lận đủ to lớn để đảm bảo một số loại hình phạt tương xứng. Ít nhất, theo các bài báo và tạp chí mà tôi đã đọc, thì rõ ràng là cô ấy đã tích cực giúp chồng vi phạm pháp luật.

*

Một thời gian dài đã trôi qua kể từ đó, thế mà ngày nay, bất cứ khi nào có buổi hòa nhạc có màn trình diễn bản Carnaval của Schumann, thì tôi đều cố gắng đi nghe. Mắt tôi nhiệt thành quét kỹ toàn bộ hội trường, và cả tiền sảnh khi tôi nhấm nháp một ly rượu vang trong giờ nghỉ giải lao, cố tìm cô ấy. Chưa bao giờ tìm thấy cô ấy cả, nhưng tôi luôn luôn cảm thấy như cô sắp sửa xuất hiện ngay giữa đám đông bất cứ lúc nào.

Tôi cũng còn tiếp tục mua bất kỳ đĩa CD diễn tấu bản Carnaval nào mới ra. Và tôi vẫn còn ghi điểm xếp hạng chúng trong sổ tay. Có nhiều bản thu âm mới đã xuất hiện, nhưng bản yêu thích số một của tôi vẫn là của Rubinstein. Tiếng đàn piano của Rubinstein không cường bạo xé toạc mặt nạ của người ta. Thay vào đó, tiếng đàn dịu nhẹ, thanh thoát của ông chỉ như làn gió lả lướt êm đềm qua khe hở giữa mặt nạ và mặt thực.

Hạnh phúc luôn luôn là thứ tương đối thôi. Phải thế không?

*

Xin quay lại một chuyện đã xảy ra rất lâu trước đó nữa.

Thuở còn là sinh viên đại học, tôi đã từng hẹn hò với một cô gái dung tư quả là kém hấp dẫn, tuy chưa đến nỗi phải gọi là xấu xí. Mà có lẽ nói quách ra là “không chút hấp dẫn” cũng được. Trong một buổi hẹn hò đôi do một người bạn của tôi sắp xếp, cô ấy đã đến với tư cách là người hẹn của tôi. Cô ấy và người bạn gái của bạn tôi cùng trọ trong ký túc xá của đại học, và hai cô học sau tôi một năm. Chúng tôi cùng ăn một bữa tối nhanh chóng, rồi bốn người chia thành hai cặp mà đi theo đường riêng. Lúc đó vào cuối mùa thu.

Cô ấy và tôi đi dạo quanh công viên, sau đó vào quán cà phê, nói chuyện bên tách cà phê. Cô ấy thấp, mắt nhỏ và có vẻ là một người dễ mến. Cô nói nhỏ nhẹ như e thẹn, nhưng tiếng nói rõ ràng. Cô hẳn có dây thanh quản ưu tú. Cô cho biết đang tham gia câu lạc bộ quần vợt ở trường đại học. Bố mẹ cô thích quần vợt, và cô đã chơi quần vợt với họ suốt từ khi còn nhỏ. Nghe có vẻ là một gia đình lành mạnh. Và hẳn là một gia đình hòa thuận. Nhưng tôi thì hầu như không bao giờ chơi quần vợt, nên đã không tán chuyện quần vợt với cô được. Tôi thích nhạc jazz, nhưng cô thì hầu như không biết gì về jazz. Vì vậy, thật khó mà tìm cho ra đề tài chung để nói chuyện. Dù vậy, cô ấy bảo muốn biết về nhạc jazz, nên tôi bắt đầu nói về Miles Davis và Art Pepper, và tôi quan tâm đến nhạc jazz như thế nào, điều gì đã thu hút tôi đến với jazz. Cô ấy lắng nghe một cách nhiệt thành, nhưng tôi không chắc cô thực sự hiểu được bao nhiêu. Sau đó, tôi đưa cô đến ga tàu điện và chúng tôi tạm biệt.

Khi từ biệt, cô ấy cho tôi số điện thoại ký túc xá của cô. Cô ấy viết số điện thoại xuống một trang giấy trắng trong sổ tay của mình, xé ra một cách gọn gàng mà đưa cho tôi. Nhưng rốt cuộc tôi đã không bao giờ gọi cho cô ấy.

Vài ngày sau, tôi gặp lại người bạn đã rủ tôi đi hẹn hò chung, và anh ta ngỏ lời xin lỗi.

“Tớ xin lỗi đã dẫn đến cho cậu cô gái xấu xí hôm nọ”, anh ta nói. “Thật ra thì định giới thiệu một cô rất xinh kia, nhưng vào phút cuối đã có chuyện gấp rút khiến cô kia phải bỏ cuộc, vì vậy chúng tớ đã phải nhờ cô ấy thay thế. Bởi chẳng còn ai khác nữa trong ký túc xá vào lúc đó. Bạn gái tớ cũng muốn nói xin lỗi cậu. Lần sau tớ sẽ đền bù cho cậu đàng hoàng.”

Sau khi bạn tôi nói vậy, tôi cảm thấy mình nên gọi điện thoại cho cô ấy. Quả thật cô ấy không đẹp, nhưng cũng chẳng phải chỉ đơn thuần là “một cô gái xấu xí”.  Có chút khác biệt giữa hai tính cách ấy, mà tôi không muốn bỏ qua. Không biết nên diễn đạt như thế nào, nhưng đối với tôi, đó là một vấn đề khá quan trọng. Vấn đề tình cảm đấy. Mặc dù có lẽ tôi không bao giờ muốn cô ấy làm người yêu của mình, nhưng gặp lại nói chuyện với cô ấy một lần nữa cũng được. Tôi không biết nên nói chuyện gì, nhưng thế nào cũng phải có chuyện gì đó để nói với nhau chứ. Dù chỉ để đừng bỏ mặc cô ấy bị xem chỉ là “một cô gái xấu xí” mà thôi.

Thế nhưng tôi không sao tìm thấy tờ giấy ghi số điện thoại của cô ấy nữa. Tôi nhớ đã cất trong túi áo khoác, nhưng tìm mãi không thấy đâu. Có thể tôi đã vô tình nhầm lẫn mà vứt đi cùng với mớ biên lai gì đấy không cần đến nữa. Có lẽ lý do chỉ là như thế thôi. Dù sao đi nữa thì tôi cũng đã không thể gọi điện thoại cho cô ấy. Nếu tôi hỏi người bạn thì anh ta có thể cho biết số điện thoại của ký túc xá cô ấy, nhưng tôi đâm ngại chuỗi lời qua tiếng lại dai dẳng phiền toái dự đoán được từ phản ứng của anh ta, nên đã thôi đi.

Sau đấy một thời gian dài, tôi quên bẵng toàn bộ chuyện đó, mà cũng chẳng có gì gợi nhớ lại nữa. Nhưng lúc này đây khi viết về F*, về dung tư của cô ấy, đột nhiên chuyện ngày xưa đó sống lại trong trí tôi thật sống động.

Vào cuối mùa thu năm tôi hai mươi tuổi, tôi đã có một buổi hẹn hò duy nhất với một cô gái không mấy hấp dẫn, và chúng tôi đã đi dạo trong công viên khi ngày sắp hết. Lúc cùng uống cà phê, tôi đã giải thích cặn kẽ cho cô ấy những điểm tinh tế của cây kèn alto-saxo trong tay nhạc sĩ Art Pepper, đôi khi thổi ra âm thanh chói tai độc đáo tuyệt vời. Tôi đã hào hứng nhấn mạnh rằng đấy không phải là tiếng nhạc tình cờ lạc điệu, mà là một lối “biểu-hiện” quan trọng về trạng huống tâm lý của anh ấy (Vâng, lúc đó tôi thực sự đã dùng biểu hiện đúng từng chữ như thế đấy). Thế rồi lúc chia tay cô ấy đã ghi số điện thoại vào mảnh giấy, thế mà tôi đã đánh mất, vĩnh viễn. “Vĩnh viễn” thì khỏi cần phải nói, là một khoảng thời gian dài lắm.

*

Cả hai chuyện ấy đều không là gì hơn một cặp sự kiện nho nhỏ đã xảy ra trong cuộc đời tầm thường nhỏ nhoi của tôi. Ngày nay nhìn lại thì chỉ như đôi lần ghé qua ngắn ngủi trên đường đời. Giả dụ chúng đã không xảy ra đi nữa, có lẽ đời tôi cũng chẳng khác đi bao nhiêu so với hiện tại. Nhưng dù vậy, những ký ức ấy đôi lúc lại trở về với tôi, hẳn là trải qua một đoạn đường thật dài thật xa để đến đây. Và khi đến nơi, lại làm rung chuyển tim tôi mãnh liệt đến mức không thể nào tin nổi. Giống như cơn gió bão trong đêm cuối mùa thu thổi giật mãnh liệt, cuốn xoáy đám lá cây trong rừng, san phẳng cánh đồng lau, và nện tưng bừng vào cửa nhà người ta.

Phạm Vũ Thịnh dịch

Sydney 25 Sep. 2025

bài đã đăng của Haruki Murakami

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)