LTS: The Satanic Verses (Những Vần Thơ Quỷ) là cuốn tiểu thuyết thứ tư của nhà văn Anh gốc Ấn Salman Rushdie. Được xuất bản lần đầu vào tháng 9 năm 1988, cuốn sách lấy cảm hứng từ cuộc đời của nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad. Cũng như những tác phẩm trước đó của ông, Rushdie sử dụng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cùng lúc dựa trên các sự kiện và cá nhân lịch sử cũng như trong xã hội đương thời để tạo ra các nhân vật và tình tiết cho tác phẩm mà ranh giới giữa hư và thực, tiểu sử và tiểu thuyết trở thành bấp bênh. Những đoạn trong tiểu thuyết liên quan đến “những vần thơ quỷ” được dựa trên lời kể của hai học giả Hồi giáo nổi tiếng người Ba tư có thật trong lịch sử, là al-Waqidi và al-Tabari, về ba nữ thần Mecca ngoại giáo: Allāt, al-Uzza và Manāt.
Người Hồi giáo tin rằng nhà tiên tri Muhammad đã được thiên thần Gibreel – Gabriel trong tiếng Anh – viếng thăm trong hai mươi hai năm và truyền đọc những lời của Chúa cho ông. Đến lượt mình, Muhammad lặp lại những lời đó với những tín đồ của mình. Những lời này đã được viết xuống và sau đó trở thành những chương sách của Kinh Qur’an.
Cuốn tiểu thuyết của Rushdie phản ảnh nhưng đồng thời cũng chất vất những niềm tin căn bản của đạo Hồi giáo. Một trong những nhân vật chính, Gibreel Farishta, có một loạt giấc mơ, trong đó y trở thành thiên thần Gibreel. Trong những giấc mơ này, như lặp lại điển tích truyền thống của Hồi giáo về cuộc gặp gỡ giữa thiên thần Gibreel với Muhammad, Farishta cũng gặp một nhân vật tên là Mahound. Cách đặt tên của Rushdie cho nhân vật Mahound bị coi là có tính cách khiêu khích, vì Mahound là tên gọi miệt thị, đồng nghĩa với quỷ, mà những người theo đạo Cơ đốc thời Trung cổ đã đặt cho tiên tri Muhammad.
Ngoài ra, tiểu thuyết của Rushdie cũng cho Mahound tự tạo ra những sắc lệnh có lợi cho mình nhưng lại bịa ra là đã được thiên thần Gibreel truyền cho, như những đạo luật cho phép đàn ông áp chế phụ nữ.
Tại Vương quốc Anh, The Satanic Verses đã được tiếp nhận nồng hậu, vào chung kết Giải thưởng Booker năm 1988 (nhưng tác phẩm thắng giải là Oscar và Lucinda của Peter Carey) và được Giải thưởng Whitbread (từ năm 2005 đổi tên là giải Costa) dành cho tiểu thuyết xuất sắc nhất của Anh quốc năm 1988. Tuy nhiên, những tranh cãi lớn đã xảy ra sau đó khi người Hồi giáo cáo buộc đây là tội phỉ báng và chế giễu đức tin của họ. Sự phẫn nộ của những người Hồi giáo dẫn đến việc Ayatollah Ruhollah Khomeini, lúc đó là Lãnh tụ Tối cao của Iran, trao án fatwa vào ngày 14 tháng 2 năm 1989, ra lệnh các tín đồ Hồi giáo giết Rushdie. Nhiều vụ khủng bố bằng bom, và các nỗ lực ám sát thất bại đã xảy ra sau đó cho Rushdie. Ông được mật vụ Anh giúp trốn khỏi Anh quốc, sống ẩn danh dưới sự bảo vệ của FBI trong một thời gian dài ở vùng ngoại ô Hoa Thịnh Đốn và các thành phố lân cận ở miền Đông nước Mỹ. Các cuộc tấn công cũng nhắm vào một số thân hữu của Rushdie và các nhà xuất bản quốc tế đã phát hành tiểu thuyết của ông, bao gồm cả vụ ám sát dịch giả Nhật bản là Hitoshi Igarashi.
Tuy tiểu thuyết đã được xuất bản gần bốn thập kỷ trước, vấn nạn kiểm duyệt vẫn xảy ra như lệ thường ở Việt Nam và ngay cả ở một nước được tôn vinh là tự do như Hoa kỳ. Gần đây, một số sách của những nhà văn nổi tiếng người Mỹ da đen như Toni Morrison, Maya Angelou lên án chế độ nô lệ và sự kỳ thị chủng tộc, đã bị giới khuynh hữu làm áp lực với các trường công để cấm không cho lên chương trình giáo huấn, hoặc phổ biến trong các thư viện công cộng. Đồng thời, giới khuynh tả, trong tư cách muốn bảo vệ các phần tử như người da màu, những người khuyết tật, đồng tính. v.v., trước bị ngược đãi nay lại có thể bị chấn động bởi những văn bản có vẻ như “vô tình,” đã kêu gọi trên các mạng xã hội việc tự kiểm duyệt hay tẩy chay một số sách với hình ảnh hoặc ngôn từ “nhạy cảm.” Kết quả là mọi tác phẩm với những tư tưởng “nguy hiểm,” “có vấn đề,” và “rối đạo,” đã bị cả hai nhóm bảo thủ và tự do áp chế.
Da Màu, với sứ mệnh văn chương không biên giới, xin hân hạnh giới thiệu với các bạn bản dịch của Hồ Như, qua sự trích tuyển tinh tế của dịch giả và biên tập công phu của Huy Văn. Với văn phong đầy sắc thái Việt nhưng cũng thể hiện hết sức linh động những đặc tính Anh-Ấn của nguyên bản, Hồ Như đã thành công lôi cuốn độc giả Việt ngữ vào vũ trụ nhiêu khê của Rushdie.
***
Ấn bản đầu tiên (năm 1988) của The Satanic Verses, và chữ ký của Salman Rushdie
CHƯƠNG 1 – GIBREEL (trích đoạn)
Gibreel(1) Farishta (2) đã sinh ra với cái tên Ismail(3) Najmuddin (4) ở Poona (5), Poona thuộc Anh quốc vào giai đoạn cuối của đế quốc Anh, rất lâu trước thời đền Pune của Rajneesh(6) và những thứ đại loại. Ismail theo tên của đứa bé trong vụ tế của Ibrahim(7), và Najmuddin, tức ngôi sao niềm tin. Gibreel đã bỏ đi một cái tên hay như thế khi lấy tên theo vị thiên thần.
Gibreel chọn tên hiệu ấy để tưởng nhớ bà mẹ đã qua đời, “mẹ tôi, người mẹ độc nhất vô nhị của tôi, vì chính bà đầu têu mấy chuyện thiên thần này, bà gọi tôi là farishta, thiên thần của riêng bà, vì rõ là tôi dễ thương quá, tin hay không tùy ý, nhưng tôi quý như vàng”.
Poona không giữ được chân Ismail. Khi còn ẵm ngữa cậu đã được mang đến thành phố hỗn tạp, cuộc di cư đầu tiên của cậu. Cha của cậu kiếm được việc trong số những kẻ nhanh chân cũng là cảm hứng cho những nhóm nhạc bốn người ngồi xe lăn sau này, những người đưa cơm trưa, hay dabbawalla(8) của Bombay. Năm mười ba tuổi, thiên thần Ismail nối gót cha mình.
Cậu thiếu niên mảnh khảnh Ismail Najmuddin, thiên thần của bà mẹ, đội chiếc mũ kiểu Gandhi chạy đưa cà men cơm trưa khắp phố thị. Cậu nhỏ đưa cơm khéo léo len lách qua đám đông vì đã quá quen tình thế. Thử tưởng tượng, đội trên đầu ba mươi bốn cà men cơm xếp trên một khay gỗ dài, mỗi lần xe lửa ngừng chỉ có khoảng một phút để chen lên chen xuống, rồi cắm đầu chạy trên đường giữa xe tải xe buýt xe gắn máy xe đạp và mọi thứ khác, một-hai, một-hai, cơm trưa, cơm trưa, dabba phải qua được, rồi mùa mưa phải chạy dọc theo đường tàu khi xe lửa chết máy, hoặc ngập nước nửa người trên một con phố bị lụt, rồi còn băng đảng nữa, những băng đảng cướp cà men cơm trưa, thành phố đói mà, còn biết nói sao, nhưng dân đưa cơm trị được chúng nó, ở đâu họ cũng có mặt, cái gì cũng biết cả, lũ cướp nào thoát được tai mắt họ, chẳng cần nhờ đến cảnh sát, dân đưa cơm tự lo cho nhau.
Ban đêm, hai cha con mệt khướt trở về túp lều của mình gần phi đạo ở Santacruz(9), và khi mẹ của Ismail trông thấy dáng cậu đang đến, soi rọi trong ánh đèn xanh đỏ vàng của các phi cơ phản lực đang bay lên, bà sẽ nói rằng chỉ nhìn thấy cậu thôi là bà đã thoả lòng mơ ước, dấu hiệu đầu tiên rằng Gibreel có điều gì là lạ, vì dường như ngay từ thuở bé cậu đã có thể thoả mãn những ước muốn thầm kín nhất của người khác dù chính cậu cũng không biết mình đã làm thế bằng cách nào. Najmuddin Bố dường như không hề phiền lòng rằng vợ mình chỉ biết đến con trai, rằng đêm nào chân thằng bé cũng được xoa nắn trong khi chân ông thì không. Một đứa con trai là ơn phước, người được ban phước phải biết tri ân.
Naima Najmuddin qua đời. Bà bị xe buýt tông, thế thôi. Gibreel không có mặt ở đó để đáp lời cầu nguyện sống còn của bà. Hai cha con không ai nói đến đau buồn. Như thể đó là thông lệ, là thường tình, họ lẳng lặng chôn vùi nỗi buồn của mình bằng cách làm việc nhiều hơn, lao mình vào một cuộc tranh đua không nói thành lời, ai mang được trên đầu nhiều dabba hơn, ai tìm được nhiều mối đưa cơm hơn mỗi tháng, ai chạy nhanh hơn, như thể lao động là tỏ bày của tình thương. Buổi tối, khi Ismail Najmuddin nhìn thấy cha mình, cổ và hai bên thái dương chằng chịt những sợi gân, cậu hiểu ông bố đã bực mình với cậu đến dường nào, rằng ông rất tha thiết muốn đánh bại cậu để chiếm lại vị thế số một đã bị chiếm mất trong tình cảm của người vợ quá cố. Hiểu ra rồi, người con bớt tranh đua, nhưng ông bố vẫn hăng hái không ngừng, và không lâu sau ông được thăng chức, không còn chỉ là người chạy đưa cơm mà là muquadam(10) lo việc tổ chức. Khi Gibreel mười chín tuổi, Najmuddin Bố trở thành thành viên của hiệp hội đưa cơm trưa, Hiệp hội Đưa Cơm Trưa Bombay, và khi Gibreel hai mươi tuổi, bố cậu qua đời, chết quay trong một cơn đột quỵ suýt chút là nổ banh người ông. Chính Tổng Thư ký của Hiệp hội Babasaheb(11) Mhatre đã nói: “Hắn chạy thẳng xuống mồ rồi. Tội nghiệp, hắn chạy đến tàn hơi luôn.” Nhưng cậu nhỏ mồ côi biết rõ hơn. Cậu biết là rốt cuộc cha cậu đã cắm đầu cắm cổ chạy nhanh đủ lâu để xoi mòn những rào cản giữa hai thế giới, rằng ông đã chạy thoát ra ngoài da thịt mình vào vòng tay của người vợ, người vợ ông đã tuyệt đối chứng tỏ tình yêu số một của mình với bà. Có những di dân vui vẻ ra đi.
Babasaheb Mhatre ngồi trong văn phòng màu xanh dương sau cánh cửa màu xanh lá cây trên một khu chợ chằng chịt như mê trận. Ông có dáng dấp đáng nể, mập mạp như Bồ Tát, một trong những thế lực quan trọng của phố thị, có khả năng siêu nhiên là tuy hoàn toàn bất động, không hề nhúc nhích rời phòng mà lại có mặt ở mọi nơi quan trọng và gặp mọi người thế lực ở Bombay. Ngày kế sau ngày cha của cậu Ismail chạy băng qua biên giới để gặp Naima, Babasaheb gọi cậu đến gặp ông. “Sao hả? Buồn không, hay là …?” Cậu trả lời, mắt nhìn xuống đất: ji (12), cám ơn ngài, Babaji (13), con không sao. “Im đi,” Babasaheb Mhatre nói, “từ hôm nay con ở với ta”. Như … như… nhưng, Babaji …. “Không nhưng nhiếc gì cả. Ta đã cho vợ ta biết rồi. Ta lên tiếng rồi đó.” Xin lỗi Babaji, nhưng chuyện chi con không hiểu. “Ta đã lên tiếng rồi.”
Babasaheb không hề nói với Gibreel Farishta lý do ông quyết định rủ lòng thương cậu và lôi cậu ra khỏi tương lai mờ mịt trên đường phố, nhưng sau đó cậu dần hiểu ra. Bà Mhatre ốm nhom, trông như cây bút chì bên cục nhôm Babasaheb, nhưng bà tràn đầy tình mẫu tử đến nỗi lẽ ra bà phải tròn như củ khoai tây. Khi Baba về nhà, bà tự tay đút món ngọt cho ông, và đêm đêm thành viên mới của gia đình nghe tiếng ông Tổng Thư Ký cao trọng của Hiệp hội Đưa Cơm Trưa Bombay cự nự: Mình bỏ tay ra nào, tôi tự thay quần áo được. Trong bữa điểm tâm, bà đút cho ông từng muỗng mạch nha lớn, và chải tóc cho ông trước khi ông đi làm. Họ không có con, và cậu Najmuddin hiểu là ông muốn cậu giúp chia sẻ gánh nặng. Điều khá lạ lùng là Begum (14) lại không xem cậu nhỏ là con nít. Khi ông Mhatre đáng thương van nài “Cho thằng nhỏ ăn muỗng mạch nha khỉ gió này đi”, bà bảo chồng “ông thấy đó, cậu ấy lớn rồi”. Đúng thế, một người lớn, “mình ạ, không nên nuông chiều, phải tập cho cậu ấy thành đàn ông”. Babasaheb bực quá nổ bùng lên: “Quỷ thần ơi, vậy tại sao bà lại làm thế với tôi?” Bà Mhatre oà khóc. “Nhưng ông là tất cả của tôi. Ông là cha, là người yêu, cũng là con cái của tôi. Ông là vị chúa tể mà cũng là đứa con còn bú của tôi. Nếu tôi không làm vừa lòng ông thì tôi sống có nghĩa gì.”
Babasaheb chịu thua và nuốt muỗng mạch nha.
Ông là người tốt bụng, nhưng vờ vịt la hét mắng mỏ. Để an ủi cậu bé mồ côi, khi nói chuyện với cậu trong văn phòng màu xanh dương của mình, ông sẽ nói đến triết lý luân hồi, thuyết phục cậu rằng cha mẹ cậu đã có thời khoá biểu trở lại đâu đó, dĩ nhiên trừ phi cuộc đời họ thánh thiện đến mức họ thoát được vòng luân hồi. Như thế Mhartre chính là người gieo mầm mống chuyện luân hồi cho Farishta, và không chỉ là chuyện luân hồi. Babasaheb từng là nhà ngoại cảm nghiệp dư, người vỗ chân bàn và mang hồn vía vào ly. “Nhưng ta đã bỏ rồi,” ông bảo cậu nhỏ được ông giúp đỡ với rất nhiều cử chỉ, nhăn nhó, luyến láy đầy kịch tích thích hợp cho tình thế lúc ấy: “sau khi ta bị một mẻ sợ nhớ đời.”
Mhatre kể, có lần một linh hồn viếng ly rất sẵn sàng cộng tác, vô cùng thân thiện, nên ta nghĩ đến việc hỏi đến những câu hỏi trọng đại, Có Thượng đế không, và cái ly đang chạy vòng vòng như chuột nhắt hoặc con gì đại loại bỗng dừng sững lại ngay giữa bàn, không nhúc nhích, hoàn toàn không cục cựa. Vậy nên ta nói, được rồi, nếu bạn không muốn trả lời câu đó thì thử câu này xem, rồi ta nói luôn, Có Quỷ không. Thế rồi a-lê-hấp cái ly bắt đầu lắc lư – nghe cho kỹ đây! – mới đầu chầm chậm, rồi nhanh hơn nhanh hơn nữa như miếng thạch dẻo, cho đến khi nó nhảy lên khỏi cái bàn – ối chu choa – bắn lên không trung, rồi rớt nằm ngang và – ô hô ai tai – vỡ vụn ra nghìn mảnh. Tin hay không tùy con, ông bảo cậu nhỏ, nhưng ngay lúc đó ta học được bài học: đừng nhúng mũi vào chuyện mình không hiểu nổi.
Câu chuyện ghi dấu ấn đậm nét trong nhận thức của cậu nhỏ, vì ngay cả trước khi mẹ cậu qua đời, cậu đã tin có một thế giới siêu hình. Thỉnh thoảng, khi cậu nhìn quanh, nhất là trong cái nóng của buổi chiều khi không gian đặc nhão lại, thế giới hữu hình, những đường nét, những sinh vật, những sự vật của nó dường như chĩa lên không trung như vô số băng hà nóng, và cậu cho rằng mọi thứ tiếp nối phía dưới bề mặt sền sệt của không khí: cậu không nhìn thấy được chín phần mười hiện thực của người ta, xe hơi, chó, áp-phích phim ảnh, cây cối. Cậu chớp mắt, ảo giác sẽ phai đi, nhưng cảm nhận của ảo giác vẫn còn mãi. Cậu lớn lên với lòng tin Thượng đế, thiên thần, ác quỷ, thần linh, tà ma, mặc nhiên như tin chiếc xe bò hoặc cột đèn đường, và cậu cho rằng chính tại vì thị giác kém của cậu mà cậu chưa bao giờ nhìn thấy ma. Cậu vẫn mơ gặp được một bác sĩ đo mắt thần kỳ để cậu có thể mua của ông một cặp kính nhuộm màu xanh lá cây (15) có thể chữa tật mắt đáng tiếc của mình, sau đó cậu có thể nhìn xuyên qua làn không khí đậm đặc chói loá đến thế giới tuyệt vời phía dưới.
Cậu đã nghe người mẹ Naima Najmuddin kể rất nhiều chuyện về nhà Tiên Tri, và nếu chuyện bà kể có lẫn lộn những điều sai lạc, cậu cũng không cần biết đến chúng. Cậu nghĩ: “Một người đáng nể làm sao! Có thiên thần nào mà không mong được nói chuyện với ông?” Tuy thế, đôi khi cậu bắt gặp mình đang có những tư tưởng bất kính, chẳng hạn như khi cậu đang thiếp dần vào giấc ngủ trên cái giường nhỏ ở nhà ông Mhatre, tuy không cố tình nhưng trong hoang tưởng mơ màng cậu so sánh tình cảnh của mình giống cảnh ngộ của nhà Tiên Tri (16) lúc mồ côi nghèo túng đã nỗ lực thành công trong việc quản lý kinh doanh cho bà quả phụ giàu có Khadija rồi sau đó cưới luôn bà. Chìm vào giấc ngủ, cậu thấy mình ngồi trên một cái bệ rải hoa hồng, miệng nhoẻn nụ cười thẹn thùng dưới tấm sari-pallu(17) cậu đã e ấp quàng che khuôn mặt, trong lúc tân lang của cậu là Babasaheb Mhatre âu yếm giơ tay gỡ làn vải và ngắm dung nhan cậu qua tấm gương đặt trên đùi ông (18). Giấc mơ kết hôn với Babasaheb làm cậu choàng tỉnh, người nóng bừng hổ thẹn, và từ đó cậu bắt đầu lo lắng về sự nhơ bẩn trong con người của cậu đã tạo ra những hình ảnh khủng khiếp dường ấy.
Tuy thế, phần lớn niềm tin đạo giáo của cậu không nồng nhiệt lắm, một phần con người cậu không cần chú tâm đặc biệt hơn những phần khác. Việc Babasaheb Mhatre mang cậu về nhà ông xác nhận với cậu thiếu niên rằng cậu không lẻ loi trên thế gian, rằng có điều gì đó đang chăm lo cho cậu, vì thế cậu không ngạc nhiên lắm khi Babasaheb gọi cậu đến văn phòng màu xanh dương của ông vào ngày sinh nhật hai mươi mốt tuổi của cậu để cho cậu thôi việc, thậm chí không buồn nghe đến một lời van nài.
“Con bị đuổi việc rồi,” Mhatre tươi cười nhấn mạnh. “Sòng đã trả xong tiền, đã thu hết phỉnh. Cho ra về.”
“Nhưng bác à,”
“Im miệng đi.”
Rồi Babasaheb cho cậu bé mồ côi món quà lớn nhất của cuộc đời cậu, báo cho cậu biết rằng cậu có cuộc hẹn ở phim trường của huyền thoại trùm điện ảnh D.W.Rama: một cuộc thử tài năng. Babasaheb nói: “Thử dáng vẻ bề ngoài thôi. Rama là bạn thân của ta, và đã cùng ta bàn tính. Mới đầu là một vai nhỏ thôi, rồi tùy sức của con. Giờ thì cút cho khuất mắt, đừng ra vẻ khiêm nhường nữa, không hợp đâu.”
“Nhưng bác à,”
“Mấy đứa như con mặt mũi đẹp đẽ quá làm sao đội cà men trên đầu cả đời được. Đi ngay đi, đi làm diễn viên điện ảnh đồng tính. Ta đã đuổi việc con năm phút trước rồi.”
“Nhưng bác à,”
“Ta đã lên tiếng rồi. Cám ơn vận may của con đó.”
o0o
Anh trở thành Gibreel Farishta. nhưng sau bốn năm vẫn chưa trở thành ngôi sao, chỉ học việc với nhiều vai hài nho nhỏ. Anh bình tâm, không vội vã, như thể nhìn thấy được tương lai, và vì anh không ra vẻ tham vọng, anh trở nên lạc lõng trong ngành nghề săn tìm tư lợi bậc nhất. Người ta cho anh là ngu hoặc tự cao hoặc là cả hai. Đã thế, suốt bốn năm chưa đâu vào đâu đó, anh không hôn được lên môi một phụ nữ nào.
Trên màn ảnh, anh diễn vai thất bại, thằng khờ yêu giai nhân mà không nhận ra rằng muôn đời thì nàng cũng không thèm ngó đến mình, người chú bác khôi hài, người bà con nghèo, thằng ngốc của cả làng, tên đầy tớ, kẻ gian mà không ngoan, loại vai không xứng cho một cảnh yêu đương. Phụ nữ đá anh, tát anh, trêu anh, cười nhạo anh, nhưng trong phim thì không bao giờ nhìn đến anh hoặc hát cho anh nghe hoặc nhảy múa quanh người anh với đôi mắt đang diễn trò yêu đương. Ngoài đời thực, anh sống một mình trong hai phòng trống gần mấy phim trường và cố tưởng tượng phụ nữ khi khoả thân thì trông như thế nào. Để tránh nghĩ đến tình yêu và nhục dục, anh tự học lung tung, ngốn ngấu những huyền thoại nhiều biến hoá của Hy Lạp và La Mã, những hoá thân của Jupiter, cậu bé biến thành đoá hoa(19), người nữ nhện Circe, tất cả mọi thứ; thuyết nhân trí của Annie Besant, lý thuyết trường thống nhất (20), vụ thơ Quỷ khi nhà Tiên Tri mới khởi nghiệp, chuyện chính trị trong hậu cung của Muhammad sau khi ông từ Mecca chiến thắng trở về; chủ nghĩa siêu thực của những tờ báo, trong đó có chuyện bướm bay vào miệng những cô bé để hiến thân làm thức ăn, trẻ con sinh ra không có mặt mày, và những cậu bé nằm mơ đến những kiếp trước rõ ràng không thể tưởng, chẳng hạn như một thành trì bằng vàng đầy những viên đá quý. Anh tự nhồi nhét những chuyện chỉ có Trời mới biết là chuyện gì, nhưng những lúc về sáng trong những đêm mất ngủ, anh phải thú nhận rằng anh tràn đầy một thứ chưa hề được dùng, thứ anh chưa biết phải dùng như thế nào, đó là tình yêu. Trong những giấc mơ, anh bị những phụ nữ xinh đẹp ngọt ngào chịu không nổi hành hạ, nên anh thà thức không ngủ và buộc mình rèn luyện một phần kiến thức tổng quát để xoá đi cảm giác thê lương rằng mình có khả năng yêu đương nhiều hơn bình thường mà lại chẳng có ai để hiến dâng.
Cú đột phá của anh đến cùng với những cuốn phim về thần học. Một khi công thức làm phim dựa vào kinh Phạn, thường thêm thắt phần ca hát, nhảy múa, chú bác khôi hài, v.v đã thành công, tất cả thần nam hay nữ đều có dịp biến thành ngôi sao. Khi D.W.Rama sắp xếp lịch trình sản xuất cho một cuốn phim dựa trên truyện của Ganesh(21), không có tên tuổi nào đang dẫn đầu số vé bán vào lúc ấy chịu đóng cả cuốn phim trong một cái đầu voi. Gibreel chụp lấy cơ hội. Đó là cuốn phim ăn khách đầu tiên của anh tên Ganpati (22) Baba, và đột nhiên anh trở thành siêu sao, nhưng chỉ trong lúc đeo cái vòi và hai tai. Sau khi đóng vai ông thần đầu voi trong sáu cuốn phim, anh được phép cởi cái mặt nạ xám dầy cộm lắc lư, nhưng rồi lại đeo một cái đuôi dài lông lá để đóng vai vua khỉ Hanuman trong một loạt phim phiêu lưu giống một số phim bộ rẻ tiền của Hong Kong hơn là sử thi Ramayana(23). Loạt phim này được ưa chuộng đến mức mốt đuôi khỉ trở thành bắt buộc cho các cậu trai Bombay trong các buổi hội họp thường có mấy cô học trường nhà dòng với biệt danh “pháo nổ” vì lúc nào các cô cũng sẵn sàng xả láng.
Sau loạt phim Hanuman, Gibreel ào ào thẳng tiến. Sự thành công phi thường của anh tô đậm thêm niềm tin rằng anh có một thiên thần hộ mạng, nhưng nó cũng dẫn đến một tiến triển đáng tiếc hơn.
Ngay từ trước khi anh thay cái đầu giả bằng cái đuôi giả, anh đã trở nên quyến rũ khó cưỡng đối với phụ nữ. Sự mê hoặc bắt nguồn từ tăm tiếng của anh mạnh mẽ đến mức nhiều cô xin anh đeo mặt nạ Ganesh trong lúc ân ái, nhưng kính trọng phẩm giá của vị thần, anh từ chối. Sự ngây thơ trong giáo huấn của anh khiến lúc ấy anh không thể phân biệt phẩm chất với số lượng và cảm thấy cần bù đắp thời gian đã mất. Anh có nhiều bạn tình đến mức anh thường quên tên của họ ngay cả khi họ chưa rời phòng anh. Chẳng những anh trở thành loại phóng đãng tệ mạt nhất, nhưng anh còn học được nghệ thuật giả dối, vì người diễn vai thần thánh phải toàn hảo. Anh khéo giấu cuộc đời tai tiếng và trác táng của mình đến nỗi khi ông chủ trước kia của anh là Babasaheb Mhatre sắp chết, mười năm sau khi ông đưa cậu thanh niên đưa cơm trưa vào thế giới của ảo giác, tiền xã hội đen và nhục dục, nài nỉ anh lấy vợ để chứng tỏ anh là đàn ông. “Ta xin con,” ông van nài, “khi ta bảo con đi thành đồng tính ta đâu ngờ con tưởng thực, có kính người già thì cũng vừa vừa thôi.” Gibreel giơ hai tay lên trời và thề rằng anh không phải cái loại nhơ bẩn ấy, rằng khi gặp người ưng ý thì dĩ nhiên anh sẽ hăng hái kết hôn. “Con chờ cái gì chứ? Nữ thần trên trời chăng? Greta Garbo, Gracekali (24), ai hả?” ông già vừa la vừa ho ra máu, nhưng Gibreel chỉ mỉm cười bí hiểm khiến ông qua đời mà không hoàn toàn yên dạ.
(Còn tiếp)
_______________________________
Chú thích:
(0) Tác giả dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau cho một số khái niệm và tên nhân vật trùng lặp trong nhiều tôn giáo và văn hóa. Chú thích trong bản dịch này sẽ phần lớn dùng phiên bản tiếng Anh. Tuy thế, những tên phiên âm từ tiếng Ả Rập có thể có nhiều phiên bản tiếng Anh khác nhau.
(1) Gabriel, thiên sứ quan trọng nhất của Hồi giáo, đã truyền lại lời Thượng Đế (Allah) cho nhà Tiên Tri Muhammed trong hai mươi hai năm.
(2) Farishta có nghĩa là “thiên thần” trong ngôn ngữ Farsi (Iran và khu vực bắc Ấn) và Hindi (Ấn).
(3) Ishmael, con của Abraham, tổ tiên trong Do Thái giáo, Ki-Tô giáo, Hồi giáo và một số tôn giáo khác.
(4) chữ Ả Rập có nghĩa là “ngôi sao niềm tin”.
(5) Pune, một tỉnh thuộc bang Maharashtra của Ấn Độ.
(6) Một guru (bậc thầy tâm linh) của Ấn Độ (1931-1990) tạo được tiếng vang trong thập niên 1960 và được cho là có ảnh hưởng trong phong trào New Age ở Tây phương.
(7) Abraham. Vụ tế trong câu này chỉ đến việc Abraham sẵn lòng tuân lời Thượng Đế để tế con trai của mình là Isaac.
(8) “Người giao (walla) cà men cơm trưa (dabba)” trong tiếng Hindi.
(9) Một khu phố của Bombay.
(10) Chức quản lý hay đốc công.
(11) Một danh xưng để tỏ lòng tôn kính: baba (cha) và saheb (tiếng thưa gửi).
(12) Dạ thưa.
(13) Một danh xưng để tỏ lòng tôn kính: baba (cha) và ji (tiếng thưa gửi).
(14) Danh xưng dành cho phụ nữ Hồi giáo có địa vị xã hội cao.
(15) Tiên tri Muhammad của Hồi giáo.
(16) Dùng ý tưởng từ truyện thiếu nhi The Wizard of Oz của L. Frank Baum.
(17) Sari, y phục phụ nữ Ấn, có một tấm khăn lớn để thắt quanh người và một đoạn rời thường vắt ngang vai.
(18) Một trong những thông lệ của đám cưới Hồi giáo: cô dâu và chú rể nhìn mặt nhau trong tấm gương trên đùi họ.
(19) Narcissus trong thần thoại Hy Lạp.
(20) Unified field theory.
(21) Một vị thần Hindu mình người đầu voi.
(22) Một tên khác của Ganesh.
(23) Một trong hai sử thi quan trọng nhất của Ấn Độ cổ đại (cuốn thứ hai là Mahabharata).
(24) Grace Kelly.