Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

TRÍCH ĐOẠN “NHỮNG VẦN THƠ QUỶ” (Chương 4)

♦ Chuyển ngữ: 0 bình luận ♦ 12.08.2022

Chọn và chuyển ngữ: Hồ Như
Biên tập: Huy Văn

 

 

CHƯƠNG 4 – AYESHA (trích đoạn)

Vào buổi sáng định mệnh của ngày sinh nhật thứ bốn mươi của địa chủ(1) Mirza Saeed Akhtar, trong một căn phòng đầy bướm, anh ngắm người vợ đang ngủ của mình, cảm thấy trái tim tràn ứ tình yêu đến mức gần vỡ tung. Khác với lệ thường, hôm nay anh tỉnh dậy sớm, trước khi bình minh đến, vì một cơn ác mộng khiến miệng anh đắng chát, cơn mơ anh thường mơ thấy về ngày tận thế, trong mơ thể nào anh cũng là người gây họa. Tối hôm trước anh đã đọc sách của Nietzsche – “kết cuộc ác nghiệt của sinh vật nhỏ bé vượt quá sức mình có tên Con Người” – và ngủ thiếp đi với cuốn sách úp trên ngực. Bước đi trong tiếng cánh bướm lao xao trong phòng ngủ tối mờ mát dịu, anh giận mình đã dại dột chọn đọc cuốn sách ấy trước khi ngủ. Tuy nhiên, giờ thì anh đã tỉnh ngủ hẳn. Nhẹ nhàng trở dậy, anh luồn chân vào đôi dép(2) và chậm rãi đi dọc theo hàng hiên vẫn còn tối của dinh thự vì màn sáo chưa được cuốn lên, những con bướm chập chờn sau lưng anh như những cận thần. Xa xa, ai đó đang thổi sáo. Mirza Saeed kéo màn sáo lên và cột dây. Khu vườn chìm trong làn sương dầy, xuyên qua làn sương ấy là những đám mây bướm uốn lượn, làn sương này cắt ngang làn sương kia. Từ trước đến nay, vùng đất hẻo lánh này vẫn nổi tiếng nhờ bướm, những đàn bướm kỳ diệu phủ kín không gian cả ngày lẫn đêm, bướm có tài chuyển sắc, đôi cánh biến màu khi đậu xuống hoa đỏ, màn cửa vàng cam, ly đá đen lánh(3) hoặc nhẫn hổ phách. Trong dinh thự của ông địa chủ, và trong ngôi làng kế bên, phép lạ bướm đã trở thành quen thuộc đến nỗi dường như tầm thường, nhưng thực ra, theo trí nhớ của các bà giúp việc, bướm chỉ mới trở lại vùng này mười chín năm trước. Bướm là linh thú(4), hoặc theo truyền thuyết là linh thú của một vị thánh địa phương, vị nữ thánh chỉ được biết với tên gọi Bibiji(5) đã sống thọ hai trăm bốn mươi hai tuổi và mộ phần của bà, cho đến khi không còn ai nhớ nó nằm ở đâu, có thể chữa bệnh bất lực của đàn ông và mụn nhọt. Từ một trăm hai mươi năm trước khi Bibiji qua đời, bướm như chính Bibiji đã biến mất vào cùng cõi huyền thoại, thế nên khi chúng trở lại đúng một trăm lẻ một năm sau, thoạt tiên đó dường như là điềm báo rằng một việc tuyệt diệu sắp xảy ra. Phải nói ngay là sau cái chết của Bibiji, ngôi làng vẫn tiếp tục thịnh vượng, khoai tây vẫn được mùa, nhưng nhiều tâm hồn mang một khoảng trống, cho dù dân làng hiện nay không có ký ức nào về vị thánh xưa kia. Vì thế việc bướm trở lại khiến nhiều người phấn khởi, nhưng khi những điều tuyệt vời họ chờ đợi không xảy ra, dân địa phương dần chìm lại vào sự thiếu thốn của cuộc sống hàng ngày. Cái tên Peristan(6) của dinh thự của ông chủ đất có thể đã bắt nguồn từ đôi cánh thần tiên của những tạo vật kỳ diệu, và tên Titlipur(7) của làng thì chắc chắn đã bắt nguồn từ đó. Nhưng những cái tên, một khi đã dùng thường xuyên, nhanh chóng chỉ còn là những âm thanh, và ý nghĩa nguyên thủy của chúng, như rất nhiều điều phi thường của trái đất, đã bị vùi sâu dưới lớp bụi thói quen. Những người dân của Titlipur và đàn bướm của họ sống hòa trộn trong một sự khinh khỉnh tương quan. Dân làng và gia đình chủ đất đã từ lâu không còn tìm cách ngăn bướm vào nhà họ, thế nên giờ đây mỗi khi có một cái rương mở nắp, một đám bướm sẽ bay ra như những tiểu yêu của Pandora, vừa bay lên vừa chuyển sắc; có bướm dưới bàn cầu tiêu đậy nắp ở Peristan, trong mọi tủ áo, giữa những trang sách. Khi ngủ dậy người ta thấy bướm đậu trên má mình.

Việc thường tình dần dà thành vô hình, và Mirza Saeed đã không chú ý đến bướm từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, vào buổi sáng ngày sinh nhật bốn mươi tuổi của anh, khi ánh bình minh đầu tiên chạm đến căn nhà và những con bướm lập tức ngời sáng, vẻ đẹp của khoảnh khắc ấy khiến anh choáng ngợp. Anh chạy ngay đến phòng ngủ bên chái nữ(8), nơi vợ anh là Mishal đang ngủ trong khung màn che muỗi. Những con bướm kỳ diệu đang đậu trên những ngón chân trần của cô, và rõ là một con muỗi cũng đã tìm được lối vào, vì có một hàng vết cắn nho nhỏ dọc theo đường xương cổ nhô lên của cô. Anh muốn nhấc tấm màn, chui vào và hôn những vết cắn cho đến khi chúng mờ đi. Trông chúng tấy lên kìa! Khi cô thức dậy chúng sẽ ngứa lắm đây! Nhưng anh kềm mình lại, muốn chiêm ngưỡng vẻ ngây thơ trong dáng nằm ngủ của cô. Tóc cô mềm, màu nâu đỏ, da cô rất trắng, đôi mắt cô màu xám mượt mà sau hàng mi nhắm. Cha cô là giám đốc ngân hàng nhà nước, vì thế cô đã là mối lương duyên khó cưỡng, cuộc hôn nhân mai mối đã phục hồi gia sản của dòng họ Mirza cổ xưa đang lụn tàn, rồi chín muồi qua năm tháng thành một kết hợp yêu đương chân thật, dù họ không thể có con. Tràn đầy cảm xúc, Mirza Saeed ngắm Mishal ngủ và đuổi đi mảnh vụn cuối cùng của cơn ác mộng khỏi tâm trí. Anh mãn nguyện lý luận với chính mình: “Làm sao có tận thế, khi vẫn còn những điều toàn hảo như buổi sáng đáng yêu này?”

Tiếp tục dòng tư tưởng hạnh phúc, anh hình thành những lời thinh lặng với người vợ đang ngủ: “Mishal, anh bốn mươi tuổi và mãn nguyện như đứa trẻ bốn mươi ngày. Anh nhận ra là qua năm tháng anh đã càng lúc càng đắm sâu hơn vào tình yêu của chúng ta, giờ đây anh như con cá bơi trong biển cả ấm áp đó.” Anh ngạc nhiên là cô đã cho anh nhiều đến thế, anh cần cô đến thế! Cuộc hôn nhân của họ không chỉ là nhục dục, mà thân mật đến mức việc cách xa nhau là không tưởng tượng được. Anh nói với cô trong khi cô ngủ: “Sống đến già bên cạnh em sẽ là một đặc ân.” Anh tự cho phép một cử chỉ ủy mị là hôn gió về phía cô rồi nhón gót ra khỏi phòng. Trở ra lại hàng hiên chính của phòng riêng trên lầu của dinh thự, anh nhìn khắp khu vườn đang dần hiện hình khi bình minh xua đi làn sương, và nhìn thấy cảnh tượng sẽ mãi mãi phá hủy sự bình tâm của anh, đập nó tan tành đến vô phương cứu vãn đúng vào giây phút anh chắc chắn nó sẽ không bị hề hấn vì những tàn phá của định mệnh.

Một cô gái trẻ đang ngồi xổm trên bãi cỏ, giơ bàn tay trái ra. Bướm đậu trên lòng bàn tay ấy trong lúc bàn tay phải của cô nhặt chúng bỏ vào miệng. Từ tốn, đều đặn, cô ăn điểm tâm là những đôi cánh thuận tình.

Môi má và cằm cô dính nhiều màu giây ra từ những con bướm sắp chết. Khi Mirza Saeed Akhtar nhìn thấy cô gái ăn bữa điểm tâm mỏng mảnh trên bãi cỏ nhà anh, anh cảm thấy một nỗi thèm muốn nổi lên mạnh mẽ đến nỗi anh lập tức thấy hổ thẹn. Anh tự mắng mình: “Không thể nào. Rốt lại thì mình đâu phải loài thú.” Cô gái trẻ chỉ mặc một chiếc áo sari màu vàng nghệ quấn quanh thân thể, theo kiểu ăn mặc của những phụ nữ nhà nghèo trong vùng, và khi cô cúi xuống những con bướm, chiếc áo sari trễ ra để lộ đôi gò ngực nhỏ trước cái nhìn sững của ông địa chủ. Mirza Saeed giơ tay nắm chặt tay vịn ban công. Có lẽ cô thoáng thấy bộ kurta màu trắng của anh lay động, vì cô vụt ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào mặt anh.

Cô không nhìn xuống ngay. Cũng không đứng lên bỏ chạy, như anh phần nào dự đoán.

Cô làm thế này: đợi vài giây như để xem anh có định nói gì không. Khi anh không nói gì, cô tiếp tục bữa ăn lạ lùng của mình, vẫn không rời mắt khỏi khuôn mặt anh. Điều kỳ lạ nhất là lũ bướm dường như lượn bay xuống từ trên không gian đang dần sáng, vui lòng đến lòng bàn tay giơ ra của cô và cái chết của chúng. Cô nắm phần đuôi nhọn trên hai cánh của chúng, ngửa đầu ra phía sau, và chót lưỡi nhỏ của cô hất chúng vào miệng mình. Có lúc cô không khép miệng, đôi môi thẫm màu hé ra thách thức, và Mirza run lên khi thấy lũ bướm chập chờn trong cái hang tối sẽ là nơi chúng chết đi, nhưng chúng lại không hề tìm cách thoát ra. Khi cô đã biết chắc anh đã nhìn thấy cảnh tượng này, cô khép môi lại và bắt đầu nhai. Họ cứ như thế, cô gái quê bên dưới, địa chủ phía trên, cho đến khi mắt cô bỗng trợn lên và cô ngã xuống cái bịch, người nằm nghiêng bên trái, co giật dữ dội.

Sau vài giây sửng sốt quýnh quáng, Mirza hét lên: “Này, cả nhà dậy đi, có việc gấp!” Cùng lúc, anh chạy về phía cầu thang đường bệ bằng gỗ dái ngựa đã được mang từ nước Anh đến, từ chốn Warwickshire khó hình dung, chốn kỳ ảo nơi Vua Charles Đệ Nhất đã từng đi lên chính những bậc thang này trong một tu viện tối tăm ẩm ướt trước khi bị chém đầu vào thế kỷ thứ mười bảy của một hệ thống thời gian khác. Lao xuống những bậc thang này là Mirza Saeed Akhtar, người cuối cùng của dòng họ mình, dẫm bừa lên dấu vết đôi chân của một hồn ma bị chặt đầu trong lúc anh chạy vội ra sân cỏ.

Cô gái đang bị co giật, nghiến nát bướm dưới thân hình lăn lộn đá đạp của cô. Mirza Saeed đến bên cô trước, tuy rằng gia nhân và Mishal thức tỉnh vì nghe tiếng hét của anh đang ở phía sau không xa lắm. Anh nắm lấy cằm cô gái, cạy nó mở ra, đút vào một cành cây nhỏ gần bên, và cô lập tức cắn cành cây gãy đôi. Miệng cô bị cắt rỉ máu, và anh e rằng cô sẽ cắn lưỡi, nhưng ngay lúc ấy cô hết co giật, êm lại, và ngủ. Mishal sai người mang cô gái vào phòng ngủ của mình, và giờ đây Mirza Saeed buộc phải ngắm nhìn giai nhân đang ngủ thứ nhì trong cái giường ấy, và một lần nữa anh chợt thấy một cảm giác dường như sâu đậm đến mức không thể gọi bằng cái tên thô thiển là thèm muốn. Anh thấy lợm giọng vì ham muốn nhơ bẩn của chính mình, cùng lúc cũng thấy hân hoan vì những cảm giác đang tuôn chảy trong con người mình, những cảm giác mới mẻ khiến anh rất nao nức vì sự mới mẻ của chúng. Mishal đến đứng bên cạnh chồng. Saeed hỏi: “Em có biết con bé không?” và cô gật đầu. “Một cô bé mồ côi. Cô bé làm ra những con thú nhỏ bằng sứ để bán ở quốc lộ(9). Cô bé đã bị bệnh này từ nhỏ.” Mirza Saeed cảm thấy kinh ngạc, như đã cảm thấy nhiều lần, vì cái tài kết nối với người khác của vợ mình. Anh chỉ nhận biết một vài dân làng, nhưng cô thì biết tên thân mật của từng người, lịch sử dòng họ và thu nhập. Họ thậm chí kể cho cô nghe những giấc mộng của mình, tuy rằng chỉ có một vài người nằm mơ nhiều hơn một lần mỗi tháng vì họ quá nghèo không gánh nổi thứ xa xỉ đó. Nỗi yêu thương tràn trề anh cảm thấy lúc bình minh trở lại, anh quàng tay qua vai cô. Cô tựa đầu vào anh và nói nhỏ: “Chúc mừng sinh nhật anh.” Anh hôn lên đỉnh đầu cô. Họ đứng ôm nhau và ngắm cô gái đang ngủ. Vợ anh bảo anh tên cô là Ayesha.

o0o

Sau khi cô bé mồ côi Ayesha đến tuổi dậy thì và trở thành đối tượng thèm muốn của nhiều chàng trai do sắc đẹp khiến người nhìn phải thẫn thờ và vẻ xa vắng của cô, người ta bắt đầu đồn đãi rằng cô đang tìm người yêu là thần tiên vì cô nghĩ rằng đàn ông trần gian không xứng với cô. Những kẻ bị cô từ chối than vãn rằng thực ra mà nói thì cô đâu có cớ gì để ra vẻ kén chọn như thế, thứ nhất là vì cô là trẻ mồ côi, thứ nhì là vì cô bị quỷ động kinh ám, con quỷ này chắc chắn sẽ khiến thần linh chán ghét thay vì thích cô. Thậm chí vài chàng trai cay cú còn gợi ý rằng những khuyết tật của Ayesha sẽ khiến cô không bao giờ có được tấm chồng, cô nên có tình nhân ngay để khỏi phí hoài nhan sắc lẽ ra phải được trao cho một người ít khiếm khuyết hơn. Mặc dù bọn trai trẻ của Titlipur tìm cách biến cô thành gái chơi của họ, Ayesha vẫn trinh trắng, phòng vệ của cô là cái nhìn đến những khoảng không gian ngay phía trên vai trái của mọi người, cái nhìn chăm chú mãnh liệt đến mức thường bị hiểu lầm là sự khinh thường. Rồi thiên hạ nghe chuyện cô có thói quen mới là nuốt bướm và chỉnh lại ý kiến của họ về cô, tin chắc rằng cô bị khùng, do đó không nên ân ái với cô, lỡ quỷ ám tình nhân của cô thì sao. Sau đó những chàng trai đầy dục vọng của làng để mặc cô trong túp lều của cô, một mình với mấy con thú đồ chơi và món thực phẩm chấp chới kỳ lạ của cô. Tuy thế, có một anh chàng hay đến ngồi gần cửa của cô, kín đáo quay mặt về phía ngược lại, như thể đang canh gác, dù cô không còn cần người bảo vệ nữa. Anh ta trước kia thuộc loại tiện dân(10) ở làng Chatnapatna kế cận, đã cải sang đạo Hồi và lấy tên Osman. Ayesha không hề để mắt đến Osman, mà Osman cũng không mong thế. Trên đầu họ, những nhánh cây xanh lá của ngôi làng phe phẩy trong làn gió nhẹ.

Làng Titlipur đã lớn lên trong bóng mát của một cây si(11) khổng lồ, vì vương duy nhất với nhiều nhánh rễ ngự trị trên một khoảng đất gần một ki-lô mét đường kính. Lúc này, cây lớn lên trong làng, làng lớn lên trong cây, hai việc này đã hòa trộn một cách phức tạp đến mức không thể phân biệt. Có những khu vực của cây đã trở thành những chỗ hẹn hò nổi tiếng của tình nhân, những khu vực khác là nơi nuôi gà. Một số người lao động nghèo hơn đã dựng lều chái ở những góc cạnh của các cành cây vững chãi, thực sự sống trong tàng lá dầy. Có cành cây được dùng làm lối đi xuyên qua làng, những cái đu trẻ con làm bằng râu ria của gốc cây lâu năm, và ở những nơi cây cong xuống gần mặt đất thì lá cây tạo thành mái của một đám chòi dường như treo trên cây lá như tổ chim đan. Khi hội đồng làng nhóm họp, họ ngồi trên cành cây lớn nhất. Dân làng đã quen lệ gọi gốc cây bằng tên làng, và gọi làng bằng cái tên đơn giản: “gốc cây”. Những cư dân không thuộc loài người của cây si – kiến mật, sóc, chim cú – được nể trọng như những dân làng. Chỉ có lũ bướm là bị bỏ lơ, như niềm hy vọng đã từ lâu đã lộ vẻ giả dối.

Đây là một làng Hồi giáo, vì thế nên anh chàng cải đạo Osman đã đến nơi này với bộ y phục hề và con bò đực “bùm bùm” sau khi anh theo đạo Hồi vì quá tuyệt vọng, hy vọng rằng đổi sang một cái tên Hồi giáo sẽ có lợi hơn những lần đổi tên trước đây, ví dụ như khi những kẻ tiện dân được đổi tên thành “con cái của Trời.”(12) Là con cái của Trời ở Chatnapatna, anh không được phép lấy nước giếng của thị trấn, vì sự sờ mó của một kẻ bị gạt bên lề sẽ làm nhơ bẩn nước uống. Không có đất dai, và cũng mồ côi như Ayesha, Osman kiếm sống bằng cách làm hề. Con bò đực của anh đội trên sừng hai hình nón bằng giấy màu đỏ chói, và trên lưng trên mũi phủ vải có dây bạc lấp lánh. Anh đi từ làng này qua làng khác diễn trò ở đám cưới và những dịp ăn mừng khác, trong trò diễn con bò đực là người bạn thân thiết nhất mà cũng là kẻ đối nghịch nhất của anh, gật đầu để trả lời khi anh hỏi, gật một cái là “không”, gật hai cái là “đúng.”

Osman sẽ hỏi: “Chúng ta đã đến ngôi làng dễ thương quá hả?”

Bùm, con bò đực không đồng ý.

“Không phải sao? Phải mà. Nhìn xem: chẳng phải người dân tốt lành lắm sao?” Bùm.

“Cái gì? Thế thì đây là một làng toàn kẻ tội lỗi?”

Bùm, bùm.

“Ôi chu choa! Vậy là mọi người sẽ xuống địa ngục hết?” Bùm, bùm.

“Nhưng nè chú em(13), còn chút hy vọng nào không?”

Bùm, bùm, con bò đực chỉ bảo cách cứu rỗi. Osman nao nức cúi xuống, kề tai vào miệng con bò đực. “Nhanh lên, nói xem muốn được cứu rỗi thì họ phải làm gì?” Lúc ấy con bò đực nhấc mũ của Osman ra khỏi đầu anh và ngậm nó đi quanh đám đông để xin tiền, và Osman sẽ vui vẻ gật đầu: bùm bùm.

Ở Titlipur, Osman người cải đạo và con bò đực bùm bùm của anh ta được mến chuộng, nhưng chàng thanh niên chỉ muốn làm vui lòng một người, mà cô lại không chịu. Anh đã thú nhận với cô rằng việc cải đạo Hồi của anh phần lớn là có mục đích chiến lược, “Chỉ để được có nước uống thôi Bibi à, còn biết làm sao hơn?” Cô nổi cáu vì lời thú nhận của anh, nói với anh rằng anh không phải tín đồ Hồi giáo, linh hồn anh đang gặp nguy và nếu anh trở về Chatnapatna và chết khát thì cô cũng chẳng màng. Trong lúc cô nói, gương mặt cô hồng lên trong nỗi thất vọng đối với anh, nỗi thất vọng không rõ vì sao lại dữ dội thế, và chính nỗi thất vọng dữ dội này đã cho anh niềm lạc quan để tiếp tục ngồi, ngày này qua ngày khác, cách nơi cô ở chừng mười bước, nhưng cô vẫn nghênh ngang đi qua chỗ anh ngồi, mũi hếch lên, không cả một tiếng chào buổi sáng hay anh-mạnh-chứ.

Mỗi tuần một lần, những xe chở khoai tây của Titlipur lăn bánh xuống lối mòn hẹp suốt bốn giờ đồng hồ để đến Chatnapatna ở giao lộ của lối mòn và đường quốc lộ. Chatnapatna có những kho chứa cao bằng nhôm sáng loáng của những nhà buôn sỉ khoai tây, nhưng điều này không dính dáng gì đến việc Ayesha đến thị trấn thường xuyên. Cô sẽ đi nhờ một chiếc xe chở khoai, tay nắm chặt một túi vải gai, để mang đồ chơi của cô ra chợ. Chatnapatna nổi tiếng khắp vùng vì những món đồ chơi nho nhỏ cho trẻ con, những món khắc gỗ và những hình thù phết men sứ. Osman và con bò đực của anh đứng ở rìa cây si, nhìn cô lắc lư trên những bao khoai tây cho đến khi cô chỉ còn là một cái chấm nhỏ.

Ở Chatnapatna, cô đi đến chỗ Sri Srinivas, chủ xưởng đồ chơi lớn nhất thị trấn. Trên tường ngoài là những chữ viết không có phép về những thứ chính trị đương thời: Hãy bầu phiếu cho Bàn Tay(14). Hoặc lễ độ hơn: Xin hãy bầu phiếu cho ĐCS(M)(15). Trên những lời thúc giục này là tuyên bố kiêu hãnh: Toy Univas của Srinivas. Châm ngôn của chúng tôi là: Thành tâm & Sáng tạo. Bên trong là Srinivas, một người phốp pháp, đầu hói sáng bóng, khoảng năm mươi tuổi, tuy đã bán đồ chơi cả đời nhưng chưa thành chua chát. Ayesha kiếm sống được là nhờ ông. Srinivas mến tài khắc gỗ của cô đến mức ông thỏa thuận mua hết số hàng cô làm được. Nhưng thay vì vẻ tốt bụng thường lệ, mặt ông tối lại khi Ayesha mở túi hàng cho ông xem hai lố tượng khắc một người đàn ông đội mũ hề, kèm theo một con bò đực được tô vẽ, đầu gắn dây bạc có thể gật gù. Hiểu rằng Ayesha đã tha thứ việc Osman cải đạo, Sri Srinivas la lên, “Con cũng biết cái thằng ấy sinh ra đã là đứa phản trắc. Đổi thượng đế dễ dàng như đổi dhoti(16), cái thứ nào lại thế? Chỉ có Trời mới biết con mắc phải cái chứng gì, nhưng ta không muốn mấy món đồ chơi này.” Bức tường sau lưng ông có treo một giấy chứng nhận đóng khung in những chữ kiểu cầu kỳ: Giấy này để chứng nhận Ông SRI. S. SRINIVAS là một Chuyên gia Lịch sử Địa chất của Trái Đất vì đã bay qua Grand Canyon với HÀNG KHÔNG SCENIC. Srinivas nhắm mắt và khoanh tay, một ông Bồ Tát không tươi cười với quyền uy không thể chối cãi của một ông Bồ Tát đã từng bay. “Thằng nhỏ đó là thứ yêu tà.” Ông nói với vẻ dứt khoát, và Ayesha gom mấy tượng đồ chơi vào tấm khăn vải gai của mình, rồi quay mình đi khỏi mà không cãi lại. Srinivas lập tức mở mắt: “Con bé này, con không làm khó ta sao? Con nghĩ là ta không biết con cần tiền hả? Sao con lại làm chuyện ngu ngốc dường ấy? Giờ thì con làm sao đây? Đi làm mấy búp bê KG(17) đi, làm nhanh lên, rồi ta sẽ mua giá cao cho con, vì ta mắc tật rộng rãi quá tay.” Sáng chế riêng của Ông Srinivas là búp bê Kế hoạch Gia đình, một biến thể có trách nhiệm xã hội của loại búp bê kiểu Nga. Trong con búp bê bố mặc y phục Tây phương và đi ủng là búp bê mẹ nhu mì mặc sari, và trong con búp bê mẹ là búp bê con gái chứa đựng một búp bê con trai. Hai đứa con là nhiều rồi: đó là thông điệp của mấy con búp bê. Srinivas gọi với theo Ayesha. “Nhanh nhanh lên, Búp bê KG xoay vòng nhanh lắm.” Ayesha quay lại và mỉm cười: “Ông Srinivas đừng lo cho con,” cô nói, rồi đi ra.

Cô gái mồ côi Ayesha lúc đó mười chín tuổi đi bộ về Titlipur theo lối mòn chở khoai tây, nhưng khi cô đến làng khoảng bốn mươi tám tiếng sau đó thì cô đã đạt đến mức không có tuổi, vì tóc cô đã trắng như tuyết, làn da của cô đã lấy lại vẻ hoàn hảo ngời sáng của làn da trẻ sơ sinh, và mặc dù cô hoàn toàn trần truồng, lũ bướm đã đậu lên người cô dầy kín đến mức cô dường như đang mặc một chiếc áo dài bằng chất liệu mỏng manh nhất vũ trụ. Anh hề Osman đang tập trò diễn với con bò đực bùm bùm gần lối mòn, vì cho dù cô vắng mặt quá lâu khiến anh lo muốn chết, và dù anh đã tìm kiếm cô suốt đêm hôm trước, anh vẫn cần kiếm sống. Khi anh nhìn thấy cô, chàng trai chưa hề kính nể Thượng đế vì đã sinh ra trong hạng tiện dân thấy lòng đầy kính sợ và không dám lại gần cô gái anh đã yêu hết lòng không cưỡng lại được.

Cô vào túp lều của mình và ngủ suốt một ngày một đêm không tỉnh. Rồi cô đến gặp trưởng làng, Trưởng Hội đồng làng(18) Muhammad Din, và thản nhiên báo cho ông hay rằng cô nhìn thấy Thiên sứ Gibreel hiện ra nằm nghỉ bên cạnh cô. “Linh hiển đã đến giữa chúng ta,” cô bảo ông Trưởng Hội đồng làng đang hốt hoảng, người cho đến lúc đó lo chuyện số lượng khoai tây nhiều hơn là sự siêu nghiệm. “Chúng ta phải hiến dâng tất cả, rồi cũng được ban cho tất cả.”

Trong một phần khác của cây si, vợ Trưởng Hội đồng làng Khadija đang an ủi một anh hề đang khóc lóc, khó lòng chấp nhận rằng một hiện hữu cao cả hơn đã chiếm mất Ayesha yêu quý của anh, vì khi thiên sứ nằm cùng người nữ nào thì cánh đàn ông sẽ mất người nữ ấy. Khadija đã cao tuổi, đãng trí, thường vụng về khi gắng biểu lộ tình thương, và bà dùng câu tục ngữ cổ: “Mặt trời lặn lúc người ta e có cọp,” tức “họa vô đơn chí,” việc không may thường đi chung với nhau, những lời chẳng an ủi được Osman bao nhiêu.

Không lâu sau câu chuyện phép lạ truyền ra ngoài, cô gái Ayesha được gọi đến dinh thự, và trong những ngày sau đó cô nói chuyện riêng rất lâu với vợ ông chủ đất, Begum(19) Mishal Akhtar, và mẹ của Mishal đang thăm viếng cũng đem lòng ưa thích người vợ tóc bạc của thiên sứ.

o0o

Từ ngày sinh nhật của anh, Mirza Saeed bỗng tràn ngập những thèm muốn mãnh liệt, “như thể cuộc sống quả thực bắt đầu ở tuổi bốn mươi,” vợ anh kinh ngạc nói. Hôn nhân của họ trở nên năng động đến mức gia nhân thay khăn trải giường một ngày ba lần. Mishal thầm hy vọng rằng sinh lực dồi dào của chồng sẽ khiến cô thụ thai, vì cô vững tin rằng các bác sĩ nói sao thì nói, hăng hái thì nên chuyện, và rằng những năm dài đo thân nhiệt mỗi sáng khi thức dậy, rồi vẽ kết quả vào đồ thị để lập khuôn mẫu kỳ rụng trứng, thực sự đã khiến trẻ sơ sinh không muốn ra đời, một phần vì rất khó nồng nhiệt đúng mức khi khoa học xen vào ân ái, và cũng một phần vì cô cho rằng một bào thai có chút tự trọng sẽ không muốn vào bụng của một bà mẹ máy móc đến thế. Mishal vẫn cầu nguyện được có con, dù cô không còn nhắc đến điều ấy với Saeed để tránh tạo cho anh cảm giác anh đã làm cô thất vọng trong khía cạnh này. Nhắm mắt giả vờ ngủ, cô sẽ xin Thượng đế một dấu hiệu, và khi Saeed trở nên nồng nàn như thế, thường xuyên như thế, cô tự hỏi phải chăng đây chính là dấu hiệu. Vì thế, cô đã không mặc kệ, như lẽ ra phải thế, yêu cầu lạ lùng của anh là từ đây mỗi khi họ đến ở tại Peristan, cô sẽ theo “lệ xưa” và không gặp đàn ông lạ(20). Ở thành phố, nơi họ có một căn nhà lớn nhiều khách khứa, ông địa chủ và vợ có tiếng là một trong những cặp đôi “tân tiến” và “xả láng” nhất; họ sưu tập nghệ thuật đương đại và tổ chức tiệc tùng phóng túng và mời bạn bè đến hú hí trong bóng tối trên những chiếc ghế dài trong khi xem phim khiêu dâm. Vì thế khi Mirza Saeed nói, “Em nghĩ sao, Mishu, chúng ta cư xử cho hợp tình hợp cảnh với căn nhà cổ này cũng thú vị chứ,” lẽ ra cô phải cười vào mặt anh. Thay vì thế cô trả lời, “Tùy ý anh,” vì theo cô hiểu thì theo ý anh việc ấy là một trò chơi gợi tình. Thậm chí anh nói bóng gió rằng anh thèm muốn cô nhiều đến nỗi anh có thể cần bộc lộ bất cứ lúc nào, và nếu cô ở bên ngoài phòng riêng thì người làm trong nhà có thể thấy ngượng; ít nhất thì sự hiện diện của cô chắc chắn sẽ khiến anh không thể tập trung vào việc đang làm; vả chăng, ở thành phố, “chúng ta sẽ vẫn hoàn toàn tân tiến.” Từ những lời này, cô hiểu rằng thành phố có nhiều thứ khiến Mirza xao nhãng, vì thế cô có nhiều cơ hội thụ thai nhất ở ngay Titlipur này. Cô quyết định ở lại. Đó là lúc cô mời mẹ mình đến ở chơi, vì nếu cô giam mình trong chái nữ thì cô cần có bầu bạn. Bà Qureishi đến, thân hình phốp pháp rung nảy cáu kỉnh, định tâm sẽ mắng con rể cho đến khi nó bỏ chuyện nữ giới cách biệt(21) ngu ngốc, nhưng Mishal van nài “Đừng mẹ,” khiến bà ngạc nhiên. Vợ của giám đốc ngân hàng nhà nước, chính Bà Qureishi cũng rất sắc sảo. “Thật ra, trong những năm niên thiếu của con, con như bà già còn mẹ sống trẻ trung. Mẹ nghĩ là con đã kéo được mình ra khỏi cái rãnh mòn đó nhưng mẹ thấy là chồng con đã đẩy con xuống đó lại.” Vợ của nhà tài chính vẫn luôn cho rằng con rể của bà bủn xỉn ngầm, một ý niệm vẫn tồn tại nguyên vẹn cho dù không có chút chứng cớ nào. Bỏ lơ lời phủ quyết của con gái, bà tìm ra Mirza Saeed trong khu vườn được chăm sóc cẩn thận và nhào đến bên anh, núng nảy thân mình để nhấn mạnh như thường lệ. “Con đang sống kiểu gì thế?” bà hạch hỏi. “Con gái của mẹ không phải để nhốt lại mà là để đưa đi chơi! Của cải để làm gì nếu con khóa kín lại hết? Con à, mở khóa túi tiền và mở khóa cho vợ con. Đưa nó đi chơi, tân trang lại tình yêu của hai con, trong một chuyến đi vui vẻ!” Mirza Saeed mở miệng, nhưng không tìm ra lời để nói, ngậm miệng lại. Mê mẩn vì tài hùng biện của chính mình, những lời đã đột nhiên phát sinh ý tưởng về một chuyến đi chơi, Bà Qureishi thấy thích chủ đề của mình hơn. “Cứ chuẩn bị rồi đi!” bà giục. “Đi chơi đi! Đi chơi với nó, hay là con muốn giam nó lại cho đến lúc nó đi,” – lúc này bà chỉ một ngón tay đe dọa lên trời – “mãi mãi?”

Vẻ hối lỗi, Saeed hứa sẽ suy xét ý đi chơi.

Bà hét lên đắc thắng. “Con chờ gì nữa hả? Cái thằng mềm yếu? Thằng…Hamlet?”

Chỉ trích của mẹ vợ kích động một cơn tự trách thỉnh thoảng lại đến đã quấy rầy Mirza Saeed từ lúc anh thuyết phục Mishal không ra ngoài (22). Để tự an ủi, anh quyết định đọc truyện Ghare-Baire của Tagore có ông địa chủ thuyết phục vợ ra ngoài, sau đó cô vợ theo một phong trào chính trị quá khích liên quan đến cuộc vận động “swadeshi”(23), và rốt lại ông địa chủ bị chết. Truyện này khiến anh vui lên một lúc, nhưng rồi mối nghi ngờ của anh trở lại. Anh thực lòng tin những lý do anh nói với vợ, hay là anh chỉ muốn tìm cách rảnh tay theo đuổi nữ thần của lũ bướm, cô Ayesha mắc chứng động kinh? “Rảnh tay gì chứ.” Anh nghĩ khi nhớ đến Bà Qureishi và con mắt diều hâu mang vẻ cáo buộc của bà. Anh tự biện luận rằng sự hiện diện của mẹ vợ là bằng chứng rõ ràng hơn nữa cho lòng thành của anh. Chẳng phải anh đã vui vẻ khuyến khích Mishal gọi bà đến hay sao, dù anh biết bà già phì lũ không ưa anh và sẽ ngờ anh giở đủ trò? Anh tự hỏi: “Nếu mình định máy mó lần khân thì mình đâu có muốn bà ấy đến chơi?” Nhưng tiếng nói nội tâm nhì nhằng tiếp: “Gần đây ngươi hăng làm tình, quấn quýt vợ trở lại, tất cả chỉ là dùng vợ thế thân. Thực sự là ngươi đang mong con bé nhà quê lẳng lơ đến lẳng lơ với ngươi.”

Mặc cảm tội lỗi khiến ông chủ đất thấy mình hoàn toàn vô dụng. Trong nỗi khổ của anh, những lời mắng mỏ của mẹ vợ dường như chính là sự thật. Bà gọi anh “đứa mềm yếu” và trong lúc anh ngồi trong phòng đọc sách, chung quanh là những kệ sách với những con mọt đang thỏa thuê gặm nhấm những cuốn sách tiếng Phạn vô giá, những cuốn sách thậm chí kho lưu trữ quốc gia cũng không có, cũng như những cuốn sách ít cao cả hơn là bộ toàn thư của Percy Westerman, G. A. Henty, Dornford Yates, Mirza Saeed nhận rằng, đúng y boong là mình mềm yếu. Căn nhà đã qua bảy thế hệ và sự mềm yếu đã diễn ra qua bảy thế hệ. Anh đi theo hành lang có treo hình tổ tiên của anh lồng trong những khung mạ vàng xấu xí, và suy ngẫm về tấm gương anh treo ở vị trí cuối cùng để nhắc nhở rằng một ngày kia anh cũng phải trèo lên bức tường này. Anh là một người đàn ông không có góc cạnh gồ ghề, thậm chí khuỷu tay anh cũng có lớp thịt đệm. Trong gương, anh nhìn thấy bộ ria mỏng, cái cằm yếu đuối, môi dính nước trầu. Má, mũi, trán: mềm, mềm, mềm tất. Anh la lên: “Ai mà thèm đến cái thứ như mình chứ?” và khi anh nhận ra anh bối rối đến mức bật nói thành tiếng thì anh biết chắc chắn mình đã yêu, đã lậm tình quá lắm, và đối tượng tình yêu của anh không còn là vợ anh.

Anh thở dài một mình: “Vậy thì mình là một đứa đáng nguyền rủa, nông cạn, phỉnh phờ và tự lừa dối vì chỉ ít lâu mà mình đã thay đổi nhiều đến thế. Mình đáng bị giết phứt.” Nhưng anh không phải là loại dám làm dám chịu. Thay vì thế, anh đi một lát trong những hành lang của Peristan, và không bao lâu sau căn nhà hóa phép phục hồi cho anh một tâm trạng gần như vui vẻ.

Mặc dù có cái tên tiên cảnh, căn nhà là một dinh thự vững chắc, khá tầm thường, biến thành khác lạ chỉ vì được đặt sai chỗ. Dinh thự đã được một kiến trúc sư người Anh tên Perowne xây vào bảy thế hệ trước. Được giới chức thuộc địa rất ưa chuộng, ông chỉ dùng có một kiểu nhà nghỉ vùng quê kiểu tân-cổ-điển của Anh. Thời đó, những ông địa chủ lớn thích kiến trúc châu Âu đến phát cuồng. Ông tằng tổ của Saeed đã thuê Perowne chỉ sau năm phút gặp gỡ tại bữa tiệc của Phó Vương, để công khai tỏ ra rằng không phải người Hồi giáo nào cũng ủng hộ hành động của binh lính Meerut(24) hoặc đồng tình với những cuộc nổi loạn sau đó, không phải thế, hoàn toàn không phải, – rồi ông cho Perowne toàn quyền định đoạt –, vì thế giờ đây Peristan đứng giữa những ruộng khoai tây gần xích đạo và bên cạnh cây si khổng lồ, phủ đầy dây leo hoa giấy, có rắn trong nhà bếp và xác bướm trong tủ chén dĩa. Một vài người nói cái tên của nó đâu phải cái chi lạ lùng, là từ cái tên của ông người Anh đó mà; Peristan là Perownistan viết ngắn lại thôi.

Sau bảy thế hệ, rốt cuộc nó bắt đầu trông hài hòa hơn với khung cảnh nhiều xe bò và cây lá cọ và bầu trời cao trong sáng nặng trĩu những vì sao. Thậm chí cửa sổ lát kính màu nhìn xuống cầu thang của Vua Charles Không Đầu không rõ cách nào cũng không còn vẻ xa lạ. Rất ít địa chủ thời trước còn sống sót được sau sự tàn phá của chủ nghĩa bình đẳng trong thời hiện đại, và như thế Peristan có một thứ không khí mốc ẩm của bảo tàng viện, mặc dù – hoặc có thể là vì – Mirza Saeed rất hãnh diện về dinh thự cổ xưa này và tiêu tiền không tiếc để chỉnh trang nó. Anh ngủ dưới một vòm cao bằng đồng thau trong một cái giường dáng thuyền đã là giường của ba vị Phó Vương. Trong phòng khách lớn anh thích ngồi cùng Mishal và Bà Qureishi trên một cái ghế dài ba chỗ là lạ. Cuối căn phòng này, một tấm thảm Shiraz lớn cuộn lại dựng đứng trên những bệ gỗ đang đợi buổi tiếp tân tráng lệ xứng để nó được trải ra, buổi tiếp tân chưa bao giờ đến. Trong phòng ăn có những cột lớn, đỉnh cột trang trí cầu kỳ theo kiểu Corinth, những con công, chim thật cũng như chim đá, trên những bậc thềm chính dẫn vào dinh thự, và đèn treo kiểu Venice kêu leng keng trong hành lang. Những cái quạt vải(25) từ thuở trước vẫn còn dùng được, có dây kéo chạy theo những ròng rọc và những lỗ hổng trong tường cũng như sàn nhà đến một phòng chứa nhỏ ngột ngạt có người kéo quạt làm việc, với sự mai mỉa là người đưa gió mát về những phần khác của dinh thự thì lại phải giam mình trong không gian hôi hám của căn phòng nhỏ không có cửa sổ. Những gia nhân cũng đã có từ bảy thế hệ trước và do đó đã mất đi nghệ thuật than vãn. Lề lối cũ ngự trị: thậm chí những người bán kẹo bánh ở Titlipur trước khi bán một thứ đồ ngọt mới sáng chế cũng phải xin phép ông địa chủ. Cuộc sống dưới tàng cây si khó khăn bao nhiêu thì ở Peristan nó êm đềm bấy nhiêu, nhưng ngay sự hiện hữu êm ấm ấy vẫn có thể bị những đòn nặng nề.

o0o

Biết được vợ mình dành đa số thời gian nói chuyện riêng với Ayesha khiến Mirza bực bội vô cớ, một thứ ngứa ngáy tâm linh khiến anh nổi khùng vì không thể nào gãi nó được. Mishal hy vọng thiên sứ chồng của Ayesha sẽ ban cho cô một đứa con, nhưng vì cô không thể nói cho chồng nghe điều ấy, cô đâm ra sưng sỉa và nhún vai dằn dỗi khi anh hỏi tại sao cô phí nhiều thì giờ đến thế với cô gái khùng khịu nhất của làng. Mishal trở nên ít nói, khiến cái ngứa trong lòng Mirza Saeed lại tệ hơn nữa, và cũng khiến anh ghen, mặc dù anh không rõ anh ghen với Ayesha hay với Mishal. Lần đầu tiên anh để ý thấy rằng nữ chủ bướm có đôi mắt cùng màu xám rực rỡ như mắt vợ anh, và không hiểu sao việc này cũng khiến anh bực mình, như thể nó chứng minh rằng hai người phụ nữ đang hùa nhau chống lại anh, thì thầm những bí mật chỉ có Trời mới biết là chuyện gì; có lẽ họ đang líu lo không ngớt về anh! Việc Mishal không ra ngoài nữa dường như đã phản tác dụng, thậm chí Bà Qureishi núng nính cũng đâm mê Ayesha. Thật là một bộ ba quái lạ, Mirza Saeed nghĩ; khi những thứ lăng nhăng vào cửa chính, lý lẽ ra ngoài cửa sổ.

Về phần Ayesha: khi cô gặp Mirza trên ban công, hoặc trong vườn những khi anh vừa lang thang vừa đọc thơ tình tiếng Urdu, cô luôn luôn ra vẻ kính nể và rụt rè, nhưng lối cư xử đúng mực của cô, cộng thêm việc cô không hề có vẻ động lòng, khiến Saeed càng lúc càng thấy tuyệt vọng. Vì thế, một ngày kia khi anh nhìn thấy Ayesha vào phòng của vợ anh và vài phút sau đó nghe mẹ vợ rú lên một tiếng đầy kịch tính, anh nhăm nhăm muốn trả hận và cố tình đợi đúng ba phút sau rồi vào xem là chuyện gì. Anh thấy Bà Qureishi tự giật tóc và nức nở như ngôi sao điện ảnh, trong lúc Mishal và Ayesha ngồi xếp bằng trên giường, đối diện nhau, hai đôi mắt xám nhìn nhau, và hai bàn tay của Ayesha đang úp lấy mặt Mishal.

Hóa ra là thiên sứ đã cho Ayesha biết vợ của ông địa chủ sắp chết vì ung thư, rằng đôi vú của cô đầy những nốt ác mó chết người, và rằng cô sẽ chỉ sống thêm vài tháng. Chỗ ung thư phát sinh chứng tỏ với Mishal sự tàn nhẫn của Thượng đế, vì chỉ có một vị thần ác nghiệt mới đặt cái chết vào vú của một người phụ nữ có ước mơ duy nhất là cho sự sống mới bú sữa. Khi Saeed bước vào, Ayesha đang khẩn thiết thì thầm với Mishal: “Chị không nên nghĩ thế. Thượng đế sẽ cứu chị. Đây là một thử thách lòng tin.”

Bà Qureishi nói cho Mirza Saeed nghe tin dữ cùng nhiều tiếng la rú, và điều này là quá sức chịu đựng đối với ông địa chủ vốn đã bối rối. Anh nổi giận, la hét om sòm, run lên như thể anh sắp đập nát đồ đạc và những người trong phòng.

Anh cáu kỉnh hét lên với Ayesha: “Kệ xác hù dọa ung thư của cô. Cô đã vào nhà tôi với cái điên khùng và thiên sứ của cô rồi rót nọc độc vào tai gia đình tôi. Cô cút đi ngay cùng những thứ tiên đoán cũng như ông chồng vô hình của cô. Đây là thế giới hiện đại, báo cho người ta biết mình có bệnh là bác sĩ y khoa chứ không phải ma quỷ trong ruộng khoai tây. Dưng không mà cô đã quậy lên cái trò rùm beng khỉ gió này. Cút đi, đừng có đến đất của tôi nữa.”

Ayesha nghe anh nói mà không rời mắt khỏi Mishal và vẫn ôm mặt Mishal trong tay mình. Khi Saeed ngưng lại để thở, hai tay nắm mở liên tục, cô nhỏ nhẹ nói với vợ anh: “Chúng ta phải hiến dâng tất cả, rồi chúng ta sẽ được ban cho tất cả.” Khi anh nghe lời tụng này, lời tụng dân làng đã bắt đầu đọc lại như thể họ thực sự hiểu nó muốn nói gì, Mirza Saeed Ahktar nổi điên lên, giơ tay đánh Ayesha bất tỉnh. Cô ngã xuống sàn, miệng chảy máu, một cái răng lung lay vì nắm đấm của anh, và trong lúc cô nằm đó Bà Qureishi chửi bới con rể. “Trời ơi, tôi đã đưa con gái của tôi cho một thằng sát nhân. Trời ơi, một đứa đánh đập đàn bà. Đây này, đánh luôn mẹ đi, tập dượt chút đi. Đồ miệt thị thánh thần, đồ báng bổ, đồ yêu quỷ, đồ dơ dáy.”

Không một lời, Saeed rời khỏi phòng. Ngày hôm sau Mishal Saeed nhất định đòi về thành phố để khám bệnh tổng quát. Saeed giữ vững lập trường: “Nếu em muốn tin dị đoan, thì em cứ đi, nhưng đừng mong anh đi theo. Đi về mỗi lượt tám tiếng lái xe, thế cho nên, không đời nào.” Chiều hôm ấy Mishal đi cùng với mẹ cô và người tài xế, và kết quả là Mirza Saeed đã không có mặt nơi anh lẽ ra phải có mặt, tức là bên cạnh vợ mình khi cô được biết kết quả thử nghiệm: dương tính, không giải phẫu được, đã tiến triển quá mức, những móng vuốt ung thư đã ăn sâu vào khắp ngực của cô. Một vài tháng, sáu tháng nếu cô may mắn, và trước đó, không bao lâu nữa, là những cơn đau đớn. Mishal trở về Peristan và đi thẳng vào phòng mình, viết cho chồng một lá thư chính thức trên giấy màu tím nhạt để báo cho chồng biết chẩn đoán của bác sĩ. Khi anh đọc án tử của cô, viết bằng chính bàn tay của cô, anh rất muốn òa khóc, nhưng mắt anh cứ nhất định ráo hoảnh. Đã lâu lắm anh không nghĩ đến Vị Tối Thượng, nhưng giờ đây một vài câu của Ayesha bật lên trong trí anh. Thượng đế sẽ cứu rỗi. Sẽ ban cho tất cả. Một ý niệm cay đắng, dị đoan đến với anh. “Đây là tai ương,” anh nghĩ. “Vì ta thèm muốn Ayesha, nên cô ta giết vợ mình.”

Khi anh đến phòng của vợ, Mishal không chịu gặp anh, nhưng mẹ cô đang đứng chặn cửa phòng đưa cho Saeed một mẩu thư khác trên giấy màu xanh dương tẩm nước hoa. “Mẹ muốn gặp Ayesha,” tờ giấy viết. “Xin con cho phép.” Cúi đầu, Mirza Saeed chấp thuận, và hổ thẹn lủi đi.

o0o

Ngày kế sau ngày Mishal Akhtar trở về Titlipur, cô gái Ayesha mà dân chúng đã bắt đầu gọi là tiên tri, hoặc bề trên(26), biến mất biệt cả một tuần lễ. Người ái mộ không may của cô, người đã đi theo cách sau cô một quãng suốt lối mòn chở khoai tây đến Chatnapatna là anh hề Osman nói với dân làng rằng một cơn gió nổi lên tung bụi vào mắt anh, và khi anh giụi mắt xong thì cô “không còn đó nữa.” Bình thường khi Osman và con bò đực của anh bắt đầu kể chuyện tà linh thần đèn bùa chú thì dân làng ra vẻ khoan dung và trêu anh, phải rồi Osman, để dành mấy chuyện đó cho bọn ngốc ở Chatnapatna đi, họ có thể tin mấy thứ đó nhưng ở Titlipur chúng tôi biết điều gì là đúng và cung điện đâu thể xuất hiện trừ phi một ngàn lẻ một nhân công xây nó lên, và nó cũng không biến mất trừ phi cũng từng đó nhân công đập nó xuống. Tuy thế, lần này không ai cười nhạo anh hề, vì dân làng sẵn lòng tin bất cứ chuyện gì dính dáng đến Ayesha. Họ đã tin chắc rằng cô gái tóc trắng như tuyết là truyền nhân đích thực của Bibiji xưa, vì chẳng phải lũ bướm đã trở lại vào năm cô sinh ra hay sao, và chẳng phải là bướm đi theo cô như tấm áo choàng sao? Ayesha là minh chứng cho niềm hy vọng đã từ lâu thành thất vọng bắt đầu nhen nhúm lại từ khi lũ bướm trở về, là bằng cớ rằng những điều kỳ diệu vẫn có thể xảy ra trong cuộc đời này, ngay cả đối với những kẻ yếu thế và nghèo khó nhất thế gian.

“Thiên sứ đã mang cô ấy đi rồi,” vợ Trưởng Hội đồng làng Khadija kinh ngạc nói, và Osman òa khóc. Bà già Khadija không hiểu ý bèn giải thích: “Nhưng đó là điều rất tuyệt mà.” Dân làng trêu Trưởng Hội đồng làng: “Thật không hiểu nổi tại sao ông được chức trưởng làng với một bà vợ thiếu tế nhị như vậy.”

Ông cấm cẳn trả lời: “Mấy người chọn tôi chứ ai.”

Ngày thứ bảy sau khi cô biến mất, người ta thấy Ayesha bước về phía làng, lại trần truồng và phủ bướm vàng, mái tóc bạc phất phới sau lưng cô theo cơn gió. Cô đến thẳng nhà Trưởng Hội đồng làng Muhammad Din và yêu cầu hội đồng làng lập tức nhóm họp khẩn. Cô thổ lộ: “Sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử gốc cây si đã đến.” Không từ chối cô được, Muhammad Din định giờ họp vào buổi chiều tối ngày hôm ấy, sau khi mặt trời lặn.

Tối hôm ấy hội đồng làng yên vị ở nhánh cây thường lệ, trong khi tiên tri Ayesha đứng dưới đất trước mặt họ. Cô nói: “Tôi đã bay cùng thiên sứ đến tầm cao nhất. Đúng thế, thậm chí đến cây gai tận phía xa(27). Thiên sứ Gibreel đã mang đến cho chúng ta một thông điệp mà cũng là lệnh truyền. Chúng ta phải hiến dâng tất cả, rồi sẽ được ban cho tất cả.”

Chưa có điều gì trong cuộc đời Trưởng Hội đồng làng Muhammad Din chuẩn bị ông cho sự lựa chọn ông sắp phải đối mặt. “Thiên sứ yêu cầu điều gì hả, Ayesha con?” ông hỏi, cố gắng giữ giọng không run.

“Ý muốn của Thiên sứ là tất cả chúng ta, tất cả đàn ông, phụ nữ, trẻ em trong làng lập tức chuẩn bị cho một chuyến hành hương. Chúng ta có lệnh phải đi bộ từ đây đến Mecca để hôn hòn Đá Đen ở Ka’aba giữa thánh đường Hồi giáo Haram Sharif(28). Chúng ta phải đi đến đó.”

Giờ đây năm người trong hội đồng làng bắt đầu tranh luận sôi nổi. Phải xét đến vụ mùa, và việc không tưởng là hùa nhau bỏ nhà đi hết. Trưởng Hội đồng làng bảo cô: “Không làm nổi đâu con. Ai cũng biết là Allah miễn thứ haj và umra(29) cho những người thực sự không thể đi vì lý do sức khỏe hay nghèo túng.” Nhưng Ayesha tiếp tục im lặng và mấy ông già tiếp tục tranh cãi. Rồi như thể sự lặng yên của cô truyền sang mọi người, không ai nói lời nào một lúc rất lâu, và trong lúc ấy vấn đề được định đoạt, dù bằng cách nào thì chưa có ai hiểu được.

Rốt cuộc anh hề Osman là người phá vỡ yên lặng, Osman người cải đạo, xem đức tin mới không hơn một ngụm nước uống. Anh la lên: “Từ đây đến biển hơn ba trăm ki-lô mét. Trong làng có bà già, có trẻ thơ. Làm sao chúng ta đi được?”

Ayesha bình thản trả lời: “Thượng Đế sẽ cho chúng ta sức mạnh.”

Không chịu thua, Osman hét: “Cô đã nghĩ đến chuyện giữa chúng ta và Mecca có một đại dương chưa? Làm sao chúng ta đi qua biển? Chúng ta không có tiền thuê thuyền hành hương. Không chừng thiên sứ sẽ cho chúng ta mọc cánh để bay?”

Nhiều dân làng giận dữ tụ lại quanh anh chàng Osman báng bổ. Trưởng Hội đồng làng Muhammad Din mắng anh: “Yên nào. Cậu theo đạo của chúng tôi chưa bao lâu, ở làng chúng tôi cũng chưa bao lâu. Không biết thì dựa cột mà nghe.”

Tuy nhiên, Osman xấc xược trả lời: “Vậy ra đây là cách các người chào đón dân mới đến. Không được là ngang hàng, mà phải nghe lời các người.” Một nhóm đàn ông mặt mày đỏ tía đứng sát lại gần Osman hơn, nhưng chưa có gì xảy ra thì tiên tri Ayesha đã biến đổi không khí hoàn toàn bằng cách trả lời mấy câu hỏi của anh hề.

Cô nói nhỏ nhẹ: “Thiên sứ cũng có giải thích chuyện này. Chúng ta sẽ đi bộ hơn ba trăm ki-lô mét đến bờ biển, chúng ta sẽ đặt chân vào bọt sóng, và làn nước sẽ rẽ lối cho chúng ta. Nước sẽ rẽ lối, và chúng ta sẽ đi qua lòng biển đến Mecca.”

o0o

Sáng hôm sau Mirza Saeed Akhtar thức dậy trong một căn nhà bỗng trở nên im ắng khác thường. Khi anh gọi gia nhân, không ai trả lời. Sự vắng lặng cũng tràn vào ruộng khoai tây, nhưng dưới tàng lá tỏa rộng của cây Titlipur thì rất nhộn nhịp. Hội đồng làng đã nhất tề bỏ phiếu tuân theo lệnh truyền của Thiên sứ Gibreel, dân làng đã bắt đầu chuẩn bị ra đi. Thoạt tiên Trưởng Hội đồng làng muốn thợ mộc Isa đóng xe bò kéo cho người già bệnh, nhưng ý ấy bị chính vợ ông đập đổ. Bà nói: “Trưởng Hội đồng làng, ông không chịu nghe cho kỹ! Chẳng phải thiên sứ bảo chúng ta phải đi bộ sao? Nếu là thế thì chúng ta sẽ phải làm thế.” Chỉ những trẻ bé nhất được miễn đi bộ, và (như đã quyết định) chúng sẽ được người lớn luân phiên cõng trên lưng. Dân làng đã gom góp hết tiền của, khoai tây, đậu, gạo, mướp đắng, ớt, cà tím, và những loại rau khác đang chất đống cạnh nhánh cây hội đồng làng. Số lượng lương thực được chia đều cho những người đi bộ. Những dụng cụ nấu nướng cũng được gom lại, và nệm gối nào tìm được. Những súc vật thồ sẽ được mang theo, một hai xe kéo chở gà sống và những thứ đại loại, nhưng nói chung Trưởng Hội đồng làng đã chỉ thị những người hành hương phải hạn chế tối đa vật dụng cá nhân. Việc chuẩn bị đã bắt đầu từ trước rạng đông, nên khi Mirza Saeed tức giận sải bước vào làng, mọi thứ đã tiến triển đáng kể. Trong bốn mươi lăm phút mọi thứ chậm lại trong lúc ông địa chủ la lối và lắc vai dân làng, nhưng rồi may sao là anh chịu thua và bỏ đi nên công việc có thể tiếp tục với nhịp độ nhanh như lúc trước. Khi Mirza bỏ đi, anh tự đập đầu mình nhiều lần và rủa xả dân làng nào là đồ điên, đồ khờ, những chữ rất tệ, nhưng trước nay anh vẫn là một người vô thần, đoạn kết yếu nhược của một dòng dõi mạnh mẽ, anh phải tự mình tìm ra số phận của chính mình; không cãi được với những người như anh.

Đến hoàng hôn thì dân làng đã sẵn sàng ra đi. Trưởng Hội đồng làng bảo mọi người dậy sớm cầu nguyện để họ có thể đi ngay sau đó, tránh được giờ nóng nhất trong ngày. Đêm ấy, nằm trên cái chiếu bên cạnh bà Khadija, ông thì thầm: “Rốt cuộc chuyện này đã đến. Trước nay tôi vẫn muốn nhìn thấy Ka’aba, đi vòng quanh đền trước khi tôi chết.” Bà giơ tay ra ngoài chiếu của mình và nắm lấy tay ông: “Tôi cũng hy vọng được thế, dù biết là vô vọng,” bà nói. “Chúng ta sẽ cùng nhau đi qua biển.”

Bực bội muốn điên lên vì cảnh dân làng chuẩn bị hành trang, Mirza Saeed xồng xộc đi vào phòng vợ. Anh vừa khoa chân múa tay vừa la: “Mishu, em đến xem này. Cả Titlipur đã khùng lên và sẽ đi nghỉ mát ở bờ biển. Còn nhà cửa ruộng vườn của họ thì sao? Mọi thứ sẽ tiêu tùng. Chắc là có dính dáng của mấy đứa kích động chính trị. Một kẻ nào đã mua chuộc ai đó. – Em nghĩ xem nếu anh cho tiền thì họ có hết khùng và không đi nữa không?” Giọng anh thành khô khan. Ayesha đang ở trong phòng.

“Đồ chết dẫm,” anh nguyền rủa cô. Ayesha đang ngồi xếp bằng trên giường trong khi Mishal và mẹ cô ngồi xổm dưới sàn sắp xếp đồ đạc và định xem họ cần những thứ tối thiểu nào cho cuộc hành hương.

“Em sẽ không đi,” Mirza Saeed giận dữ nói. “Anh cấm em, chỉ có quỷ mới biết con đĩ này đã lây cho dân làng loại vi trùng nào, nhưng em là vợ anh và anh không cho em làm việc tự sát này.”

“Nói hay lắm,” Mishal cười cay đắng. “Anh nói hay lắm. Anh biết em sẽ không sống được nhưng anh lại nói việc tự tử. Saeed này, có một việc đang xảy ra, và anh cùng với chủ nghĩa vô thần nhập cảng từ châu Âu của anh không biết đó là cái gì. Hoặc có thể anh sẽ biết nếu anh nhìn xuống bên dưới bộ vest kiểu Anh của anh và kiếm xem tim anh nằm ở đâu.”

Saeed la lên: “Thật không tin nổi. Mishal, Mishu, có phải thực là em đây không? Sao bỗng dưng em lại trở thành loại người sợ Thượng đế của thời xửa xưa?”

Bà Qureishi nói: “Con ra ngoài đi. Ở đây không có chỗ cho người thiếu đức tin. Thiên sứ đã nói với Ayesha rằng khi Mishal hoàn tất chuyến hành hương đến Mecca thì bệnh ung thư của nó sẽ biến mất. Phải hiến dâng tất cả rồi sẽ được ban cho tất cả.”

Mirza Saeed Akhtar áp hai bàn tay lên tường phòng ngủ của vợ và áp trán vào lớp vữa trát. Sau một lúc lâu anh nói: “Nếu đây là việc thực hiện umra thì mình vào thị trấn đi máy bay. Mình có thể đến Mecca trong vòng hai ba ngày.”

Mishal trả lời: “Chúng em có lệnh phải đi bộ.”

Saeed mất bình tĩnh. “Mishal à, Mishal à,” anh thét lên. “Được lệnh ư? Của Thiên sứ hả Mishu? Gibreel? Thượng đế râu dài và thiên thần có cánh ư? Thiên đàng và địa ngục hả Mishal, Quỷ đuôi nhọn và móng gõ ư? Em sẽ theo đuổi chuyện này đến đâu? Phụ nữ có linh hồn không, em nói đi. Hoặc nói cách khác: linh hồn có phái tính không? Thượng đế da đen hay da trắng? Khi nước biển rẽ lối, phần nước dư đó đi đâu? Nước có dựng lên như bức tường hai bên không? Hả Mishal? Em trả lời đi. Có phép lạ không? Em có tin Thiên đàng không? Tội lỗi của anh sẽ được tha thứ chăng?” Anh bắt đầu khóc, và sụp quỳ xuống, trán anh vẫn áp vào tường. Người vợ sắp chết của anh đến phía sau anh và quàng tay ôm lưng anh. Anh đờ đẫn nói: “Em cứ đi hành hương đi, nhưng ít nhất hãy mang chiếc xe Mercedes theo. Xe có máy lạnh, em có thể mang cả thùng đá đầy Coke.”

Cô dịu dàng nói: “Không. Em và mẹ sẽ đi như mọi người khác. Chúng em là người hành hương. Đây không phải là chuyến dã ngoại ở bãi biển.”

Mirza Saeed Akhtar khóc ròng. “Anh không biết phải làm sao. Mishu, một mình anh lo không nổi.”

Ayesha ngồi trên giường nói: “Ông Mirza hãy đi với chúng tôi. Những tư tưởng của ông đã thành vô giá trị. Hãy đi để cứu rỗi linh hồn ông.”

Mắt đỏ dọc, Saeed đứng dậy, quay về phía Bà Qureishi với vẻ ác nghiệt: “Mẹ muốn đi chơi đó mà. Đúng là quả báo. Chuyến đi chơi của mẹ sẽ làm tiêu tán nhà con, cả bảy thế hệ, một cái đùng.”

Mishal tựa má vào lưng anh. “Đi với chúng em đi Saeed. Đi đi mà.”

Anh quay lại đối diện Ayesha, cương quyết nói: “Không có Thượng đế.”

“Thượng Đế chỉ có một, và Muhammad là Tiên tri của Người,” cô trả lời.

Anh tiếp tục: “Trải nghiệm thần bí là sự thật chủ quan chứ không phải sự thật khách quan. Nước sẽ không rẽ lối.”

“Biển sẽ rẽ lối theo lệnh truyền của thiên sứ,” Ayesha trả lời.

“Cô chắc chắn sẽ đưa dân chúng vào thảm họa.”

“Tôi sẽ dẫn họ vào lòng Thượng Đế.”

Mirza Saeed nhất quyết: “Tôi không tin cô. Nhưng tôi sẽ đi, và với mỗi bước chân sẽ tìm cách chấm dứt sự điên rồ này.”

Ayesha vui mừng: “Thượng đế chọn nhiều phương cách, nhiều con đường để người nghi ngại được đưa đến lòng tin.”

“Cô đi xuống địa ngục đi,” Mirza Saeed Akhtar hét, và chạy ra khỏi phòng, khiến bướm bay tán loạn.

o0o

Anh hề Osman vừa chải lông con bò đực của anh trong cái chuồng bò bé xíu vừa thì thầm vào tai nó: “Ai khùng hơn, bà điên, hay thằng khờ yêu bà điên?” Con bò đực không trả lời. Osman tiếp tục: “Không chừng chúng ta nên cứ là tiện dân. Biển cả bắt buộc nghe tệ hơn cái giếng cấm.” Con bò đực gật đầu hai lần để đồng ý, bùm bùm.

 

 

(0) Tác giả dùng nhiều ngôn ngữ khác nhau cho một số khái niệm và tên nhân vật trùng lặp trong nhiều tôn giáo và văn hóa. Chú thích trong bản dịch này sẽ phần lớn dùng phiên bản tiếng Anh. Tuy thế, những tên phiên âm từ tiếng Ả Rập có thể có nhiều phiên bản tiếng Anh khác nhau.

(1) Nguyên tác: zamindar

(2) Nguyên tác: chappal

(3) Nguyên tác: obsidian

(4) Nguyên tác: familiar spirits

(5) Bibi: lối xưng hô kính trọng cho phụ nữ; ji: lối xưng hô kính trọng

(6) Một khu vực gần Kashmir thuộc Afghanistan. Cũng có nghĩa “tiên cảnh”

(7) Titli: bướm; pur: thị trấn

(8) Nguyên tác: zenana wing

(9) Nguyên tác: trunk road

(10) Nguyên tác: untouchable

(11) Nguyên tác: banyan tree

(12) Nguyên tác: children of God, từ chữ harijan trong tiếng Hindi: Mahatna Gandhi đổi cách gọi “tiện dân” (untouchable) thành “con Trời” để mong xóa bỏ thành kiến xã hội đối với họ

(13) Nguyên tác: bhaijan

(14) Biểu tượng của đảng Quốc dân Đại hội Ấn Độ (Indian National Congress). Cách hô hào chính trị này nhắm vào những người dân ít học chỉ bầu phiếu theo hình biểu tượng.

(15) Đảng Cộng sản (Mác-Xít). Nguyên tác: CP(M): Communist Party (Marxist)

(16) Tấm vải quấn phần thân dưới

(17) KG: chữ tắt cho Kế Hoạch Gia Đình. Nguyên tác: Family Planning

(18) Nguyên tác: Sarpanch

(19) Lối xưng hô kính trọng cho phụ nữ

(20) Nguyên tác: purdah

(21) Nguyên tác: take the veil

(22) Nguyên tác: purdah

(23) Phong trào chủ nghĩa quốc gia của Ấn

(24) Ý nhắc đến cuộc nổi loạn chống thực dân Anh của dân Ấn vào năm 1857

(25) Nguyên tác: punkah

(26) Nguyên tác: kahin (tiên tri), pir (bề trên)

(27) Tôi đã bay cùng thiên sứ đến tầm cao nhất: tương tự như Muhammad bay lên Thiên đàng (gọi lả miraj trong kinh Qu’ran); thậm chí đến cây gai tận phía xa: trong kinh Qu’ran, bên rìa Thiên đàng là một cây gai

(28) Ka’aba: Đền thiêng Hồi giáo nằm giữa đền thờ Hồi giáo Haram Shairf ở Mecca

(29) Haj: Luật Hồi giáo chỉ định rằng mỗi người đạo Hồi phải hành hương đến Mecca ít nhất một lần trong đời và thực hiện nhiều nghi thức khác nhau; Umra cũng như Haj với ít nghi thức hơn.

bài đã đăng của Salman Rushdie

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2022 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)