Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn, Truyện vừa Email bài này

một thời điêu linh- Xứ Khỉ (kỳ 2/4)

190517_thumb.jpg

190517

Xứ Khỉ

Hậu mở mắt chỉ thấy một trần đá cao nhờ nhờ ánh sáng từ phía đầu anh hắt vào. Anh không cử động được vì bị trói giữa hai thanh gỗ to bằng cổ chân. Anh cũng không thể nhìn nghiêng vì đầu bị ép chặt vào hai tấm ván. Anh nghe đầu nhức nhối, thân thể đau đớn như bị dần và không xác định được mình đang ở đâu? Hậu lên tiếng nhưng tiếng nói không thoát khỏi cổ họng, chỉ có tiếng ư ư trong cổ. Anh có cảm giác mình nghe tiếng ai đấy nói lao xao xa xa. Hậu nhắm mắt, cố nhớ những gì đã xảy ra. Anh nhớ lại Trấn và cơn lũ vừa qua, sau đó nghĩ mình chưa chết và tự hỏi Trấn có sống sót như mình hay không? Được cứu nhưng không biết thực tế như thế nào trong tình trạng bị cột trói như thế này? Anh vẫn nghe có tiếng nói nhưng không hiểu được ai đang nói gì. Có lúc anh nghe rõ những tiếng “Ăn cơm, đốn củi…” nhưng cũng có những tiếng thật xa lạ, dường như không phải tiếng Việt. Hậu cho rằng mình đang được một bộ tộc nào đó cứu sống, có thể họ là người Ê đê, Dao, Tày, Hmong … mà anh đã từng gặp. Anh lại lên tiếng, lần này phát âm rõ hơn, “Có ai đấy không?” Hậu nghe tiếng chân thình thịch tiến gần về phía đầu nằm của mình và có tiếng phụ nữ. “Tỉnh dậy rồi!” Hậu nhủ thầm. Một khuôn mặt cúi xuống nhìn. Hậu chết lặng vì một đầu người lông lá xồm xoàm màu vàng nhạt đang nhìn anh. Không thể là con người được! Chắc chắn là một con khỉ đột như anh từng xem phim. Con khỉ này lại biết nói:

“Ông tỉnh rồi! Mất ba ngày ông mới tỉnh. Ông đang được cứu chữa cái chân gãy. Lưng bị chảy máu…”

Hậu vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi. Anh nhìn trừng trừng khuôn mặt con khỉ cái trước mặt, vì tiếng nói trong trẻo và bộ ngực to như bộ ngực phụ nữ dưới chiếc áo cánh cổ khoét màu đen. Dĩ nhiên, nếu là khỉ, nó phải là con khỉ cái. Hậu suy nghĩ rồi hỏi: “Đây là nơi nào, tôi đang ở đâu?” Thực tâm, Hậu không hiểu mình đang nói chuyện với người hay với khỉ. Anh nghi ngờ chính mình. Có quá nhiều biến cố xảy ra quá nhanh, nhanh đến độ anh không biết hình ảnh trước mặt mình là hư hay thực? Nào ngờ khuôn mặt khỉ kia hiện ra một nụ cười. Tuy nhiên, điều Hậu cảm nhận là nụ cười hiền lành của một con khỉ cái. Nó gật đầu nói:

“Buổi trưa chúng tôi đi tắm, phát hiện ông nằm trên bờ suối. Ban đầu tưởng là một con thú chết, nhưng khi đến gần khám phá ông là người, tuy có khác chúng tôi. Lúc ấy ông còn thở, chỉ có gãy chân và bị thương ở lưng. Chúng tôi khiêng ông về làng và những thầy thuốc trong làng cho ông uống thuốc, đắp thuốc và sửa chân cho ông. Mãi đến hôm nay ông mới tỉnh dậy. Ông nằm ngủ đã ba ngày đêm!”

“Nhưng đây là ở đâu?”

Hậu hỏi có chút ngập ngừng vì không biết xưng hô với người trước mặt là bà hay cô. Con người nửa người nửa khỉ kia im lặng như suy nghĩ một chốc rồi nói:

“Tôi không biết nói thế nào vì ông là người xa lạ. Ông không giống chúng tôi. Để tôi hỏi cha mẹ tôi như thế nào.”

Nói xong, cô gái khỉ đi mất. Hậu tưởng mình đang mơ, nhưng kiểm tra những sự kiện xảy ra từng bước một, anh cho rằng mình được một bộ lạc nào đó trong rừng sâu cứu thoát chết sau cơn lũ. Nhưng điều kỳ lạ là từ trước đến giờ anh không thể hình dung có một thứ sinh vật nửa người nửa ngợm như thế này. Điểm nghịch lý là với hình dáng dã nhân như thế, nhưng nói tiếng Việt thật khá bình thường và Hậu trở nên một sinh vật kỳ lạ với một chút giống người theo cách diễn tả của cô gái khỉ. Vì chỉ nhìn thẳng nên anh không quan sát được giống người lông lá này một cách rõ ràng. Tuy thân thể đau đớn ê ẩm nhưng Hậu thấy tay chân mình cử động được. Anh nắm tay lại rồi mở ra, xoay bàn chân. Không khó khăn, có thể Hậu đã khỏe nhờ bộ lạc này cứu chữa cùng chăm sóc kỹ lưỡng. Anh cho là như thế vì không có một giả thuyết nào khác có thể thay thế được. Đang suy nghĩ, Hậu nghe có nhiều tiếng chân bước đến gần. Một, hai, rồi ba cái đầu khỉ xuất hiện. Lông lá màu vàng nhưng đôi mắt, mũi, miệng kia rất gần con người. Có nghĩa là khi nhìn đến lông lá thì nghĩ đến loài khỉ, nhưng nét mặt là con người và có nét Việt Nam rõ lắm. Không hiểu sao, Hậu cứ nghĩ đến có sự liên hệ nào đó bộ tộc khỉ này với dòng giống Việt. Một con khỉ lên tiếng:

“Ông có lẽ đói lắm thì phải. Tôi đã kiểm tra và chờ thầy thuốc đến tháo gỡ những thân nẹp bó chân và đầu của ông. Sau đó ông sẽ được ăn uống và tập đi lại cho quen.”

Hậu nghe tiếng bao tử sôi sục vì đói. Anh im lặng vì không biết bắt đầu nói thế nào trước một hoàn cảnh bất ngờ kỳ lạ thế kia. Anh chợt nghĩ mình đang trong một cơn mơ, và không phải anh vẫn thường quan niệm cuộc đời là giấc mộng lớn hay sao! Nghĩ đến đó, anh yên tâm nói:

“Tôi đói và cám ơn các người đã cứu tôi.”

Có tiếng trẻ con đùa giỡn ngoài động đá. Hậu xác định mình nằm trong một động đá nhưng ấm cúng chứ không lạnh lẽo. Điều này cũng khiến anh lạ lùng. Có người sờ chân anh và anh cũng phát giác quần áo mình dường như đã rách nhiều chỗ. Anh cũng dần thấy những con người khỉ này mặc quần áo thô sơ, dệt bằng đay kiểu xưa mà anh đã đọc trong những cuốn sách từng nói về dân tộc Việt cổ. Nhưng dân tộc cổ nào còn tồn tại trong thời đại văn minh thế này? Chỉ trừ những con người đội lốt khỉ, nhưng họ đội lốt làm gì với một người chết chìm như anh? Không hiểu được!

Một giờ sau, một toán bốn thanh niên khỉ lông vàng cao lớn mặc đồng phục vải đay thô màu chàm đến tháo bỏ những thanh cây bó chân và thân trên của Hậu. Anh được họ đỡ ngồi dậy và một người như là y tá cho Hậu ăn cháo. Cháo nếp nấu với mật mía, ngọt. Hậu ăn hết một tô cháo còn nóng. Thân thể toát mồ hôi, Hậu thấy nhẹ nhàng dễ chịu hơn. Anh nhìn chung quanh mới thấy mình nằm trong một hang đá xám ấm áp. Có rất nhiều giường bằng gỗ và các thanh nẹp cột với nhau làm sàn nằm. Có hai ngọn đuốc soi sáng cuối hầm đá. Phía trước nhờ ánh sáng từ đầu hang hắt vào.

Người thầy thuốc cứu chữa Hậu là một người đàn ông khỉ lông vàng ngả đốm trắng trên mặt như đã lớn tuổi nhưng không to con như những người khác, chỉ khoảng đến vai Hậu, mặt có nhiều nếp nhăn, chứng tỏ đã già. Điểm đặc biệt là mọi người có lớp lông màu vàng nhạt nhưng óng ả bao phủ. Họ ngạc nhiên khi nghe Hậu nói và họ hiểu không khó khăn lắm. Họ còn nói với nhau rằng, Hậu là một sắc dân đã bị tiêu diệt hơn ba trăm năm trước vì hiếu chiến. Không hiểu tại sao còn sót lại người như Hậu mà lạc đến xứ này.

Xứ này là xứ nào, có những con người như thế này và hỏi Hậu như thế kia. Anh là người Việt cổ còn sót lại? Lúc này tự dưng Hậu nghĩ mình đang ở trên một sân khấu trình diễn kịch vì những sự việc diễn ra rất lớp lang và đầy kịch tính. Đêm đến, Hậu phì cười trên chiếc giường đá. Giữa họ và anh: ai cổ hơn ai? Tôi cổ sao không còn chút lông lá trên thân thể. Thời gian làm rụng lông và người thời nay trơn tru, lịch sự quần áo hẳn hoi, chứ không như các anh, đang khoác trên thân thể miếng vải bằng vỏ cây tết lại. Hậu thức giấc nhiều lần trong đêm với những thắc mắc không có giải đáp.

Hai hôm sau, Hậu khỏe hơn và sau khi ra khỏi cái bệnh viện hang đá ấy, anh được đưa đến hội trường của làng. Hậu quan sát, làng ở giữa những ghềnh đá nối tiếp nhau. Những chiếc hang đá là nơi trú ẩn của các gia đình người khỉ này. Một người già giải thích, làng xây dựng trên đỉnh của một hỏa diệm sơn đã tắt bao thế kỷ trước, nhưng sức nóng của nó còn đủ cho cả làng này ấm bốn mùa. Cuối làng là con suối nước nóng. Chính con từ con suối này, các thiếu nữ khỉ đi tắm phát giác ra Hậu và cứu anh về.

Hậu trở thành vấn đề của làng Khỉ. Anh tự đặt tên như thế, vì thường những câu hỏi của anh không được trực tiếp trả lời. Những ngày kế tiếp dường như họ đã quên những câu hỏi của anh. Anh được cho ăn uống đầy đủ, nhưng hầu như những già làng- khoảng hơn hai mươi người, bao giờ cũng có những cái nhìn khác biệt về anh. Một nửa nhìn anh như nhìn một sinh vật lạ và một số người nhìn anh bằng ánh mắt nghi kỵ để rồi cảnh giác, chỉ có vài người vui vẻ, hiền từ xem Hậu như một sinh vật bất hạnh bị bệnh tật hay là một thứ quái thai gì đó. Cố tìm cách giải thích, Hậu cho rằng mình khốn khổ chỉ vì trên thân thể không có lông lá như họ ngoài ra tất cả những sinh hoạt tương đối có thể hiểu nhau.

Tuần lễ thứ hai, Hậu được mang ra giữa làng và ngồi trong một chiếc lồng gỗ to. Lúc này anh đã khỏe hẳn tuy đi lại còn hơi khập khiễng. Ngồi trong lồng, Hậu vừa nhìn những cô gái khỉ lông vàng tụ họp xa xa chỉ chỏ anh rồi cười với nhau. Đối với đám khỉ cái này, hình như anh là thứ gì bí ẩn đối với họ. Họ bàn cãi về anh rất nhiều, có những lúc họ hăng say ra dấu, nhưng ngồi trong lồng khá xa, Hậu không nghe được họ đang nói gì về anh. Riêng lũ trẻ con khỉ nhìn anh như một thứ sinh vật lạ lùng, hiếm hoi. Chúng nó đi chung quanh lồng, thỉnh thoảng ném vào lồng vài quả táo, mận hay khoai. Hậu không buồn cử động, anh chỉ muốn ngủ và đôi lúc lại muốn có một giấc ngủ muôn đời.

Nửa đêm thức giấc, Hậu lại nhớ năm trước trong một trại huấn nghiệp, người ta có đóng một cái chuồng nuôi con khỉ to giữa sân trại. Mỗi chiều, đám trại viên đi lao động trở về thường mang cho chú khỉ không thiếu thức ăn. Buổi chiều nọ, Thái, một trại viên đi làm về đến chuồng cho chú khỉ một quả chuối rừng và dăm quả mận rồi quì xuống lạy chú khỉ nói, “Thưa tổ tiên, cháu hôm nay mang về chuối và mận ạ!” Ngày hôm nay, Hậu cho rằng mình là con khỉ ngày đó và không chừng được những gia đình khỉ lông vàng ở đây xem như tổ tiên?

Mỗi chiều, hai thanh niên khỉ đến mở chuồng, đưa anh về bệnh viện của làng, cho tắm rửa và ăn uống. Anh được tắm ở suối nước nóng thoải mái và có lẽ trong nước suối nhiều lưu huỳnh nên vết thương của anh rất chóng lành. Hậu hỏi anh thanh niên tên Tánh, một cái tên rất người:

“Các anh có đi ra khỏi làng hay không?”

“Anh hỏi làm gì?”

Tánh hỏi ngược lại và nhìn Hậu như nghi ngờ. Hậu trả lời là chỉ tò mò. Tánh mang ra một rổ khoai luộc. Loại khoai lang tím ăn rất ngon. Vỏ khoai bị cháy nám thơm lừng. Tánh cho biết khoai này nướng trên đá hỏa diệm sơn ăn rất tốt, có thể kháng được các bệnh thiên thời. Hai người ngồi ăn. Tánh đêm nay là người trực ở cái hang y tế này. Tánh ít nói, dè dặt như cảnh giác với Hậu; nhưng anh vẫn cho là sự dị biệt chủng tộc đã làm nên thái độ này của Tánh.

Buổi tối, Tánh cảm thấy buồn, đi vào chỗ nằm của Hậu nói chuyện. Theo Tánh, Hậu là người thứ năm trong sáu mươi năm qua làng cứu được từ con suối nọ. Hậu hỏi những người ấy sau đó thế nào thì Tánh cho biết, tất cả đều sống và ở lại làng cho đến chết. Người cuối cùng chết đã hơn mười hai năm. Hậu hỏi Tánh:

“Ai cho anh biết việc này?”

“Già làng kể cho nghe.”

Trong năm người chỉ toàn đàn ông và Hậu là người trẻ nhất. Qua cách diễn tả của Tánh, Hậu mới biết mình mỗi ngày được mang lên sân làng để mọi người xem. Nôm na là để người trong làng học hỏi. Anh biến thành một thứ sách cho người trong làng đọc. Đọc để biết, để học và để tham khảo rằng, có rất nhiều loại sinh vật bàng hệ với họ mà anh là một điển hình. Nói chuyện thêm với Tánh, Hậu không khám phá gì thêm ngoài những sự kiện xa lạ, không tí liên hệ gì đến đời sống con người như Hậu. Anh nhớ đã kể cho những già làng của xứ sở người Khỉ này về nguồn gốc của mình. Họ không có ý kiến và một lời phát biểu nào sau khi Hậu kể cho nghe cuộc sống của anh trước kia.

Hậu đã từng nói về đời sống văn minh với những chiếc máy bay có thể giúp người ta đi một đoạn đường dài không đến một giờ đồng hồ. Tất cả những điều ấy dường như hoàn toàn xa lạ với họ và họ cũng không hề hình dung ra được. Khi nghe Hậu kể xong, Tánh nhìn anh nghi kỵ và cuối cùng nói:

“Điều anh kể đã được ghi nhận. Các anh là người sống trong ngục tù của pháp thuật. Thế các anh ăn gì để sống?”

“Cũng như các anh. Gạo, khoai và cá thịt.”

Hậu không buồn kể thêm vì biết mình chỉ làm việc vô nghĩa. Không ai hiểu được những điều bình thường của xứ văn minh, trong khi họ còn quá lạc hậu.

Tánh tuy nói chuyện với Hậu, nhưng bao giờ cũng giữ một khoảng cách. Điều này khơi lên trong lòng Hậu sự nghi ngờ mơ hồ. Nhiều đêm Hậu suy nghĩ cái làng này có thực sự là một cấu trúc của nhà nước nguyên thủy, hay chỉ là một cơn mơ của một nửa bán cầu não của anh đã bị tổn thương vì cơn lũ tháng trước? Điều này, những ngày tháng kế tiếp, anh luôn tự hỏi chính mình nhưng không hề trả lời được.

Hai tháng sau, một buổi trưa, Tánh nói với Hậu rằng, làng có một thư viện rất lớn trên núi cao kia. Tánh chỉ một nửa quả núi phía Tây chìm trong mây trắng. Thoạt nghe, Hậu lạ lùng nhưng lại thấy quen thuộc, không biết mình đã nghe ai từng nói hay sao? Hậu yêu cầu Tánh dẫn mình đi xem. Tánh trả lời:

“Chỉ có công dân của làng mới được đến đó xem. Anh muốn đi, ít nhất anh phải được công nhận là công dân của làng.”

“Làm thế nào để được công nhận?

“Thì anh phải có vợ và có nhà cửa như mọi người.”

Viễn ảnh có một người vợ khỉ làm sụp đổ nhiều suy nghĩ về một đoạn đời của Hậu. Việc này lại mang cho anh ý nghĩ khôi hài khi nghĩ đến. Điều kinh khủng hơn là, càng về sau, càng có nhiều cô gái mang đến cho anh thức ăn, nước uống từ trái cây. Có cô còn mang cho anh những bộ quần áo mà họ tự dệt để anh thay đổi. Hậu dần kết luận có chút chủ quan rằng, mình dù sao cũng văn minh hơn họ dù có là tổ tiên của họ.

Vào tháng thứ hai, khi Hậu xin đi dạo chung quanh làng, vị trưởng làng vui vẻ bảo “Phải chờ thêm một tháng nữa có hội đồng làng đồng ý mới được.” Hậu buồn bã trở về hang đá và xin được làm việc sau khi thấy mình hoàn toàn bình phục.

Hậu chia khoai cho tổ y tế mỗi chiều do toán nhân công làm việc tại các trại trồng khoai gần vùng núi lửa đã tắt. Khoai được nướng trên nền đá núi cháy vỏ rất thơm ngon. Khi Vàng, một cô gái thường xuyên đến thăm Hậu trong một buổi chiều, nói với anh, “Anh có thể lựa một cô gái trong làng lấy làm vợ!” thì Hậu hỏi ngay, “Thế các cô không sợ tôi hay sao?” Vàng mỉm cười bảo, “Ban đầu, mọi người ở đây có thấy sự khác biệt, nhưng theo các già làng bảo, giống người của anh lịch sự, thông minh và khôn ngoan hơn chúng tôi nhiều.” Nghe như thế, Hậu chỉ biết nói, “Tôi cần suy nghĩ thêm.”

Hậu dần dần hiểu chữ “lịch sự” ở xứ này có nghĩa là đẹp. Và anh tự nhủ, “Ta không thấy cô gái nào ở đây lịch sự cả!” Ban đêm, Hậu nhớ lại bà nội anh từng xử dụng chữ “lịch sự” khi nói về người cô của anh, người đàn bà đẹp nhất làng lúc bấy giờ. Nhưng anh không từ bỏ ý định lên thư viện làng để hiểu nơi ấy chứa những sách vở gì? Điểm mấu chốt này cho anh một niềm vui và cả một niềm tin mơ hồ rằng, mình sẽ tìm ra được lý lịch một dân tộc bị bỏ quên, đồng thời, nhờ sự kiện này, anh sẽ khám phá về hoàn cảnh của chính mình mà đôi khi, anh vẫn thấy phân vân cho rằng có gì không thực sự tồn tại chính trên mảnh đất này! Hậu thích thú trả lời Vàng khi cô hỏi anh lần thứ hai về việc anh cần lập gia đình:

“Tôi chỉ lập gia đình một khi tôi hiểu mình đang ở đâu? Tôi có thể trở về quê hương hay không? Bao giờ trở về, để có thể nhận nơi này là quê hương của mình?”

Vàng lắc đầu thất vọng khi nghe Hậu nói. Cô ta im lặng một lúc rồi thở dài bảo:

“Tôi sẽ trả lời câu hỏi của anh.”

Cô ta đã ra đi từ lâu, nhưng Hậu vẫn chưa dừng suy nghĩ về xứ sở nhỏ bé và không gian chật hẹp này. Có điều gì bí ẩn không giải đáp được về một sắc dân chỉ khác biệt bề ngoài, còn bên trong từ sinh hoạt và suy nghĩ không khác gì Hậu. Tuy nhiên, Hậu cho rằng, khi đến thư viện đọc sách, may ra sẽ khám phá được tất cả những lý do thắc mắc của mình. Và hôm sau, anh đã đến nhà làng để hỏi người được xem là chức sắc, có thẩm quyền quản lý mọi sinh hoạt của của làng. Ông Xanh là một người khỉ ốm yếu nhỏ con, nhưng có khuôn mặt tinh anh và đôi mắt sáng quắc. Ông ta tiếp Hậu nhưng ít nói, chỉ quan sát Hậu như một sinh vật khả nghi hơn là một con người có vấn đề đến xin giải quyết.

Hậu lập lại câu hỏi, “Tôi muốn biết mình đang ở đâu, liệu tôi có thể trở về quê hương hay không bao giờ có thể trở về, để có thể tiếp tục sống ở nơi này như quê hương của tôi? Ông phải biết mỗi người chỉ có một quê hương!”

Ông Xanh mỉm cười im lặng, một chốc mới nói:

“Anh phải nhận nơi này là quê hương của anh vì anh không có chọn lựa nào khác. Thực ra, anh không có quê hương vì thế hệ cha ông của anh đánh mất quê hương từ lâu. Đến đời anh, dù có một mảnh đất để anh sống, nhưng đó là chỗ để anh bám vào mà tồn tại. Nơi chốn hun đúc chí khí, hình thành nhân cách, nuôi dưỡng đời sống tinh thần của anh đã tan biến từ lâu. Anh là loài chùm gửi anh biết không?”

Hậu ngạc nhiên khi nghe ông Xanh nói, anh hỏi thêm:

“Ông biết gì về quê hương của tôi mà nói thế? Tôi nghĩ rằng ông không hiểu gì về một xã hội văn minh, tiến bộ cả.”

Ông Xanh lại cười bảo:

“Một ngày kia, anh sẽ hiểu rằng đây mới là quê hương đích thật của anh. Có rất nhiều quê hương đã tan rã và quê hương duy nhất còn tồn tại là mảnh đất này. Anh sẽ hiểu anh đang ở đâu, một khi anh chấp nhận mình là công dân của xứ sở này. Đấy là giải pháp duy nhất cứu anh và anh không phải đánh mất mình lần nữa. Còn cái mà anh gọi là văn minh, thực sự chỉ là sự nô lệ khốn cùng. Thời gian này sẽ giúp anh dứt bỏ sự nô lệ ấy bằng cách tìm trở lại mình.”

“Ông nói gì? Tôi đánh mất mình? Thế bấy lâu nay tôi không phải là tôi sao?”

“Anh không phải là anh từ khi anh không thấy được quê hương đích thật của mình. Chỉ có quê nhà ở đây mới là nơi anh tìm thấy lại chính mình. Và trở thành công dân…”

“Muốn trở thành công dân, tôi phải lấy vợ phải không?”

“Đúng như thế! Nếu anh không lập một gia đình, anh phải chịu thêm một thử thách qua sáu mùa gặt. Nghĩa là anh phải sống khá lâu để chúng tôi nhận ra rằng anh đã trở thành công dân tại đây.”

“Ông không biết sự khác biệt giữa chúng ta hay sao? Làm thế nào tôi có thể lấy một cô gái lông lá hay ngược lại, họ có thể vui vẻ chia sẻ hạnh phúc với tôi, một con người không có lông lá như họ? Tuy nhiên, tôi không loại trừ trường hợp sống qua sáu mùa gặt để trở thành công dân!”

Hậu thẳng thừng nói và hy vọng một cách mơ hồ rằng, đấy là giải pháp, tuy trong lòng hoàn toàn thất vọng khi nghĩ Vàng muốn trả lời anh nên đã đi hỏi ông Xanh trước.

Ông Xanh nghiêm trang nói:

“Anh phải hiểu rằng, một khi đã là công dân của xứ sở này, sự khác biệt ấy sẽ dần dần biến mất. Thực ra, sự khác biệt ấy chỉ có nơi anh, còn tôi không hề thấy anh có sự khác biệt nào cả. Anh chỉ là kẻ đánh mất quê hương trên đường tìm lại quê hương đích thực của mình. Con đường anh đi đã quá xa và quá lâu, nên anh không thấy mình quen thuộc điều gì cả, khi anh trở về trên chính môi trường gốc rễ đã sản sinh ra anh. Bởi thế, anh chỉ thấy sự khác biệt mà không hề hiểu rằng, nếu anh thật sự nhận ra đây chính là quê hương, thì chắc chắn anh sẽ không bao giờ bỏ nó ra đi. Còn nơi này, anh hãy suy nghĩ kỹ. Anh sẽ thấy quê hương và mọi người luôn luôn mở rộng vòng tay chào đón anh. Việc đề nghị anh lập gia đình chỉ là một phương pháp giúp anh trong khi anh chưa tìm ra lời giải đáp cho sự nghi ngờ của mình.”

“Tôi vẫn không hiểu ý ông nói?”

“Sẽ không có gì khó hiểu một khi anh yêu mến xứ sở này. Hiện tại, anh còn nghi ngờ xứ sở này, dù rằng anh đã được người ở đây cứu thoát chết và cho anh một cuộc sống bình yên. Hãy tập yêu mến xứ sở này như quê hương của anh. Điều này có gì là khó khăn đâu mà anh nghi ngại.”

“Làm thế nào tôi có thể yêu mến xứ sở này trong khi không hiểu mình đang ở đâu và liệu tôi có thực sự tồn tại hay chỉ là một giấc mơ? Tôi nói như thế, bởi nếu tôi có nghi kỵ xứ sở này là vì tôi đã nghi ngờ chính tôi. Tôi không thể xác định được lý do mình tồn tại ở một nơi mà không có chút liên hệ gì đến quá khứ của mình. Tôi là ai? Từ một cơn lũ, đã đưa tôi đến một nơi mà mọi sinh hoạt để tạo sự sống chưa từng có trong ý nghĩ của mình, thì làm thế nào tôi có một quê hương được xây dựng trên tầng mây vô định như thế? Có lẽ tôi cần thời gian như ông nói để xác lập được vị trí của mình.”

Lắng nghe Hậu nói, vừa nhìn anh chăm chú, cuối cùng, ông Xanh bảo:

“Thực ra, anh đánh giá anh quá cao mà anh không hiểu rằng, anh đang cần được cứu vớt, giúp đỡ. Anh lại không phân biệt được đâu là mơ và thật vì anh chưa hiểu ý nghĩa của giấc mơ và giá trị của một cuộc đời. Còn nếu muốn anh chết, điều này không khó với chúng tôi. Cho anh một con đường sống mới là vấn đề khó khăn. Anh vẫn còn nhìn thấy sự khác biệt, trong khi chúng tôi lại nhận ra anh chỉ là một kẻ trở về nhà sau nhiều năm đánh mất chính mình. Tóm lại, anh cần có thời gian tiếp xúc với cuộc sống thật ở đây để có thể có tình cảm chân thật với nó, hầu loại trừ hẳn sự nghi ngờ trong lòng mình.”

Hậu chán nản trở về và suốt đêm anh không ngủ được. Hậu ra ngoài hang ngắm sao trời và lắng nghe tiếng thác chảy ì ầm từ phía Bắc. Bầu trời đêm thăm thẳm với những vì sao không khác quê hương của anh ngày còn bé. Hậu ngồi xuống phiến đá ngoài cửa hang, gió mát rượi và chung quanh anh có lẽ ai cũng đã ngủ vì trời đã quá khuya. Anh thở dài nghĩ đến những gì đã xảy ra với mình trong khoảng hai tháng từ cơn lũ trên núi cao. Nó đã xóa tất cả quá khứ của anh và thay vào đó một hiện tại mơ hồ giữa hư và thực. Ba hôm sau, một buổi tối, Tánh đến nói nhỏ với anh, “Anh Hậu không biết là mọi người ở đây đều xem anh là một con người!” Hậu giật mình hỏi lại:

“Sao anh bảo thế, bộ mọi người ở đây đều cho rằng tôi không phải người hay sao?”

“Đúng thế, hội đồng già làng sau khi quan sát khuôn mặt anh không thay đổi nên đã tin anh là người.”

“Thế các anh không phải người hay sao?”

“Chúng tôi cũng là người. Người là một sinh vật không thay đổi khuôn mặt. Anh không hề có chút thay đổi nào khi các già làng xem xét và quan sát từng biểu lộ của anh từ ngày anh đến nơi này.”

“Thế nào là thay đổi?”

Hậu không hiểu hỏi lại, Tánh bảo:

“Có người khi giận dữ hay phiền muộn, khuôn mặt thay đổi. Một số hiện ra khuôn mặt sói, hổ hay báo. Tuy nhiên, điều này có thể khó hiểu cho anh nhưng dần dần anh sẽ hiểu.”

“Tại sao có chuyện kỳ lạ như vậy? Biểu tượng hay là thực?”

“Anh không hiểu rằng người là sói với người hay sao?”

Tánh không nói thêm, nhưng đêm ấy Hậu ôn lại tất cả những cử chỉ của dân làng khi nhìn anh, lúc nào cũng như dò xét. Ngay cả Vàng, cô gái có nhiều cảm tình với anh, nhưng khi nói chuyện, đôi khi cô ta nhìn sâu vào mắt anh như muốn tìm một cái gì đó bí ẩn. Nghĩ đến đó, Hậu đưa tay lên sờ mặt tự hỏi mình có lông lá như họ hay chưa? Hôm sau, Hậu vừa nhặt khoai vừa suy nghĩ. Anh nêu lên giả thuyết, nếu sống lâu ở đây anh sẽ dần dần biến thành người dân xứ sở này và không có chọn lựa nào khác. Buổi chiều, gặp Vàng, anh hỏi cô ta về điều ấy, Vàng cười trả lời:

“Đúng như thế nhưng không phải hoàn toàn.”

“Tại sao?”

“Vì chính anh thuộc về dân tộc này mà anh không biết mà thôi. Chúng tôi đã thấy anh từ ngày đầu tiên cứu anh sống lại. Trong hai tháng, chúng tôi thử thách anh. Tuy bề ngoài anh có khác biệt, nhưng bên trong lại là dân tộc này. Thế nên, dần dần anh sẽ tìm thấy lại mình để có sự hội nhập.”

Buổi tối, trước khi ngủ, Hậu suy nghĩ và cảm giác mình hiểu điều gì đó. Vàng đã không dối anh, dù ngay lúc cô ta nói với anh điều ấy, tự dưng anh muốn phủ nhận và phản bác lại, nhưng không thốt nên lời được, vì trong đầu anh không đủ dữ kiện để trả lời cô ta.

Hậu ngủ say và trong giấc ngủ, anh thấy mình biến thành khỉ như mọi người. Sau đó, anh lấy Vàng làm vợ và sống hạnh phúc với hai người con. Khi tỉnh giấc, Hậu nhớ lại rồi sợ hãi. Lúc này, anh tự hỏi sự thật là thế nào và ở đâu? Anh đang sống hay đang mơ? Hậu chạy ra ngoài cửa hang, nhìn bóng mình trong lu nước mưa. Anh yên tâm khi vẫn thấy một khuôn mặt từng theo mình suốt hai mươi tám năm qua, dù thời gian này hôm nay với anh dường như dần dần xa lạ.

Đó là cảm giác thứ hai bên cạnh một Hậu cũ. Một Hậu của quê hương văn minh tiến bộ và một Hậu mới của xứ sở người khỉ mà mỗi ngày mỗi gần gũi anh hơn. Quê hương chôn nhau cắt rốn của anh dường như là một cơn mơ, cái hang động mà anh cư ngụ hôm nay dường thân quen hơn qua ba tháng anh đấu tranh để tìm hiểu một sự thật.

Thực ra càng về sau, thời gian đến từng bước thì trí óc của Hậu cũng phai nhạt từng bước về quá khứ của mình. Chừng một năm, khi Hậu nhớ đến Trấn, anh chỉ còn nhớ khuôn mặt mà không nhớ tên. Về sau, có khi anh nhớ tên Trấn nhưng lại không hình dung ra đó là ai. Cứ như thế, như một giấc mơ theo thời gian phai nhạt dần. Bù lại, anh biết thêm chung quanh anh có một số người ban đầu nghi kỵ anh, nhưng dần dần người ta tin anh và cho rằng anh gốc gác không khác họ. Biến cố lịch sử nào đó đã đưa anh đi lệch ra khỏi dòng sống của dân tộc? Anh lạc loài, thì bây giờ, anh đã trở về, cộng đồng mở rộng vòng tay để đón nhận anh trở lại và anh nhận ra dần bản thân mình. Điều này cũng là niềm hy vọng của bộ tộc này, vì khi đã hội nhập, thì Hậu không còn thấy lỗ hổng quá khứ và mọi người ở đây cũng không còn thấy sự khác biệt nơi anh.

Mỗi chiều, Hậu nghe Vàng nói với anh về một đời sống nông nghiệp thô sơ và một cuộc đời mà con người ở xứ sở này sống hạnh phúc. Với những bài hát giản dị, ca ngợi sức lao động trên cánh đồng lúa, khoai sắn ngút ngàn, Hậu dần dần thấy mình đi vào một nền nếp đã sắp sẵn. Anh nói với Tánh đưa anh lên núi đọc sách như một yêu cầu tuyệt vọng trước khi đầu hàng sự thật.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Lê Lạc Giao

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Đăng nhập | Entries (RSS) | Comments (RSS)