Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn, Truyện vừa Email bài này

một thời điêu linh (kỳ 3/4)- Xứ Khỉ: hàng cây thiêng, thư viện đá




Capture



hàng cây thiêng, thư viện đá*

Buổi trưa hôm ấy, Vàng mang cho anh hai chiếc bánh nếp và nói nhỏ, “Anh có nghĩ gì về tương lai của mình không?” Hậu lắc đầu và hiểu Vàng muốn nói gì. Cô ta tỏ vẻ thất vọng. Lần đầu tiên Hậu thấy Vàng buồn. Nỗi buồn tự nhiên trên khuôn mặt Vàng làm Hậu xúc động. Anh cầm tay Vàng, bàn tay thon gọn nhưng chai cứng vì lao động nặng nhọc của người con gái, tuy bên ngoài có một lớp lông vàng óng bao phủ. Vàng im lặng để cho Hậu nắm tay. Cô ta nhìn vào mắt Hậu rồi nhìn những đỉnh núi xa xa, nói:

“Có lẽ anh phải lên núi để thấy anh đang đứng trong lòng dân tộc mình.”

“Tại sao?”

“Vì nơi ấy là nơi tàng trữ lịch sử của một dân tộc. Anh phải đến đấy để tìm thấy lại và tự hào. Chỉ có sự tự hào mới làm cho người ta yêu mến quê hương xứ sở. Rồi đây, anh sẽ hiểu ra niềm tự hào của chúng tôi làm quê hương này tồn tại.”

“Thật sao?! Cô nói hợp lý, nhưng tôi chưa hề có chút tự hào nào đối với mảnh đất này!”

“Bởi anh còn thấy sự khác biệt. Còn thấy sự khác biệt, anh chưa có sự hy sinh và sẵn sàng bảo vệ quê hương của mình. Lòng yêu nước là ý chí của một dân tộc. Tuy nhiên, anh vốn là đứa con đi hoang của dân tộc. Một khi trở về và hòa nhập được, cũng chính là lúc đánh thức ý chí dân tộc trong anh mà thôi.”

“Thế bao giờ tôi có thể lên núi để xem lịch sử dân tộc?”

“Tôi sẽ giúp anh đi, nhưng bây giờ thì chưa được. Tôi nghĩ, tùy vào anh. Anh có hiểu không?”

Vàng nói, nhìn sâu vào đôi mắt Hậu và anh tự hiểu. Anh đến được thư viện sớm hay muộn là tùy vào thái độ của mình. Tuy Hậu nghĩ, dù có khó khăn, nhưng thái độ thù nghịch của người dân ở đây đối với anh, so với tháng đầu tiên, đến ngày hôm nay không còn nữa. Anh nghĩ rằng Vàng thích anh, nhưng đó có phải là tình cảm trai gái hay không, anh lại không dám nghĩ đến.

Đêm ấy, Hậu ôn lại quãng quá khứ mà anh đã trải qua. Dường như điều ông Xanh nói với anh không sai. Có nhiều đoạn đường đời anh đi qua trái ngược nhau trong suy nghĩ. Và cho đến hôm nay ôn lại, anh lại thấy nó tan biến như những giấc mơ đời thường. Những chặng đường anh đã đi qua, dù có cho anh hạnh phúc hay chỉ toàn bất hạnh, nó lại là thứ tạo nên tính chất con người của mình. Nếu anh có buồn hay cay đắng hơn, cũng chỉ bởi quá nhiều điêu linh trên vận mệnh của mình, nhưng điều này không quan trọng cho bằng một khoảng không thời gian nào đó, mà chính anh không xác định mình có thực tồn tại, hay chỉ là một ảo ảnh do thương tật trí não gây ra.

Hai hôm sau, vào buổi trưa, Vàng ghé thăm Hậu và yêu cầu anh theo giúp cô ta dỡ một ruộng khoai dưới chân núi Vạc. Hậu vác cuốc và mang một túi vải đay lớn để đựng khoai. Vàng cho biết, sẽ có xe trâu chở khoai về làng. Núi Vạc khá xa, hai người đi khoảng hơn một giờ đồng hồ mới đến chân núi. Vàng quen thuộc đường đi nên Hậu cắm cúi đi theo. Con đường làng đắp đất chỉ vừa cho chiếc xe trâu, hai bên đường là những thửa ruộng bậc thang và trên các thửa ruộng, rải rác nông dân đang cắm cúi làm cỏ. Trên đường đi, Vàng cho biết cô là con gái của người chủ tịch làng nhiệm kỳ trước. Vàng ly khai gia đình khi cô 18 tuổi vì muốn tự lập. Nghe Vàng kể, Hậu thấy cuộc sống của làng khỉ này không hề xa lạ với anh. Tuy nhiên, anh không giải thích được lý do không xa lạ này. Chỉ có thể diễn tả đời sống nông nghiệp bằng những chữ êm đềm, yên tĩnh. Người dân ở đây sống yên ổn và tự tin với thành quả đạt được trong quá khứ cũng như hiện tại. Hậu chợt hỏi Vàng, “Có bao giờ xảy ra chiến tranh ở đây hay không?” Vàng lắc đầu nói rằng, “Từ khi sinh ra cho đến bây giờ, tôi không thấy có chiến tranh. Nhưng nếu có, thì đã có từ xa xưa lắm.” Vàng nói tiếp:

“Từ ‘chiến tranh’ thật xa lạ đối với tôi, nhưng người dân ở đây luôn luôn tin rằng, không có sức mạnh nào khuất phục họ được.”

Nghe Vàng nói, Hậu lại thấy quen thuộc một lối lập luận, một niềm kiêu hãnh dường như được hình thành từ trong quá trình đấu tranh mà có. Bên cạnh đó, Hậu có cảm giác dường như có cả anh tham dự vào. Nhưng ở đây có gì mà phải đấu tranh? Hẳn là phải đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn? Tuy vậy, theo lời Vàng và Tánh nói, xứ sở này mưa gió thuận hòa và rất ít khi phải chịu giông bão.

Hai người đi vào con đường mòn đến một con suối rộng. Nước chảy chậm rãi yên ả, cuối dốc nước đổ xuống thấp như một thác con. Hậu lại có cảm giác quen thuộc. Vàng chỉ những cây cổ thụ xa xa lờ mờ trên đỉnh núi, phía mà mọi người bảo nơi ấy là thư viện của làng, nói:

“Những cây sao xanh trên đỉnh núi này có từ năm mươi thế hệ trước.”

“Lâu đến như thế sao? Năm mươi thế hệ ít ra cũng 1500 năm phải không?”

“Đúng vậy! Ngày xưa tổ tiên đã trồng những cây sao này sau khi chiến tranh chấm dứt.”

“Thế dân xứ này đánh với ai? Phải có dân tộc xâm lược và dân tộc chiến đấu chống lại để sinh tồn chứ?”

“Tộc phương Bắc. Rợ tóc dài, răng nanh, mắt xếch. Nghe Vàng nói, Hậu lại nhận ra mình đã nghe ai nói điều này từ lâu và rất nhiều lần.”

Anh hỏi lại:

“Thế tộc rợ tóc dài răng nanh mắt xếch này ngày hôm nay có còn hay không?”

“Sao không còn! Họ còn dữ tợn hơn nữa kia.”

“Thế họ ở đâu?”

“Tôi không biết, nhưng xa lắm.”

“Xa là tận đâu?”

“Tôi chỉ biết ông bà kể lại. Họ tuy xa mà gần, thế nên chúng tôi không nên quên cảnh giác.”

“Xa mà gần, tôi không thể hiểu được?”

Vàng chỉ lên hướng trời phương Bắc. Hậu nhìn theo một vùng mây trắng mênh mông. Anh nghĩ Vàng chỉ nghe người lớn tuổi kể lại. Hỏi lại Vàng lý do cô ta biết về lịch sử của xứ sở này, Vàng cho biết cô từng đến thư viện làng trên núi để đọc. Lúc này, Vàng kể chi tiết trong hang động trên núi có rất nhiều tranh khắc trên đá, mô tả lịch sử dân tộc.

Hai người lội qua một con suối, đến một triền dốc thoai thoải. Lên khỏi dốc, hai người chậm rãi bước vì mệt. Lấy nước trong quả bầu khô đưa cho Vàng uống, Hậu cũng uống một ngụm và hai người tiếp tục đến một con suối khác, men theo rãnh núi đi lên dần. Lúc bước vào một khung gỗ to vòng cung uốn lượn của một cửa hang, Vàng nói:

“Chúng ta đang đi trong bộ xương rắn khổng lồ. Con rắn đã chết từ năm trăm năm trước. Xương nó đã hóa thạch.”

Hậu không tin, bèn dùng dao cạo một mảnh lớn rong rêu bên trên, chạm đến một lớp đá trắng như vôi. Anh nhìn vòng cung xương cao hơn đầu người, nghĩ đến những con khủng long tiền sử. Nếu nó là khủng long, ắt phải đến cả vài chục nghìn năm. Còn con rắn này cũng là loài bò sát thời xưa, chiều dài ước chừng đến cả trăm mét. Hai người ra khỏi khung xương rắn, đến một lối mòn, vượt qua đỉnh đồi, đến một triền thung lũng trồng khoai và lúa.

Hậu cuốc dỡ từng liếp khoai. Củ rất nhiều, to, nhờ đất đỏ mềm xốp. Hết khoai sọ lại đến khoai mỡ, khoai lang. Khoai chất thành đống và chừng nửa buổi chiều, có ba người đánh xe trâu theo đường mòn lên chở về. Khi mảnh ruộng khoai của Vàng thu hoạch xong, hai người trở về bằng ngã tắt đến con suối thứ hai, Vàng bảo Hậu, “Chúng ta đi tắm trước khi về”. Hậu lắc đầu bảo Vàng cứ tắm, còn mình lên đầu suối chờ. Vàng để cả quần áo nhảy xuống suối tắm, trong khi Hậu ngồi trên tảng đá, nhìn về phía những cây sao cổ thụ trên nguồn xa xa.

Đêm hôm ấy, Tánh ghé thăm Hậu và kể chuyện về hai trăm cây sao trên nguồn. Tánh bảo:

“Ngày xưa ba trăm cây, giờ chỉ còn hai trăm. Một trăm cây mất trong thời kỳ chiến tranh. Tổ tiên hạ xuống để làm cung, nỏ, tên và thuyền chống giặc phương Bắc. Ngày xưa, dòng suối này rất lớn, thông ra một đầm nước mênh mông. Sau khi đuổi được giặc, xứ sở thanh bình, thì một trận động đất cắt đứt đường ra đầm nước. Bốn phía bộ tộc là thung lũng, xa hơn là núi. Suối chảy luồn trong núi và không biết về đâu. Sau này, người dân tính hạ cây xuống lấy gỗ làm nhà, nhưng vô phương. Cây trở nên cứng như sắt thép, trơ trơ nhưng không chặt, đẽo gì được. Đến một năm cháy rừng, hàng cây tuy bị cháy nhưng sau đó mưa xuống lại tươi tốt như cũ. Năm trăm năm trước cả xứ mất mùa không có gì để ăn. Sông, suối, ao, hồ cũng không còn chút cá tôm, hàng cây lại ra hoa kết trái. Hoa đỏ, trái to như quả bí, vỏ xanh ruột vàng. Dân đói quá, hái về nấu lên, ăn thấy mùi vị bùi như khoai. Cứ thế, đám quả xanh ruột vàng ấy đã cứu cả xứ thoát chết đói.”

“Thế bây giờ cây còn cho trái hay không?”

“Không hề có trái và vài trăm năm trở lại đây, không ai biết trái cây ấy hình thù ra sao. Biết là nhờ đọc ở thư viện.”

Hậu tò mò hỏi:

“Nó phải giống trái gì chứ?”

“Giống như trái vả, nhưng to như quả dừa theo miêu tả của người xưa. Đám cây này trở thành cây thiêng của xứ sở.”

“Tại sao là cây thiêng?”

“Vì tính chất bền vững bất tử của nó. Hàng cây này trở thành “cha già dân tộc” đấy!”

Sáu tháng trôi qua, Hậu tuy được tự do đi lại để lao động, nhưng anh như bị nhốt trong suy nghĩ chính mình. Anh quen dần sinh hoạt và tập tục của một thế giới mà anh cho là bị lãng quên hay bị ruồng bỏ vì một lời nguyền rủa. Anh khám phá người dân nơi này có một niềm kiêu hãnh âm thầm nhưng bền vững. Niềm kiêu hãnh này là sự tin tưởng bất di bất dịch vào nếp sống của tổ tiên truyền lại, trở thành truyền thống mà ai ai trong xứ sở nầy cũng phải noi theo.

Một buổi sáng, Hậu được hội đồng làng gọi lên nói chuyện. Anh được hỏi nguyện vọng của mình. Hậu trả lời:

“Tôi vẫn muốn biết tôi có liên hệ thế nào với dân tộc, xứ sở này, để có thể có một ước muốn xây dựng cuộc đời mình.”

Tám người già làng vào phòng trong nói chuyện với nhau rất lâu, sau đó quay ra nói với Hậu:

“Anh sẽ được đến thư viện đọc sách. Điều này là đặc ân cho anh vì chỉ có công dân chân chính mới được bước vào thư viện để đọc trí khôn dân tộc.”

Hậu trở về nhà của anh, lúc này là một gian nhà tranh cạnh nhà của Vàng. Cô ta đã vận động người trong làng làm cho anh ngôi nhà này hai tháng trước. Lúc cất nhà xong, Vàng nói với anh:

“Anh phải dần sống tự lập. Căn nhà này có thể là gia đình tương lai của anh. Mọi người tạo cơ hội cho anh xây dựng một cuộc đời mới. Bây giờ, anh gần như là thành viên của cộng đồng.”

Hôm nay, được cho phép đến thư viện, Hậu mừng lắm. Anh ghé nhà Vàng báo tin cho cô ta hay. Vàng cũng vui và mời anh ăn bữa cơm trưa. Hai người ăn, cử chỉ như vợ chồng. Lúc ăn xong, Vàng mang chén bát xuống bếp. Hậu chăm chú nhìn theo Vàng và nhận ra mình dường như đã lâu không còn biết cô ta khác mình như thế nào? Vàng như một thiếu nữ anh quen biết đã lâu năm. Và anh cũng là người bạn thân thiết của Vàng. Ranh giới ngày trước dường như tan biết mất. Hậu hiểu, nhưng không tìm ra được một câu trả lời nào để giải thích vấn đề này. Nơi này mùa xuân đã qua, hoa dại nở khắp nơi nhờ nắng ấm. Hậu im lặng theo Vàng lên núi.

Vàng vai mang gùi, trên có một bó hoa tím và một dải lụa thô trắng. Hậu theo Vàng lên núi vào thư viện. Cuối dốc một con suối, có hai quả đồi song song từ xa như đôi vú thiếu nữ. Nắng nghiêng đồi thoai thoải. Vầng mây trắng trên cao như đang đùa với gió. Hậu ngửng nhìn trời rồi nhìn Vàng đang thoăn thoắt bước đi phía trước. Đi được nửa đường, Vàng dừng lại dưới một gốc si cổ thụ, lấy nước mang theo trong gùi ra uống rồi đưa cho Hậu. Anh vừa uống vừa nhìn Vàng, mặt nàng ửng đỏ vì nắng. Một thoáng, Hậu thấy Vàng xinh xắn và dường như anh đã quên mất lớp lông vàng trên mặt cô ta. Khi quay về với thực tại, Hậu lắc đầu và trả lời Vàng khi nàng hỏi, “Anh đang nghĩ gì thế?”

“Không phải nghĩ mà là đang mơ mộng. Tôi đang mơ ngày còn thơ…”

Vàng lắc đầu mỉm cười rồi vừa nhìn lên núi, vừa nói:

“Quá khứ của anh chỉ là sợi xích buộc chân. Nghĩ đến nó, anh sẽ không đi ra khỏi được chiếc bóng của mình đâu! Anh phải có tự do cho tương lai của anh. Hãy nhìn đằng trước như trên cao kia!”

Hậu chăm chú nhìn theo tay chỉ của Vàng trên cao, nơi một vệt xanh thẫm in đậm trên bầu trời. Vàng bảo, đấy là hàng cây thiêng. Hậu tự dưng nói:

“Hàng cây này đã giam lỏng cả một dân tộc. Không ai vượt ra được những trái núi chung quanh làng.”

Vàng nhìn lại anh lắc đầu không nói rồi tiếp tục bước. Hậu nghĩ, Vàng quan niệm nhìn vào quá khứ để thấy tương lai chăng? Và anh có làm phật ý Vàng hay chỉ mô tả một phản ứng? Tuy nhiên, anh tự bằng lòng vì cảm thấy cả Vàng và chính anh không ai sai cả. Cả hai đều bị giam trong số phận của riêng mình, nhưng số phận này lại nằm trong số phận dân tộc. Và khi nhận ra điều đó, nào ai khiên cưỡng lại được?! Nếu có ai đó làm được, tất nhiên, họ đã lột xác, và từ con tằm, họ đã biến thành bướm và bay đi. Với Hậu, nhiều đêm suy nghĩ, “Ai ai cũng bằng lòng nằm trong chiếc kén của mình và không ai nghĩ đến việc thoát ra!” Anh lại an ủi, tằm cũng có thứ hạnh phúc của tằm, dù thứ hạnh phúc này bao giờ cũng bị nhốt trong kén.

Hậu và Vàng đi vào rừng cây thiêng của làng. Những hàng cây sao san sát nhau, thân phải to hơn bốn người ôm. Anh ước lượng hàng cây này có lẽ không dưới bốn trăm năm. Nhìn lên như nhìn trời cao. Tàng cây rộng đan với nhau như một mái nhà khổng lồ. Phía gốc tỏa rộng bóng mát, chỉ có cỏ và lau sậy mọc đầy. Dân trong làng, cứ ba tháng phát quang một lần. Nơi này là nơi lý tưởng để cắm trại nhưng vì là chốn thiêng liêng nên không có ai đến, trừ đám dân làng đến làm cỏ. Muốn đến hang đá thư viện, phải đi qua rừng cây thiêng và ai muốn đi qua, cũng phải báo trước cho hội đồng làng.

Hậu ngồi xuống một gốc cây sao, nghỉ và quan sát, Vàng ngồi bên cạnh hỏi, “Anh nghĩ gì về rừng cây thiêng?” Lắc đầu, Hậu nói:

“Tôi không có ý niệm gì về sự thiêng liêng ngoài phán đoán đây chỉ là một rừng cây sao do tổ tiên ông bà đã trồng mà thôi.”

“Thế những câu chuyện về lịch sử liên hệ đến hàng cây thì sao?”

“Đây là huyền thoại. Đúng ra là huyền sử. Với tôi, huyền sử không có giá trị khoa học lịch sử vì nó chỉ là những câu chuyện có tính hư cấu để làm giàu thêm cho ý nghĩa lịch sử. Điều này cũng làm cho một số người dễ dàng đắm chìm vào mê tín, nếu không muốn nói là trở nên ngu ngốc trên sự kiêu hãnh.”

“Anh thực nghĩ như thế ư?”

“Không phải là suy nghĩ riêng lẻ của tôi, mà đây là kinh nghiệm qua lịch sử các nền văn minh nhân loại.”

“Anh biết các nền văn minh nhân loại sao? Do tưởng tượng?”

Hậu im lặng chợt nhận ra mình đi quá xa. Vàng làm sao hiểu được quá khứ của Hậu, thứ quá khứ mà hôm nay anh cho là giấc mơ. Anh không xác định được cội nguồn về sự tồn tại của mình. Hậu lắc đầu nhìn Vàng nói:

“Đúng là tôi tưởng tượng.”

Hai người lại lên đường. Chỉ còn khoảng cây số đường núi là đến hang động thư viện. Vừa đi, Hậu vừa suy nghĩ, nhưng không sắp xếp tư tưởng mình một cách trật tự lớp lang, mà lại lộn xộn rối tung. Anh không nghĩ về quá khứ nữa, nhưng anh lại có linh cảm về quá khứ. Tuy vậy, kỷ niệm tám tháng trước, giờ như một điểm sáng mờ ảo hiện ra trong trí tưởng. Người thanh niên tên Trấn, đôi khi chợt hiện lên như một nhân vật trong một vở kịch mờ mờ ảo ảo xa xăm, còn trước đó nữa, anh hoàn toàn không có ý niệm gì ngoài sự trống rỗng. Vừa leo lên tảng đá hoa cương, Hậu quay lại kéo Vàng lên. Tựa vào tảng đá to trên lưng chừng núi, Hậu nhìn sang cánh đồng lúa xanh um bên dưới. Vàng đứng bên cạnh, lim dim mắt như chìm đắm vào cơn gió mát đang thổi lồng lộng từ phía lưng trời. Tự dưng Hậu đưa tay ôm lấy Vàng. Nàng mở mắt nhìn Hậu không nói, tựa đầu vào vai anh rồi lại nhắm mắt. Không ai nói với nhau lời nào. Lúc này trí tưởng của Hậu trở về một hồi ức quen thuộc, nhưng vẫn không xác định được là gì. Rất quen thuộc, khung cảnh của núi đá cùng cô gái đang trong vòng tay mình. Hậu nhức đầu khi cố nhớ lại. Không gì khác ngoài những cơn nhức nhối hai bên thái dương và sau ót. Vàng nhìn mặt Hậu hỏi:

“Anh sao thế? Bệnh phải không?”

“Không phải. Chỉ nhức đầu bất chợt, không hiểu tại sao?”

Vàng bảo Hậu xoay lưng lại. Cô xoa bóp hai vai anh. Bàn tay mạnh mẽ của nàng, khiến anh nghĩ đến sự vững chãi của một bộ tộc dưới thời mẫu hệ, hàm chứa sức mạnh của người phụ nữ và khởi nguyên cho nền văn minh nông nghiệp mà đặc trưng là lúa nước. Anh cầm bàn tay chai cứng của Vàng và nói:

“Cám ơn! Tôi đã thấy khỏe.”

“Chúng ta sắp đến thư viện.”

Vàng nói xong, lại cắm cúi đi. Hậu lẽo đẽo theo sau. Khi hai người đến thư viện, một khoảng đất bằng phẳng trên cao chừng hai mẫu tây. Giữa sân là một tảng đá hình quyển sách dày. “Một cuốn tự điển!” Hậu nghĩ như thế. Đến gần, anh nhận ra một tảng đá hoa cương màu vàng nâu khổng lồ. “Tảng đá này là khối óc của làng?!” Anh quan sát những vân đá hình mây, núi trên tảng đá cùng với những dấu vết như đàn chim bay do thiên nhiên tạo ra chứ không phải do con người điêu khắc. Vàng nhìn thẳng vào mắt Hậu, cầm tay anh, đưa lên mặt tảng đá và nói:

“Anh phải sờ vào tảng đá để có sự khôn ngoan, trí tuệ.”

Mặt đá còn nóng vì ảnh hưởng ánh nắng mặt trời. Hậu thoáng thấy bóng mình và Vàng phản chiếu trên mặt đá láng như gương. Bầu trời trên cao xanh thăm thẳm. Hậu nhìn chăm chú mãi mảnh trời xanh. Vàng đến gần, nói vào tai anh:

“Chúng ta đi vào thư viện.”

Hậu gật đầu đi theo Vàng, bước lên những bậc tam cấp thiên nhiên. Có hai mươi bậc tam cấp. Đi hết, đến một cửa hang vuông vắn, dường như do con người dựa vào thiên nhiên mà xây dựng lại. Trước khung cửa hình vuông là hai tảng đá lớn như tấm bình phong che cửa hang lại. Bước qua hai tấm bình phong này, Hậu đi vào một cửa hang mà phía sau mở rộng, thoạt nhìn như chia làm ba phòng bằng hai cột đá lớn phía trước. Điểm kỳ lạ là hai cột đứng trên chiếc trống đá và trên đầu là hai con chim sải cánh bay. Nhìn từ xa, trông như hai con chim đang gắp cột đá bay đi. Phía trên trần nhà, sau hai cột, lại có những khoảng trống thông lên trời và nhờ thế, trong động đá không thiếu ánh sáng.

Hậu không hề có ý niệm về một thứ thư viện kiểu như thế này của một bộ tộc. Thực ra, khi yêu cầu đến đây, lòng Hậu chỉ muốn biết mình đang ở đâu và sự tồn tại của mình có xuất xứ như thế nào? Dường như anh đang sống trong một chiếc khung thời gian lẫn không gian hạn chế. Cái bắt đầu là chỗ xuất phát. Hậu nghĩ rằng mình đang hiện hữu nhưng cũng rất mơ hồ về nguồn cội. Anh chỉ biết rằng, mình được cứu sống từ một tai nạn, nhưng trước tai nạn ấy, Hậu không xác định được mình đã làm gì và đã ở đâu?

Sau khi bình an, ổn định được cuộc sống và tương đối lý giải được sự hiện hữu của mình lúc này, thì đồng thời anh lại mất ý niệm thời gian. Thời gian là chỗ dựa vững chắc của con người. Không có ý niệm thời gian, con người sẽ mất phương hướng và trôi nổi lềnh bềnh trong vô định. Hậu muốn biết, ít ra, một lý lịch của một xứ sở mà anh đang sống dựa vào nó.

Tấm vách đá đúng là một quyển sách. Tấm đầu tiên, điêu khắc tỉ mỉ những hình ảnh của thuở ban đầu. Những con người trần truồng săn đuổi nhau. Nhìn chung quanh, Hậu chỉ thấy những trang sách đá nối tiếp nhau trên một hành lang nhìn từ xa như hẹp dần. Quay ra sau, Hậu không thấy Vàng và tự hỏi, không biết cô ta có vào thư viện với mình hay không?

Hậu nhìn tiếp trang sách đá mình vừa đọc. Anh tự dưng thấy thiếu một yếu tố nào đấy trong hang động này, nhưng anh nghĩ mãi không ra. Hậu đọc tiếp trang sách đá. Những bếp lửa từ trên trời do sấm sét gây ra. Những bếp lửa trên mặt đất do núi lửa hình thành. Những con người hái lượm hoa quả, với hình hài lông lá, trần truồng. Hậu cứ đi theo một hành lang hun hút và dần dần chìm đắm vào những hình ảnh trên tường đá. Không có gì dẫn giải, nhưng Hậu cảm nhận đấy là thuở hồng hoang của con người. Bức tranh bên trái bổ túc cho phía bên phải ý nghĩa hơn. Đó là đời sống bộ lạc con người chưa có ý niệm gia đình, riêng tư. Con cái tập trung và cha mẹ cũng tập trung. Tất cả là thói quen, xuất phát từ bản năng, để rồi cuộc sống hằng ngày hướng dẫn con người vào lợi ích bản thân và ý thức được hình thành từng bước.

Khi qua một khúc quanh đến một hành lang rộng hơn, Hậu quan sát cả hai phía phải và trái. Lúc này là những cuộc hội hè vui vẻ, được điêu khắc lên đá không đều nhau. Có chỗ chỉ là bản vẽ bằng màu mực đen: những con người lông lá đang nhảy múa. Hậu bước đến một căn phòng tròn rộng, thì thấy ở giữa có nhiều khối đá vuông vắn như những chiếc bàn, với nhiều tảng đá con làm ghế và có một số người đang ngồi nhìn lên vách như đang đọc sách. Hậu đến gần, không ai chú ý đến anh, dù anh cố tình chào họ. Nhìn kỹ không ai quen, không có Vàng. Anh tự hỏi vì sao cô ta đưa anh đến đây mà lại bỏ anh, đi đâu mất.

Hậu lại đi tiếp đến những trang sách đá, mô tả buổi bình minh của bộ tộc. Những trận đánh nhau với sắc dân khác. Họ cũng lông lá nhưng cao lớn hơn. Hậu nhớ mình từng được dạy rằng, loài người ban đầu là một loài người vượn, nhưng anh không rõ anh biết được điều đó từ lúc nào. Trước mắt anh, những trang huyền sử bằng hình vẽ hoặc khắc trên vách đá. Hậu nhận rõ mình đã từng được đọc như thế này. Anh mải miết đi theo con đường ánh sáng phản chiếu lên những hình vẽ, trong khi đầu óc anh đang say mê tham dự vào.

Một vách đá dài, khi là những bức tranh vẽ khi là những bức tranh điêu khắc các cuộc chiến tranh. Lúc đánh nhau trên bờ, khi thì thủy chiến trên các cửa sông. Lửa cháy, những chiến thuyền bị đánh đắm và từng đoàn người chạy loạn, gồng gánh, bồng bế con cái trên tay. Anh chợt thấy chính anh hiện diện trong đoàn người chạy trốn ấy! Một tiếng nổ inh tai và tiếng gọi, “Hậu ơi, Hậu!” khiến anh giật mình và nhìn ra sau.

Một khoảng trống! Một người đàn bà ngồi trên tảng đá lớn đang gọi anh. Người ấy ngồi rất xa nên anh không rõ mặt. Sau tiếng nổ và tiếng gọi, khoảng trống trong thư viện trở về trạng thái yên ắng kỳ lạ. Hậu từ từ tiến về phía người đàn bà. Đến gần, anh nhận ra mẹ anh! Phía sau bà, một thanh niên đang đứng nhìn anh. Hậu nhớ ngay đến Trấn. Anh kêu to, “Mẹ ơi! Mẹ ơi” rồi vụt chạy về phía bà. Khoảng cách giữa anh và mẹ anh hiện ra một giòng sông chảy xiết. Anh lao xuống, cố bơi sang bên kia bờ, nhưng bị dòng nước chảy xiết cuốn phăng đi. Bên tai anh lại nghe có tiếng Vàng nói, “Anh ơi, về đi!” Hậu không nhận biết gì thêm nữa cả! Anh bất tỉnh.

(còn tiếp)

*tiểu tựa do Da Màu đặt

bài đã đăng của Lê Lạc Giao

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc.
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)