Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 11, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Mắt Trời Mù – #11

VÀO TRUYỆN
Cái chết của lão ăn mày
 
Như lệ thường, từ mờ sáng, chị đàn bà có sạp vải ở chợ Thủ Đô ra dọn hàng sớm, phát giác thi hài của lão ăn mày nằm chết cong queo trong một góc, trên sạp hàng của chị. Ở chợ Thủ Đô không ai còn lạ gì lão ăn mày. Không biết lão từ đâu đến, nhưng lão có mặt ở đây đã mấy năm. Ban ngày lão đi xin, chiều tối lão trở về chợ Thủ Đô và khi những chủ sạp vải ra về thì lão tùy ý chọn một sạp hàng làm chỗ nghỉ lưng. Lão không ở một sạp nào nhất định. Hôm nào lão trở về trong người còn khỏe thì lão đi dạo thơ thẩn trong khu chợ vắng từ đầu này đến đầu kia, đến khi mỏi cẳng, lão chọn ngay một sạp gần nhất làm chỗ qua đêm. Hôm qua hẳn là lão mệt, nên về đến nơi là lão sà vào cái sạp ở gần ngay cửa ra vào, chính là chỗ mà sáng hôm sau, chị bạn hàng trông thấy lão gởi xác lại.
Thực là rắc rối, chị hàng vải cằn nhằn, chết ở đâu không chết, sao lại nhè ngay cái sạp hàng của tui mà chết vậy ông?”
Nhưng rồi cơn bực bội của chị dịu xuống ngay:
“Gặp đám ma có quan tài thì hên, chị nghĩ lại, biết đâu, đây chẳng là điềm báo trước thời chị sắp làm ăn phát đạt?”
Chị đi quanh quẩn tìm một viên cảnh sát nhưng không thấy. Các bạn chị chưa ai ra để chị được trao đổi một vài lời về cái cảnh mà chị phải gánh chịu đó. Chị bối rối, đi ra đầu chợ đứng ngó mong rồi lại đi vào nhìn cái xác, thở dài.
Trong ánh sáng của ngày chưa tỏ, xác lão già trông như một khối đen, các chi tiết bị xóa nhòa, trong cái thế co quắp bất động của một tượng đồng. Bên cạnh, mớ vật dụng thường ngày của lão đổ ngổn ngang, có lẽ là trước khi chết lão đã vật mình vật mẩy: một chiếc nón vải của lính đi rừng (Biệt Kích Dù), một cái bị, một cái lon có quai xách, nửa manh chiếu, chiếc khăn lông nhà binh và chiếc gậy tre. Không cần có ánh sáng, người ta cũng nhận ra tất cả những đồ vật đó đều đã cũ, cũ quá cái mức người ta nghĩ chúng còn được giữ lại và dùng một cách chăm chút, cho một con người. Nhưng đối với lão ăn mày, những thứ đó còn cần thiết hơn chiếc xe hơi, cái cà vạt đắt tiền, lọ nước hoa hiệu ngoại quốc của những người dư ăn dư mặc trong xã hội chúng tôi – những người mà nếu họ biết chia sẻ một phần nho nhỏ, hết sức nhỏ những nhu cầu phù phiếm của họ cho những người như lão ăn mày mù thì lão đã không phải quờ quạng sống cuộc đời tăm tối và rồi chết quạnh hiu trong một xó chợ như thế.
Khi ánh sáng đầu ngày trở lại, người ta nhận ra màu xám bùn của chiếc nón mềm nhũn, vành uốn lượn sóng rũ xuống – khi lão đội có lẽ che cả đôi mắt mù của lão – màu rỉ nâu của cái lon đồ hộp nhà binh Mỹ, màu-không-màu của chiếc bị vải, tấm khăn rách nhiều lỗ. Và cái sắc xanh lá cây ủ mặt của bộ quần áo nhà binh rộng thùng thình, trong khung cảnh tranh tối tranh sáng, vắng lặng mang một vẻ lẻ loi, cô độc như những thứ tĩnh vật của một họa sĩ bỏ quên đã lâu ngày trong xó nhà bẩn thỉu và chúng không biết làm gì hơn là cam chịu số phận bị bạc đãi, hẩm hiu. Ngay cả cái thế nằm co ro mà lão không chọn lựa trước khi trút hơi thở cuối cùng toát ra một vẻ nhẫn nhục lạ lùng, khiến người chứng kiến vừa cảm thương vừa tức giận. Người ta có cảm tưởng như lão muốn thu nhỏ thân thể của lão lại, sợ phần thân thể khô khốc của mình chiếm một chỗ rộng hơn ý muốn của chị bạn hàng – mà lão coi như một ân nhân, lâu nay đã làm lơ cho lão có chỗ đặt cái thân xác dơ bẩn hôi hám của lão mỗi đêm – và điều đó sẽ làm cho ân nhân của lão không hài lòng.
Bầu không khí thê lương bao phủ chung quanh sạp hàng, nơi lão ăn mày trút hơi thở cuối cùng , khiến những người mục kích cái chết cô quạnh của lão không còn động lòng trắc ẩn được nữa. Vẻ thê thảm trong cái chết của một con người đưa lòng thương cảm của họ vượt qua mức độ có thể tạo ở họ cơn xúc động của từ tâm đến ranh giới của lòng độc ác. Họ nghĩ: “Ừ! Phải đấy, lão chết đi là phải, chết còn sướng hơn là sống một cuộc đời đau đớn khốn nạn trong cảnh mù lòa, một cuộc sống không đáng được gọi là kiếp người như thế”. Và lời ao ước có vẻ hờn lẫy đó đối với cái chết của lão già có lẽ là một hình thức khác tế nhị biểu lộ từ tâm! Điều đó phần nào đúng, nếu đem lão so sánh với những con chó xù giống ngoại quốc, chó bẹc-giê của những gia đình giàu có, được ăn hàng ngày thịt bò và trứng gà để giữ cho bộ lông chúng được mướt, tai chúng được vểnh. Khi đi lạc, chủ đăng báo tìm và hứa sẽ hậu tạ một số tiền lớn cho người nào tìm thấy. Xem như thế thì ý nghĩ độc địa của mấy người trên kia cũng không có gì là quá tàn nhẫn.
Lão chết đi để thoát kiếp đầy đọa, trả nợ những tội lỗi mà lão đã tạo ra trong kiếp trước – người dân xứ tôi vẫn tự an ủi như vậy đối với nỗi bất hạnh mà họ đang nén lòng cam chịu, mặc dù chẳng có gì chứng tỏ trong cái kiếp trước hoang đường đó họ có tạo tội lỗi hay không! Còn những kẻ đang sống trong cảnh giàu sang phú quí, sống một cuộc sống phè phỡn, luôn luôn được ưu đãi trong xã hội chúng tôi thì đinh ninh rằng kiếp trước họ đã làm vô vàn chuyện ân đức cho nên kiếp này họ được đền bù. Nếu họ không làm thì ông bà, cha mẹ họ đã làm, và họ được hưởng cái lộc do người trước trong gia tộc họ để lại. Ai ai cũng nghĩ có sự sắp xếp công bằng của một thượng đế chí công vô tư rồi, nên người nghèo khổ cam chịu cảnh khốn cùng, kẻ giàu sang an hưởng cảnh giàu sang. Người nghèo cho rằng phải biết ẩn nhẫn cho trời đất thương xót, kẻ giàu an tâm hưởng thụ, ít người nghĩ đến chuyện xoa dịu nỗi thống khổ của những kẻ bị đày đọa. Họ không nghĩ rằng sự chênh lệch giữa đời sống sung túc của họ và sự bần cùng của những người nghèo khổ là sự bất công trong một xã hội mà tổ chức và luật pháp chỉ nhằm ưu đãi thành phần có thế lực và sẵn có tiền tài, danh vọng, đàn áp bọn người khốn khổ cho khốn khổ thêm. Cả hai hạng người trên, nếu có nghĩ chăng thì cũng cùng chung một ý, họ cho rằng chẳng có sự bất công nào ráo, chẳng qua đó là luật nhân quả được ban phát do một bậc tối thượng mà bổn phận của họ là phải tuân theo. Đối với hạng nghèo khổ còn ý nghĩ nào tai hại và ngu ngốc hơn thế nữa không? Còn hạng giàu có thì không còn lời vỗ về lương tâm nào êm ả hơn thế nữa! Vậy nên, kẻ khổ cứ yên tâm tiếp tục chịu cảnh cực khổ, từ đời cha đến đời con, đời cháu – nếu không có một dịp may nào của riêng cá nhân họ, thoát ra khỏi cảnh khốn cùng – Kẻ giàu sang cứ sống sung sướng cũng từ đời này sang đời khác… Khi nào kẻ khốn khổ trả hết cái nợ đời kia thì trời sẽ cho họ sung sướng lại. Nếu trả kiếp này chưa xong thì chết đi trong cảnh khốn cùng – như lão ăn mày nọ – để rồi đầu thai kiếp khác tiếp tục trả nữa, cho đến khi nào hết thì… mới thôi.
Vậy đó, xã hội ở đất nước tôi như vậy đó. Vì thế có người giàu không biết để tiền đâu cho hết phải gởi ở nhà băng ngoại quốc, ở nhà lầu, đi xe hơi – và họ thay xe như thay áo – hột xoàn đeo từ đầu đến chân. Những bữa ăn thịnh soạn, thức ăn bổ dưỡng, họ béo mập đến cằm có ba nọng đi không nổi. Trong khi ngay bên cạnh họ có những người không một mái nhà để ở, không đủ cơm ăn hàng ngày, không có áo mặc khi mùa đông lạnh đến phải chết vì rét. Cái luật nhân quả gì mà kỳ cục vậy? Ông trời gì mà bất công, ác ôn vậy?
Khi ánh nắng rực rỡ của ngày chiếu qua các khe hở trên nóc chợ, soi rõ hơn cái quang cảnh tồi tàn chỗ lão già nằm chết, chị bạn hàng vớ được một ông cảnh sát đi qua đó. Những thủ tục cho một tử thi vô thừa nhận, không tên tuổi được xúc tiến mau chóng. Người ta đưa xác lão già vào kho chứa xác dành cho các sinh viên y khoa mổ thực tập. Chẳng có gì hứa hẹn là những mảnh vụn của thân thể lão sau buổi thực tập của các cô cậu sinh viên nào đó, được để vào một chiếc quan tài dù chỉ bằng gỗ tạp. Biết được điều này hẳn chị bạn hàng sẽ buồn lòng, vì cái chết của lão ăn mày trên sạp hàng của chị kết thúc trong sự vô tâm và thê lương như cuộc sống của lão, chẳng có vẻ gì là có chữ “Tài” trong đó như chị đã nghĩ cả.
Sau khi cái xác của lão già được đem đi rồi, trước mắt của những người tò mò còn đứng lại nghe chuyện, chị bạn hàng lưỡng lự, hơi chùn tay thu nhặt những món đồ dơ bẩn của lão, và không chút e dè ném tất cả vào cái thùng chứa rác đầy ruồi nhặng ở vỉa hè. Lát nữa đây, những người phu hốt rác sẽ đem đổ chúng ở một bãi rác mênh mông. Còn ai có thể phân biệt được, trong đống rác với bao nhiêu của phế thải đó, đâu là những đồ vật thân yêu của một người vừa mới lìa đời?
Vừa dọn hàng chị bạn hàng vừa nghĩ: “Rồi đây bên cạnh cái bàn thờ nhỏ thờ thần tài, mình lại phải đặt thêm bát nhang, mỗi ngày tốn thêm mấy nén hương, cho vong hồn lão có nơi nương tựa. E chừng rồi còn phải rước thầy về tụng kinh siêu độ cho lão nữa. Không lỡ hồn lão về phá bỉnh công việc làm ăn mua bán của mình.
(Độc giả nhớ đón đọc toàn bộ tiểu thuyết Mặt Trời Mù trong mục Trên Kệ Sách vào những số tới)

bài đã đăng của Kinh Dương Vương


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)