Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 13, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Tử Tội Trên Dòng Kinh

Cha mẹ chị Năm đặt tên chị là Mén, vì sợ nếu chị có một cái tên nào khác đẹp đẽ hơn, ông bà lại sẽ bắt đi như ba người con trước của họ. Thứ nữa vì chị bị sinh thiếu tháng, nên lúc ra đời chị nhỏ như một con thỏ, cha mẹ chị tưởng đã không nuôi được. Nhưng có lẽ Trời Phật cũng thương cảnh hiếm muộn của hai ông bà nên đã cho họ nuôi chị được đến lúc lớn khôn.
 
17.
Lúc còn nhỏ dại con Năm Mén không biết sinh hoạt gia đình nó ra sao. Nhưng từ ngày nó bắt đầu có thể giúp đỡ cha mẹ vài công việc lặt vặt, cho đến lúc ông Ba Lơi – cha nó – bị giết thì nhà nó nghèo mạt rận.
Ông Ba Lơi là tá điền làm rẻ ruộng của ông Tổng Sáu. Đó là công việc chính, ngoài ra ông còn chăn bò và làm đủ thứ công việc khác theo nhu cầu của gia đình ông Tổng Sáu: sắc thuốc, bửa củi, gặt lúa, phát cỏ vườn, tát đìa…
Tuy làm ruộng nhưng trong nhà không mấy khi có lúa đủ ăn – chỉ có ba miệng ăn! Lúa làm rẻ cho ông Tổng Sáu, đến mùa, gặt xong, đong trả thì cũng vừa hết. Còn lại vài giạ ăn không đủ đâu vô đâu. Lại phải mượn lúa của ông Tổng Sáu ăn cho đến mùa sau, phải trả lại gấp đôi. Cứ như vậy thời gian trôi qua trong cuộc đời hai vợ chồng ông Ba Lơi. Nhưng đó là những năm được mùa. Gặp khi thất mùa lúa gặt được không đủ trả, thôi thì ông Tổng Sáu tha hồ nói nặng nói nhẹ, đòi lấy ruộng lại và vợ chồng ông Ba Lơi lại phải năn nỉ, lạy lục như tế sao.
Ông Sáu làm Chánh Tổng nên dù ông có nói nặng nhẹ gì đi nữa, ông Ba Lơi đều có bổn phận phải nghe cho lọt lỗ tai. Có lần ông Tổng nổi giận mắng ông Ba Lơi: “Thứ quân bay là đồ trâu, chó, đồ con bò, chớ không phải giống người”, thì ông Ba Lơi nghe ra cũng phải. Vì ông Sáu làm Chánh Tổng, còn ông là tá điền của ông Sáu, một dân thường thôi. Vì mỗi lần quan huyện Tây có việc đi ngang qua làng, đâu mãi tận trên đường lộ đá, thì ông Sáu mặc áo dài, khăn đóng, cùng với mấy ông làng, ông xã được lên đứng chực từ lúc trời mờ sáng đến quá trưa, đợi khi chiếc xe hơi của quan Tây chạy qua, cúi rạp mình xá lia xá lịa, hể hả hít bụi và ngửi hơi dầu xăng cháy, còn ông Ba Lơi đâu có được cái hân hạnh “xá gió” đó. Suốt năm tháng chỉ quanh quẩn với mấy đám ruộng, đầu tắt mặt tối. Ông chỉ là kẻ tôi tớ của ông Tổng Sáu, nên ông Tổng Sáu nói gì ông nghe cũng có lý.
 
18.
Nhà ông Ba Lơi đã nghèo như vậy nên con Năm Mén không có áo quần để mặc, đó cũng là sự thường. Cho mãi đến năm lên tám, nó vẫn còn ở trần ở truồng, chạy nhông nhông đi chơi khắp làng khắp xóm. Nó cũng không thấy có gì lạ, vì trong làng, số trẻ con trần truồng như nó không phải là hiếm. Đến nỗi, mỗi khi thấy có đứa trẻ nào mặc áo quần tử tế thì chúng xúm lại xem cho là một sự lạ. Chúng không tiếc lời chê bai, chọc ghẹo:
– Ê, ê! Tụi bay ơi! Lại mà coi thằng Ất (hay Xoài, Ổi gì đó) còn nhỏ mà nó mặc quần áo nè! Khiến cho đứa trẻ mặc quần áo phải xấu hổ khóc, chạy về nhà mét má, cởi quần cởi áo ra trả lại, để được trần truồng như các bạn nó.
Tình trạng đó kéo dài mãi cho tới năm con Mén mười hai tuổi nó mới được mặc áo quần lần đầu tiên. Bộ đồ của bà Ba Lơi rách nát không còn dùng được nữa, bà đã vá víu cắt may lại cho con.
 
19.
Trong những năm tiếp theo tuổi thứ tám của con Mén, mạt rận bỗng nổi lên tấn công con người, đâu đâu cũng có. Không riêng gì những người nghèo ăn dơ ở dáy, mạt rận mới chiếu cố, mà đến ngay gia đình ông Chánh Tổng Sáu chúng cũng không tha. Chúng như cát, hằng hà sa số, di chuyển theo các cơn gió bay đi khắp hang cùng ngõ hẻm sinh con đẻ cái.
Trời thì hạn hán. Nắng đỏ lửa làm đất ruộng nứt nẻ. Lúa gieo xong nằm trong đất đến khi mục nát không lên được. Một vài hạt có nứt mầm được thì cũng bị nắng thiêu khô héo, hay sâu bọ ăn hết cả.
Ông Sáu, suốt tháng, lập bàn hương án giữa trời, ăn chay nằm đất van vái Phật Trời cho qua cơn phạt vạ, mời thầy pháp thầy phù đến, vật heo mổ bò, bắt ấn, réo gió gọi mưa, nhưng trời cũng chẳng thèm ngó lại.
 
20.
Trong hoàn cảnh đó, gia đình ông Ba Lơi là một cái nợ đối với ông Tổng Sáu. Lúa vay mùa trước chưa trả, nay lại van xin vay nữa. Liên tiếp mấy mùa ông Ba Lơi chưa trả lại được hột nào. Nhưng đâu phải chỉ riêng ông Ba Lơi đến lạy lục van xin được vay một sẽ trả hai ba mà thôi đâu. Ông Sáu có bao nhiêu là tá điền. Cái vựa lúa của ông càng ngày càng vơi đi làm cho ruột gan ông thắt lại. Từ sớm đến chiều tối, trước cái sân lót gạch Tàu rộng, lúc nào cũng có mươi người khố rách áo ôm, đem thúng mủng đến ngồi lê lết nài nỉ van xin. Được cái, ông Tổng Sáu miệng thì hùm nhưng lòng dạ chưa phải beo gấu, nên tuy ông ra rả mắng mỏ, sùi bọt mép bọt miệng, rồi ông cũng kêu họ vào nói người nhà đong cho mỗi người vài giạ về nấu cháo ăn cầm hơi.
Nhờ đó mà đám tá điền – trong số có ông Ba Lơi – có thể sống qua ngày, chờ qua hạn trời.
 
21.
Mạt rận mỗi ngày càng hoành hành dữ dội. Người ta làm đủ mọi cách để tiêu diệt. Chúng nấp trong áo trong quần. Nào là nấu nước sôi, phơi nắng, vạch bắt hàng ngày, giặt giũ, mà rồi đâu cũng hoàn đó. Vài hôm sau lại thấy chúng sinh con đẻ cái hàng hàng lớp lớp, từng giề trong nếp gấp áo quần.
Ông Tổng Sáu có bộ bà ba hàng lụa Lèo cất giữ rất kỹ trong tủ ướp băng phiến, chuột, gián không dám héo lánh, ngày nào cũng đem ra phơi nắng vậy mà cũng không thoát khỏi chúng. Cho đến cái khăn đóng của ông chúng cũng cả gan đem vợ chồng con cái đến đóng đô. À! Chi chớ cái đó thì không thể tha thứ được. Đầu cổ là nơi thờ phượng ông bà, sao chúng dám cả gan vô lễ như vậy? Tức giận, ông sai người nhà đem để trên bộ ván gõ dày hai tấc, dùng búa tạ mà dần. Nhưng khi mạt rận mà ông tin dù đã chết tiệt dưới những nhát búa tạ rồi, thì cơn giận của ông cũng nguôi theo, ông giật mình thấy chiếc khăn đóng chữ nhân đã bao lần chỉnh tề nằm trên đầu ông những lúc diện kiến quan trên đã bẹp dí. Bấy giờ ông mới hối mình tức giận vô lý, giận cá mà chém thớt.
 
22.
Nhà ông Ba Lơi khỏi phải nói, mạt và rận là những bạn thiết đeo đuổi theo số mệnh ông.
Cả nhà ông hầu như phải sinh hoạt chung với mạt rận. Trong lúc làm việc cho đến khi ăn uống, ngủ nghê – lúc nào, chỗ nào cũng có mặt chúng. Thậm chí chúng chui rúc vô những chỗ hiểm hóc trong thân thể con người mà sinh hoạt, cắn ngứa rân không chịu nổi. Đêm ngủ quên đi thì thôi, giật mình dậy nghe chúng bò nhột nhạt khắp người, rờ lên, da nhám như có rải cát.
Trước đó vợ chồng ông Ba Lơi mỗi người có một bộ đồ đen đi làm. Vài hôm, đêm về cởi ra giặt, phơi khô, hôm sau lại bận vô. Sau vài vụ thất mùa không may sắm lại được, hai bộ đồ vá chằng vá đụp – dạo đó dùng sợi lấy trong vỏ chuối thay chỉ nên đường vá rất dễ rách – đến nỗi không còn thấy mặt vải cũ nữa. Nhưng rồi cũng đến lúc chính những miếng giẻ vá không còn chịu dính trên áo quần nữa, chúng mục rã, đụng đâu rách đó, đành phải bỏ.
 
23.
Qua đến thời kỳ mạt rận thì họ không còn gì mặc nữa. Đến bố tời cũng hiếm, nói gì vải. Mà có vải đi nữa cũng không có tiền mua. Cả hai vợ chồng có được cái quần may bằng bao bố tời, luồn dây bố, cụt cũn cỡn ngang đầu gối (thật ra bà Ba Lơi đã chằm – chớ không phải may quần – bằng một cái lẹm mà người ta dùng để chằm đệm lác – với một sợi dây bố xé nhỏ), khi giặt gặp lúc trời mưa phơi ba ngày chưa khô.
Ban ngày, họ chia phiên nhau ra ngoài tiếp xúc với xóm giềng hay làm việc. Hễ ai đi thì được mặc cái quần bố tời đó, người ở nhà vô trong buồng nằm,- ngủ hay nói thơ Lục Vân Tiên, Thạch Sanh Lý Thông. Đôi khi họ gặp cảnh trớ trêu. Một hôm, bà Ba Lơi đang nằm trong buồng thì có ông khách đến thăm. Bà vô cùng bối rối khổ sở. Bà thối thác quyết liệt đang đau, không thể ra tiếp khách được. Bà xin ông ta ra về để hôm khác trở lại, nhưng ông khách có việc quan trọng cứ nằng nặc muốn gặp bà để nói ngay. Bà không ra được thì để ông vô. Nói xong ông làm ngay. Nhà trước nhà sau được ngăn bằng một tấm vách sậy và cách nhau mấy bước nên ông khách lọt ngay vao buồng. Bà Ba Lơi hốt hoảng vơ cái xàng gạo chạy vô góc nhà che mình lại, rung như phát lãnh. Ông khách hấp tấp thối lui.
Cũng may ông là người đã đứng tuổi. Ra nhà ngoài ông bình thản nói vọng vô một câu nhẹ nhàng, vừa có vẻ trách móc vừa xin lỗi và cũng để chữa thẹn:
– Chị thiệt hết đường. Sao không nói phứt ra cho rồi. Xấu hỗ chi chuyện đó. Lúc này thì ai cũng vậy, chớ ai hơn ai.
Nói xong ông bỏ về một nước, quên cả chào hỏi. Bà Ba Lơi cũng không ham chi chuyện chào hỏi, cầu ông về phứt đi. Ông khách đã ra về một lúc lâu, mà bà vẫn còn đứng trong góc nhà, tay giữ chặt cái xàng, chưa để xuống. Khi nghe tiếng chân người bước vô nhà bà lại giật mình. Nhưng không phải ông khách nào nữa mà là ông Ba Lơi vừa trở về.
Đã vậy mà được mặc cái quần vào cũng là một điều khổ, không mặc còn dễ chịu hơn. Cái quần bố tời là chỗ lý tưởng cho mạt rận sinh sôi nẩy nở loi nhoi, lúc nhúc. Ngày nào, không ông thì bà, đều lấy sống dao mà dần kỹ lưỡng vài lần, nhưng khi mặc vào chúng vẫn bu lại cắn ngứa rân, ngồi đâu cũng phải thò tay vào quần mà gãi sồn sột, đờ người ra vẫn chưa hết ngứa. Hai bên kẹt háng mọc những mận đỏ sưng lên, gãi mãi trày trụa thành ghẻ.
Còn con Mén ít bị mạt rận cắn, vì tứ thời, cha mẹ sinh ra sao nó cứ để y nguyên vậy. Mạt rận có muốn bu nó cũng không biết bám víu vô chỗ nào. Da thịt trơn he, có con nào là nó giết ngay con đó. Nhờ vậy mà nó ít bị ghẻ.
24.
Tôm là một động vật không xương, sống dưới nước. Khi chết vỏ đỏ màu gạch nung, mình cong lại. Muốn bắt tôm người ta câu, lưới, hay xúc bằng rổ lớn.
Còn một cách bắt tôm của người nhà nghèo, không lưới không câu: họ đi mò tôm. Dậm chân xuống bùn, tôm vào nằm trong lỗ dấu chân, chỉ cần lặn xuống mò bắt. Cách này xem ra có vẻ cực, vì phải ngâm cả mình mẩy xuống nước, nín thở một thời gian rất khó chịu. Nhưng khi nói “mò tôm” nghe có phần gợi hình và hợp lý hơn là nói “câu” hay “xúc”, có lẽ vì cái âm của tiếng “mò” là một âm nặng, do đó dễ dẫn đến hình ảnh của sự chìm lỉm dưới lòng sông, như giống tôm đang bơi lội ngù ngờ trong nước sâu.
Và một người bị trói quặt hai cánh tay ra sau, hai ngón tay cái, hai cổ chân và hai ngón chân cái bị cột chặt bằng dây kẽm, rồi đem quăng xuống nước cho chìm sâu đến tận lớp bùn lầy lòng sông, nơi những con tôm đang bơi lội, như vậy gọi là cho “đi mò tôm”.
 
25.
Tuy khi nướng lên vỏ cũng đỏ màu gạch nung, nhưng cua khác với tôm về hình dáng cũng như lề lối sinh hoạt. Cũng thời ở dưới nước, nhưng tôm ở trong lòng nước sâu, chảy mạnh. Còn giống cua ở chỗ nước cạn, đứng và có hang. Cua lên bờ cũng sống được.
Hang cua là một cái lỗ sâu, thường thường ở gần bên bờ nước. Nước lớn ngập hang, cua bò ra đi kiếm mồi . Nước ròng thì vào nấp trong hang. Người ta có thể bắt cua khi chúng đang lang thang tìm mồi hay ở ngay trong hang. Bắt cua trong hang thì dùng một sợi kẽm lớn hơn cây tăm xỉa răng, có ngoéo ở đầu, thọc sâu vào trong hang móc cua lôi ra. Nhưng thường thì bọn trẻ con vẫn hay thọc nguyên cả tay vào hang bắt ra, cũng được.
Trên thân thể người ta cũng có nơi gọi là “hang cua”, có tới hai hang. Đó là hai khoảng lõm giữa xương đòn gánh và xương bả vai, hai bên cổ. Nhưng chỗ lõm cạn cợt như vậy không thể giống hang cua – thường là khá sâu – như vậy tại sao gọi là hang cua? Câu trả lời thật giản dị . Người ta sẽ làm cho nó sâu xuống cho giống hang cua bằng cách dùng một vật kim khí nhọn dài ba bốn tấc – một lưỡi mã tấu chẳng hạn – ấn xuyên qua chỗ thịt lõm còn cạn đó, ấn sâu xuống – lút cán thì vừa – rồi nguậy nguậy cho có cái miệng lỗ rộng ra chừng năm sáu phân. Nhưng như vậy chưa được giống cái hang cua lắm, phải đợi khi vật kim khí dài kia được rút ra, một chất nước nhờn nóng từ trong thân thể vọt ra theo, lẫn với những vụn phổi nát bầy nhầy và hơi thở phát ra thành những tiếng ọc ọc, ọt ọt thì mới thật hoàn toàn giống, như khi thọc nguyên cả một cánh tay vào hang cua, kéo ra vô đôi ba lần, không khí bị nén cùng với bùn lỏng thoát ra lẫn với những bọt nước, làm thành tiếng kêu ọt ọt, ọc ọc…
 
26.
Một đêm cuối tháng bảy, mưa ngâu lắc rắc, trời tối đen như mực. Ba bóng đen dẫn bảy người đàn ông bị bịt mắt, tay trói chung trong một sợi dây. Người đầu các mã tấu, hai người còn lại một người võ trang dao găm, đi giữa, người thứ hai hờm súng liên thanh – loại mi-trây-dết – đi sau cùng. Những người bị trói, thỉnh thoảng một người vấp ngã và lôi kéo theo những người khác. Những kẻ có nhiệm vụ dẫn họ cằn nhằn. Bước chân trần của họ dẫm lên mặt đất phủ cỏ hết sức nhẹ nhàng. Họ đi quanh trong những khu vườn dầy đặc cây lá, không quan tâm đến tiếng sủa của lũ chó thính tai từ khu xóm vọng tới. Còn cách nhà ông Ba Lơi khoảng năm chục thước, họ dừng lại. Người mang súng liên thanh trông coi số người bị trói. Hai gã võ trang dao găm và mã tấu tiến thẳng đến nhà ông Ba Lơi. Họ gõ cửa, gọi tên ông Ba Lơi nho nhỏ rồi đứng qua hai bên chờ đợi. Cửa mở, ông Ba Lơi mắt nhắm mắt mở bước ra. Một gã tiến tới kề lưỡi dao găm lạnh ngắt vào cổ ông, ra lệnh:
– Im lặng, đi theo chúng tôi, la lên thì chết ngay tại chỗ.
Gã kia tiến đến trói chặt hai khuỷu tay ông ra sau rồi bịt mắt. Họ đẩy ông đến nhập bọn với mấy người đang đứng chờ. Ông bị trói chung vào sợi dây buộc với bảy người trước. Họ tiếp tục đi – không trông thấy nhưng nghe tiếng chân bước, ông áng chừng gần đúng số người trong bọn. Không thấy đường, ông Ba Lơi bị vấp té nhiều lần, gã đi giữa nắm áo ông lôi dậy.
Tất cả bước đi trong đêm tối, im lặng như ngậm tăm. Ông Ba Lơi chỉ còn nghe tiếng áo quần cọ sát và tiếng chân dẫm đất vang lên nhè nhẹ. Họ đều mặc áo quần màu sẫm, lẫn trong bóng đêm, cách mươi bước không còn trông thấy họ, như những kẻ vô hình biến mất trong màn đêm dày đặc.
 
27.
Chòm mả nằm cách làng một cánh đồng, cỏ dại mọc cao ngang lưng người. Nơi đó, những cây da, cây si lâu đời, tàng lá um tùm, cành to đâm ngang dọc uốn éo như những cánh tay dài cong queo đầy lông lá. Rễ phụ thòng rũ xuống như những mái tóc rậm bám sâu vào lòng đất. Từ gốc cây, những rễ to đâm ra tua tủa, vặn vẹo như một đàn rắn thân quấn quít vào nhau, quằn quại, nhấp nhô chằng chịt. Chung quanh lau sậy mọc từng đám lớn cao quá đầu người. Ban ngày, giữa trưa mà vô chòm mả, như vô một khu rừng nhỏ lúc trời chiều chạng vạng. Mặt trời luôn luôn bị che khuất, ánh sáng không lọt xuống được, không khí âm u cô tịch, ít người bén mảng, trừ trường hợp đặc biệt người ta phải đến chôn những kẻ mệnh bạc không có đất riêng để gởi nắm xương tàn. Đủ các loại chim, cò, sáo cưỡng, bay rợp trên vòm cây kêu vang suốt ngày. Chúng làm tổ trên các cành, sinh con đẻ cái từ đời này qua đời khác, không biết đã từ khi nào. Bình minh chúng đi kiếm ăn và khi chúng trở về ríu rít ca hát lúc chiều tà là đến phiên, những con vạc chân dài, chim cú mắt sáng trong bóng đêm cất cánh bay đi. Không khí ẩm thấp và âm u là quê hương lý tưởng cho muôn giống côn trùng sinh sôi nẩy nở, cho nên ban ngày lẫn ban đêm, muôn âm thanh của muỗi mòng, dế, ve sầu, ếch, nhái… không ngớt vang lên tấu khúc có tiết điệu bi ai.
Trong làng, đó là chỗ ghê gớm nhất đối với bọn trẻ con. Các bậc cha mẹ chỉ cần nói “bỏ vào chòm mả” là lập tức một đứa trẻ nín khóc, nghe lời răm rắp. Ban ngày, có việc phải đi qua đó, chúng vắt giò lên cổ mà chạy, vừa chạy vừa nghe tiếng chân đuổi theo sau lưng thình thịch, và mặt chúng xanh lè không còn hột máu.
Bọn người âm thầm dừng lại chỗ có một lối mòn dẫn vào chòm mả, cỏ đã mọc lấp sau mùa mưa. Họ chia ra làm hai cánh nhỏ. Hai người dẫn một toán bốn người bị trói đi vào chòm mả. Hai gã kia dẫn toán thứ hai về phía bờ sông.
 
28.
Trong chòm mả, một cái hố khá rộng đã được đào sẵn, đất còn mới. Toán người dừng lại cách hố vài chục thước, trong một bụi lau rậm rạp, đoạn hai gã đàn ông mở cho một người khỏi sợi dây trói chung, dẫn đến bên miệng hố, ấn quỳ xuống. Bây giờ thì đến lúc hai cổ chân y cũng bị buộc chặt. Y đã biết những gì sắp xảy ra cho cuộc đời y nên tiếng kêu khóc từ miệng y bắt đầu vang lên. Nhưng một gã đã tiến đến mở miếng vải che mắt bịt miệng y lại. Tiếng kêu than đột ngột bị ngăn lại, nhưng không tắt hẳn, chúng vẫn tiếp tục phát ra, nghe như tiếng oan hồn réo đòi mạng vẳng đến từ một cõi địa ngục. Rồi sau một bản án ngắn được đọc lên thuộc lòng – như đoạn kinh siêu độ đưa một linh hồn về bên kia thế giới – thình lình tội nhân nghe một cảm giác lạnh buốt, cứng ngắt đi sâu vào thân thể, y chưa kịp kinh ngạc thì cơn đau đớn cùng cực đã làm cho thân thể y trở nên cứng đờ bất động. Người y ưỡn ra, cột xương sống thẳng đứng, đầu hơi ngã về sau. Gã đang giữ cán thanh mã tấu xoáy mạnh nhiều vòng, tử tội ưỡn hẳn người ra sau như muốn đứng bật dậy, nhưng thân thể y đã bị trói gô vào một cột tre chôn sâu.
Thanh mã tấu được rút lẹ ra. Bất chợt đầu nạn nhân từ phía sau ngẩng lên từ từ rồi gục xuống phía trước thẳng góc với thân người. Hình như còn sự cố gắng trong cõi tối tăm, nhiều lần kẻ hấp hối cố nâng đầu lên, nhưng chỉ nửa chừng, chiếc đầu lại được để cho tự do rơi xuống. Từ miệng vết thương, những hơi thở cuối cùng chậm, đột ngột làm sủi những bọt máu và phát ra tiếng kêu khò khè, đứt đoạn của người lên cơn suyễn. Chiếc đầu ngúc ngắc lên xuống theo những cơn nấc nhẹ. Bỗng nhiên, thân thể y run lên, vặn vẹo dữ dội, nhưng liền ngay sau đó, đầu y gục xuống, như bị gẫy bất ngờ, và tất cả thân thể y rũ xuống, im lìm.
Vòng dây trói vô cột được mở ra. Một cái đạp nhẹ, xác y rơi xuống hố. Từ đáy huyệt tối tăm vọng lên tiếng động đục, khô.
29.
Họ trở lại chỗ ba người còn ngồi chờ trong bụi lau, dẫn một người lại phía hố. Trước khi miệng y bị bịt lại, y van xin được tha mạng. Y sẽ về bán nhà, cầm vợ, đợ con và ủng hộ hết cả số tiền đó cho kháng chiến. Nhưng rồi chỉ có những vòng dây, thanh mã tấu và đoạn kinh siêu độ trả lời y, một cái đạp. Rồi xác y nằm bất động dười đáy huyệt.
Người thứ ba đã ngất lịm trước khi bị hành quyết. Y không kêu than, người y mềm nhũn như một con bún, họ nắm hai tay y kéo lê trên mặt đất. Có lẽ y không cảm thấy đau đớn bao nhiêu khi thanh mã tấu xuyên qua người y. Thân thể y, cho đến giây phút cuối cùng chỉ giật nẩy lên mấy cái nhè nhẹ. Linh hồn y trước đó đã bay lên mấy tầng mây xanh, trố mắt nhìn xuống cảnh tượng hãi hùng đang xảy ra cho thân xác vô tri của y trong bóng tối âm u nơi chòm mả.
Tử tội cuối cùng bước chân xiêu vẹo, không tự chủ, người ngất ngư. Hầu như y tiến đến phía miệng hố do những bàn chân xô đẩy của người áp giải. Mỗi lần bị tống vào mông, y bước về trước vài bước. Bỗng hai gã áp giải cùng nhận ra mùi xú uế của phân người nồng nặc, xông lên từ thân thể người tử tội cuối cùng. Sự kiện đó khiến họ không muốn kéo dài thêm thời gian hành xử. Tuy nhiên để tỏ ra là những cán bộ tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, thi hành công tác hoàn hảo, nên họ cố gắng nín thở cúi xuống trói y vào cột, họ chỉ giản lược không đọc bản án mà thôi – dẫu họ có đọc hẳn y cũng không còn nghe thấy. Còn tất cả những cách thức cũng được áp dụng y hệt ba người trước. Khi cúi xuống nắm cán thanh mã tấu rút ra lần cuối cùng, gã hành xử chùi máu vào vai áo tử thi, tra lại vô bao.
Họ nhanh nhẹn dùng xẻng xúc đất lấp hố, chẳng mấy chốc mặt đất trở lại bằng phẳng, nhưng họ còn tiếp tục đắp cao lên cho thành hình một nấm mồ.
Một người rút trong túi ra bản cáo trạng có ghi rõ tên họ những tên Việt gian phản động để lên mộ, cẩn thận dằn một cục đất lớn. Xong họ vội vã trở lại chỗ hẹn.
 
30.
Trời đã khuya, có lẽ thời gian đã trôi qua những giờ đầu của một ngày mới. Chiếc áo choàng của đêm như càng nới rộng thêm ra che phủ cả không gian mênh mông yên lặng. Những hạt sương mỏng manh đậu lại trên vai trần ông Ba Lơi khiến ông cảm thấy lạnh. Người ông run lên từng hồi. Nhưng ông biết rằng không phải vì lạnh, mà một cơn sợ hãi ngấm ngầm chạy trong xương, trong tủy ông, làm cho cả tứ chi ông, quai hàm ông không thể giữ yên được, đánh bồ cạp liên hồi.
Hình như họ đưa bọn ông ra phía bờ sông. Khi dừng lại, ông ngửi thấy mùi cỏ ẩm ướt ngai ngái, gió mang nhiều hơi nước phả vào mặt, tiếng sóng vỗ vào bờ lách tách. “Nước lớn rồi!”, ông Ba Lơi nghĩ thầm, “có lẽ đã tràn bờ”. Bình thường, giờ đó ông Ba Lơi thức dậy đi thăm mấy cần câu cặm ở con lạch nhỏ bên cạnh nhà.
Đứng lại một lúc lâu, mấy gã áp giải thầm thì trao đổi câu chuyện, rồi lại đẩy bọn ông đi thêm một đỗi vài trăm thước nữa. Đến nơi ông nghe có tiếng nước chảy siết qua một lỗ hổng. Họ đã đưa ông lên đến cống trên quang lộ, chỗ con sông chia ra làm ba nhánh, những luồng nước từ ba con sông đổ về tạo nên những vòng xoáy, thuyền bè đi đến đó không cẩn thận có thể bị lật chìm. Năm nào Hà Bá cũng đòi một vài mạng. Đến đây thì ông Ba Lơi đã hiểu ra cớ sự. Trong nỗi tuyệt vọng của kẻ sắp vĩnh biệt vợ con, ông chỉ còn biết khóc thầm. Nhưng ông có tội tình gì đâu mà họ giết ông? Họ là ai vậy?
Tưởng tượng tới giòng nước đen ngòm chảy cuồn cuộn dưới kia, ngay dưới chân ông, một lát nữa đây ông sẽ chìm lỉm xuống tận đáy sông lạnh ngắt có Hà Bá đang chờ mà ông rùng mình kinh sơ, mồ hôi tuôn ướt dầm dề. Nhưng bây giờ thì ông còn làm gì được, khi hai khuỷu tay ông bị trói quặt ra phía sau bằng dây dừa, hai ngón tay cái cột chặt bằng dây kẽm đến muốn đứt lìa? Ông còn làm gì được? Nghĩ tới lúc mũi ông không còn được hít thở khí trời mà chỉ có nước bao quanh và rồi ông phải uống một bụng nước, chân tay ông Ba Lơi bủn rủn. Tâm trí ông đông đặc lại, hình ảnh vợ con ông hiện lên một lúc rồi mờ nhạt đi nhường chỗ cho nỗi sợ hãi, nó chiếm lấy cả con người ông. Rồi đây ông sẽ thành một thây ma chết trôi, một thằng chõng cho cá tôm rỉa rói. Hồn ông sẽ thành ma da nhớt nhợt lội hoài trong nước, chờ bắt người đền mạng rồi mới được đi đầu thai kiếp khác.
Mãi nghĩ ngợi quanh quẩn, ông Ba Lơi không biết rằng họ đã dẫn đi hai người lên cống rồi. Lúc họ đi ông không hay, nhưng hình như sau đó ông nghe có tiếng la thất thanh mà không thoát ra được khỏi miệng, rồi tiếp theo một tiếng ầm như có vật gì lớn rơi xuống nước. Tiếng nước bị khuấy động mạnh, văng lên, rớt xuống ào ào rồi im bặt. Người thứ ba bị dắt đi, một lúc ông nghe lập lại những tiếng động cũ.
31.
Có tiếng chân người trở lại chỗ ông đứng. Một luồng cảm giác lạnh ngắt chạy từ chân lên đầu ông. Người ông tê cứng, nhưng da ông run lên từng hồi. Trạng thái vô tri chế ngự lý trí và thể xác ông, nhưng ông bừng tỉnh, giật nẩy mình như vừa thoát ra khỏi cơn ác mộng khi một bàn tay vỗ mạnh lên vai ông. Một chút nước đái xón ra trong quần. Họ xô ông đi tới, ông bước lảo đảo, mò mẫm từng bước nhỏ. Họ ra lệnh cho ông dừng lại. Sợi dây cột hai khuỷu tay được siết chặt thêm. Hai cổ chân và hai ngón chân cái cũng được cột nhiều vòng dây thép, cứa vào da khiến ông đau đớn.
– “Giờ đền tội của ông với nhân dân đã đến.” Một người nói với ông, giọng nhuốm vẻ mệt mỏi, nhưng rõ ràng, cứng cỏi. “Ông biết ông đã phạm tội gì với nhân dân không?”
Ông Ba Lơi chợt khóc mếu máo. Hình ảnh vợ con lại hiện ra trong tâm trí ông.
– “Dạ không.” Ông ngây thơ trả lời. “Mấy ông ơi! Tui có tội gì với nhân dân đâu. Tui cũng ủng hộ mấy ông”.
Nói xong ông lại tiếp tục khóc thút thít.
– Chúng tôi nói để ông biết tội, trước khi chết.
Cũng giọng người lúc nãy. Ông đã phạm tội liên lạc và giúp đỡ cho bọ cường hào ác bá, ông nghe rõ chưa?
– Dạ tui nghe. Tui đâu có liên lạc giúp đỡ cường hào ác bá nào đâu. Ông Ba run giọng nói.
– Ông đã báo tin cho Tổng Sáu trốn trước khi nhân dân đến bắt hắn. Có không?
“Thì ra vậy”. Ông Ba Lơi chợt hiểu. Nhưng như vậy sao lại có tội. Cứu một người là có tội sao? Thật ra, ông cũng không thương yêu gì ông Tổng Sáu, nếu không nói lắm khi ông cảm thấy ghét ông ta nữa. Nhưng dẫu sao, đối với ông Tổng Sáu, cũng là chỗ quen biết, qua lại mấy chục năm trường. Nay biết ông Tổng Sáu sắp bị bắt – xem như là ông gặp cơn hoạn nạn – mà không giúp đỡ ông thì thật là bất nhẫn, lương tâm ông không yên ổn được. Nên ông đã đến báo tin cho ông Tổng Sáu hay mà trốn đi. Chỉ có vậy thôi. Bây giờ ông biết phải ăn nói làm sao với họ đây? Việc đó, chính ông đã làm, còn chối cãi đường nào? Đến nước này rồi, chạy trời không khỏi nắng, nhưng còn nước còn tát, ông Ba Lơi cố lấy giọng thảm thiết cầu khẩn:
– Xin mấy ông tha cho tôi lần thứ nhất. Tui không biết làm như vậy là có tội với nhân dân. Xin cho tui được sống trở về làm ăn nuôi vợ nuôi con, từ nay tui…
Ông Ba Lơi nói chưa dứt câu. Một người đứng sau lưng đạp mạnh vào mông ông. Ông văng ra xa, rơi ùm xuống sông. Nước văng lên tung tóe. Mặt sông vỡ, tỏa ra những vòng sóng đen. Chỗ ông rớt xuống, nước còn khuấy động trong một giây rồi mặt sông khép lại. Những làn sóng lan ra xa chìm mất trong giòng nước tiếp tục luân lưu.
Trên bờ, bọn người cũng vội vã quay gót. Họ đi băng qua cánh đồng, tiếng chân họ lùa cỏ nghe mỗi lúc xa dần.
32.
Con kinh chảy ngang qua quận lỵ Cao lãnh dài khoảng năm cây số, hai vàm ăn thông ra sông Tiền Giang, là thủy lộ huyết mạch của quận. Hai bên bờ là những làng mạc trù phú. Đã lâu, có lẽ là từ ngày xáng mới múc, kinh chưa được vét lại lần nào nên phù sa của sông Tiền Giang mỗi mùa nước đổ bồi lòng kinh cạn dần. Giữa tuần trăng, nước lớn ngập bờ, ghe bầu chở hàng nặng mới qua lại được vì khi nước ròng nó chỉ còn là một con lạch nhỏ nước đục ngầu. Con nước kém dần cho đến khoảng cuối tháng thì lòng kinh bày cả lớp bùn non dưới đáy cùng vô số rác rến. Người lớn vén quần có thể lội qua được. Dân chúng hai bên bờ chờ cơ hội đó, ào xuống bắt hến, bung bung chang chang, ốc gạo, lịch, cá chạch cơm, làm cho lòng kinh lầy lụa như một vết thương lở lói nham nhở.
Trên bờ kinh vào thời ấy, người ta có thể trông thấy nhan nhản những cầu tiêu, cất ngay trên mặt nước, không riêng gì dân chúng, mà ngay trước trụ sở quận, một dãy cầu tiêu công cộng, được cất coi còn có phần bề thế, cẩn thận hơn, dành cho bất cứ ai lỡ chân quá bước. Ở sau nhà thương quận lỵ, trên một cái ao nhỏ nước cạn, người ta cũng xây một cầu tiêu dành cho bệnh nhân, công chúng và xóm nhà lân cận. Một rãnh nhỏ ăn thông từ ao chứa phân ra kinh lớn. Mỗi ngày con nước lớn theo rãnh tràn vào, hòa tan lớp phân người mục nát dưới đáy ao. Khi nước ròng, một chất nước đậm đặc, lền lền, màu vừa đen vừa xanh lại vừa vàng từ trong ao chảy ra hòa vô lòng nước kinh. Trên mặt nước lúc nào cũng có phân người trôi lềnh bềnh, xác chuột, xác chó. Những người tắm sông, lặn hụp gội đầu, khi trồi lên, đội cả cục phân trên đầu, do đó cái thú tắm sông cũng giảm đi đôi phần.
33.
Nhưng rồi con kinh bị nhiễm độc! Không phải do phân người, xác chó, xác chuột mà là những thây người, đàn ông, đàn bà, một hôm thấy xuất hiện trong lòng kinh, theo con nước lớn nước ròng trôi lên, trôi xuống, tắp bờ này, bụi nọ. Đến lúc đó người ta mới hết uống nước sông, thứ nước mà họ mường tượng còn lẫn lộn chất thịt người vữa. Người ta bắt đầu nấu chín.
Nhưng đó là thời gian đầu. Đến khi con kinh nhỏ, mỗi ngày có tới năm sáu cái thây ma trôi qua và rồi tăng dần lên chín mười cái thì tuyệt nhiên không còn ai dám uống nước sông dầu có nấu chín đi nữa. Số thây ma mỗi ngày càng tăng thêm. Có ngày người ta đếm được đến mấy chục, trôi riêng rẽ hay thành từng chùm năm sáu người, bị trói chung. Ghe xuồng đi đêm đôi khi đụng phải, lúc đầu tưởng một khúc gỗ mục, sau soi đèn trông thấy mới rõ, vội vàng khấn vái đôi điều.
Những thây ma vô thừa nhận, mặc tình nổi trôi theo con nước, làm mồi cho tôm cá đã đành, có khi thân nhân đã nhận diện được người gia đình mình, cũng phải nhắm mắt làm ngơ. Họ được rỉ tai cho biết cấm vớt lên chôn, “nếu bất tuân sẽ chịu chung số phận.” Người ta chỉ còn cách lập bàn thờ ở nha, rước thầy cúng cầu siêu, vào buồng đóng cửa lại mà than khóc. Đốt đống lửa to ngoài sân cho linh hồn người chết nước về hơ ấm, đốt theo chiếc thuyền và mớ giấy-tiền-vàng-bạc.
Các thây ma trôi tắp đầu cồn cuối bãi, rã rời, cuối cùng theo con nước ròng giữa tháng trôi ra vàm sông, cuốn theo giòng Tiền Giang cuồn cuộn làm mồi cho lũ cá hô miệng to bằng cái thúng từ Biển Hồ đổ xuống.
Trong thời gian đó, người lớn, trẻ con không còn tắm sông, sợ ma da rút chân. Họ tin rằng các linh hồn người chết trôi sẽ thành ma da bắt người thế mạng để được đi đầu thai kiếp khác. Người ta chỉ còn trông mong những cơn mưa để hứng nước uống và tắm rửa. Nước mưa không đủ dùng, cuối cùng họ rủ nhau đào giếng.
Ngoài chợ cá tôm bày bán ê hề, không ai ngó ngàng tới. Nhà giàu ăn thịt heo thịt bò, nhà nghèo thì rau, đậu. Người ta đồn cá ăn thây ma khi chết mắt nhắm trít, còn tôm nấu chín vỏ vẫn còn trắng nhách, mình ngay chò. Các hàng thịt tha hồ tăng giá, buổi chợ nào cũng có xảy ra những vụ xô xát, dành nhau mua thịt.
Một hôm, người trong xóm chợ kéo nhau đi coi một thằng chõng trôi tắp lại ở bến cầu tàu.Tử thi là một người đàn ông trạc ngoài năm mươi tuổi, mớ tóc còn dính lại trên đầu bạc hoa râm, thân thể trương phình. Phần da thịt chìm trong nước trắng chợt, đàn cá chốt bu theo rỉa rói. Phần nổi lên trên nắng táp vàng cháy như da heo quay, nứt từng đường dài rịn nước.
Trong số người đến xem, có kẻ nhận ra xác ông Ba Lơi vội vàng chạy về báo cho bà hay, đến mà nhìn mặt.
– Tui thấy giống ổng lắm chị Ba ơi. Chị ra nhìn thử. Nếu phải ổng thì về mà lo đàn chay cúng kiến, cho vong hồn ổng được siêu thăng tịnh độ.
Nghe chưa dứt câu, bà Ba Lơi vội với lấy chiếc khăn trầu vắt lên vai, ba chân bốn cẳng chạy đi ngay, lôi theo cả con Mén nữa.
Vừa trông thấy xác thằng chõng bà ngã ra chết giấc. Người ta lật đật nới lưng quần bà – chiếc quần bố tời- thoa dầu gió, réo ba hồn bẩy vía bà trở lại. Một lúc lâu sau bà mới hồi tỉnh.
Vừa mở mắt ra bà đã khóc ròng, lăn lộn trên mặt đất ,kêu khóc thảm thiết:
– Ông ơi là ông ơi, ông chết bỏ mẹ con tui ở lại mà đành sao? Ông ơi là ông ơi. Vợ chồng sống với nhau mấy chục năm trời, đầu ấp tay gối, chia bùi xẻ ngọt… Nay ông bỏ tui mà đi một mình. Từ nay mẹ con tui sống cầu bơ cầu bất, biết nương tựa vào ai đây, ông ơi! Lăn lộn chán, bà trở dậy, ngồi bệt xuống đất, dạng hai chân ra mà hỉ mũi sồn sột. Thỉnh thoảng lau nước mắt, nhìn xuống xác ông Ba Lơi, mắc kẹt vào giữa hai nấc thang cầu tàu, sóng vỗ dập dềnh lên xuống. Bà không còn nghi ngờ gì nữa, chồng bà đã chết rồi. Hôm bị bắt đi, ông để mình trần, cái miệng há hốc thiếu hai cái răng cửa hàm trên kia, cái lỗ mũi bị da cam ăn xẹp một bên , không phải ông Ba Lơi, chồng bà, thì còn ai vào đó nữa?
Con Năm Mén chạy theo mẹ, trông thấy xác cha nó cũng khóc rống, nhưng nó chỉ đứng xa xa mà nhìn lại. Một tay nó lau nước mắt, còn tay kia bịt mũi, tiếng khóc bịt mũi của nó nghe ư ứ lạ tai. Đến khi nghe má nó biểu lại gần “nhìn mặt ba mày lần cuối” thì nó co giò chạy mất.
Bà Ba Lơi còn ngồi lại khóc lóc cho đến mờ tối mới ra về. Bà quỳ xuống lạy ông bốn lạy rồi khấn thầm:
– Thôi ông sống khôn thác thiêng, phù hộ cho mẹ con tui mạnh giỏi. Chẳng phải tui không muốn cho ông mồ yên mả đẹp, nhưng họ đã cấm tui vớt ông lên chôn. Tui cãi lời họ sẽ giết tui. Tui chết rồi ai hương khói cho ông, nuôi con Mén. Thôi ông chịu khó nhen ông. Tui về ráng tụng kinh cho vong hồn ông mau đi đầu thai kiếp khác.
Nữa đêm con nước lớn. Sáng hôm sau, những người đi chợ sớm, buộc ghe dưới chân cầu tàu không còn thấy xác thằng chõng. Chẳng ai biết rằng, trên mặt nước mà họ cho ghe, xuồng neo lại, là chỗ cái xác sình của ông Ba Lơi đã dừng lại, và chỉ mới trước đó vài giờ đã theo con nước dâng tách bến ra khơi.

bài đã đăng của Kinh Dương Vương


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)