7.
Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước
Cũng như Văn Học Miền Nam, trong thời gian đầu, Văn Học Hải Ngoại không được cả nhà cầm quyền lẫn văn giới trong nước tiếp nhận. Thái độ này được Đỗ Minh Tuấn diễn tả như sau:
“Khi đặt bút viết bài này, trong tôi xuất hiện một cảm giác hình như mình đang bước vào lãnh địa thuộc chủ quyền của người khác. Cái mặc cảm đó là hệ quả của những kinh nghiệm văn hoá trong quá trình tiếp xúc, nhận biết và tiếp cận văn học hải ngoại của cá nhân tôi với tư cách một người viết, một độc giả trong nước. Nhưng bản thân sự hiện diện của nó đã phát lộ tình trạng bị chiếm hữu, bị dán nhãn của văn học hải ngoại. Nó tạo ra những người sở hữu khác nhau: ghẻ lạnh, hắt hủi hoặc mơn trớn, a dua. Nó cũng tạo ra những vùng cấm trong nhận thức và tiếp xúc. Hệ quả của tất cả những cái đó là, nó đã từng trở thành ốc đảo xa vời, nó tạo ra cái cảm giác ngoại đạo cho nhiều người trong nước, kể cả những người muốn quan tâm đến nó.” (Hà Nội, 7.5.1998)[1]
Hoàng Hưng-Nguyễn Huệ Chi-Nguyễn Trọng Khôi-Chân Phương-TDN
(Boston, Hoa Kỳ)
Mãi cho đến năm 1994.
Người đầu tiên đề cập đến văn học hải ngoại là nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Huệ Chi. Từ đó trở đi, số người quan tâm đến văn học hải ngoại một ngày mỗi nhiều. Dù vẫn còn có phần thiên kiến, nhưng nói chung, thái độ nghiên cứu và cái nhìn về văn học hải ngoại của giới cầm bút trong nước càng ngày càng khách quan và thực tế hơn. (Xin lưu ý: con số nằm trong ngoặc đơn sau tên tác giả trong các trích dẫn sau là để chỉ năm bài báo xuất hiện)
– Nguyễn Huệ Chi (1994): “Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không? Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất…thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21…ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. Và có thể nào nhìn ghé mà lầm được: trước mắt ta hiện diện trở lại bao nhiêu tên tuổi quen thuộc từ cái thuở tấp nập báo chí Sài Gòn cách đây 18 năm: Võ Phiến, Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng, Nhã Ca, Trùng Dương, Dương Kiền, Thế Uyên, Duy Lam, Tạ Tỵ, Duyên Anh, Du Tử Lê, Lê Tất Điều, Luân Hoán, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Mộng Giác…Bên cạnh đó là vô số tên tuổi mới mẻ ta chưa từng một lần hay nhiều lắm cũng chỉ mới hơn một lần quen biết: Võ Đình, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Vũ, Trần Long Hồ, Trân Sa, Khánh Trường, Phan Tấn Hải, Khế Iêm, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Thường Quán, Phan Thị Trọng Tuyến, Trịnh Y Thư, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Ngọc Khôi, Bùi Bích Hà, Vũ Quỳnh N.H., Đỗ Kh., Ngu Yên, Nguyễn Mạnh Trinh, Hoàng Mai Đạt, Nguyễn Ý Thuần, Nguyễn Thị Thanh Bình…(…) Không nghi ngờ gì nữa, bên ngoài dòng chảy của nền văn học trong nước, trong 18 năm qua vẫn có những dòng chảy khác của văn chương người Việt, phát nguyên từ nhiều chân trời khác nhau. Chúng lặng lẽ và tiềm tàng, từ tốn hay mạnh mẽ, chảy xuyên qua rất nhiều xứ sở, tích lũy trong đó tiếng gào réo của thác của ghềnh, cũng như cả những tiềm năng thanh lọc rất dữ.”[2]
– Hoàng Ngọc Hiến (2001): “Đánh giá một tác phẩm văn học hải ngoại, câu hỏi đầu tiên là giá trị văn học của nó (nó có đáng là một tác phẩm văn học không?), không mấy ai đặt câu hỏi về tính chất hải ngoại của nó, hoặc đó chỉ là câu hỏi phụ. ‘Văn học Việt Nam hải ngoại trước hết là văn học’ có nghĩa là như vậy.”[3]
– Vương Trí Nhàn (2003): “Những tìm tòi trong việc mở rộng ngôn ngữ văn chương của các bạn viết đang sống nơi xa, dù thành công, dù thất bại, theo tôi, đều đáng quý. Mặt khác, theo đánh giá của tôi, khi sống ở nước ngoài, cảm hứng về tiếng Việt của một số tác giả càng nhạy bén và chính xác hơn khi họ ở trong nước. Tôi cảm thấy mình có thêm những người đồng hành gần gũi trong những quan sát và tìm tòi ngôn ngữ mỗi khi cầm bút.”[4]
– Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang (2016): “Phản ánh cuộc sống, thân phận của người Việt xa xứ là một hướng khám phá mang chiều sâu nhân bản. Đọng lại trên từng trang viết, vượt lên mọi biến cố dồn dập, vượt lên cả những bi kịch của sự vỡ mộng, khổ đau, qua những mảnh đời và những năm tháng nhọc nhằn, chúng ta cảm thấu được một tinh thần Việt trong hành trình sống, đối mặt và nếm trải những thăng trầm của đời tha hương. Đó là “kênh giao tiếp” để chúng ta hiểu sâu sắc hơn đời sống cũng như thân phận của người Việt xa xứ – một phần máu thịt của cộng đồng dân tộc. Văn học hải ngoại nói chung và tiểu thuyết với đề tài tha hương nói riêng đang ngày một xác lập vị trí không thể thiếu trong bản đồ văn chương Việt Nam đương đại.”[5]
– Thư Vũ (2021): “Văn học di dân ngày nay có thể vẫn còn gây nhiều tranh cãi liên quan đến tính địa-chính trị hay quan điểm cá nhân, nhưng không thể phủ nhận, trong những trang viết của bộ phận văn học này, bản sắc dân tộc vẫn giữ vai trò cốt yếu, đã và đang là một tiếng nói cần được lắng nghe nhiều hơn trong không gian nghiên cứu phê bình đương đại. Đó không chỉ là câu chuyện về tác phẩm nghệ thuật, mà còn là về cuộc đời, về số phận con người.”[6]
– Đỗ Thị Phương Lan (2024): “Những trang truyện ngắn đầu tiên ở hải ngoại gần như đều tập trung phản ánh và khắc họa nỗi đau rời bỏ quê hương của những người Việt di tản. Dù ra đi vì lý do gì, nỗi mất mát đớn đau nhất là lạc mất quê hương.” (…) Bi kịch thuyền nhân với nhiều trang truyện ngắn chân thực và xúc động về những chấn thương vượt biển đã là một trong những nội dung viết đặc thù của nhà văn di dân trong những năm đầu của văn học hải ngoại. Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút, sâu sắc thêm về tính nhân văn và đậm tính thời sự về nội dung phản ánh.” (…) Từ những sự ngẫu nhiên nhưng mang tính quy luật và lịch sử của những dòng chảy xã hội cuộc đời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nói riêng và tự sự trong nước những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những gặp gỡ bất ngờ và mang tính thời đại ở những cách nhìn nhận và thể hiện về nỗi đau của con người trong văn chương. Từ “chỗ đứng và trạng thái tinh thần” rất riêng của nhà văn di dân, văn học Việt Nam hải ngoại đã góp vào văn học Việt một mạch chảy rất khác biệt của một kiểu “tự sự hiện chứng”, gióng lên tiếng nói nhân bản của những trạng thái tinh thần bị chấn thương từ những bến bờ lạ…”[7]
Trong lúc đó, một tác giả có bút danh Tao Đàn (2019) nhìn văn học hải ngoại với đôi mắt đậm mùi “tuyên giáo”:
“Nhìn chung, thuật ngữ “văn học hải ngoại” vừa không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học Việt Nam rộng lớn ở nước ngoài, lại vừa gắn với những đối tượng, thời điểm, quan điểm chính trị cụ thể. Thuật ngữ ấy chủ yếu nhằm chỉ những thế hệ nhà văn có gốc gác hoặc dính dáng đến chế độ miền Nam trước 1975, ra đi trên những tàu viễn dương, vượt biên hay dạng H.O. Đích đến và không gian sống/viết mới của họ cũng chỉ gói gọn ở (Tây) Âu và (Bắc) Mỹ. Trên thực tế, cộng đồng văn học Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn, phong phú, phức tạp hơn rất nhiều. (…) Nhìn nhận một cách công tâm, sự nghi kỵ hay rào cản đặt ra đối với “văn học hải ngoại” thời kì đầu cũng không hẳn xuất phát từ tâm lý bài ngoại, nặng nề phân biệt chính trị ở trong nước. Trong giai đoạn từ sau 1975 đến 1980, văn học hải ngoại chủ yếu được viết với tâm thức lưu vong, hằn học dân tộc, bởi chủ thể viết là những quan chức, nhà văn miền Nam đang ân hưởng bổng lộc từ chế độ cũ. Sự chống phá, bôi nhọ cách mạng, xuyên tạc đường lối xây dựng đất nước là hiện trạng đã xảy ra, chúng ta không thể phủ nhận dẫu từ quan điểm nào chăng nữa. Tuy vậy từ sau 1986 đến nay, tâm thế của lực lượng sáng tác mới ở hải ngoại đã khác trước rất nhiều, điều này cũng đòi hỏi những chính sách, quan niệm văn học khác về khu vực này từ phía các cấp quản lí và các nhà nghiên cứu văn học. Nhờ đường lối hội nhập cởi mở, hòa hợp dân tộc, Đảng và Nhà Nước đã dần thu phục nhân tâm, hóa giải đối địch cũ, lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng, đã làm cho hai khu vực văn học trong và ngoài nước xích lại gần nhau hơn bao giờ hết.” (…) Văn học Việt Nam ở nước ngoài như vậy, là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của văn học dân tộc Việt Nam.”[8]
Một tác giả khác, Vũ Thành Sơn (2018), thì hơi…mập mờ chữ nghĩa:
“Cũng như có người đã chỉ ra một cách chí lý Việt kiều là khái niệm chỉ một đối tượng không có thực, khi trong thực tế chỉ có người Mỹ, người Úc, người Pháp,… gốc Việt chứ không hề tồn tại cái gọi là Việt kiều. Việt kiều là một khái niệm đã bị chính trị hóa. Văn học hải ngoại cũng không khác: chỉ có tác giả hải ngoại, chứ không hề có văn học hải ngoại. Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị, để rồi sau đó tiến hành cái gọi là hòa hợp, hòa giải văn học, lại là một hành động chính trị khác. Hãy trả lại cho văn học những gì thuộc về văn học.”[9]
Tương đối khách quan nhất là bài viết của một học giả người Nga, Anatoly Sokolov (2010), nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga. Đây là một trích đoạn:
“Hơn nữa, chúng tôi nhận thấy rằng sách báo của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì có thể dễ dàng tìm thấy trong các thư viện và hiệu sách (chủ yếu của Việt kiều) ở Mỹ, còn tác phẩm của các tác giả người Việt ở hải ngoại thì rất hãn hữu được xuất bản ở Việt Nam, và nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này trước hết là nguyên nhân ý thức hệ.” (…) “Một nhà thơ Ba Lan nhiều năm sống lưu vong ở Mỹ và cuối đời đã trở về Tổ quốc, từng nói về số phận của nhà văn lưu vong: “Chúng ta không nghe thấy tiếng nói của nhà văn lưu vong, đó chỉ là một động tác mà thôi”, tức là nhà văn đó và tác phẩm của anh ta trên thực tiễn không đến được với độc giả của mình ở trong nước. Song vào những năm gần đây tình hình trên thế giới đã thay đổi: đã xuất hiện Internet vốn vượt qua những khoảng cách khổng lồ và những biên giới quốc gia. Hiện nay tồn tại không ít kiểu xuất bản Internet, qua đó văn học Việt Nam ở hải ngoại đã tới được Việt Nam. Tất nhiên nó không thể thay thế được kiểu xuất bản in ấn; ngoài ra, ở Việt Nam còn có sự kiểm duyệt khắt khe và sự giám sát của nhà nước đối với Internet vốn có thể cung cấp thông tin và sự tiếp cận với các tác phẩm văn học.”[10]
Nhận xét này từ 2010, có lẽ vẫn còn đúng cho đến bây giờ.
8.
Vài nét riêng của văn học hải ngoại
Do hoàn cảnh phát sinh, văn học hải ngoại khác với văn học trong nước, khác với văn học miền Nam trước đây. Ngoài những yếu tố đã đề cập đây đó ở các phần trước, tôi xin nêu lên, hay đúng hơn, nhấn mạnh một vài nét riêng khác của văn học hải ngoại. Ngồ ngộ, là lạ, vui vui…
Tự phát
Họ thoát ra khỏi đất nước, vội vã, tất tả, hoảng loạn, trôi dạt vô hướng, để bắt đầu lại từ con số “không”. Trong tình huống đó, im lặng chịu đựng và chấp nhận hoàn cảnh là điều duy nhất; thảng hoặc nếu có ai cầm bút viết lên một cái gì đó, thì chỉ là tiếng kêu than tuyệt vọng cá nhân, mỗi người một kiểu, một cách. Đó là những phản ứng nhân sinh tự nhiên, tự phát từ thân phận lạc loài của những người, thoắt cái, bỗng nhiên trở thành con sâu cái kiến lạc loài vô xứ. Cho đến một lúc, khi những tiếng kêu đơn lẻ, rời rạc đó kéo dài, gắn kết với nhau, nương tựa nhau, biến thành một tiếng kêu tập thể. Ngôn ngữ, vốn chỉ sử dụng để chỉ sự vật như chính nó, đột nhiên phơi mở ra, mang theo với nó ký ức, xúc cảm, tưởng tượng…trở thành một nỗi đau chung. Đó là lúc văn chương bắt đầu. Thứ sản phẩm ngôn ngữ mới mẻ này, rõ là, không xuất phát từ khoảng không. Nó ươm mầm từ trong những cảm nghiệm riêng tư, khát khao được chia xẻ với người đồng cảnh. Văn chương, như thế, không hiện ra ngay như một toàn thể hoàn chỉnh. Mà sự gặp gỡ của những riêng lẻ, lạc lõng này với những riêng lẻ, lạc lõng khác, tự cộng hưởng, gắn kết thành một thực thể. Chẳng khác gì những câu hò câu hát vu vơ trên ruộng đồng hợp thành văn chương bình dân, những tiếng kêu tự phát trong sự đụng độ tàn nhẫn với cuộc sống kết hợp lại thành văn học hải ngoại.
Chẳng thế mà, Lê Thị Huệ nói thẳng, không một chút ấp a ấp úng:
“Thế giới chữ nghĩa nghệ thuật Hải Ngoại là một thứ sinh hoạt vô tổ chức. Không có chính phủ nào ra lệnh phải sáng tác theo chỉ đạo nào. Không có nền chính tả học đường nào kiểm soát những điều chúng tôi viết. Ai muốn viết gì thì viết. Ai muốn xuất bản gì thì xuất bản. Ai muốn phê bình gì thì phê bình. Một thế giới cực kỳ vô tổ chức vô địa lý vô quốc gia. Thế nhưng cũng từ đó chúng tôi tự kỷ luật (self-discipline).”[11]
Một phát biểu chắc nịch, lạ tai, tưởng như “quá đáng”, nhưng hoàn toàn chính xác.
Tự phát, cũng có nghĩa là tự do.
Các sáng tác, dưới dạng này hay dạng khác, bình dân hay cao cấp, có tay nghề hay chỉ mới tập tễnh, đều là sản phẩm của “bắt đắc kỳ bình, tắc minh” (Hàn Dũ) – những tiếng kêu bất bình.[12]
Nói như Hoàng Hưng, trước sau, văn học hải ngoại là nền văn học “không có ai lãnh đạo và không chịu sự lãnh đạo của ai.”[13]
Tự túc
Hải ngoại, nơi tiếng Việt chỉ như một ngôn ngữ ký sinh, không ai có thể kiếm sống bằng nghề viết lách. Một là, số lượng độc giả văn chương quá giới hạn, đã ít ỏi lại phân tán khắp nơi trên thế giới; hai là, ai cũng có thể kiếm sống một cách dễ dàng bằng cách đi làm ở các hãng xưởng; ba là, nhu cầu hội nhập lớn hơn nhu cầu bảo tồn. Nếu còn ở lại Việt Nam, nhiều nhà văn (nổi tiếng ở hải ngoại hiện nay) rất có thể chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện viết lách. Đơn giản là vì họ sống trong môi trường của mình, chan hòa tiếng mẹ đẻ, chẳng cần phải sử dụng nó để trải lòng. Ra hải ngoại, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ bên lề, có nguy cơ biến mất, và chính điều đó, lạ thay, lại kích thích một nhu cầu bức thiết: tìm lại quê hương qua hơi hám chữ nghĩa. Viết là sống lại một cuộc sống thân quen đã bị đánh cắp. Viết cũng là một cách đối phó với những xa lạ bị áp đặt. Phổ biến chúng với đồng hương là một cách sưởi ấm nhau bằng ký ức, tiếng nói, hơi văn và vần điệu.
Mô tả hình ảnh một người bạn văn mê viết, Nguyễn Hưng Quốc kể:
“Bạn tôi, Hoàng Ngọc-Tuấn…. Anh dạy nhạc. Anh viết trong các giờ giải lao. Nhiều lúc, lúc đám học trò ngồi tập đánh đàn, anh lôi laptop ra viết hay dịch cái gì đó. Thỉnh thoảng dừng lại, dặn dò học trò một lát, rồi lại viết hay dịch tiếp. Vậy mà anh cũng viết và dịch được cả khối truyện và thơ. Tối, sau khi vợ con đi ngủ hết, anh lại ngồi vào bàn làm việc đến 2,3 giờ sáng. Nếu không viết thì dịch; nếu không dịch thì đọc và chọn bài để đưa lên tờ báo mạng Tiền Vệ. Anh em, bạn bè của anh không ai ngạc nhiên khi nhận được email anh gửi lúc 2, 3 giờ sáng cả. Có khi còn muộn hơn nữa. Tối nào cũng thế. Cũng thức. Cũng, trong khuya khoắt, một mình lui cui với chữ nghĩa. Anh gọi đó là hobby. Nhưng nhiều người thì gọi đó là một cuộc hành xác.”[14]
Các sáng tác, ở miền Nam trước đây, khi viết xong, muốn được đăng báo hay phát hành sách đòi hỏi một số điều kiện: thông qua sự xét duyệt của báo hay của nhà xuất bản, rồi qua kiểm duyệt của nhà nước và cuối cùng, qua sức mua của thị trường. Sáng tác ở trong nước hiện nay có lẽ cũng như thế.
Ở hải ngoại, tình hình hoàn toàn khác. Chỉ trừ một số tạp chí (giấy hoặc mạng) được ban biên tập biên soạn (edit) cẩn thận (như Văn Học, Talawas, Da Màu), còn thì hầu hết, tác giả nào cũng phải tự mình “lo liệu” từ đầu đến cuối. Tự viết, tự phát hành trên trang mạng (hay facebook) của mình hay tự bỏ tiền ra in ấn, rồi gửi đi…biếu bạn bè và độc giả, đôi khi chẳng phải thông qua việc biên soạn của bất cứ ai và qua thủ tục kiểm duyệt (của cơ quan hữu trách). Tóm lại, sản phẩm văn chương đi trực tiếp từ tác giả đến độc giả, không qua một trung gian nào, kể cả thị trường. Đối với tác giả, tác phẩm tự nó, đã là một lợi nhuận; sự hiện diện của nó, đã là một đền đáp.[15]
Có điều, ưu điểm lại cũng là nhược điểm: sự xuất hiện vô tội vạ của những “tác phẩm” làng nhàng, viết lấy được, viết cho có. Hậu quả là: thị trường chữ nghĩa bị lạm phát với sự xuất hiện của vô số thơ, văn, biên khảo, hồi ký, bút ký…dễ dãi, thiếu hẳn những tiêu chuẩn văn chương tối thiểu. Nói như Võ Phiến, “sau 1975, họ vùng lên múa bút, chẳng bao lâu nổi đình nổi đám ngay (…) sau 1975, anh hoa phát tiết tưng bừng, họ hóa ra nhà văn, nhà thơ…”[16]
Dẫu vậy, thà được tự do…múa bút, còn hơn là bị những cấm kỵ khắt khe dưới chế độ toàn trị. Miệng không bị bịt, nên tay viết, tay gõ không run. Nhất là đối với những tác phẩm nặng về chính kiến. Tất nhiên, không tránh khỏi vài trường hợp ngoại lệ. Về điểm này, dẫn chứng sự kiện tạp chí Hợp Lưu (ở Hoa Kỳ) hay tạp chí Trăm Con (vụ động đất Montréal tháng 7/1992) bị tẩy chay, nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi nhận xét: “Ai cũng biết rằng ở những xứ sở vốn đã quen với truyền thống dân chủ, tự do thì sự cấm kỵ có ít hơn, nhưng phải đâu như thế là người cầm bút ở đây muốn viết gì thì viết. Sự cấm kỵ trên lãnh vực tinh thần nhiều khi lại bắt nguồn từ những điều có vẻ như vô hình, không dễ mà nhìn thấy: các thiên kiến cố chấp đã thành thói quen, tâm lý mặc cảm của một nhóm cộng đồng nào đấy chưa gỡ bỏ đi được, hoặc cách ứng xử theo nếp bảo thủ cổ truyền giữa người cùng giới với nhau…”[17]
Nhận xét hoàn toàn chí lý. Chỉ có một điểm khác: “phạm húy” ở hải ngoại chỉ đưa đến tẩy chay là biện pháp duy nhất, chứ không đẩy tác giả phải chịu oan khuất hay tù đày hàng nhiều năm trời như những cây bút của Nhân Văn Giải Phẩm, của Văn Học Miền Nam sau 1975 hay của xu hướng bất đồng chính kiến hiện nay trong nước.
Tự biên tự diễn
“Văn học hải ngoại”, một nhóm chữ mới thoạt nghe, có vẻ như để chỉ một hệ thống, một hoạt động có tổ chức, có tài trợ, có đường lối chỉ đạo. Thực ra, nó hoàn toàn là kết hợp ngẫu nhiên của những nỗ lực cá nhân rời rạc, lẻ tẻ và thậm chí, tùy hứng. Không hội nhà văn, không trường viết văn, không ngân sách tài trợ, không nhuận bút, đã thế, không hề được khuyến khích hay ca ngợi, mà còn bị chỉ trích hay tẩy chay, khi lỡ phạm sai lầm. Làm văn chương, lắm khi, là nghiệp chướng!
Văn chương hải ngoại không những “rẻ như” mà còn “rẻ hơn” cả bèo (của Tản Đà). Nói cho đúng, vô giá. Còn nhớ, khi mới ra hải ngoại, lần đầu tiên tôi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Học. Chờ lâu không thấy động tịnh gì, tôi gửi thư cho chủ bút Nguyễn Mộng Giác, nhắc xa nhắc gần về chuyện nhuận bút. Anh gửi ngay cho tôi một cái “Money Order” (Phiếu chuyển tiền)[18] 30 dollars, nói là để tôi mua tem dùng khi gửi bài đến tòa soạn. Đã từng nhiều lần nhận được tiền nhuận bút thời trước 1975, nên vui thì vui, nhưng vẫn cảm thấy hụt hẫng vì cách trả tiền không mấy bình thường này. Sao lại tiền mua tem mà không phải tiền “nhuận bút” (潤筆 = tiền trả cho ngòi bút)! Mãi cho đến khi gặp nhau, tôi mới hay, người chủ bút đã gói ghém trong thư một nhắn nhủ tế nhị: văn chương hải ngoại không – thậm chỉ chẳng liên quan gì đến – nhuận bút. Làm (một tạp chí) văn chương không phải là kinh doanh, mà là thực hiện một nghĩa vụ: bỏ công sức và tiền túi ra để nuôi nấng nó.
Nhóm thực hiện “số-hóa” tạp chí Văn Học (hải ngoại) viết trong “Lời ngỏ”:
“Trong bài “Lời Giã Biệt” tạp chí “Văn Học Nghệ Thuật” số13, Võ Phiến, người chủ trương, đã cho biết rằng báo đình bản “không phải vì sự sống của tờ báo mà sự sống của người làm báo.” Thật vậy, độc giả không thiếu, văn hữu gửi khá nhiều bài về tòa soạn. Nhưng mà chính thì giờ dành cho báo thì người làm báo lại không có. Dạo ấy, chưa có máy vi tính, bài vở bạn văn gửi đến phải được đánh máy lại, phải được bỏ dấu, xong còn đem đi in, chứ không phải “bấm một cái là xong” như ngày nay. Chưa nói chi đến việc phát hành bằng cách đem báo đi “bỏ” tại các hiệu tạp hóa ở những khu đông người Việt, không khác chi bỏ mối chả giò, gỏi cuốn vậy! Báo chí chưa có được một chỗ đứng, một kệ riêng. Chúng ngồi chung với bánh phở khô, với mì gói! Trong khi đó thì người làm báo ngày ngày vẫn phải đi làm nuôi thân, nuôi gia đình. Báo mới ra, tiền đâu mà thuê người này làm việc kia, mướn kẻ này lo việc nọ.”[19]
Trừ một số tạp chí có tính cách tổng hợp văn hóa, chính trị, kinh tế, văn học và nhiều mục linh tinh khác hấp dẫn độc giả, do đó, thường đỡ nhọc nhằn cả về tài chánh cũng như bài vở, mấy tạp chí “thuần túy” văn học như Văn Học, Hợp Lưu, Văn thuộc loại “giật gấu vá vai”, ăn chưa xong bữa hôm đã phải lo bữa mai. “Nguồn tài trợ”, hay nói cho đúng, tiền làm báo là tiền cắt xén từ đồng lương công nhân ba cọc ba đồng của người chủ trương, với sự hỗ trợ của chính những người cộng tác và chừng vài trăm độc giả mua báo dài hạn.
Đây là hình ảnh của Mai Thảo, chủ biên tạp chí “Văn”, qua vài nét phác họa của Ngô Thế Vinh:
“Khó có thể tưởng tượng cảnh sống đạm bạc của nhà văn Mai Thảo trên đất nước Mỹ. Chỉ là một căn phòng 209 rất nhỏ trên lầu 2 của một chung cư dành cho người cao niên ngay phía sau hẻm nhà hàng Song Long. Chỉ có một bàn viết, chiếc giường đơn với nơi đầu giường là một chân đèn chụp rạn nứt và dưới gậm giường mấy chai rượu mạnh; trên vách là mấy tấm hình Mai Thảo; đặc biệt là tấm ảnh phóng lớn có lẽ chụp trước 1975, Mai Thảo cao gầy ngồi trên bậc thềm nhà cùng với nhà thơ Vũ Hoàng Chương mảnh mai trong áo dài the, phía dưới là một kệ sách. (…) Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là toà soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh.”[20]
Trần Vũ mô tả một cách sống động hoạt cảnh “chạy tiền” của Khánh Trường, chủ bút tạp chí “Hợp Lưu”:
“Ai đã làm báo hiểu rõ khó khăn kinh khủng nhất vẫn là khó khăn tài chánh. Bao nhiêu tờ báo Việt ngữ đã sập tiệm. (…) Sự sống sót của Hợp Lưu liên tục suốt 12 năm qua, đều đặn gởi đến tay bạn đọc bao nhiêu số chủ đề, bao nhiêu biên khảo, phỏng vấn và sáng tác thơ, văn, kịch chính là sự thành công riêng của Khánh Trường và sự sống sót tinh thần của chính cá nhân anh.
Ðể hiểu khó khăn tiền bạc của chủ biên Hợp Lưu túng thiếu nhường nào, tôi có một kỷ niệm đẹp về tình bạn giữa Mai Thảo và Khánh Trường. Mùa đông năm 96, tôi hay thích đến căn lầu xép trai phòng của Mai Thảo. (…) Buổi trưa sâu thẳm yên tĩnh trong con hẻm Song Long, tôi vừa bị Mai Thảo lừa cho uống cognac có ngâm cu con hải cẩu thối hoắc, thứ rượu thuốc Nguyễn Xuân Quang – tác giả Người Căm Thù Ruồi – tặng ông uống chống lạnh, thì Khánh Trường ập vào, giọng anh hối hả:
– Anh có tiền cho em mượn, Hợp Lưu in xong rồi mà em chưa có tiền lấy.
– Bao nhiêu? Nhiều thì không có, ít thì có thể.
Mai Thảo điềm nhiên lắc lắc ly rượu vàng lóng lánh. Màu vàng của buổi trưa loang đến cườm tay ông đọng lại thành vệt lỏng. Giá Khánh Trường có thể ngồi xuống uống rượu thưởng thức sự im lặng của trưa không có những phiền hà nợ nần của đời sống. Ðâu ai biết gồng Hợp Lưu thường đắng như con hải cẩu chết tiệt.
– Một ngàn đô, anh.
– Hà hà… tưởng bao nhiêu, một ngàn thì nhà băng lớn nhất nước Mỹ này cho vay.
Mai Thảo, người thầy tinh thần của Hợp Lưu, bạn nhậu của tôi với anh, lặng lẽ lục tìm ví đưa tiền cho Khánh Trường mang ra nhà in ông Ðào Văn Ngoạn lấy báo.
– Vẽ được mấy cái bìa sách em sẽ gởi trả anh.
– Không hứa, không hẹn gì cả, có tiền thì trả thế thôi!
(…)
Mấy ngày sau, rời quán Song Long sau điểm tâm với Hoàng Khởi Phong, Cao Xuân Huy, Du Tử Lê, tôi và người bạn làm báo văn học liên mạng trên internet Phạm Chi Lan đến chơi với Khánh Trường. Tôi với Phạm Chi Lan không giúp gì được anh trong công tác tòa soạn, nhưng vẫn thích ngồi quanh quẩn xem anh làm việc. Chúng tôi ngỡ ngàng nhìn 1500 cuốn Hợp Lưu chất đầy mặt đất.
– Sao anh chưa gởi bưu điện, trễ hạn rồi mà? Lan hỏi.
– Ờ hớ, để anh vẽ xong mấy cái bìa băng, bìa sách có tiền rồi gởi.
Khánh Trường thản nhiên, không có vẻ gì cấp bách, nhưng tôi biết, đã 6 tây là trễ một tuần. Và từ hôm vay tiền bác Thảo cũng gần cả tuần, có nghĩa anh chưa có tiền. Phạm Chi Lan với tôi đi lạc quyên các anh chị Lê Thứ, Lê Bi, Nguyễn Hương, nhà xuất bản Hồng Lĩnh, và Trương Vũ từ miền Ðông qua chơi, cuối cùng được vài trăm phụ với anh tiền cước phí bưu điện. Những ai còn thắc mắc nguồn tài trợ Hợp Lưu thì thực tế là như vậy. Và thực tế tài chánh này triền miên dằng dặc từ số đầu cho đến nay. Hai tháng một số báo qua thoăn thoắt, 66 số Hợp Lưu của 12 năm là 66 lần họa sĩ Khánh Trường xoay tiền chóng mặt.”[21]
Riêng tôi, gần cả chục năm cộng tác với tạp chí “Văn Học”, tôi chứng kiến khá đầy đủ cái cảnh làm việc đơn thân độc mã của chủ bút Nguyễn Mộng Giác. Ngoài việc chuyên chỉ đi “cày” ca hai tại một công ty điện thoại để nuôi sống gia đình, anh dành tất cả thì giờ còn lại cho “Văn Học”. Để cho báo được phát hành và đến tay người nhận một cách đều đặn, anh bao sân đủ thứ việc không có tên gọi: gửi email vòng vòng “xin” bài của các tác giả, đánh máy bài (của một số tác giả chưa/không biết sử dụng máy vi tính), tự dàn trang, mang đi thuê in; báo in ra, lại huy động vợ con (và bạn bè) đi chở báo, ngồi xúm nhau đóng gói, đi bưu điện gửi báo, rồi đi thu tiền bán báo ở một vài tiệm sách (chỉ đếm được trên đầu ngón tay)…Không bị con “ma” văn chương “ám”, không thể nào duy trì tờ “Văn Học” trong gần hai thập niên như thế.
Nguyễn Mộng Giác-TDN (phỏng vấn)
(Little Saigon)
Ngôi nhà Nguyễn Mộng Giác ở Quận Cam, cách khu thị tứ Phước Lộc Thọ chỉ năm bảy phút lái xe, là nơi đón tiếp nhiều bạn văn từ khắp nơi, kể cả một số thuộc giới viết lách ở trong nước, ghé thăm. Để trả lời cho một nhà văn Hà Nội muốn đi “tham quan” tòa soạn của tờ báo hải ngoại “Văn Học” (“nghe nói” được tư bản Mỹ tài trợ) bề thế đến mức nào, chủ bút Nguyễn Mộng Giác chỉ cái máy điện toán nằm ở góc nhà, xong chỉ vào người mình, rồi dắt khách ra nhà để xe, chỉ hàng ngàn cuốn “Văn Học” còn chất đống ở đó, bảo: “Thưa anh, tòa soạn báo Văn Học chỉ gồm có mấy thứ: nó và tôi và…kho chứa, báo cũ cứ chất lên mãi, chưa biết sẽ xử trí thế nào.”
Thực là, chạy tiền (làm) từng tờ báo…toát mồ hôi!
Làm tạp chí đã thế, mà làm xuất bản cũng chẳng khác gì.
Hải ngoại có “khá nhiều” nhà xuất bản. Nào là Lá Bối, nào là Tân Thư, nào là Việt Thường, nào là Thanh Văn, nào là Văn Học, Văn Nghệ, Tiếng Quê Hương, Diễn Đàn Thế Kỷ, Nhân Ảnh…và vô số tên nhà xuất bản khác (hoàn toàn xa lạ) in trên các cuốn sách. Chả là vì, nhà xuất bản cũng chính là…tác giả! Trừ một vài nhà xuất bản là…“nhà xuất bản” thực vì dựa vào một công ty hay một cơ sở báo chí tương đối bề thế, lâu năm như “Người Việt Books” (công ty Người Việt) hay ké vào công việc chính là một cơ sở in ấn như “Văn Mới” (Nguyễn Khoa Kha), còn hầu như tất cả những nhà xuất bản đều được điều hành bởi một người…yêu sách/yêu văn chương: nxb Tân Thư là Khánh Trường, nxb Văn Học là Nguyễn Mộng Giác, nxb Văn Nghệ là thầy Từ Mẫn (Nguyễn Thắng Tiết), nxb Diễn Đàn Thế Kỷ là Phạm Phú Minh, nxb Nhân Ảnh là Lê Hân, nxb Thanh Văn là Châu Văn Thọ, nxb Tiếng Quê Hương là Uyên Thao…Vân vân và vân vân.
Tự…vong thân
Chấn động văn hóa biến người di dân luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn của môi trường lai ghép, pha trộn, xô lệch, bất ổn. Đối với thế hệ thứ nhất, đó là nỗi khổ hội nhập, đồng thời cũng là xung đột giữa những gì đã có (hoài niệm) và những gì đang có (hiện thực); tranh chấp giữa ký ức như một thực thể thân quen (nhưng) đã bị thất lạc và khát vọng hội nhập như một hiện thực xa lạ (nhưng) cấp thiết. Ký ức là một cái gì vỡ vụn, chập chờn nhưng bướng bỉnh; hiện thực trước mắt thì cụ thể, nhưng nhạt nhẽo, vô hồn và tạm bợ. Đối với thế hệ một rưỡi hay thế hệ thứ hai, đó là hai xung đột văn hóa diễn ra cùng một lúc: một, giữa mình và thế hệ đi trước; hai, giữa mình và chính mình.
Thể hiện trong văn chương, đó là một thách đố. Về đạo lý, giữa “vọng nội” và “vọng ngoại”, giữa truyền thống và lai-căng. Về chính trị, giữa trung thành và phản bội; giữa chối bỏ và níu kéo. Về ngôn ngữ, giữa giữ gìn và phá bỏ. Hội nhập thành công vào xứ người là xé bỏ lai lịch. Giữ gìn thành công ngôn ngữ và truyền thống của mình là ly khai với hiện thực. Cách này hay cách kia đều đưa đến tình trạng “vong thân” (alienation), tự đánh mất mình. Viết trong thân phận di dân, nhất là di dân tị nạn, là một vong thân kép, tự đánh mất mình hai lần. Nhà văn vừa xa lạ đối với chỗ mình đang ở (đất tạm dung) lại vừa xa lạ nơi mình muốn (nói) về. Cả hai, xứ người và quê hương, đều xa lạ. Không có chỗ nào là “nhà” thực sự. Và đều bị/được cả hai cư xử như “người khác”. Hắn không thuộc về nơi nào cả. Căn cước bản thân của hắn, rốt cuộc, là một tách rời, ly khai.
Viết với hắn, do đó, luôn luôn là một đong đưa, chập chờn, nghiêng ngả. Ca tụng nơi đang tạm cư là mất gốc; khát khao muốn trở về nơi chốn cũ là phụ bạc. Cảm thấy ngập ngừng khi viết, cảm thấy hụt hẫng khi đọc lại. Ấy thế mà vẫn cứ muốn viết, viết hoài. Với hắn, trạng thái vong thân, vô hình trung, trở thành một kích thích để được hiện hữu như một cá thể, phải chăng?!
(còn tiếp)
[1] Đỗ Minh Tuấn, Văn học hải ngoại nhìn tư trong nước
[2] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[3] Hoàng Ngọc Hiến,
[4] Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn, Tòa Đại Sứ CHXHCNVN ở Hoa Kỳ, Các nhà phê bình bàn về văn học hải ngoại
https://vietnamembassy-usa.org/node/2822
[5] Lý Hoài Thu – Nguyễn Thu Trang, Tiểu thuyết hải ngoại và vấn đề thân phận tha hương
[6] Thư Vũ, Văn học của người Việt ở hải ngoại: Tình thế của văn chương di dân
http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/van-hoc-cua-nguoi-viet-o-hai-ngoai-tinh-the-cua-van-chuong-di-dan_12823.html
[7] Đỗ Thị Phương Lan, Chấn thương di dời trong một soố truyện ngắn…
[8] Tao Đàn, Văn học hải ngoại – một Việt Nam khác nhìn từ thế giới
taodan.com.vn/van-hoc-hai-ngoai-mot-viet-nam-khac-nhin-tu-the-gioi.html
[9] Vũ Thành Sơn, Văn học miền Nam nối dài – Văn học hải ngoại
https://vanviet.info/thao-luan/van-hoc-mien-nam-noi-di-van-hoc-hai-ngoai/
[10] Anatoly Sokolov, Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay.
https://vuongtrinhan.blogspot.com/2022/02/anatoly-sokolov-van-hoc-viet-nam-o-hai.html
[11] Lê Thị Huệ, Vài Nét Về Sự Khai Phá Nền Văn Chương Tiếng Việt Hải Ngoại
[12] Hàn Dũ: Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh (Vật không được bình yên thì kêu lên)
[13] Hoàng Hưng, Phỏng vấn (Da Màu-TDNho).
[14] Nguyễn Hưng Quốc, Viết sách ở hải ngoại
https://www.voatiengviet.com/a/viet-sach-o-hai-ngoai-10-01-2010-104191244/882651.html
[15] “Ra mắt sách”, hiện tượng sinh hoạt văn chương chữ nghĩa phổ biến trong cộng đồng người Việt, là một cách giới thiệu, một hình thức chia xẻ hơn là rao bán sản phẩm, như có người bêu riếu.
[16] Võ Phiến, Kẻ viết người đọc, Cuối cùng, Thế Kỷ 21, 2009, tr 63
Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh, Văn Học Việt Nam 50 năm hải ngoại, tr. 20
[17] Nguyễn Huệ Chi, Vài cảm nhận văn học Việt Nam hải ngoại
Tạp chí Văn Học (Hà Nội), tháng 2-1994; in lại ở tạp chí Văn Học (Cali), số 99, tháng 7/1999.
[18] Phiếu chuyển tiền, do Bưu Điện Mỹ phát hành, thay thế cho ngân phiếu, dành cho những người không có tài khoản ngân hàng
[19] Lời ngỏ, Thư Khố tạp chí Văn Học (hải ngoại)
[20] Ngô Thế Vinh, Hành trình đến tự do – Nhà văn thuyền nhân Mai Thảo
https://sangtao.org/2016/12/12/hanh-trinh-den-tu-do-nha-van-thuyen-nhan-mai-thao/
[21] Trần Vũ, Hợp lưu 12 năm, trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại
http://tranvu.free.fr/baiviet/trangtonkinh.html
bài đã đăng của Trần Doãn Nho
- chuyện trăng sao - 04.06.2026
- Văn Chương Hải Ngoại: Nỗi Chữ – Nỗi Quê” - kỳ v. Về Đâu? - 16.05.2026
- Văn Chương Hải Ngoại: Nỗi Chữ – Nỗi Quê/ Kỳ iv. Thành tựu – Hiện diện là thành tựu – Bảo tồn văn học Việt Nam – Số hóa – Một lớp nhà văn mới – Văn chương tiếng Việt – Văn chương ngoại ngữ - 08.05.2026
- Văn Chương Hải Ngoại: Nỗi Chữ – Nỗi Quê – Tuỳ luận/Biên khảo của Trần Doãn Nho- Phần 2: Văn Chương Giấy- Văn Chương Mạng - 01.05.2026
- Chạy - 30.04.2026
- Văn chương hải ngoại: nỗi chữ - nỗi quê/ kỳ 1: Niềm…hải ngoại- Từ chợ đến…văn học nghệ thuật- Chế chữ- Bỗng…Little Saigon Thủ đô văn học - 29.04.2026
- Trò chuyện với nhà biên khảo văn học Nguyễn Vy Khanh - 13.03.2026
- Một hôm… - 19.09.2025
- trò chuyện với nhà văn nguyễn lệ uyên - 20.08.2025
- Trò chuyện với nhà biên khảo Nguyễn Hưng Quốc - 12.06.2025
- người chú - 21.05.2025
- hai mươi năm và năm mươi năm - 03.02.2025
- Trò chuyện với ChatGPT về nhà văn Quỳnh Dao - 17.01.2025
- cái thú… dân chủ - 21.11.2024
- trí tuệ nhân tạo chatGPT “điểm truyện” - 23.10.2024
- thế rồi, lá thư - 01.08.2024
- bóng - 31.05.2024
- Rồi sau đó, thì sao… - 29.03.2024
- nỗi huế- kỳ cuối: vực thẳm tháng 4 - 08.01.2024
- nỗi huế- kỳ 8: nhân vật- Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đính/Trần Vàng Sao, Lê Văn Hảo - 29.12.2023
- nỗi huế- kỳ 7: Nhân Vật- Ngô Kha, Chu Sơn - 28.12.2023
- Nỗi Huế- Những "Con Ngựa Thành Troy" - 21.12.2023
- Nỗi Huế- kỳ 5: Tôi - 12.12.2023
- Nỗi Huế- Nhiễu Nhương (kỳ 4) - 05.12.2023
- Nỗi Huế - Tang thương (kỳ 3) - 02.12.2023
- Nỗi Huế- Có Một Thời (kỳ 2) - 30.11.2023
- Nỗi Huế- Nó, Cảnh & Người - 28.11.2023
- kịch - 24.02.2023
- Trí tuệ thông minh nhân tạo - 17.02.2023
- Thơ Thành Tôn: thân xác như một ám ảnh hiện sinh - 01.06.2022
- ‘Đoản thi’ của sinh viên Trung Quốc: một hình thức phản kháng - 18.05.2022
- Viết ngắn về tác giả và tác phẩm: Phan Thị Trọng Tuyến và Hồng Đăng tại Amsterdam - 26.10.2021
- Bữa ăn - 11.08.2021
- Con mắt thủy tinh - 05.08.2021
- Đến lúc đi, là đi - 19.07.2021
- phiên bản - 10.11.2020
- đỏ xanh vàng và…trắng - 26.08.2020
- Văn Túy Hồng - 19.08.2020
- Việt Nam Cộng Hòa lừng lững đi vào lòng đất nước - 29.04.2020
- Từ coronavirus đến dịch hạch của Albert Camus - 03.04.2020
- chuyện trái tim - 28.02.2020
- Chữ Nghĩa Văn Chương Cuộc Đời – tạp bút Trần Doãn Nho - 28.02.2020
- donotenter - 10.02.2020
- Hai giải Nobel văn chương và những chuyện bên lề - 21.10.2019
- Đi. Trong một buổi sáng - 20.08.2019
- Toni Morrison: người thay đổi diện mạo của văn học Mỹ - 12.08.2019
- Chàng, tường và … nàng - 05.03.2019
- · “Chữ của Năm” 2018 - 28.01.2019
- đội lốt - 01.01.2019
- Hiện tượng Trump dưới cái nhìn của nhà ngôn ngữ học - 04.12.2018
- Giới thiệu tác phẩm mới: “Tiểu luận (của/về) Phùng Nguyễn” - 05.11.2018
- Tạp ghi tháng 9 - 23.09.2018
- Tạp ghi tháng Bảy - 23.07.2018
- Banoai - 12.06.2018
- Tạp ghi tháng năm: nguyễn đính. như tôi biết - 28.05.2018
- Tạp ghi tháng Tư: Vết thương - 30.04.2018
- Tin tặc vs Da Màu & Da Màu vs Tin Tặc - 29.03.2018
- Tạp ghi Tháng Ba - 16.03.2018
- Ngút ngàn - 02.03.2018
- Tạp ghi tháng hai - 05.02.2018
- Đi tìm… - 25.01.2018
- Tản mạn đầu năm-chính trị, kinh tế, văn học - 02.01.2018
- nàngs - 05.12.2017
- vết xước đầu đời - 20.07.2017
- Chàng … - 23.05.2017
- Quán cà phê Tổng Hội - 03.05.2017
- gặp - 01.12.2016
- nỗi huế - 08.11.2016
- NẮNG - 25.10.2016
- Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh (phần 2) - 12.10.2016
- Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh (phần 1) - 11.10.2016
- Tĩnh vật - 22.04.2016
- Tạ Chí Đại Trường: miên man chữ nghĩa - 12.04.2016
- Nhẹ nhàng Đinh Cường - 13.01.2016
- Chung cuộc & khởi đầu - 17.12.2015
- phùng đi đâu đi đâu… - 21.11.2015
- bilal hadfi & paris - 20.11.2015
- Khả Thể, sự trình diễn của ý niệm trên hiện thực - 16.06.2015
- Tính “văn học” trong văn học miền Nam - 23.12.2014
- Một khía cạnh khác trong “Phong Trào Dù” ở Hồng Kông: ngôn ngữ - 03.11.2014
- hóa thân chữ - 19.05.2014
- một cái gì rất nguyễn xuân hoàng: sổ tay - 30.08.2013
- Tự Lực Văn Đoàn và chuyện văn phong - 26.07.2013
- Bầu cử Mỹ (phần 2) - 29.11.2012
- Bầu cử Mỹ (Phần 1) - 28.11.2012
- địa chỉ ấy thiếu mất một người - 01.10.2012
- Lặng lẽ ánh trăng - 12.09.2012
- ngắn ♦ huế ♦ khuya - 27.12.2011
- Nhân ngồi làm mẫu, trò chuyện với Nguyễn Trọng Khôi - 16.12.2011
- Loanh Quanh Những Nẻo Đường - 08.07.2011
- Ngơ ngác và trẻ thơ - 08.07.2011
- Đổi - 29.03.2011
- rằng từ ngẫu nhĩ… - 01.03.2011
- Mừng tuổi ♦ Chưa đề - 18.02.2011
- T(uy)ết trắng - 03.02.2011
- viết/chữ - 13.05.2010
- Quen - 06.05.2010
- Trò chuyện cùng Trần Hoài Thư về Thư Ấn Quán & Thư Quán Bản Thảo - 26.04.2010
- Hơi chữ - 23.11.2009
- Cháu & Bay - 09.10.2009
1 Comment To "Văn Chương Hải Ngoại: Nỗi Chữ – Nỗi Quê – Kỳ iii. Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước – Vài nét riêng của văn học hải ngoại: Tự Phát, Tự Túc, Tự Biên Tự Diễn, Tự…Vong Thân"
#1 Comment By Long Nguyen On 05/05/2026 @ 7:28 pm
Văn học có thể được phân loại dựa trên ngôn ngữ
“Literature may be classified according to a variety of systems, including language, national origin, historical period, genre, and subject matter.”(Britanica)
Ngôn ngữ là yếu tố số một khi viết văn. Đối với người sáng tác văn chương, thơ và văn xuôi, thì ngoài viết như là cách xếp đặt câu chữ, họ còn tuyển chọn ngôn ngữ để sáng tác. Ngay cả khi họ viết với tiếng mẹ đẻ.
Jon Fosse, Khôi Nguyên văn chương Nobel 2023, luôn luôn viết với tiếng Na Uy Nynorsk của nhóm thiểu số thay vì ngôn ngữ phổ thông hơn ở Na Uy là Bokmål. Đơn giản bởi vì ông cảm thấy thoải mái dễ dang hơn khi sáng tác với Nynorsk. Trong khi Bokmål do quá thông dụng trong lĩnh vực như quảng cáo nên gây trở ngại không ít khi làm thơ hoặc viết văn tiểu thuyết và kịch.
Cao Hành Kiện, Khôi Nguyên văn chương Nobel 2000, luôn sáng tác bằng tiếng Hoa ngay cả khi đã trở thành công dân Pháp. Tuy vậy tiếng Hoa mà ông viết là cả một hành trình cay đắng nhưng đầy cảm hứng tìm về nơi chốn “Linh Sơn” của văn hóa Trung Hoa. Cộng với tiếng Hoa do chính ông sáng tạo dựa trên nghệ thuật ngôn ngữ và kịch nghệ Tây Phương mà ông nhận được.
Người Việt viết tiếng Việt ở hải ngoại không dễ dàng. Họ sẽ gặp vấn đề ngay cái “khâu” ngôn ngữ. Bởi vì nước Việt Nam sau 75 đã hoàn toàn “đổi mới”. Chính thể mới, ý thức mới, văn hóa mới. Và dĩ nhiên, tiếng nói mới. Tiếng nói mới VN có đặc điểm là thống nhất “đồng bộ” được phân phối từ chính sách toàn trị văn hóa giáo dục và tuyên truyền từ trung ương cũng như sự du nhập trực tiếp vô số chữ Hán Việt thẳng từ văn học và báo chí truyền thanh cùng dạng thức formal khẩu ngữ của Trung Quốc.
Người viết văn làm thơ, người sáng tác văn chương, họ cần sáng tạo thoải mái không bị câu thúc. Họ có mạch nguồn định nghĩa “sự thật” của riêng họ.
“Language comes first. It’s not that language grows out of consciousness, if you haven’t got language, you can’t be conscious.” — Alan Moore
Ngôn ngữ đến trước. Không phải ngôn ngữ sinh ra từ ý thức, nếu bạn không có tiếng nói, bạn không thể có ý thức.
https://www.britannica.com/art/genre-literature