Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Tùy bút Email bài này

Loa Phóng Thanh Trong Những Ngôn Ngữ Khác Nhau

 

Từ nguyên tác “Loudspeakers in Different Languages”
của Nguyễn Quí Đức
trên
blog diaCritics ngày 20.05.2010

 

 

 loaphuong2

 

Hết chiến tranh rồi. Tôi mừng quá. Ngủ được rồi. Suốt tháng tư vừa qua, tôi chẳng ngủ nghê gì được.

Tháng rồi, chiến tranh bùng nổ rần rần. Vâng, cái cuộc chiến đó, bạn biết tôi nói về chuyện gì rồi. Cái vụ tranh cãi linh tinh, chả có nghĩa lý gì đối với nhiều người. Chuyện đã thay đổi nước Mỹ, và cả Việt Nam nữa. Nó không chịu xéo đi. Chuyện này thật ra đã chấm dứt vào cuối tháng tư, 35 năm về trước, nhưng nó vẫn cứ lảng vảng ở đây.

Loa phát thanh công cộng là một phần trong đời sống Hà Nội đã mấy mươi năm nay. Tin tức và sắc lệnh nhà nước. Năng xuất và tham nhũng. Kế hoạch xã hội trong tuần. Họp đảng. Quy định mới của phường về chuyện đổ rác và đậu xe. Quân nhạc.

Ba năm trước, khi tôi vừa dọn về đây, mấy cái loa phường này đã bớt ồn ào. Nhân dân than phiền. Chả có ai thật sự lắng nghe chúng. Chúng gây trắc trở cho việc mua việc bán. Chúng cản trở nhiều người đang gắng đọc các tin tức khác trên mạng. Chúng nói ngược lại những điều người ta trải nghiệm trong đời sống.

Tôi nghe nói có người lén trèo lên nóc nhà vào buổi tối như kẻ trộm và nhoài người ra để cắt mấy sợi dây loa. Người khác thì hối lộ công nhân nhà nước để xoay cái họng loa lên trời và cầu nguyện cho trời đổ mưa. Có một thời gian, dường như mấy cái loa phường biết nghe lời người dân. Chúng im bặt, hoặc nhỏ giọng dần.

Hóa ra tôi chả biết cái gì hết, hệ thống loa phường vẫn sống nhăn răng. Tháng Tư vừa rồi, mấy cái loa lại lên tiếng. Lại là chuyện chiến tranh. 8h sáng, 4h chiều, 8h tối. Chiến tranh, chiến tranh, chiến tranh.

Trong thời chiến, mấy cái loa phóng thanh nhất định là có ích. Còi hụ, báo động phòng không, thông báo lệnh sơ tán và tìm nơi trú ẩn. Tháng rồi, khi những chiếc loa phường hoạt động trở lại, có lẽ chúng đã nhắc nhở thế hệ lớn tuổi về những ngày tháng đau thương, gian khổ, khi oanh tạc cơ Mỹ dội bom xuống khắp nẻo phố phường. “Sấm rền” hoặc những chiến dịch đánh đấm nghe rất kinh hãi.

Hiện giờ thì lại có một thế hệ mới. Và những điều phát ra từ mấy chiếc loa phóng thanh đối với thế hệ này chỉ đơn giản là những thứ lảm nhảm khó chịu. Nó không để ai ngủ, hoặc thưởng thức một ly cà phê; nó gây khó khăn cho việc nghe nhạc bằng cái i-pod.

Và chúng nói về điều mà chả ai trong cái thành phố này muốn nghe. Chiến tranh Việt Nam.

Đúng là họ làm thật lớn chuyện về cái chiến thắng ngày xưa. Tin tôi đi, 35 năm sau, cái chiến thắng đó—“giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước”—là chuyện đại sự. Có người bảo rằng đó chỉ là cách đảng Cộng sản bảo trì vị trí “ngôi sao bắc đẩu” của mình. Chúng tôi đã đánh bại một nước lớn. Chúng tôi thống nhất đất nước. Những điều như vậy cứ lập đi lập lại trên loa phóng thanh hầu như suốt tháng Tư.

Trong khi đó, lại có người cho rằng “chúng tôi” đánh bại nước lớn chỉ để đầu hàng trước sức mạnh kinh tế và món gà chiên Kentucky của họ vài thập kỷ sau đó. Và có người khác cũng nói về “thống nhất,” chỉ có điều họ lại muốn biết về những gì đã có thể xảy ra nếu đất nước thống nhất dưới một chính thể khác.

Ghé thăm Sài Gòn, một người bạn gốc Hà nội ao ước, “Đôi khi mình ước gì người Mỹ, người Pháp đã ở lại lâu hơn. Cho miền Bắc có được một chút cởi mở của Sài Gòn.” Cô ấy đang nói đến sự cởi mở về kiến trúc, đường sá rộng rãi, xây cất ngăn nắp, và về những quán hàng và hè phố nơi người dân công khai làm ăn buôn bán, vui chơi mà không bị phiền hà bởi công an và đám quan lại. Và cô cũng ám chỉ đến cung cách của người dân Sài Gòn, nghĩ sao nói vậy, thật thà, thẳng thắn.

Cô bạn thuộc về một thế hệ chưa từng thật sự thâm nghiệm về chiến tranh Việt Nam ngoài những điều được dạy ở học đường. Những hy sinh gian khổ và quyết tâm của thế hệ cha ông, những hành động anh hùng để đánh bại kẻ thù vĩ đại và tàn bạo. Một vài điều là chuyện thật, nhưng cùng với thời gian, cô đang học được thêm nhiều điều khác.

Trở lại Hà Nội, cô và các người bạn đến dự buổi nói chuyện của ba nhà văn Mỹ gốc Việt ở phòng tranh và đồng thời là quán café do tôi quản lý. Cô bảo tiếng Anh của cô không đủ để hiểu toàn bộ những gì được phát biểu, nhưng cô bắt đầu cảm biết được câu chuyện như thế nào. Đó là những điều mà các nhà văn Ben Trần và Andrew Lâm đã nói về trong một buổi tối ở phòng tranh. Họ nói về chiến bại, về những cơ hội mới, về ký ức của một Việt Nam khác.

Cũng không mấy người đến dự buổi nói chuyện, nhưng những người đã đến nghe, khi đi ra thì bảo rằng những điều như vậy chưa hề được phát biểu công khai ở Hà Nội. Đúng y chang. Làm gì có thể nghe được những điều như thế trên mấy cái loa công cộng! (Đón xem một bài viết khác về những gì xảy ra sau khi Andrew Lâm và đám bạn nhà báo đồng sự của anh rời khỏi quán café của tôi. Bạn bè thân hữu bị thẩm vấn, những người tôi không ưa thích lắm kéo đến quán của tôi… Nhưng đấy là một truyện dài khác).

Và người bạn Hà Nội của tôi cũng bảo rằng Việt Kiều bị ám bởi chiến tranh Việt Nam.

Lại đúng y chang! Tôi không nói thẳng như vậy, mà cố gắng giải thích cho cô là do “hoàn cảnh đưa đẩy.” Trong khi không muốn đào xới mãi chủ đề chiến tranh Việt Nam, một số văn nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại cứ “được” yêu cầu để làm như thế. Hãy trao cho chúng tôi cuộc chiến tranh của bạn, kinh nghiệm của bạn, lịch sử tội nghiệp của bạn, bi kịch cá nhân của bạn, để chúng tôi có thể hiểu ra mình đã làm gì trên đất nước các bạn trong chiến tranh, để chúng tôi biết phải làm gì với cái cảm giác tội lỗi mập mờ của chúng tôi. Một số người viết khác ở hải ngoại thì nhất định cảm thấy cần thiết phải kể ra câu chuyện chiến tranh của họ–chúng chưa hề được kể ra ở bất cứ nơi chốn nào khác.

Tôi cứ uống whiskey Ái Nhĩ Lan, còn người bạn thì đang uống một món rất Mỹ, loại Bourbon thuộc tiểu bang Kentucky. Cô bạn lại tiếp tục, Nhưng tại sao mấy người không chịu cho cuộc chiến vào quá khứ đi?

Chúng tôi đã cố, và đang cố gắng thêm nữa. Tôi nói, đó là con người của chúng tôi. Chúng tôi bị buộc trở thành những con người như thế. Một lớp người bị bứt gốc, bứng rễ, hai chữ “chiến tranh” khắc sâu trên mặt, trong tim, và trong những sản phẩm mà đám chúng tôi, những nhà làm phim, nhà báo, hoạ sĩ, nhà văn, nhà thơ, v.v… tạo ra. Chúng tôi luôn nhớ đến cuộc chiến.

Tôi luôn nghĩ rằng chính là người dân trong nước không nhớ đến cuộc chiến. Trước hết, cuộc sống khó nhọc ngay sau khi chiến tranh chấm dứt đã không cho phép người ta gặm nhấm quá khứ. Thật vô nghĩa để nghĩ về những gian khổ đã qua khi người ta đang ngoi ngóp trong những gian nan mới. Rồi khi kinh tế được mở ra và đất nước trở nên khá giả hơn, một thế hệ trẻ trung hơn lại chỉ thích hướng về tương lai, nơi có xe SUV và i-pod và trường đại học quốc tế và nhạc hip-hop…

Những cái loa phường vẫn nhớ về chiến tranh Việt Nam và chiến thắng của người ta 35 năm về trước. Nhưng vài người khác ở Việt Nam có vẻ như đã tiêm nhiễm thói quen của người Mỹ, cứ coi những vụ kỷ niệm lịch sử là cơ hội đi chơi một chuyến ngắn hạn, hoặc mua hàng đại hạ giá ở các thương xá địa phương. Ở thôn quê thì có thể khác một chút, nhưng ở Hà Nội, cứ sống mãi trong quá khứ là chuyện vô bổ.

Vậy đó, sau khi Lê Thị Diễm Thúy, một nhà văn Mỹ gốc Việt khác, chấm dứt phần trình diễn và phần trích đọc cuốn The Gangster We Are All Looking For của cô, những người bạn địa phương của tôi tụ lại ở quầy rượu với chai whiskey Jack Daniels và bình phẩm về nỗi ám ảnh của chúng tôi.

Khó cho họ có thể hiểu được nỗi oái ăm trong việc chính cái ám ảnh về chiến tranh Việt Nam cũng làm cho những người như Lê Thị Diễm Thúy điên lên. Nỗi ám ảnh của người Mỹ. Và chúng tôi, những văn nghệ sĩ hải ngoại phải lên tiếng. Lê Thị Diễm Thúy đã làm một bài thơ với câu “Việt Nam không phải là một cuộc chiến” được tô đậm.

Tôi giải thích cho những người bạn Hà Nội là đám nghệ sĩ tha phương chúng tôi đóng hai vai trò. Chúng tôi cần gìn giữ ký ức, và trong cùng một lúc, phải đối thoại với một đám thính giả hầu như không hiểu được Việt Nam là một xứ sở, một đất nước, một nền văn hóa, một dân tộc. Cái đó, người bạn trẻ ơi, là một vấn nạn ồn ào, to tướng của chúng tôi. Làm thế nào để người ta hiểu rằng người Việt Nam không chỉ gồm có những nông dân trong bộ bà ba đen mang AK 47 chạy lung tung trong địa đạo và bị mấy thằng địch tên là Rambo bắn tan xác? Việt Nam là một đất nước, không phải là một ẩn dụ thuận tiện cho những gì nước Mỹ đang trải qua ở những nơi như Iraq hay Afghanistan.

Về sinh sống ở đây, tôi vui vì có được cơ hội mang tiếng nói của văn nghệ sĩ xa xứ đến với người trong nước. Chúng tôi trở về, và với những tác phẩm nghệ thuật của mình, vài người chúng tôi chỉnh sửa được cái hình ảnh “Việt kiều là kẻ thù của nhân dân,” hoặc là những thứ “trọc phú đần độn.” Chúng tôi nói về lần chiến bại 35 năm trước, về sự khiêm tốn bắt nguồn từ tủi nhục, về những gian nan và thắng lợi ở những nơi chốn khác trên thế giới.

Đó là một nhóm thính giả nhỏ, không thể so sánh được với số người bị mất ngủ vì mấy cái loa phường. Chúng tôi và những cái loa cùng nói về cùng một điều. Về cuộc chiến tranh không chịu rời bỏ chúng ta, nhất là ở vào thời điểm của những lễ “chu niên.” Nhưng như Ben Trần, như Andrew Lâm, như Lê Thị Diễm Thúy, chúng tôi nói về quá khứ với những tinh thần khác. Chúng tôi không phải là những cái loa phường. Và những cái loa này thì không nói năng như chúng tôi.

Chúng ta đã hết chiến tranh. Không còn hò hét tranh cãi. Đã 35 năm rồi còn gì. Nhưng chúng ta sẽ còn tiếp tục nói tiếng nói của riêng mình 35, 40, hoặc 50 năm nữa trước khi chúng ta nói cùng một ngôn ngữ. Biết đâu đấy, có khi chiến tranh Việt Nam sẽ không bao giờ chấm dứt.

(Nguyễn Quí Đức & Phùng Nguyễn chuyển ngữ 25.05.2010)

bài đã đăng của Nguyễn Quí Đức

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

10 Bình luận

  • Sất says:

    Phan Đức làm mình nhận thấy là cần phải phân định ” văn nghệ bầy đàn” sao cho rõ ràng, ^^. Mình cho rằng tình “huống/trường hợp” bầy đàn có nghĩa tích cực khi các cá thể riêng lẻ chưa được nhận diện các đặc tính để “xếp nhóm”đem tới sự “phân loại”. Sự phân loại được nhận diện ở đây là mầm mống sơ khởi cho cái goị là “nhận thức khoa học”. Như vậy, một cá nhân bao giờ cũng ngầm định một “nhóm” nào đó trong tâm thức, lịch sử(tiến hoá ) của nó.

    Về ý Phan Đức viết ” ..Vậy thử hỏi đa số người trên thế giới đồng thuận với những nguyên tắc phổ
    quát như Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ. cũng là a dua theo đám đông,chứ không phải là người ta phải tôn trọng những giá trị phổ qúat hay sao
    ?.. “.

    Những giá trị, nguyên tắc phổ quát như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là những thành tựu của loài người. Tuy nhiên điều tinh tế của tình huống này sẽ xảy ra khi mâu thuẫn trong cá nhân mang ” sự đồng thuận” về điều luật đó chưa đi tới “ý thức bản thể, tâm trí”. Tức là hiểu biết đó chưa thực sự ngấm vào bản thể họ. Trên con đường ngấm vào bản thể họ để đi tới hành vi tự thân gánh vác/truyền dẫn được hiểu biết đó có những xung đột thể hiện( đôi khi là những điều “trái ngược với hiểu biết đó” chẳng hạn).Mâu thuẫn xung đột này xảy ra trong tâm trí cá nhân đó sẽ lặp lại mâu thuẫn cơ bản trong lịch sử sự tranh đấu giữa nhóm cá nhân tiên bộ với đám đông ấu trĩ còn lại nhằm có được hiểu biết/điều luật đó.
    Xin lỗi vì lại hơi khó hiểu một chút, ^^.
    thân mến.
     

  • Phan Đức says:

    Nhân bàn về “bầy đàn”,tôi liên tưởng đến một nhà gọi là “ngâm” cứu cổ sử
    trong nước đã phê phán là nhiều người đồng ý về một nhận định của ai đó
    thì sự đồng ý này cũng mang tính bầy đàn.Theo tôi hiểu,nghĩa xấu của hai
    chữ này là a dua theo đám đông mà ngài nói trên muốn chỉ trích.
    Vậy thử hỏi đa số người trên thế giới đồng thuận với những nguyên tắc phổ
    quát như Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ. cũng là a dua theo đám đông,
    chứ không phải là người ta phải tôn trọng những giá trị phổ qúat hay sao ?
    (Ở trong nước,”xã hội hóa” cũng bị hiểu trái ngược với nghĩa thông thường).

  • Sất says:

    dami,
    Mình phân tích thêm í “bầy đàn” trong đoạn viết của bạn nhé.
    Trong xã hội Cộng sản (hoặc thời phong kiến) thì “tính tập thể/bầy đàn” trong cộng đồng/xã hội trở nên một tình trạng bức bối, ngạt ngột, khó chịu. TÍnh tập thể trong xã hội lên tới mức “toàn trị”,,, nói chung là rất khủng khiếp,,, xã hội bị đảo tung với những giá trị đạo đức, chuẩn mực xoay ngược. Như vậy là trong xã hội đó “tính cá nhân”, hoặc tình trạng “cá nhân ” không có cơ hội sống sót, bị phủ nhận, bị tiêu diệt, vvv.
    Nhưng mình không có nhìn nhận vấn đề ở góc độ “cá nhân thì tốt, tập thể thì xấu”, tất nhiên khi “tính tập thể” trong xã hội CS, xã hội VN hiện giờ là một tình trạng tâm thần đe doạ khủng bố tình trạng sáng tác của văn nghệ sỹ. Tính tập thể hay cá nhân cũng có góc độ xấu tốt của nó.

    Xét với “định kiến” thì nó cũng có nghĩa “tích cực” như là một tình trạng “liên quan đến” chẳng hạn. Ví như không có định kiếm về “một điều gì đó” thì chủ thể mang định kiến đó có khi không có ý thức chủ ý đến, liên quan đến vấn đề (mang định kiến). Như vậy “định kiến”lúc  này mang tính chỉ dẫn tình trạng ý thức để có thể “tiêu hoá” được vấn đề.

    Còn bạn đami đọc tới đây mà không hiểu thì mình cũng chịu, ^^.

    thân mến.

  • đami says:

    Hiểu được Sất muốn nói gì trong phần reply cho tui, tui… chết liền!

  • Sất says:

    Như bạn Đami viết vậy thì damau(cho văn chương Việt) vậy tồn tại cho một nhận diện”bản mặt mình” (của bạn hoặc ai đó mà bạn ẩn dụ) được rõ ràng. Nếu mình nhớ không lầm thì nhà thơ Hoàng Hưng cũng có một ám ảnh quan trọng trong văn chuơng là “đi tìm mặt”. Định kiến thì cũng mang nghĩa xấu hoặc tốt (chứ không chỉ mang nghĩa xấu). Văn nghệ Việt nếu như bạn Đami viết vậy thì đã “ôm, mang” được “ngôn ngữ chung” rồi. Vấn đề là hiện thời ai sử dụng được ngôn ngữ đó, bạn có nó không?, bạn có í thức là bạn có nó không?.

    Cộng sản là một tình  trạng “toàn cầu” xuất phát từ  “Châu âu”, Trong “xã hội/tình trạng Cộng sản”, ngôn ngữ bị trở nên “tan rã, phân liệt, phá huỷ” là một tình trạng chung. Vậy nên nếu có tồn tại “Ngôn ngữ  Việt nam cộng sản” mà bạn Phan Ngọc cảm thấy “không biết sao ” thì mình chịu. Thấy mấy người Việt nam viết văn thơ trong nước vẫn thi thoảng dịch “ngôn ngữ chữ Việt ” sang “ngôn ngữ chữ Tiếng Anh” văn thơ của mình song song (trên damau chẳng hạn) để thi thoảng có người nước ngoài ghé qua đọc phải thì vẫn hiểu được đấy bạn ah.

  • phan ngọc says:

    Việt Nam chỉ có hai thứ ngôn ngữ.
    Ngôn ngữ cộng sản và ngôn ngữ của những người không cộng sản.
    Đọc sách đọc báo tui đều thấy thế. Biết làm sao?

    PN

  • đami says:

    Văn nghệ mà định kiến, đi không xa hơn cái bản mặt mình..
    Văn nghệ mà bầy đàn, cũng là bầy đàn…
    Quan điểm tôi: Văn nghệ phi biên giới, màu da, chủng tộc… (giống… damau.org)
    Can cớ chi mà hải ngoại với hải nội!

  • Sất says:

    ^^, cảm ơn bác Nguyên hiểu, vì hôm qua viết xong mấy dòng trên gửi đi rồi tôi mới phát hiện ra là mình viết chữ “người Việt nam” thành “ngường việt nam”. Có lẽ tôi không ý thức là tôi đã “ôm” cái sự thảm hại của người Việt nam chăng ?

    “Định kiến” là thuật ngữ được dùng nhiều hoặc xuất phát từ bộ môn tâm lý học xã hội hoặc xã hội học. Nếu xét toàn cục ở góc độ này thì tất nhiên nhóm văn nghệ sỹ Việt kiều phải là người “bỏ được một định kiến nào đó” trong bản thân mình khi nhìn về “Việt nam bây giờ nói chung” hoặc “Việt nam nói chung bây giờ”. Điều này, chỉ có thể có được trong mối quan hệ phức tạp giữa nhóm văn nghệ hải ngoại (việt kiều) với nhóm văn nghệ trong nước. Góc độ của tôi, nếu như nhóm văn ngệ hải ngoại có thể đóng vai “chứa đựng” như là một “bác sỹ tâm lý” để “xóa bỏ định kiến”  giống như damau chứa đựng “sáng tác của cả văn nghệ sỹ trong nước” thì giao tế giữa nhóm văn nghệ trong nước và damau thu nhận được điều gì đóng vai trò quyết định trong việc có thể “giải tỏa được định kiến”.

    Tôi hi vọng rồi dần dần cũng có người giúp mình giải tỏa được “định kiến” thảm hại của mình “khi là một người Việt nam”.

    Với đám văn nghệ trong nước, chính thống cấp tiến (kiểu mấy người bên công ty Nhã Nam… khác với đám văn nghệ cấp tiến vỉa hè trong nước kiểu mấy người như bạn Đợi, Chát…), để xóa bỏ được định kiến “mặc cảm là người Việt nam” có trong sinh hoạt văn học (kiểu như dịch thuật lăng xê vô tội vạ văn học nước ngoài, còn văn học trong nước thì coi thường, v.v.) thì yếu tố quyết định là mấy bác văn nghệ hải ngoại trong việc định hướng ra vấn đề. Định hướng ra vấn đề ở đây đôi khi chỉ là thêm những “tự tin hiểu biết nào đó” để có thể… “chứa đựng thêm được”  những vấn đề “gai góc, tinh tế, gấu ó” nào đó của văn nghệ trong nước. (Xin lỗi anh chị nào trực tòa soạn kiểm diệt ý kiến nhỏ này. Trường hợp của Nhà văn Bùi Hoằng Vị Phê rô Bùi gần đây  có rắc rối với damau là một ví dụ mà tôi nghĩ ban biên tập damau cần phải rút kinh nghiệm: http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=10593).

    Và với sự “chứa đựng được” những “gai góc tinh tế gấu ó” nào đó của riêng đám văn ngệ cấp tiến trong nước trong mối quan hệ với văn nghệ hải ngoại, có được điều này, đám văn nghệ cấp tiến trong nước mới có thể đủ niềm tin để dùng hiểu biết của mình, bằng lời lẽ của “chúng mình”, chúng ta “nói lên “tiếng nói chung”. Ngôn ngữ chung mà tác giả nhắc đến trong bài viết này, nếu may mắn có thể “được viết” bởi văn nghệ sỹ hải ngoại thì có thể thuyết phục được, nó nhất thiết phải “được nói” bởi văn nghệ sỹ trong nước. Như vậy “NHỮNG ĐỊNH KIẾN KHÓ KHĂN” này mới thực sự được phế bỏ.

  • nguyen says:

    Bác Sất ơi, khó thì khó mà dễ thì dễ. Bỏ được định kiến thì dễ, không bỏ được thì khó. Con người vốn sống trên nó, ôm nó, gấu ó nhau vì nó. Freud không giải quyết được đâu. Ông Tùng, ôngLiêm có hiểu nhưng đến rõ ràng thì còn tùy mức ôm của mỗi người. Chữ “thảm hại” bác dùng cũng lại là cái ôm của bác. Tôi viết những giòng này cũng là thể hiện cái ôm của tôi. Thân mến.

  • Sất says:

    .
    “Nhưng chúng ta sẽ còn tiếp tục tiếng nói của riêng mình 30, 40 hoặc 50 năm nữa trước khi chúng ta nói cùng một ngôn ngữ …”
    Theo tôi hiểu nội dung bài viết thì cụm từ “chúng ta” trong đoạn văn này bao gồm :
    1. Cái loa phường.
    2. Người dân trong nước Việt Nam.
    3. Đám văn nghệ sỹ Việt kiều.

    Cụ thể ở đây thì 3 nhóm này có 3 thứ ngôn ngữ khác nhau khi cùng nói chuyện về “một Việt nam nói chung bây giờ”.
    1. Cái loa phường luôn nói về chiến tranh(theo một cách tạm gọi là a)
    2.Người dân trong nước không nói về chiến tranh.(và từ chối hoặc khó chịu khi nói về chiến tranh)
    3.Đám văn nghệ sỹ Việt Kiều cũng nói về chiến tranh( theo một cách tạm gọi là b).
    Và cụm từ “chúng ta ” này cần có một ngôn ngữ chung khi nói về “một Việt nam nói chung bây giờ” với đối tượng của nó là “HỌ, nước Mỹ, người Mỹ”.

    TRong câu chuyện về cụm từ “chiến tranh” Việt nam mang tính chất “ám ảnh tâm thần, tâm trí này” thì cần phải định vị ai là “bác sỹ “, ai là “bệnh nhân” và ai là “kẻ bình thường” trong “chúng ta”.
    (Giả thiết mà tôi đặt ra cho phát biểu này dựa theo lý thuyết phân tâm học của bác sỹ S Freud: “Nếu như có tồn tại một sự vô lý nào đó của hành vi mang tính lặp đi lặp lại một cách tổn hại tới cuộc sống bình thường thì chủ thể mang hành vi đó có thể được xác định là mắc bệnh tâm trí..”)
    Tuy nhiên theo tôi, để phân định điều này, tưởng như đơn giản, nhưng quả thực là đã hết sức khó khăn.
    Tôi nhớ không lầm thì ông Nguyễn Hữu Liêm đã từng đề nghị điều này cho “nhóm ngôn ngữ trên trang mạng danchimviet” từ khá lâu. Nhưng tiếc là ông Nguyễn Hữu Liêm là luật sư, nhà triết học sao đó. Tôi đọc lâu lâu trên mạng có thấy ông Nguyễn Đức Tùng cũng là một người hiểu biết về tâm lý học, tuy nhiên hình như ông Tùng vẫn đang sa vào ” phong ba bão táp ngôn ngữ” Việt nam với “.. thơ đến từ đâu các thứ” nên tình trạng của bài viết này dừng ở câu cuối thật thảm hại.
    thân mến.

@2006-2025 damau.org ♦ Tạp Chí Văn Chương Da Màu
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)