Trang chính » Sáng Tác, Thơ Email bài này

Khi Phúc trở thành Phuc | Thờ Cúng Tổ Tiên


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 19.06.2020

 

Khi Phúc trở thành Phuc

Sắc huyền hỏi ngã vặn vẹo
bên trên các mẫu tự như những con cá heo nhảy lên khỏi mặt nước,
dấu nặng tròn đầy bên dưới tựa trái chanh dây chín rụng còn lấm lem đất cát,
chúng làm nên ý nghĩa, phân biệt đâu là má
đâu là mả đâu là ma;
quệt  nhẹ một nét khiến muối trở thành
muỗi
Vậy tên Phúc thì sao?
Gia đình em đã vất những cái dấu xuống biển
khi bọn hải tặc Thái Lan xuất hiện ở chân trời,
thà ném bỏ chúng đi còn hơn thấy chúng bị hủy hoại?
Hay chúng đã bị thất lạc ở trại tị nạn,
bị cuốn đi bởi một cơn bão làm rách toang những bức vách nhựa.
Có phải một viên chức lo việc nhập cư đã bỏ những cái dấu ra khỏi hồ sơ
như cái cách người ta phủi sạch những vụn bánh ra khỏi mặt bàn?
Cũng có thể chính Phúc tự hất đi cái dấu,
quẳng nó vô các lùm bụi để tránh những lời chọc ghẹo của bạn bè
giờ thì em viết tên mình, chẳng rõ nó thể hiện điều gì,
hạnh phúc hay là hàng phục
hay chỉ là vô nghĩa vì không có dấu (phuc)?

a

When Phúc became Phuc
Those slashes, hooks, tildes contorting
above letters like porpoise breaching the surface,
underdots full as ripe passion fruit slapping soil,
they make meaning, separate mothers (má)
from tombs (mả) and ghosts (ma);
a single slip transforms salt (muối)
to mosquitos (muỗi).
So where did Phúc’s go?
Did his family throw them overboard
when Thai pirates appeared on the horizon,
preferring abandonment to seeing them ravaged?
Maybe they were lost in the refugee camp,
swept up by a storm that tore through plastic walls.
Did an immigration official brush them off a document
the way one brushes donut crumbs off a table?
Maybe it was Phúc himself who tossed them,
flung them into the woods to avoid classmates’ taunts,
so now when he signs his name it’s not clear
if he embodies luck (phúc) or surrender (phục)
or no meaning at all (phuc).

Thờ Cúng Tổ Tiên
Ở tít xa nơi quê nhà, ông bà tổ tiên tôi được táng quay lưng về phía tôi,
làm sao họ có thể dõi theo tôi mà phù hộ?
Tôi đã sống ở đây đủ lâu để cười nhạo
thứ ngôn ngữ được dùng trong các tập sách hướng dẫn du lịch:
Thức dậy vì tiếng động cơ rì rầm của những chiếc xuồng câu lúc bình minh
bài ru để dỗ dành những con hổ dữ thì có!
và không chỉ là tiếng động cơ kỳ quái của những chiếc xuồng câu loang lỗ nước sơn
khục khặc, dập dềnh, tròng trành trên sóng sục tìm lai rai vài con cá mòi
béo dầu lấp lánh vảy
Những cánh tay gầy guộc như sợi nắng, các ngư dân xổ lưới trên bờ biển
bán đi những mẻ cá bắt được gom cho đủ tiền mua mãng cầu xiêm,
nếp, những gói bánh quy giòn, thuốc lá, thịt gà luộc
bày trên bàn thờ bên những cây nhang tỏa khói và ảnh thờ người đã khuất
Văn hóa xứ tôi không có ý niệm gì về bàn thờ đặt trong phòng khách
Mà rồi liệu ông tôi sẽ nghĩ gì về mãng cầu xiêm?
Thứ trái cây và tên gọi của nó nghe ngọt lịm và kỳ lạ trên đầu lưỡi ông
vốn là một tay to con vùng trung tây được nuôi dưỡng bằng thịt thăn bò, rượu mạnh, đậu phộng, khoai tây phó mát.
Sau chén kem ông ăn buổi tối, tôi thường sà xuống ngồi cạnh chân ông
để được dạy cho những từ mới: behoove, susurrus, kadarum
Mấy chữ này ích gì cho tôi ở đây chứ?
Thậm chí người có năng khiếu học ngôn ngữ thứ hai cũng chẳng biết chúng là gì.
Thế nên tôi chỉ thì thầm với chính mình trong những thời khắc tĩnh lặng,
môi lầm bầm như tiếng động cơ của những chiếc xuồng máy
bởi có nghĩa lý gì đâu – chặng đường từ đây đến nước Mỹ,
so với khoảng cách giữa Đất và Trời

b


Ancestor Worship

So far from home, my ancestors are buried with their backs turned towards me,
how can they be watching over?
I’ve lived here long enough to scoff
at the language on tourist pamphlets:
Wake to the purr of traditional fishing boats at sunrise.
As if that’s the sound of ferocious tigers lulled into contentment
and not simply the janky engines of skiffs with chipped paint chugging,
churning, lurching across waves in search of sardines,
oily flesh scantily packed beneath shimmering scales.
Nets emptied on shore, the fishermen, arms thin as sunbeams,
sell their catches to scrape together enough cash to purchase mãng cầu xiêm,
sticky rice, cracker packages, cigarettes and a chicken to boil,
place on an altar beside smoking incense and a photo of a grandfather.
My culture knows nothing of living room altars
and anyways, what would my grandfather even think of mãng cầu xiêm?
A fruit and word similarly sweet and strange on his tongue.
He was a large man of Midwestern indulgence – sirloins, scotch, peanuts, cheesy potatoes.
After his nightly bowl of ice cream, I’d sit at his feet
and he’d teach me new words: behoove, susurrus, kadarum.
What use are these terms to me here?
Even the most gifted second-language speaker has no idea.
So I mutter them to myself in quiet moments,
lips stuttering like those boat engines
because what does it matter – the distance from here to America
compared to the space between Earth and the heavens?

bài đã đăng của Paul Christiansen


Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)