Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 24, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

tiểu-ngâu

 

Căn nhà ngự trên một ngọn đồi.

Khi tôi đến thì Ngâu đã đi. Cái chờ đợi tôi là một mảnh giấy kẹp ngay núm sắt cửa ra vào trên vắn tắt mấy hàng nói cô xuống chợ mua ít thực phẩm; nếu muốn, tôi có thể lấy chiếc chìa khóa giấu dưới tấm thảm lót chân mở vào nhà ngồi chơi chờ cô trở về, không muộn hơn 10 giờ. 3 chữ gần cuối được gạch dưới hai lần bằng bút nguyên tử đỏ – thứ bút cô thường dùng để chấm bài. Tôi nhìn đồng hồ: còn 15 phút nữa. Tôi nửa muốn chui vào hốc đa sau nhà nằm chờ; nửa muốn leo nằm phục trên chái gỗ cao ngang tầm mái (từ đó, tóm được suốt một góc thị xã). Nhưng cuối cùng chỉ chặc lưỡi, quay ra, xuống rất cẩn thận cho khỏi ngã bởi trận mưa chiều qua đã trát mỡ lên con đường đất sét. Thế mà chị em Ngâu cứ nhảy nhót băng băng trên đó, tưởng chừng như những đôi chân kia mọc ngàn rễ quấn tận lòng đất. Tôi rẽ sang lối trái. Ngôi villa đầu tiên bên kia đường đã từng là nơi nghỉ mát của một vị phu nhân thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Hồng dại bao kín hàng song sắt chạy quanh. Nhìn vào chỉ thấy một ô vuông đổ nát. Chừng như đó là nhà để xe. Khu này vắng nhất nhì thành phố. Những dốc nhỏ ngứa ngáy lưng lượn lờ mà chẳng làm sao hất tung được các cành lá mục lưu niên nằm trên.

*

Mái nhọn trên đỉnh dốc. Căn nhà, đúng hơn, một lâu đài nho nhỏ. Lối kiến trúc Tây Ban Nha cho nó một sức ấm, thân mật, thu vén, làm cân bằng bầu khí dầy lạnh lẽo của cả vùng. Sơn màu lá sen. Như bệt phấn giữa mặt người. Nó độc chiếm trọn một diện tích bao la nhìn từ dưới lên chẳng khác gì một chiếc ao nước đã cạn và cây non thay cho rêu đang chia nhau rất công bằng chu vi hình thoi. Phong cảnh thật quý phái và vô cùng quyến rũ. Rừng thông cành lá thoáng cao và rừng sồi rậm thấp xen kẽ nhau từng khoảng tăm tắp đều. Con lộ nhỏ mà cái tên mang ý nghĩa một loài hoa đưa tôi đến đây biến hòa như sương ảo. Thung lũng ngoằn ngoèo phía bên trái với lá nửa xanh nửa vàng. Thu mới giẫm lên chút không gian trên đường đi của nó. Hơi ẩm của đất, của trời, của màu sắc hoàng hôn đã chiến thắng mùi váng vất của vầng thái dương vừa nằm im đâu đó hướng xa kia. Đứng trên này phóng hết tầm mắt xuống, xa lộ 78 trông như một lằn chỉ đang được khâu luồn vào mép vải. Thế thôi. Vắng bặt mọi nhịp thở con người. Chỉ thiên nhiên với âm thanh độc tôn: tiếng gió đỡ cho lời chim vút cao. Cơ thể nhẹ nhõm tưởng chừng bay bổng lên vói bắt được chuỗi ngân leo lẻo.

Ngâu đứng đợi (ai? hay tôi?) trước cửa. Trên tay là một gói gì cựa quẫy. [Ồ, không! Không có gì trên đôi cánh tay ấy cả.] Cái có là một cô gái mà từ nửa dốc nhìn về, tôi thấy nét hao hao giống cô hồi còn con gái, nhưng cao hơn cô đến hơn nửa đầu, đang đứng cạnh. Trong khi tôi dừng chân để điều hòa hơi thở thì Ngâu tiến đến, một bàn tay đưa ra sau nắm lấy cánh tay của cô gái kéo nhích lại, cười:

“Chào anh. Anh tìm đường không khó lắm chứ?”

Cô đưa tay chỉ tôi, nhẹ quay lại nói với cô gái:

“Con chào bác đi. Bác Nguyên, bạn của bố mà mẹ vẫn nói về với con.”

Cô gái cúi đầu thật thấp, giọng thật rõ và nhẹ (giọng của người mẹ năm nào):

“Cháu xin chào bác ạ.”

“Tiểu-Ngâu. Cháu duy nhất của Ngâu. Chắc anh chẳng còn nhận ra được.” Ngâu tiếp.

Tôi không cần phải nhìn kỹ hơn nữa. Ngâu sai rồi. Tôi vẫn nhận ra được chứ. Không phải là cái tên kép mà bà mẹ cho đứa con thừa kế hoàn toàn. Còn là cái gì nữa, quan yếu hơn. Đấy là hình dạng, là sắc nét. Cô gái là phó bản của Ngâu mười mươi thuở xưa (khác cái là cô con cao lớn hơn mẹ). Còn Ngâu thì đầy đặn hơn. Nhưng vẫn hồn nhiên, nhỏ gọn, can đảm: Ngâu của Đà Lạt, dầu thảm thời gian đã sờn chút vì chịu thêm gót một thế hệ, dầu không gian đã xê dịch đến cả vòng địa cầu, vẫn như chẳng chút gì thay đổi. Có thể nào chăng đấy chỉ là hôm qua, hôm kia, ngày ngày (phải, hầu như ngày ngày) tôi vẫn thường trông thấy cô về từ trường học hướng Cam Ly Hoàng Diệu ngang qua ngõ nhà tôi; chiếc cặp học trò biết mình hạnh phúc nép hãnh diện trong hai vòng tay; và cứ ngang qua cửa phòng tôi thì cô lại nhìn lên gởi lại đâu đó có thể là mái bao lơn, dây cột điện, mép cửa kính… một nụ cười mà chẳng buộc phải tự đặt cho mình câu hỏi là tôi có từ trên gác cao trông xuống chờ mong và chào tiếp nó không? Cô coi đó là việc tự nhiên, “cứ đi ngang qua nhà anh là Ngâu lại làm như thế, nếu không thì thấy nó sao sao ấy!”; cũng tự nhiên như thể tôi sẽ hân hoan mời nó cũng như đã mời chủ nó vào chơi. Ở Ngâu có cái gì đơn sơ, thuần khiết lạ lùng. “Nếu anh đi vắng thì lúc về, trông ra cửa sổ, anh sẽ biết là chiều nay Ngâu có đi ngang.” “Làm sao tôi biết rằng Ngâu có đi ngang?” “Thế chung quanh cửa sổ phòng anh, anh không nhìn thấy gì cả à? Ngâu đã dán lên đó bao nhiêu là ký hiệu.” Nếu người phát ngôn câu ấy là bất cứ ai khác mà không phải là Ngâu thì chắc chắn tôi đã nghĩ rằng cô nói đùa. Nó như được dịch ra từ ngôn ngữ nào đó, Pháp chẳng hạn, môn học mà Ngâu đã tập tành ngay từ lúc chưa đủ tuổi đến trường. Không, Ngâu không đùa. Rất hiếm khi cô đùa cợt. Cô rất nghiêm trang (nét nghiêm trang nơi cô không tạo cảm giác xa cách, mà chỉ khơi lên một nguồn ấm áp lắng đọng). Phải chăng cuộc sống trách nhiệm đè nặng trên hai vai hiếm lúc cho phép cô được hưởng nguồn vui này? Nói thế không hàm nghĩa cô già cỗi. Trái lại. Tôi biết, trong tuổi tác của một thiếu nữ, ẩn nấp một tâm hồn rất trẻ nít. Tuổi tác bất xứng và đâm ra như bất công trước một thân thể bé bỏng, xinh xắn tựa một cô sẻ non. Một cô sẻ non mà lại dào dạt một tấm tình bát ngát do tiếp xúc thường xuyên với mây gió. Chỉ biết hót. Hót, bởi không thể là gì khác. Bởi nó là quán tính, là bản năng. Hót, và tin tưởng bằng chiếc đầu mũm mĩm đến hay với bộ não không to hơn lòng chiếc muỗng là bao rằng mọi người sẽ chẳng ai nỡ hất hủi ơ thờ với quà tặng đầy mỹ ý của mình. Ở Ngâu là một hóa giải tự nhiên, tuyệt diệu của những khía cạnh mà nơi người khác chúng sẽ rất tương phản.

“Cũng tương đối vất vả khi tìm đến cái ‘tu viện’ của Ngâu. Và cũng khá mòn hơi khi leo lên con dốc chẳng dưới 40o này. Dễ chừng nước Mỹ không còn nơi nào có thể nương thân hay sao mà Ngâu lại lần mò tới đây?”

Ngâu cười, nụ cười làm đôi mắt bồ câu đỡ tội nghiệp hơn một chút:

“Một cõi thanh tịnh như thế này mà anh còn chê được ư? Anh nên biết nhé, càng sống trong xã hội cơ khí bao nhiêu, nhu cầu tìm về thiên nhiên càng khẩn thiết và chính đáng bấy nhiêu. Ngâu không thích va chạm – đúng ra là càng tránh né nó được chừng nào hay chừng nấy dù khi làm công việc sinh nhai thường nhật. Xong bổn phận với đời rồi là thu mình vào ốc đảo của chính mình. Con sâu trùng stress, ‘vi-khuẩn-của-thời-đại’ khó sống sót trong không gian lọc lắng này.”

“Tôi không chê như Ngâu ‘lên án’ thế đâu. Trái lại là khác. Địa điểm này quả tuyệt vời, nhưng chỉ tuyệt vời đối với những ai muốn xa lánh hẳn chốn “hồng trần.” Chả nhẽ Ngâu lại là một trong những con người ấy? Ngâu sinh hoạt, chợ búa ra sao?”

Nụ cười kéo một nét chân mày hai bên môi:

“Ở đây đương nhiên là không tìm ra chợ Việt Nam. Siêu thị Mỹ lại cũng khá xa. Ông nhà của Ngâu đảm trách phần thực phẩm. Mỗi cuối tuần, ông tha về hàng tạ để cả vào tủ lạnh. Khi cần cứ lấy tiêu thụ dần. Nhà ít người, ít bất đồng. Pizza, ham, cheese… mãi cũng quen, anh ạ.”

Rồi như chợt nhớ ra, cô rối rít :

“Vô ý quá. Ngâu quên cả “lễ tiết thế nhân” mất rồi! Mời anh vào ngồi tạm trong cái patio kia. Mình vừa nói chuyện vừa ngắm những giây phút cuối cùng của hoàng hôn. Bố cháu cũng sắp về. Ngâu muốn anh làm quen với Bren, Bren Twinning.”

Ngâu khoác tay con gái, quay lưng. Gió từ lũng dưới phát hơi lạnh lên trên này. Tà áo họ phất phơ, cho cảm tưởng 2 mẹ con đang cưỡi không khí mà trôi về hướng cửa. Căn nhà bằng gỗ, từng thanh cài sát vào nhau thật khéo. Màu gỗ nâu giống màu vỏ cây. Nhìn kỹ, chúng quả là những lát to xẻ từ bao nhiêu thân còn nguyên cả vỏ. Tôi nhớ căn nhà Ngâu ở Đà Lạt. Cũng ghép bằng thân gỗ xẻ đưa mặt xù xì ra ngoài. Và tôi cũng còn nhớ Ngâu nói, nếu chúng được hàn thật khéo vào nhau thì không cánh tay nào che ấm bằng chúng. Tại sao mọi sự vẫn dường giữ y thế? Gió ở đây nhiều lắm. Nhất là trên đỉnh dốc này. Nhưng tít tắp thành phố sương mù kia, gió nào kém gì, đặc biệt là khoảng cuối năm đứng trên đồi Domaine de Marie? Giả sử có ai đấy bịt mắt tôi đem đến đây, ra lệnh cho tôi trong vài ba giây phải nói rõ địa điểm này là đâu thì chắc chắn tôi sẽ bảo đây là thành phố cao nguyên của tôi.

*

“Anh biết đấy, sau cuộc bầu Tổng hội Sinh Viên năm ấy, năm nào nhỉ… kể như bọn mình rã đám. Vinh và một số bè bạn tham gia vào cuộc biểu tình bị truy nã gắt gao đến độ phải bỏ học ngang, về Sài gòn trốn tránh. Vinh ghi tên Luật. Nhưng chả được bao lâu. Năm kế tiếp, đâu hơn nửa khóa, chưa kịp thi chứng chỉ 2, chẳng hiểu bất mãn thế nào lại đăng lính, tự trói mình vào chiếc rọ mà trước đó Vinh hằng chống đối. Với Ngâu, anh ấy cũng chẳng thố lộ lời gì coi như giải thích cho sự xoay ý đột ngột kia. Rồi, sau khi mãn khóa, biền biệt tháng ngày trên các chiến trường, những lần về phép, anh ấy như không còn là anh ấy của thời sinh viên xưa. Tính hiếu động đã nhường chỗ cho nét trầm ngâm. Về thăm Ngâu được 2, 3 ngày là đã muốn trở ra ngay đơn vị. Câu trả lời của anh trước thắc mắc của Ngâu lần nào cũng như lần nấy vỏn vẹn chỉ có chừng này, “Anh xin lỗi em. Nhưng bao giờ anh vẫn yêu em.” Rồi lại tăm tắp nổi trôi.”

Ngưng chút như để chuẩn bị cho điều rất khó khăn khi phải nói ra; giọng của Ngâu, dầu cố giữ cho thật bình thường, vẫn không dán kín hết dấu của bao nỗ lực trấn áp nguồn cảm xúc:

“6 tháng sau – Ngâu nhớ rõ lắm bởi thời gian ấy sắp vào Giáng Sinh – Vinh được phép đặc biệt một tuần là phần thưởng mà vị Tiểu đoàn Trưởng dành cho một vài quân nhân xuất sắc trong mùa hành quân. Chiếc phi cơ đang sửa soạn cất cánh đưa những ‘người hùng’ về thăm thủ đô thì trúng ngay đạn pháo kích của địch. Tất cả hơn 10 người trên đó đều tử nạn. Trong ba lô moi móc sau đó, vật mà Ngâu nhận được do một vị trung úy mang từ Pleiku về Sài gòn tuần lễ sau (chính viên sĩ quan này đã đưa Vinh cùng một số bạn hữu ra phi trường, đã chứng kiến tận mắt thảm họa ấy) là bức ảnh Vinh chụp chung với Ngâu và bé Tiểu-Ngâu ngày cháu đầy tháng với vài giòng chữ quen thuộc đã phai mực phía sau, “Anh xin lỗi Ngâu. Bao giờ anh cũng yêu em!”

Tôi ngồi thẳng lên. Câu hỏi chưa kịp đưa ra thì như đoán biết, Ngâu chậm rãi:

“Quả pháo rơi đúng thang phi cơ, giữa hơn 10 bộ quần áo rằn ri đang hoặc sửa soạn đặt chân lên bay về thủ đô vui nghỉ. Không thi thể nào toàn vẹn. Do đó, gia đình các nạn nhân xấu số chỉ nhận được tin báo cùng một vài vật nào đó chưa bị hủy hoại hết. Những thứ ấy lần lượt được họ chôn xuống mồ thay cho xác thân từng người. Còn thân xác thật của mười mấy chiến sĩ kia đã quyện chung với nhau, cùng nhau chia xẻ thật đồng đều những thước đất đen ngay nơi họ đã từng chiến đấu mà bây giờ là miền ngơi nghỉ dài hạn.”

Tôi nhìn Ngâu. Cô biến thành pho tượng từ bao giờ rồi? Lời tôi nói liệu lách len được chút gì vào khối kín bưng kia? Nghĩ cho cùng, có quan trọng lắm chăng?:

“Tôi xin nghiêng mình trước sự mất mát không thể bù đắp của Ngâu. Lời chia buồn thật ra gửi quá muộn. Bởi thế nó kèm theo ý hối lỗi. Đã hơn 20 năm, Ngâu nhỉ? Phải, sau ngày bầu bán trên Đà Lạt kia, tôi hoàn toàn bặt tin Vinh và Ngâu. Nhiều khi nghĩ lại, tôi không cho đấy là sự thật, Ngâu ạ. Tin Vinh mất, tôi được chị Nhài cho biết rất lâu sau. Lý nào thế? Chả lẽ chị lại ém nhẹm? Tuy giữa Vinh và tôi thường hay nổ ra nhiều cuộc tranh cãi, lý đâu chị ấy không biết rằng chúng tôi rất nể trọng và thương yêu nhau, là bạn thân nhất của nhau? Khi biến cố đã lắng, và không lâu lắm sau ngày trường mở cửa lại, tôi không còn trọ tại nhà chị Nhài nữa. Hình như nơi cũ đã không còn thuộc về tôi, không còn muốn dung chứa tôi. Vinh bỏ đi vì một lý do. Tôi, vì một lý do. Cả hai, trong mức độ nào đó, giống nhau: không muốn, mà phải. Vì ngại, mà cũng vì lười, có khi phải 2 hoặc 3 tháng, tôi mới đến chơi một lần, mà dù đến, cũng chẳng được lâu đến nỗi chị hờn mát là chắc tôi đã ‘chán ngán không khí’ trong ngôi nhà ấy rồi. Dầu thế nào, tôi cũng không giải thích được tại sao chị ấy chờ mãi tới lần giỗ đầu của Vinh mới cho cô con gái lớn đến mời tôi qua dùng cơm. Tôi có ghé tìm Ngâu. Căn nhà còn, song đã đổi chủ. Về hỏi chị Nhài thì lúc ấy chị mới cho biết thêm là Ngâu cùng các em dời xuống Sài gòn đã mấy tháng rồi. Tôi ngao ngán quá! Và giận mình hết sức! Tôi đã không gửi lời phân ưu cho Ngâu ngay. Tôi không muốn ngôn từ thay cho sự hiện diện của chính tôi. Trước tai họa như thế, mọi tiếng nói chỉ vô nghĩa, nếu không là bất nhẫn! Dầu sao, tôi vẫn nghĩ là phải gặp Ngâu một lần. Nhưng những bận bịu của cuộc sống dần dần phủ bụi lên ý định kia. Những đổ vỡ tình cảm đã bóp vụn nguyên khối dự tính ban đầu. Thời gian thả mù dưới cánh bay của nó. Ý muốn đâm ra què quặt rồi bị lấp liếm bởi thời gian, nhưng đây là thứ thời gian do chính tôi tác tạo. Rồi tôi vào quân ngũ (khi sắp sửa hoàn tất với rất nhiều hy vọng đạt mention khá nhất cho cái mémoire của mình) bằng cái lệnh tổng động viên úp mở giấu diếm được ký ban hành vội vã bởi vị lãnh đạo một chính quyền dân sự. Tôi bặt tin Ngâu lần nữa. Nhưng tôi vẫn tự nhủ là còn nợ Ngâu một tia nhìn, một sự có mặt. Nhưng liệu ích gì không kia chứ? Sự việc nào cũng có thời gian tính của nó. Tôi có thể, cũng như mọi người khác, làm ra được hiện tại cơ mà (thứ hiện tại mà tôi tin là Ngâu sẽ thông cảm và chấp nhận). Thế tại sao tôi lại để nó trở thành quá khứ? Dầu hiểu thế nào thì trong bọn mình, tôi là kẻ thong dong hơn hết. Lý do gì mà tôi, những lần trở về Sài-gòn, không ghé thăm Ngâu? Lý do gì chứ là cả một thế hệ mới đã tiếp nối thế hệ chúng mình mà những bậc cha anh lại tuyệt tin nhau? Như thế, Ngâu này, đâu cần sống trên đất nước văn minh chộn rộn đây con người mới thấy thiếu thốn thời gian và thèm muốn vượt thắng thói biếng lười để thỉnh thoảng còn trông thấy nhau? Ngay trên quê hương, chúng mình (tại sao tôi lại gom chung những người khác vào đây nhỉ? đúng ra là chỉ mỗi tôi) đã sa vào vòng khép kín đó rồi! Sao tôi cứ nghĩ có đến hơn một loại dĩ vãng? Hôm qua, với tôi, sao lại là hôm nay?”

*

Những ngày chớm Giáng Sinh. Đà Lạt, trong ánh mắt và cảm nghĩ của một người mới từ bỏ thủ phủ của tiếng ồn và bụi nắng dưới kia, cái gì hiện ra cũng dễ thương, ngộ nghĩnh. Thành phố bé như một nắm tay. Sạch sẽ, e ấp, và sang trọng. Hầu như 80 phần trăm sinh hoạt của thị xã đổ dồn về một điểm là Khu Hòa Bình, cù lao, với hòn đá nổi trung tâm là rạp chiếu phim mang cùng tên, và cây xanh la đà chung quanh là các cửa hiệu vuông vức. Mặt trời nơi này, bởi thành phố mọc trên một vùng với cao độ gần 2.000 mét, không kém chói chang so với Sài gòn. Nhưng nắng chỉ gọi được là nắng khi ta nhởn nhơ ngoài trời. Nắng lại là thứ nắng ráo, ít đòi mồ hôi. Nắng sẽ biến ngay sang rét khi ta nép vào một bóng râm. Cái nắng xổ thành muôn mũi kim đan chéo da thịt ta là một búp len khi ta dầm trong vùng sáng của nó. Những mũi kim đan này đến lượt chúng biến thành những bàn tay xoa mướt khoái cảm rùng mình dễ chịu lúc ta tách lìa khăn choàng của nắng.

Góc gờ nào của thị xã cũng có hoa. Không phải chỉ mùa Xuân mới là thời tiết lý tưởng cho ngàn hoa khoe sắc. Rét mùa đông vẫn là nguồn dưỡng trấp kích thích đối với loài thảo mộc mỹ miều. Chừng như biết lễ hội cùng con người đang hoài vọng nơi chúng, hoa bung cánh bày tặng phẩm cuối năm. Hoa nở ngay cả những nơi chênh vênh nhất, ít phì nhiêu nhất: ven các hố, giữa bụi bờ, sát mép nước, trên triền dốc đứng. Ngôn ngữ đồi núi là tiếng gió, lời thông, và vô vàn giọng chim muông. Tôi như chú bé lạc trong rừng. Máu cơ thể bừng bừng lâng lâng. Trời đất thơm tho. Cuộc sống của thị dân tuy sinh động, song không tất bật, lam lũ. Nó, và con người: rất lịch sự, và trầm tĩnh; nét tĩnh rất ‘hiền triết.’

Vinh giới thiệu tôi đến trọ học nơi nhà người anh rể, anh Phan. Những ngày đầu bước chân vào thế giới thênh thang của chữ nghĩa và tự do sao mà ngây ngất! Đà Lạt là chiếc lò ấm áp cho ý tưởng hong mình. Ngôi nhà của anh Phan là lò luyện thích ứng của tư duy. Cả bao năm dưới trung học chỉ để dọn chân bước vào khoảnh vườn đa sắc này đây. Khu vườn quả hứa hẹn nhiều hoa thơm trái lạ. Đất trời là của ta. Tuổi trẻ, mộng nhiều, nhưng thừa sinh lực và điều kiện để biến mộng thành thực. Không gian tuy lớn rộng, nhưng cặp cánh đôi mươi sẽ thu nó gọn được trong vòng ôm ấp. Tha hồ mút cho đến no căng nguồn nhựa mới mẻ. Tôi tự tin sẽ làm được việc gì cho chính mình, lát sẵn hiệu quả những viên gạch cho cung điện tương lai. Đó là trách nhiệm trước hết với chính chọn lựa của mình. Và sau là với gia đình.

Vinh và tôi biết Ngâu chung một ngày. Sâm, bạn của cả hai, chiều 24 đưa chúng tôi đến nhà cô ăn Noël (Sâm là anh cô cậu với Ngâu). À. Tưởng ai, hóa ra Tiểu-Ngâu, cô nàng sinh viên có cái tên thật Tàu, thật đáng nhớ, trẻ nhất Viện Đại Học đã gây nhiều dư luận ngọt ngào năm ngoái. Ngâu nhỏ người, xinh như một búp bê. Đôi mắt thì lại quá to và quá đen so với khuôn mặt. Nụ cười hết sức trẻ con. Đấy là 2 điểm nổi bật mà tôi tìm thấy ở người thiếu nữ còn chưa rũ bỏ bao nhiêu hơi hướm của tuổi nhi đồng kia. Thời gian này, Vinh và một số bạn nộp đơn ứng cử Tổng hội Sinh viên. Căn nhà của anh Phan, và đôi khi, của Ngâu, là nơi gặp gỡ, bàn thảo chương trình hoạt động. Tôi không tham gia một chức vụ nào. Chỉ ủng hộ từ phía ngoài, cụ thể là việc ‘chạy vòng vòng’ (nhờ cô bạn nhà giàu cho ‘mượn’ vô thời hạn chiếc Honda dame) mua giấy mực; trổ ‘hoa tay’ trên các biển trang trí và bích chương; hoặc thỉnh thoảng lắm, góp một vài ý kiến nhận xét hay bổ túc. Theo cách nói của Nga, một thành viên trong ban đại diện ứng cử chức Thủ quỹ, tôi là một “cảm tình viên chưa được gọi tên.”

Thất bại sít sao trong kỳ bỏ phiếu, đang loay hoay tìm một lối thoát thì hầu như ngay sau đó dấy lên phong trào sinh viên học sinh khắp nước biểu tình chống chính phủ. Những chàng thanh niên ngời ngời vọng ước làm đẹp cuộc đời kia trút cả bầu nhiệt huyết, phẫn khích và hoài bão vào việc trộn hòa chính họ vào một phần tuổi trẻ thành phố, góp tiếng nói và hành động vào cuộc chuyển biến chung. Khí thế bốc trời khích động cao nguyên như vô vàn sao hoa tách từ và trở vào màn lửa. Cao nguyên không ngủ. Thành phố mọi ngày đắp chăn rất sớm. Thời gian này, nó thức, cởi mơ bước vào đời. Mắt chợp thường đêm giờ đây mở to nhìn vào nhau, làm quen thêm với những bè bạn; những khắc khoải mà đến lúc này ai ai cũng thấy chúng thân ái, giống nhau và chính đáng biết mấy. Tuổi trẻ rời học đường, tạm biệt các ngõ bọc tri thức hào hoa. Tuổi trẻ tình nguyện hăm hở dận vào tranh đấu. Chông chênh lắm, nhưng hào hứng thế nào! Tuổi trẻ phải cất lời trước máy vi âm, trong điệu đàn lời hát, qua những buổi tuyệt thực bởi đó là tiếng nói của con người. Tuổi trẻ có thể xốc nổi, bước quá làn ranh cho phép. Nhưng làm sao được khi ngày ngày họ phải gậm nhấm, hít thở, rườm tai vì những luận điệu ấu trĩ và khi mà sự tráo trở cắn mức chịu đựng rồi? Đây chỉ là phản ứng tất nhiên. Quả bóng bơm đến độ nào thì sẽ nổ. Muốn tránh tình trạng đó, cách duy nhất là nó phải tuột khỏi mọi bàn tay giam cầm, thoát lên cao. Tự do chỉ tìm thấy khi được vẫy vùng. Song, đồng thời, động lực, đẩy xa chút sẽ biến thành xung lực, bạo động, mất kềm chế. Thắng lợi bước đầu dễ biến thành cành nguyệt quế ưỡn mình vờn kéo những con người trẻ tuổi ngả xuống, ngủ, và quên, trên đó. Nó dễ đốt trụi số năng lực vốn ra cần dự trữ hòng tạo mức tỉnh táo cần thiết cho một chuyển hướng đấu tranh trong tương lai một khi tình thế hiện tại có thể mất dần thuận lợi. Hào phóng quá đâm phá sản. Thiếu tiên liệu; chưa đủ kinh nghiệm; ngũ quan chưa được trui luyện và sử dụng đúng mức. Nội lực suy giảm vì những mũi tiêm vượt nhu cầu lẫn sức chịu đựng, từ ngoài. Sợi dây, nếu nằm bên kia sự hướng trợ sẽ mặc hình thù con rắn. Vài thành đạt ban đầu dễ bị đồng hóa với cứu cánh. Đó là điều dễ thấy trong cuộc. Và đó cũng là mầm móng của thất bại. Và tuổi trẻ lại không được trang bị bất cứ phương thế tự vệ nào. Hào khí thôi, đôi lúc không đánh bại được quyền lực, ít nhất trong những giai đoạn đầu. Dầu sao, đó vẫn là điểm thiệt thòi. Mất mát, dù thế nào, vẫn làm ta khổ sở. Kết quả đặt ở tương lai. Hiện thời, những con người ấy đang bị vây bắt. Những chiếc miệng kêu gào lẽ phải bị bóp nghẹt. Không hẳn lúc nào cũng nên lấy đởm lược đối chọi với bạo lực. Bước lùi tạm thời chỉ là cách hoãn binh. Cơ hội không bao giờ quay mặt mãi với lý tưởng. Dùi cui, súng đạn, lửa khói, truy nã, trại lính Quang Trung. Chúng là vũ khí muôn đời tuyệt vọng mà trên kia bủa xuống những thân thể thư sinh yếu ớt. Vinh cùng các bạn bỏ trốn vào Sài gòn. Phong trào bị đè nát dưới xích chiến xa. Tôi ở lại. Dầu không đồng tình phần lớn với giai đoạn sau của đòn tranh đấu, nhưng sự thất bại của phong trào phần nào cũng là thất bại của chính tôi: thất bại bởi không làm, và không làm gì được để giảm bớt sức tuột dốc của đoàn xe. Quãng sống linh đình đã hết. Phải tiết kiệm. Sau đường phố là sách vở. Tôi không còn cách nào khác là tự giải khuây bằng những khuôn mặt ngợp hào quang và những học thuyết đầy mê hoặc. Chào thực, trở về mơ. Tôi tự ru ngủ (nhiều khi lại đâm ra mất ngủ, đúng là thế, bởi con đường mà tôi chọn tìm vào tuy rất hào sảng cỏ hoa, nhưng lại mai phục trên đó quá nhiều chướng ngại, đòi hỏi một dấn thân trọn vẹn, dứt khoát, bền bỉ), muốn làm được cái gì; mà lúc này đây, cái gì ấy chỉ có thể là tờ chứng chỉ nho nhỏ treo vào một nơi nào đó mà gia đình, bè bạn thấy được dễ dàng. Mảnh giấy đó, với tôi lúc bấy giờ tuyệt nhiên giá trị hơn bất cứ điều gì khác. Nó là minh chứng thuyết phục nhất. Nó sẽ làm thẹn thùng nhắm kín những đôi đồng tử nghi ngờ mà một số người thân đã phóng theo tôi ngày tôi tìm lên ‘cõi Tiên’ tu học. Tự ái thanh niên của tôi như thế đã bị xúc phạm. Tôi chỉ có thể tự phục hồi và phản bác lại bằng sự thành công của chính tôi.

Dòng đời tuy chậm, nhưng cứ trôi. Không để ý đến, lúc nào ấy nhìn lại mới thấy sự lờ lững kia đã cuốn theo với nó biết bao hình bóng sát cánh cùng ta. Sau biến động tương đối là dữ dội trên, lúc nhịp sống của thị trấn nhỏ trên cao trở về bậc trầm lắng cũ, tôi hầu như mất hẳn liên lạc với Vinh. Đôi lúc ghé thăm Ngâu, dầu không hỏi, cô cũng kín đáo cho biết đôi chút về Vinh. Thái độ và giọng nói của Ngâu vẫn nhiệt tình thân ái. Cô nói đến một người ở xa như thể người ấy vẫn hằng quanh quẩn đâu đây. Như một dĩa nhạc mà tuy bụi bặm đã nhòe vỡ các rãnh, nhưng âm thanh tự trong các luống vòng kia vẫn muôn đời trong trẻo. Rồi việc học lôi dần tôi ra khỏi những bâng khuâng về cuộc sống của các người bạn mà những tin tức thu lượm được cho phép tôi an vui vì biết rằng họ vẫn bình yên đèn sách dưới kia.

Quãng thời gian trước kỳ thi, dầu với những học trò vô tư và tự tin nhất, rất căng thẳng. Tôi càng không ngoài định luật ấy. Sau những giờ mệt trí vì những thuyết lý khô khan, thú vui đơn giản nhất của tôi là đi dạo. Hồi tôi còn ở trọ nhà chị Nhài, cũng như sau này, khi ‘ra riêng’ – phòng tôi thuê rất gần căn nhà trên đồi gió của Ngâu – chiều chiều, sau bữa cơm, tôi thơ thẩn thật lâu ngoài trời. Thích thú sao được thả lỏng bước chân trên những con đường còn hấp nhiệt của chiếc lò trời nung suốt hơn mười tiếng đồng hồ trước đó vào một mùa, hoặc bõng nước mưa vào mùa khác, nhìn xuống thấy cả ngàn trăng sao đối xứng hay trên các khúc đồi cong mà nếu cam chịu khuất phục trước vẻ đa tình quyến rũ của cảnh sắc thì cũng chẳng hề gì, cỏ mịn màng đây lúc nào cũng dành sẵn vòng tay âu yếm nhất dịu dàng ôm ấp lấy ta. Đà Lạt về đêm bảo rằng vang rung ngàn tiếng nói hay vắng bặt mọi tiếng nói đều đúng cả. Âm thanh lúc ấy rút rỉa cả vào ta. Ta tự tình tự hỏi và tự trả lời. Câu trả lời có thể vào ban ngày ta không tìm thấy. Nhưng với đêm, cùng võng tinh tú tuần tự đan, chúng theo hàng lướt qua trí óc ta, xóa hẳn mọi rãnh hằn ưu tư. Ta sống, và sống thiết tha cuộc sống của trăng sao cùng côn trùng.

Nhà của Ngâu là trạm ngừng chân của tôi. Giao điểm nhọn của mái, từ vài đoạn đường xa, là hai bàn tay chụm ve vẩy. Những buổi viếng thăm đầu tiên, với cương vị chủ nhà, cô còn đưa ra những câu hỏi han, tuy thân tình, nhưng vẫn có tính ước lệ. Các lần tiếp, lời nói giảm dần; rồi không cần thiết nữa, với cả Ngâu lẫn tôi. Chỉ một tia nhìn vào mắt nhau, hay một nụ cười rất nhẹ, hoặc giả, không gì cả, trao nhau. Thế đã đủ. Ngâu lặng lẽ mở cửa; và tôi lặng lẽ vào. Chỗ ngồi cũng được hai đứa tự ước định ngầm là một góc không gian cạnh phòng khách, nơi Ngâu đặt chiếc tourne disques. Tôi lặng lẽ đặt đĩa vào trục. Ngâu lặng lẽ vào trong mang ra cho tôi phích nước sôi, bộ phin và lọ cà phê. Rồi, nếu không phải lên nhà trên dạy học, cô ngồi lại với tôi, nhìn tôi tự pha cà phê và uống. Tôi biết Ngâu không uống (vì sợ mất ngủ) nên cũng không mời. Nếu thích, cô tự đi lấy cho mình một thức giải khát nào đó. Mỗi đứa tự nhâm nhi món của mình. Phần được 2 đứa chia xẻ chung với nhau là những bản nhạc như trăm ngàn lọn tóc tháo kẹp dần theo nhịp quay của những 33 hay 45 vòng, những bản nhạc Ngâu và tôi đã nghe, Vinh đã, Sâm đã từng nghe: En écoutant la pluie, J’entends siffler le train, Tous mes copains, La plus belle pour aller dancer… Các ca sĩ thì cũng là những ca sĩ ấy: Françoise Hardy, Richard Anthony, Sylvie Vartan… Nghe mãi mà không chán bởi lẽ chúng là thông điệp, là hơi thở của thời đại, của tuổi trẻ, của tình bạn và tình yêu. Tuổi trẻ dễ kết thân, vị tha, và nhất là lãng mạn, nét lãng mạn đôi chút trẻ con (còn có thể khác hơn ư?), sở hữu mỗi quả tim bé như hạt thóc mà cứ muốn san sớt không cùng. Hai đứa nhờ cung bậc nói thay cho mình (lời nhạc cũng là cung bậc, nhưng có hình tích). Nhiều lúc, âm thanh không cần vời đến nữa. Chiếc cầu giao nối tâm hồn Ngâu và tôi khi ấy giản dị là nhịp đập nơi con tim, hơi thở từ buồng phổi; hoặc chắt lược đến tận cùng, chỉ là việc ngồi bên nhau của hai đứa. Thế cũng đủ. Chiếc cầu bắc không bằng chất liệu vật thể. Nó bắc, do ý chúng tôi; vì hai đứa nghĩ là nó sẽ, nó phải. Không cần kiểm chứng hay nghi hoặc chi về điểm này. Tĩnh mặc là dòng suối pha lê. Băn khoăn ví như rác rưởi. Ta tắm thỏa thuê, sạch sẽ, mới hẳn, phô bày tự nhiên con người thật của ta với ‘cái tôi thứ hai’ của ta. Người khác, là chiếc gương trong đó ta soi thấy chính ta. Tha nhân, như thế, là ân nhân, là gốc của mặc khải chứ đâu là ‘địa ngục?’ (thứ ‘địa ngục’ dầy cảm tính, và ở một góc nào đó, dầy nhung lụa); là hoa cỏ trên đường ta đi, chứ nào phải là sa mạc hay vùng tối ám sa đà? Tìm đâu chỗ cho mặc cảm? Giới tính không là trở ngại, thậm chí không còn thực có. Cuộc sống trở nên hiền lành. Ngõ tìm về nhau tự mờ biên giới.

Thời gian tôi đến thăm Ngâu không nhất định. Hầu hết vào chiều tối. Nhưng cũng không hiếm khi sau gần hết đêm đánh vật với bài học, tôi băng qua góc hẻm tắt mù mịt lau sậy, cỏ gai, bỏ lơ những trái đồi cong, tìm đến Ngâu. Đến không nhằm trao đổi bất cứ điều gì. Đến, vì không thể không. Nó là một nhu cầu. Ngâu chẳng bao giờ ngạc nhiên hay hỏi tôi lý do những cuộc viếng thăm muộn màng. Thường thì Ngâu dạy kèm rất khuya. Cô cứ lo công việc, và tôi cứ ngồi đó, nơi đó. Góc ghế đó, chiếc bàn đó, bộ phin, lọ cà phê đó, trong mặc nhận của cả hai, là của tôi, riêng tôi. Thêm góc ghế đối diện bên kia và một chút mùi hương của chủ nhà bay lên từ bộ đồ ngủ ướp long não; tất cả, không nhiều, chúng là vũ trụ thu hẹp trong quây quần trầm lặng của chúng tôi. Không phải lúc nào tôi cũng cần đến cà phê hay chiếc tách, bình nước nóng, lọ trà, nhưng chúng vẫn có đó; mỗi vật được xếp đặt ở vị trí đó, ngoan ngoãn chờ đợi. Chaque chose à sa place. Sự hiện diện đã là tất cả, người, cũng như vật. Rời nhà Ngâu, trời vừa rạng. Vì sao hôm đã xuống thấp lắm. Ánh sáng và kích thước của nó bị thu nhỏ lại nhiều trong khi chảo trời bên này sửa soạn đốt lửa. Tất nhiên Ngâu không thể lúc nào cũng góp tay cùng tôi tiêu xài – dầu dè xẻn – những giờ khắc trễ tràng thế được. Còn bao nhiêu là việc chờ cô buổi sáng hôm sau. Cô tự lui vào phòng nghỉ, để tôi hoàn toàn tự do với không gian độc lập và độc chiếm của tôi; để tôi mặc tình với phút ra về của mình. Không tiễn đưa. Không lời chúc một ngày đẹp. Tôi chỉ việc xoay chốt khóa từ bên trong rồi dập cửa lại.

Việc đến thăm Ngâu không những là điều tự nhiên với Ngâu và tôi. Với các em của cô cũng thế. Chắc chắn phải qua sự nhắn nhủ gì của cô, tôi chưa bao giờ bắt gặp câu hỏi hay nét kém hài lòng trên những khuôn mặt tinh ngời kia. Thời gian quen và ghé chơi nhà cô, tôi ít khi quan tâm đến những lời dị nghị có thể nơi một số người về mức thân mật trong quan hệ giữa Ngâu và tôi. Tại sao thế nhỉ? Có phải vì Ngâu hồn nhiên, trong sáng quá? Một bầu trời thanh tịnh như thế có lẽ nào mây xám lại kéo đến phủ mờ lên? Tôi không giải thích được lý do của niềm tin cắm vững rễ trong lòng mình là trước một đối tượng thơ ngây thuần phác như Ngâu, sẽ không ai can đảm buông lời xúc xiểm. Hoài nghi một thực thể khôi nguyên như cô là một tội lỗi khó dung. Khi nào cảm tính ân hận và thương yêu còn tiềm ẩn trong con người thì điều tồi tệ đại loại khó thể xảy ra. Có lần nhân một chuyện gì đó của người khác, tôi khéo mớm lên vấn đề này của hai đứa thì Ngâu bảo là cô đặt nó ngoài tai. Ngâu nói, bây giờ niềm lo lắng đơn thuần của cô là nuôi dưỡng dạy dỗ 3 đứa em cùng vun bón tương lai của chúng. Mọi lối nhìn ngắm, phán đoán ở bất cứ ai, từ bất cứ hướng sẽ chẳng tác động chút nào lên cô. Ngâu trả lời mà như trấn an tôi (sao cô lại già dặn được thế trong tư tưởng?), anh cứ việc đến nhà Ngâu nếu anh rảnh và nếu muốn. Điều quan trọng, theo Ngâu, là điều mà chính anh và Ngâu nghĩ về. Ngâu không làm gì sai để tự mình xấu hổ, để các em của Ngâu khó chịu, và khiến ba mẹ của Ngâu trên cõi ngơi nghỉ kia của Chúa phải buồn phiền. Còn anh, Ngâu tin anh không phải là mẫu người quá xem trọng dư luận.

Chị Nhài (chị của Vinh) thì lại không thế. Chị biết Ngâu là bạn của Vinh và tôi. Lúc Vinh còn học tại đây thì chẳng nói làm gì. Nhưng khi cậu em bỏ trốn, rồi sau đó ghi danh Luật tại Sài gòn, việc thường xuyên tới lui gặp gỡ giữa Ngâu và tôi – nhất là của tôi với cô – đã gắn trong đầu óc chị dấu hỏi khá to. Ngâu, lúc ấy, được xem là cánh hoa độc đáo của Viện. (Có lẽ nhờ Vinh) chị biết khối chàng theo đuổi tán tỉnh Ngâu. Thế, tại sao tôi lại chẳng là một trong số ấy nhỉ? (cậu em cưng của chị cũng là kẻ si tình cơ mà.) Lối diễn dịch thông thường là phải thế. Điệp khúc tôi thỉnh thoảng vẫn nghe từ chị:

“Sao, dạo này chuyện của hai người đã đến đâu rồi?”

Lần đầu nghe chị hỏi, tôi không khỏi ngớ ra:

“Chị bảo hai người là hai người nào? Còn đi đến đâu là đi đến đâu?”

Mép môi trên của chị vốn trời sinh đã cong, bây giờ lại càng cong hơn dễ cũng sắp chạm vào chót mũi thật thanh tú:

“Còn hai người nào? Cậu vờ vịt khéo đấy.”

Nếu bảo đàn bà có linh tính thì trong trường hợp giữa Ngâu và tôi, cái giác quan kia của chị đã máy khẽ chị sai rồi. Cái linh tính đàn bà kia của chị sao không mách bảo cho chị điều này là người mà chị ám chỉ trong “hai người” trên không phải là Ngâu, mà là… chính chị? Tôi khó ép buộc con tim của mình, bảo nó phải đập như thế này, chớ nên đập thế kia. Tôi là chủ nhân của nó, nhưng về mặt hoạt động, ghi nhận, phản ứng thì lại hoàn toàn mất thẩm quyền. Ngược lại, nó còn bắt tôi phải phục tòng nó. Chị Nhài ơi, chị không là người duy nhất đặt nghi vấn về mực độ nông sâu nồng nhạt trong mối giao tiếp giữa Ngâu và tôi, mà chính tôi lắm lần cũng tự tra xét như vậy. Tại sao tôi không yêu Ngâu? (còn Ngâu đối với tôi thế nào? Tôi chỉ biết, và chỉ cần biết, đang rất hạnh phúc được Ngâu xem là ‘bạn,’ theo nghĩa cao quý nhất của tên gọi.) Tại sao tôi không giống như mọi người? Cuộc đời đã khuôn sẵn những mẫu, những loại. Tại sao tôi không nằm trong loại này, mà lại thuộc loại kia? Phải chăng suy nghĩ của con người cũng được đúc kết sẵn? Chỉ cần hiểu sơ vài nét của một cá nhân hay một tập thể nho nhỏ nào đó là có ngay đồ thị về nề nếp tư duy của họ? Một hình thái tâm thức tập thể như vậy đã là mực thước khống chế o ép đầu óc con người từ bao lâu rồi? Còn sự thân mật nào, sự gắn bó nào hơn được sự gắn bó và thân mật giữa Ngâu và tôi? Tại sao tôi ‘lập dị’ như vậy? Tại sao tôi không yêu Ngâu? Tại sao tôi lại yêu chị, chị Nhài? Tình yêu quả là điều quái lạ! Tôi biết chị và anh Phan rất hạnh phúc. Tình yêu, công việc, mái ấm, con cái. Chị đầy đủ cả. Tôi là bạn của Vinh. Anh Phan xem tôi như em, như Vinh. Chị chắc cũng thế. Tôi biết lắm chứ. Điều mà tôi không biết được là khi tôi nhận lời Vinh vào gia đình này trọ học, tôi sẽ đương đầu với một số mệnh mới. Định mệnh tàng phục đâu đó trong ngôi nhà này. Bước đầu tiên tôi đánh rơi chút bụi đất tha từ con đường dông dốc bên ngoài để đặt lên nền đá hoa mát rượi của chiếc cổng gỗ dẫn vào nhà, qua nét cười ngạo mạn kiêu căng kia của định mệnh, quả là thước chân của con mồi vô tư hớn hở tìm vào chiếc bẫy giương sẵn. Người đàn bà hơn tôi đến hơn mười tuổi, là vợ của một người đàn ông rất nghệ sĩ mà tôi rất kính mến [người sở hữu giọng hát ‘rất-Tino-Rossi’], là mẹ của 3 đứa bé rất ngoan hiền ấy, ai ngờ được rằng là người sẽ nắm sợi dây dẫn dắt tâm hồn, quay quắt hướng đời tôi? Con tim thật đa sự; cuộc sống thật khôn lường! Ngâu hiền ngoan, xinh đẹp thế, lời ăn tiếng nói dịu ngọt thế, tại sao tôi không yêu? Còn chị, chị Nhài, lắm tia nhìn của chị hết sức soi mói, lắm thái độ của chị rất trịch thượng, kẻ cả, lắm lời lẽ và cách thế xử sự của chị vô cùng xua đuổi (dầu chị không chủ ý), mà sao tôi lại yêu? Tình yêu quả tình trái khoáy, tàn nhẫn! Nó cho phép hoa đời nụ khóe môi mà cũng mở cửa cho mạch nguồn tuôn khe mắt. Các bài học, các lý thuyết về tâm lý, về tình cảm đã được tôi thuộc làu, đã thấm vào gân mạch tôi đến hầu như tạo được một phản xạ; nhưng mang nó mà đối chiếu áp dụng lên con người, cụ thể là con người tôi đây thì mới thấy kém hiệu năng rõ ràng. Trái tim có những ngóc ngách mà chính tôi, chủ nhân của nó, vẫn không kiểm soát được.

Rồi câu hỏi kia của chị cũng không còn gửi cho tôi nữa. Tôi cứ ngỡ chị thôi hỏi vì tôi “vờ vịt,” vì tôi không muốn trả lời. Nhưng mãi về sau, một năm sau nữa có lẽ, buổi chiều kia, khi chân đã khá mỏi vì bao nhiêu là dốc phố, tôi ghé thăm Ngâu. Cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa đêm và chiều chưa ngã ngũ. Tôi có thể còn nhìn thấy rừng đồi, nhưng một số cạnh nét của nó đã ít nhiều kém rạch ròi. Có lẽ vì thế mà thành phố đẹp và đáng yêu hơn. Hoàng hôn và bóng tối quả đã dàn bày trước tầm mắt con người một kích thước mới, một ngoại hình mới. Nó khêu gọi con người hãy ngắm nhìn, không nhờ trung gian của ngũ quan nữa, mà qua những sợi rung li ti của tâm hồn, của trực giác. Khả năng của ngũ giác con người đại để không chênh lệch nhau lắm. Nhưng độ cảm nhận vi tế của tâm hồn lại ở bình diện phức tạp hơn. Tôi yêu thành phố dầu không nắm bắt được chân diện của nó (hay vì tôi đã quá quen thuộc với nó?). Tôi yêu vì biết rằng lúc nào tôi cũng là một thành phần của nó và nó là một phần của tôi. Tôi tự đồng hóa với nó. Yêu cao nguyên để thấy rằng tôi yêu chính tôi quá nhiều. Tôi không là anh chàng Narcisse thần thoại tương tư chính dung nhan của mình lồng qua bóng nước. Tình yêu nơi tôi không thuần là thứ tình yêu tự quy. Tôi yêu tôi vì muốn dùng tình cảm tế nhị này đối đãi với người khác. Đó là lý do tại sao tôi thích sự tái sinh của đêm, thích ghé thăm Ngâu vào thời điểm này. Đêm là thời khoảng thích hợp cho sự hồi hiện của bản ngã thực. Mọi phấn sáp ngụy trang được tháo gỡ. Cái ‘tôi’ trở nên văn vắt như một hạt sương. Người ta nhìn rõ mình và nhìn rõ người. Đêm là thời khắc lý tưởng cho cảm thông, hợp điệu. Ngâu là biểu tượng của khoan hòa, nhân ái, và tình yêu. Đến với Ngâu, tôi phải đến với cảm tính phơi phới trên từng ly da thịt, trong từng hơi thở, qua từng tiếng nói – cả tiếng nói vô thanh mà chỉ chúng tôi mới ghi nhận được. Không thế, tôi tự thấy mình đã như bất công, bất chính, và có lỗi với Ngâu. “Chuyện của hai người đã đến đâu rồi nhỉ?” Chị Nhài hoàn toàn có lý khi hỏi tôi nhiều lần câu đó. Nhưng đấy là cái lý của một kẻ đứng ngoài, một ‘người-ta.’ Đó là cái lý của một cá nhân – như bao cá nhân trên đời – ngắm nghía vũ trụ nhờ sự tiếp sức của ngũ quan khi ánh sáng còn cho phép chúng hành xử chức năng của chúng. Chị không là Ngâu. Chị cũng chẳng là tôi. Ngâu và tôi đương nhiên vẫn là hai thực thể riêng biệt. Nhưng giữa chúng tôi có một điểm hẹn, và gặp, nào đó – có thể khó diễn tả – mà đối với người khác là bất khả hữu, bất khả niệm.

*

Ngâu đứng đó, trong trùng trình giữa ngày và đêm, chờ đợi (tôi, hay ai?). Trên đôi cánh tay cô vướng vít một khối nhỏ mờ ảo. Cô nhìn thấy tôi đang đẩy xuống dần những thước dốc sau cùng. Khói huyễn thời gian bỗng bị dội tắt rất nhanh khi đôi môi Ngâu mở hé:

“Chào anh!”

Rồi cô tiếp bằng câu nói mà với người khác, sẽ là khách sáo đến buồn cười:

“Ngâu biết anh sẽ đến.”

Ngâu biết tôi sẽ đến? Tôi tin cô nói thật chẳng khác gì cô bảo bây giờ là gần 7 giờ tối; rằng cũng như mọi ngày, sao chin chít trên cao như muôn ngàn giọt anh đào lung linh trên bầu trời là mặt hồ quá xanh còn thoảng thấy. Nhưng tôi không tin cô có khả năng nhìn trước một số điều. Ngay chính tôi cũng không nghĩ sẽ ghé thăm Ngâu buổi chiều nay. Nhất là bẵng đi cả năm rồi tôi không đến. Khoảng cách ấy có thể làm lệch sức phán đoán của cô. Nhưng mối thắc mắc này mới làm tôi phải thốt thành lời:

“Ngâu ôm cái gì trong tay thế?”

“Cháu bé, anh ạ. Tiểu-Ngâu của bác đấy.”

“Sao lại…? Ngâu làm tôi thấy mình u mê hẳn đi!”

“Ngâu đang tỉnh nên anh cũng không mê được,” cô cười nụ. “Anh vào chơi. Sương xuống rồi…”

Cô bước, và chắc rằng tôi sẽ theo. Tôi làm sao khác hơn được? Có bao giờ trước cô mà tôi không là một lập lại?

*

“Hôm nay Ngâu đãi anh bữa bún thang. Anh ăn chiều chưa hả? Mà chẳng hề gì. Nếu rồi thì chúng mình nói chuyện; lát nữa anh ăn thêm với Ngâu. Ngâu ra bảo các em cứ bắt đầu, khỏi chờ.”

Hình như mọi sự khởi từ hôm qua, ồ, không, một buổi chiều tối nào đó Vinh và tôi theo Sâm đến nhà Ngâu chơi làm quen. Buổi tiệc Giáng Sinh khá nhiều món do chính chị em Ngâu nấu. Món mà tôi tò mò thích thú nhất là món bún thang. Thức ăn được xếp xen kẽ khéo léo đẹp mắt theo từng nấc và được kết hợp lại, gặp gỡ nhau, nhưng mỗi món vẫn giữ trọn hương vị độc đáo của nó qua lớp nước gà béo váng. Lần đầu tiên tôi nếm, có chút ý thức về một món ăn đặc thù mang tinh thần và cốt cách của một miền đất nước. Chiều nay, hương thơm và cảm xúc vẫn như xưa. Người làm món ăn đó đang ngồi cạnh tôi. Ngâu hơi đẫy hơn. Nhưng nụ cười, tiếng nói, tia mắt thì mới vừa hết đông miên. Chúng không biết là thời gian không còn là thời gian cũ. Cô nói. Lần đầu, Ngâu nói nhiều như thế. Cô nói như một cách tự bạch, cuộn tròn xao động một năm trong âm điệu và sắc thái êm đềm của ngày hôm qua. Chúng tôi không liên lạc gì nhiều kể từ dạo xuống đường năm ấy. Trong khi đó, sự quen biết giữa Vinh và cô đã tiến lên bước phải có. Họ yêu nhau; và ngày Vinh lấy được chứng chỉ 1 Luật là ngày cưới của họ. Lễ thành hôn gói gọn trong vòng rất thân hữu. Ngay cả một số bạn cùng tham gia biểu tình năm nào cũng không được mời. (giọng của Ngâu khi đến đoạn này vẫn rất bình thản. Tôi không nghĩ cô băn khoăn hay mặc cảm gì về việc tôi là một trong số những người nằm ngoài danh sách.) Độ nửa năm sau lễ cưới, tự dưng Vinh đăng lính, dầu đang được hoãn dịch vì cả hai lý do: học vấn; và con trai duy nhất (chị Nhàn là chị họ).

“Còn 3 tháng nữa anh ấy mãn khóa. Anh nhớ cho Ngâu biết địa chỉ. Ra trường, được 2 tuần phép, thế nào Vinh cũng lên đây. Vinh muốn Ngâu về Sài gòn, nhưng dạo này trường thiếu giáo sư nên Ngâu khó mà xin nghỉ. Anh và Vinh phải gặp lại mới được. Ngâu không mong gì hơn việc này.”

Chiếc nôi ngừng. Ngâu đứng lên, đến nhìn vào. Tôi làm theo. Cô bé đang ngủ. Nét mặt, đường mũi (những gì tôi có thể nhìn thấy) là cái mà bé nhận được của mẹ. Hơi tiếng từ Ngâu đưa võng bên tai tôi:

“Ngâu đặt tên cho cháu theo chính tên của ba mẹ Ngâu đặt cho Ngâu. Cháu vừa ăn đầy tháng tuần rồi.”

Không còn gì hợp lý và đúng đắn hơn. Tôi đã biết, qua cô bé đang say giấc thiên thần, dĩ vãng của người mẹ. Có điều, tôi cầu chúc cho bé may mắn hơn mẹ cháu, là cháu mãi được đầy đủ trong tình yêu của mẹ và cha. Tuổi nhỏ của Ngâu kém êm ả hơn nhiều người khác. Song thân cô mất cách nhau chưa đầy hai năm, để lại trên đời 4 đứa con dại mà cô chị cả mới vừa tròn 11. Mấy năm đầu, chị em sống nhờ vào tình thương của giáo khu (ba mẹ Ngâu thuở sinh thời đã từng là ân nhân và là hai con chiên rất ngoan lành uy tín của hội thánh). Đỗ xong BEPC, Ngâu đã phải tìm chỗ dạy kèm, giúp giảm gánh cưu mang cho những con người phúc thiện kia. Và Ngâu chính thức tự sinh sống được và nuôi nấng được các em khi cô lấy được Bac 1. Tài hoa, trẻ, đẹp, khéo léo, hồn nhiên, và nghị lực (nghị lực quả không cân xứng cách rất đáng bái phục so với thể tạng bé bỏng). Ngâu là mộng ước của bao thanh niên. Tôi không lạ gì khi vẫn thường bắt gặp những con mắt ngưỡng vọng (không ghen ghét), những nụ cười chào vui, những buổi tan trường theo sau bước Ngâu về nượp bóng những chàng ái mộ. Tôi cũng không lạ gì khi vẫn thường đỡ bắt những tia nhìn thèm thuồng, ganh tị của một số chàng nào đó. Tôi cũng chẳng tự hào khi mình bỗng dưng là chiếc gai trong mắt họ. Ngâu hồn nhiên quá, ngây thơ quá. Vin vào nét ngây thơ trong sáng kia để tự vênh váo, theo tôi, là một xúc phạm với cô.

“Chuyện của hai người đã đến đâu rồi?” Nào có đến đâu, hỡi chị? Tình bạn giữa hai đứa há cần phải đưa đến một điểm nào đó? Cứu cánh là đâu? Nói cứu cánh, tức là nói đến phương tiện. Giữa chúng tôi, cái gì là phương tiện? Ngay 2 chữ này, nếu dùng cho Ngâu cũng lại là một lỗi lầm. Chúng tôi không biết, không cần, và không nhờ vào bất cứ phương tiện nào. Cũng không đứa nào đặt, nói ra, hay ngầm ý về một cứu cánh. Chỉ là tình bạn. Tại sao không thể tồn tại một tình bạn giữa hai người không cùng phái? Tôi biết, và chắc Ngâu càng biết rõ hơn tôi, dầu có học, có nghe đề cập đến, và có thích những hình thái salons littéraires trong sinh hoạt văn hóa ở Pháp vài thế kỷ trước, nhưng chúng tôi không nghĩ mình bị ảnh hưởng. Bởi cách thế giao tiếp và đặc tính của mỗi cá nhân chúng tôi đã khác biệt rồi. Biến chuyển chính trị ở mỗi đất nước dầu sao cũng tác động ít nhiều đến suy nghĩ và cảm quan của người dân. Lịch sử không lập lại về ngoại diện, nhất là trong những không gian khác nhau. Nhưng tinh thần và ý nghĩ từ đó phát sinh, ý vị của nó có thể, trong chừng mực nào đấy, được tìm thấy nơi các hơi động ở một xứ sở ngoài chính quốc. Chúng tôi không biết khởi thủy (sự giới thiệu của Sâm chưa dứt khoát được xem như là nguồn cội), nên cũng không biết kết thúc của mối giao thù này. Bằng chứng là, dầu sống chung nhau nơi một tiểu thị mà nếu chịu khó bỏ ra chút ít thì giờ, chúng tôi có thể sẽ gặp nhau nơi một góc đường, một mảnh dốc nào đó; trong một thị xã mà các nhịp điệu bổng trầm có thể dễ dàng dõi theo được như những vân chỉ trong lòng bàn tay, suốt hơn một năm, chúng tôi vẫn biệt tin nhau. Ấy là đoạn thời gian thứ nhất. Khoảng thời gian tiếp, sự chia cách kéo dài hơn nhiều. Ngay cả mộng ước của Ngâu cho Vinh và tôi gặp lại một lần vẫn không thành được! Các lối tẻ của cuộc đời thật đáng sợ! Những người đứng hai đầu bờ vẫn khó trông thấy nhau! Thoảng thi ngồi nghĩ lại, giật mình thấy là một phần thời hoa bướm (ôi chao, danh từ này, trong kiếp người, mới thơm tho sao!) tuồn tuột như cát cuống quýt đổ về các rãnh khe sa mạc. Nó xa rồi, nhưng cái gì đó vẫn trụ.

*

Bren Twinning, chàng kỹ sư lâm học, chồng của Ngâu vừa về. Tiểu-Ngâu chạy ra đón bố. Không thể không nghĩ rằng cảnh tượng ấy đang diễn ra ở Việt Nam. Cái Mỹ-tính ở đây là, nơi mà thay vì hai vòng tay bố con bắt chéo nhau thì chiếc hôn lấp thế vào. Rất lâu. Tôi se lòng. Nhìn sang Ngâu, thái dương chồi lên trong đôi tròng mắt là đường chân trời. Buổi chiều êm dịu quá. Tít tắp dưới kia, xa lộ 78 cố nhoài người chuồi lên thân thể mượt mà của khu rừng tím xanh. Gió cúi xuống cõng lời chim. Bren buông tay khỏi cô gái, đi đến nơi Ngâu đang đứng cạnh tôi. Anh cười, khẽ nghiêng người bắt tay tôi thật chặt, nói vài câu tiếng Việt tuyệt hảo chào mừng sự có mặt của tôi; cười lần nữa như xin phép, dang rộng hai tay đón trọn hình hài nhỏ nhắn của Ngâu vào. Anh không cao lớn lắm; nhưng bên anh, Ngâu như chiếc bè lọt thõm trong vòng vịnh. Anh không hôn vợ mà chỉ giữ thật im; mắt khép lại như không dám tin phút này là thực, như muốn chuyển ảnh người đàn bà từ mắt lên hồn. Tôi se lòng lần nữa. Buổi chiều yên ả thật. Yên ả khác chi những buổi chiều quê hương khi Ngâu và tôi song bước trong mù chiều đang vắt ra từ bóng tối tủa quanh? Những ấn tượng cũ kỹ. Bạn bè, tình yêu, đất nước. Chiến tranh: ‘yếu-tính’ của một ‘thể-trạng’ bất hạnh? Một thế hệ chỗi từ cây đời, lớn thêm; bóng của nó lưng chừng với chiếc bóng đã sản sinh ra nó; rồi đường nứt chênh lệch bắt đầu, rõ rệt dần theo chiều một bên tàn tạ khô quắp, còn một bên nẩy nở xum xuê. Dòng sống vẫn động. Cái không bám được vào cứ mặc trôi lùi về sau.

Tôi theo Ngâu vào nhà. Bren và Tiểu-Ngâu đã vào trước mấy phút. Bên trong rộng hơn tôi tưởng. Các căn phòng thấp trần nom chẳng mang nét Việt Nam chút nào, nhưng cách bày biện thì lại tuyệt đối. Các khoảng trống được phân phối bằng những bàn ghế nếu ở dưới đất hoặc những bức tranh – đa số là loại thủy mạc – nếu dọc theo tường. Không tìm thấy ở đây sự ôm đồm, tham lam. Đồ đạc vừa phải, đẹp mắt. Mỗi vật được sắp xếp thế nào để tự nó vang lên một làn điệu đúng mực, một lời lẽ thích đáng góp nhau vào làm nên một tổng khúc vừa vặn, rất nhân tính. Không cần giới thiệu, tôi cũng hiểu đây là công trình của óc và tim của Ngâu – và có thể của cả Tiểu-Ngâu. Bren, dầu có được ‘Việt-hóa’ thế nào chăng nữa như lời Ngâu, tôi vẫn khó tin anh trầm tim óc của mình trọn vẹn vào được thế giới của những cảm xúc chỉ tìm gặp bên kia bờ của giác quan. Củi trong lò sưởi vừa đượm. Bập bênh trong những lá lửa đỏ, chiếc bàn thờ với ảnh của Vinh đứng một mình trước Vũ đình trường Thủ Đức trong buổi lễ gắn alpha như cũng đang lắc lư đổ về ngày tháng cũ. Lọ hoa cẩm chướng óng ánh sắc cam [màu mà Vinh rất yêu]. Cạnh bên là một vài hình khác Vinh chụp lúc còn là sinh viên. Với tôi, đây là những chân dung truyền đạt tinh thần của Vinh hoàn hảo nhất. Đó là một Vinh tươi cười, lạc quan, miệng lúc nào cũng ư ử Elle était si jolie, je ne peux l’oublier…; trong tình yêu: đạt, và thất tình chẳng khác nhau là mấy; thẳng thắn trong xử sự, nồng nhiệt với ước mơ, kiên trì khi đuổi theo mục đích. Viền mặt vuông, cằm cắt ngang gọn ghẽ, mũi thẳng, thon, môi mỏng. Tất cả cho một cảm tưởng gãy, khô, nhưng đẹp. Chiếc miệng nhỏ cương nghị và hàm răng cũng nhỏ, nhọn như răng thỏ trông như một nhát cắn chặt đến liều lĩnh, không thương xót không khoan nhượng vào tương lai. Có phải vì thế mà chúng tôi là hai đối cực, rất cần ở bên nhau để bổ khuyết cho nhau, nhưng cứ xung đột nhau, tách rời nhau luôn để rồi thấy mình chưa thật là mình; rằng còn thiếu sót một cái gì đó mến yêu lắm không hẳn là xa xôi mà sẵn có đâu đây nhưng lại lững lờ không muốn bắt lấy. Phải chăng Vinh và tôi, đứa này là bóng của đứa kia; và đứa nào cũng vừa thương vừa ghét chính chiếc bóng của mình? Chiếc bóng làm cho mình chật chội, nặng nề thêm lên, nhưng nếu không có nó, mình lại khập khễnh, hoang mang. Tôi thắp một nén thêm vào bình hương vẫn còn ấm nóng. Mùi nhang, phải, bây giờ tất cả đều nhòa nhạt để thứ mùi đó dậy lên. Với một mùi độc chiếm và lâng lâng như thế, tâm linh ta như một búp mà những đài của nó đang dãn nở theo chiều hướng lên để nhìn thấy trên đó bóng người thân thương của ta đang bay bay vờn gọi. Mùi hương dễ gây ảo ảnh; ảo ảnh thật ra tiềm phủ trong ta rồi, bây giờ chỉ chờ chất xúc tác kia có đủ là hình thành. Vinh ơi, mày hóa ra lại sung sướng. Mày kiêu hãnh, và chí ít thì những người trong căn nhà này kiêu hãnh vì mày. Lý tưởng, thời trai trẻ, trong những giai đoạn nào đấy của đất nước, của kiếp nhân sinh chúng mình, đã được mày thực hiện tận cùng dầu phải trườn qua bao mấp mô không tránh được. Mày đã đánh đổi cả hạnh phúc của chính mày và những người thân thích nhất và bé mọn nhất đây để được chiến đấu, chung tình, để không bị gọi là phản bội nó. Hận thù chăng? Tao không nghĩ thế, bởi chưng tư tưởng đó là một xúc phạm nhân phẩm và hạ giá sự hy sinh của những người đã chết, đồng thời và trước hết hạ giá luôn nhân phẩm của chính người mang tư tưởng đó. Tuổi trẻ chỉ có tình yêu và ban phát. Chiến tranh tuy hủy diệt được biểu hiện của tuổi trẻ là các chiến sĩ học trò kia, nhưng lại bất tử hóa bản thân tuổi trẻ. Lớp ngã xuống, tay nâng tròn ý nghĩa cuộc thế mà lòng đất vinh tặng. Lớp còn đứng đây, trong đó có tao, trăm vạn lần xót héo vì mặc cảm rằng mình bây giờ chỉ là một thứ gì không cần thiết cho ai hết trong cuộc trần. Gian phòng thoáng lắm, nên tôi không hiểu khói trong lò sưởi hay thẻ hương vừa đốt lên thứ nào làm cho tôi cay mắt. Chỉ biết lúc tôi quay lại, hình ảnh Ngâu chợt chùng xuống như một giọt nến. Cô chỉ ghế cạnh bàn mời tôi. Rồi cô ngồi xuống chiếc sofa dài kê sát tường đối diện.

“Ngày Vinh mất, bé Tiểu-Ngâu mới vừa sõi đi.” Giọng nói của Ngâu êm quá nên làn hơi xám thở từ nén hương dạt qua bên này vẫn điềm nhiên lướt lả về xa. “Như anh biết đấy, dưới Ngâu còn 3 đôi chân non cần dìu dắt. Ngâu vừa làm học trò, vừa làm cô giáo. Giáo hội quả là sức nâng vô giá với chị em Ngâu. Ngâu bắt đầu niềm sùng kính từ dạo này. Nói như thế không có nghĩa sự giúp đỡ kia từ giáo hội cất giấu trong nó một sứ mệnh chiêu dụ mời gọi nào. Ngâu tự tìm thấy đức tin. Nó là kết tinh thuần khiết giữa con tim và cuộc đời. Bren lúc ấy đang là nhân viên của cơ quan Dân sự vụ Hoa Kỳ, mà hoạt động của nó từa tựa như của Hội Thanh Niên Chí Nguyện. Nhiệm vụ của anh thuần về y tế và giáo dục. Anh như con thoi ra vào các sóc bản Thượng ở Đà Lạt hoặc Tùng Nghĩa để khám bệnh (anh đã qua 2 năm Y khoa tại chính quốc trước khi tình nguyện sang Việt Nam), cho thuốc, và dạy học (anh có tưởng tượng được không: Bren dạy ngôn ngữ Coho – tên một sắc dân thiểu số – cho chính đồng bào Coho!). Trong một buổi phát quà cho các trẻ em nghèo do giáo khu tổ chức, Ngâu quen anh. Tuy là người Mỹ, nhưng Bren đã bị ‘Việt-Nam-hóa’ khá nhiều (anh rất thú vị khi nghe Ngâu nhận xét như thế). Anh yêu Việt Nam; muốn học hỏi về một đất nước mà anh gọi là ‘mảnh khảnh như một nhành liễu và kiên cường hơn một quả núi.’ Anh nói anh bị coup de foudre (anh nên biết là Bren khá giỏi tiếng Pháp, nói và viết thông thạo Việt ngữ, nhé) với Ngâu. Biết rõ tình trạng của Ngâu, anh càng cương quyết và hài lòng với ý định khi nào hết thời hạn phục vụ ở Việt Nam, anh sẽ đón cả gia đình Ngâu sang Mỹ.”

Cô con gái mang vào khay gỗ trên có hai chiếc tách và một bình trà. Tôi nhìn Ngâu. Cô gật đầu, nên tôi rót ra cả hai tách. Tôi khoan khoái vì hơi nóng của nước, hương thơm của trà, và dòng âm thanh ngọt ấm của giọng nói Ngâu:

“Nước chảy, đá mòn? Không hẳn thế đâu, anh ạ. Ngâu nhận lời cầu hôn của Bren không hoàn toàn vì mềm lòng trước sự kiên nhẫn của anh. Nhưng Ngâu biết, nếu trước kia, với ngày ba mẹ của Ngâu nằm xuống, cuộc sống của Ngâu không còn là của riêng Ngâu nữa, thì bây giờ, thêm một vật chất yếu ớt hơn cả hơi thở của chính nó đang cần biết bao đến sự ủ che, cuộc sống của Ngâu càng không do Ngâu định đoạt. Các em Ngâu, tuy còn nhỏ, nhưng chúng cũng hiểu tính tế nhị của tình trạng. Chúng bảo chúng tin vào Ngâu như đã từng tin vào ba mẹ Ngâu. Chúng bảo Ngâu là Déesse của chúng. Ngâu chọn Bren là vì các em, vì bé Tiểu-Ngâu. Ngâu không học ‘folie-philo’ (cười) như anh nên khó dám ví von đại để như khi ta tự quên ta để chỉ nghĩ về người khác, ta tìm thấy le vrai soi. Cũng với anh, Ngâu không cần biện minh cho hành động của mình. Ngâu vẫn dành mọi phán xét cho cái mà Ngâu vẫn nói với anh khi xưa là lương tâm. Mọi việc, nghĩ lại, đều là do sự sắp xếp của số mệnh. Có điều bọn Ngâu tin rằng Bren không là sứ giả đáng buồn của số mệnh. Bren chiều Ngâu đủ mọi cách, cả những sở thích mà ngay với Ngâu, Ngâu vẫn nghĩ là kỳ cục, không tưởng. Như căn nhà mà anh gọi là ‘tu viện’ này đây. Giòng họ Twinning lập nghiệp đã mấy đời ở Illinois. Riêng Bren đang nhận một công việc được trả lương rất hậu trong một viện nghiên cứu về rừng tại thành phố Chicago. Ba má anh cũng hết sức quý mến mẹ con Ngâu. Thế mà, trong một lần sang thăm State Park ở Julian, cách San Diego của anh khoảng 4, 50 dặm gì đó, để vừa nhìn tuyết trên đá, ngắm hoa trên cát, khi thấy Ngâu tỏ vẻ say mê vùng đồi núi với rất nhiều nét Đà Lạt này, anh không ngần ngại gì mà bỏ cả dòng họ, công việc tại quê nhà, tìm mua bằng được ngôi biệt thự treo giá cắt cổ, nói là để Ngâu sống và nhìn cho đỡ homesick. Thêm tí cho vui: sự hy sinh của Bren đã được đền bù ít nhiều. Cách đây không xa, có một chiếc quán nhỏ sản xuất một loại apple pie trứ danh. Bren vốn rất mê thứ này từ lúc còn sống với bố mẹ. Anh đã thưởng thức bánh đó ở đây và đâm ra ‘tương tư’ nó! Với Bren, không tìm đâu trên nước Mỹ này thứ bánh táo nào tuyệt diệu như thế cả.”

Ngâu đưa tách trà lên, nhưng không uống. Cô tìm gì trong lòng sứ màu mật lỏng kia?

“Hơn 20 năm. Bé Tiểu-Ngâu của bác sang năm sẽ xong MA ban Sử. Đó là kỷ vật Vinh để lại cho Ngâu. Kỷ vật duy nhất mà Ngâu đang nắm trong tay. Cháu thích môn Sử, thích đọc sách báo Việt ngữ vì cháu muốn biết về nguồn gốc của một quê hương mà bây giờ đối với những con dân lưu lạc như cháu, như anh, như Ngâu, ngoài tên gọi, còn nồng máu thịt thực sự như máu thịt của chính cơ thể chúng mình. Cháu cũng muốn tìm hiểu về ‘mái nhà’ (tên mà cháu dùng, ý cháu muốn nói về quân đội, đơn vị) mà bố cháu khi xưa đã trú ngụ, chiến đấu, và hoàn tất sứ mệnh, dầu nằm xuống, nhưng với khuôn mặt ngẩng cao. Tiểu-Ngâu may mắn được học bổng toàn phần của một Viện Đại Học bên Texas nên Ngâu cũng đỡ nhiều lo lắng cho cháu. Bren yêu thương cháu vô cùng tuy đó không là tác phẩm do anh tạo dựng. Ở anh, Ngâu không tìm thấy gì khác hơn là đức vị tha. Chính anh vẫn luôn an ủi Ngâu về việc Ngâu không sản sinh cho anh một baby nào cứ như thể đó là phần lỗi của anh. Anh rất hãnh diện vì cháu. Với ai, anh cũng khoe là anh đang sở hữu ‘hai nụ hoa nhỏ bé độc đáo Việt Nam.’ Còn cháu thì hài lòng thừa nhận Bren trong chức vị tuy rằng vẫn tưởng tượng thương nhớ một người bố mà cháu thừa hưởng dòng máu trong cơ thể. Đúng là mọi việc đã được an bài. Tiểu-Ngâu đang kỳ nghỉ giữa khóa. Tuần sau cháu phải bay về vùng đồng cỏ phương Tây rồi. Không ngờ Ngâu lại được gặp anh. Cháu thì cứ nhắc đến bác Nguyên, bạn của bố luôn. Thư gửi đi rồi, ngày nào cháu cũng thắc thỏm hỏi Ngâu hoài không hiểu bác Nguyên có đến chơi không.”

“Còn Ngâu? Còn các em?”

“Ngâu đang dạy kèm tại tư gia. Tiếng Pháp tưởng chỉ còn là một cổ vật bày trong bảo tàng viện, hóa ra lại là nguồn sinh kế của Ngâu. Trên đường đến đây ắt anh cũng thấy vùng này rất vắng. Những ngôi nhà dựng cách nhau có khi đến cả mươi phút lái xe. Các cô cậu học trò của Ngâu toàn là các ‘chuẩn Sinh viên.’ Họ muốn học thêm Pháp văn là cái mà họ sẽ chọn như môn nhiệm ý lúc lên Đại học. Thấy Ngâu bé bỏng fragile quá nên họ tình nguyện kéo nhau đến đây tránh cho Ngâu khỏi phải đi về xa xôi. Họ nice lắm! Ngâu quả thực may mắn. Cuối thế kỷ 20 này, không ngờ thứ ‘cổ ngữ’ kia còn đắc dụng. Các em của Ngâu, chúng nó yên bề cả rồi. Mỗi đứa sống tại một tiểu bang. Hàng năm, vào Giáng Sinh cộng thêm một dịp lễ nào đó, ‘tu viện’ này là nơi họp mặt của chị em Ngâu.”

“Sao Ngâu lại biết số điện thoại của tôi?”

“Cũng tình cờ thôi. Hôm ấy, Ngâu đưa cháu ra thư viện tìm sách. Lạ lùng thế nào mà cháu nhìn thấy bài của anh trong một tạp chí xuất bản trước đó khá lâu. Cháu cuống cuồng, sao chụp ngay bài ấy mang về cho Bren xem, đọc và giảng cho Bren nghe đại khái về ý nghĩa của nó (thật ra, Bren thừa sức tự mình đọc và hiểu được). Ngay hôm sau, cháu gọi cho tòa soạn, nhờ nơi này cho cháu xin số phone của anh. Những việc tiếp sau thì anh đã biết. Ngâu chỉ muốn lưu ý anh là lá thư mà anh nhận sau khi Ngâu gọi điện cho anh tất cả là do cháu nghĩ và viết ra đấy. Ecriture giống của Ngâu hồi xưa lắm, anh nhỉ?”

Tôi nuốt xuống núm nước xanh. Ngọt và thơm như nước suối.

“Còn hơn thế. Lời văn rất xúc động, tinh tường. Tòa báo có gọi cho tôi để hỏi về việc có một người quen ở Đà Lạt muốn liên lạc với tôi qua điện thoại. Tôi thấy việc này cũng đáp đúng ý của mình. Những bài tôi viết từ hồi sang Mỹ đều được để tên thật. Tôi muốn dùng nó như một phương tiện nhắn tin với những bạn bè xưa. Chỉ có điều tôi không ngờ người bắt được tín điệp ấy lại là Ngâu.”

Bây giờ Ngâu mới nhắp ngụm trà thứ nhất. Tôi hơi ngạc nhiên. Thật ra tôi đã ngạc nhiên ngay từ lúc Ngâu gật đầu cho phép tôi rót trà ra hai tách. Nhưng ánh ngạc nhiên lần này chắc không khéo che giấu lắm hay sao mà tôi thấy Ngâu cười rất nghịch:

“Dạo gần đây Ngâu đâm ra thích trà. Chắc ‘lây’ anh đấy.” Rồi tách đặt xuống, thầm thì như trong mơ:

“Uống trà quả thú vị thật. Nhắp nó vào mà như cảm thấy mọi ưu tư trong tâm trí mình đang được gội rửa. Chỉ nhìn màu nước ngan ngát, hít thở hương thơm thuần khiết của nó thôi là đã đủ lâng lâng, hạnh phúc rồi.”

Tiếng động cơ bên ngoài làm rung nhẹ khung cửa kính. Người bạn đã trở lại đón. Tôi quay sang Ngâu, đứng lên. Ngâu theo tôi, song song bước ra cửa. Chiếc bóng thon thả của cô như đánh bạt được màu đêm của núi rừng. Tôi nhìn thấy Tiểu-Ngâu và Bren tay trong tay đang đứng nói chuyện với người bạn ngay cửa xe. Đèn xe còn mở. Ánh sáng lênh đênh không nơi tựa lạc hút lưng chừng trong rừng sồi đang cúi xuống định đỡ nhưng lại ngã chập lên màu đêm. Thoảng hương một loại hoa gì nhẹ lắm; tôi cứ muốn nghĩ đó là hoa ngâu, là da thịt của người bạn thân nhất đời tôi mà ngay tên của cô đã là một bài thơ trìu mến. Tôi bắt tay từng người. Khi chuyển tia mắt từ Ngâu sang cô con gái, tôi tưởng chúng hoa lên bởi cận ảnh mở trước tôi bây giờ chính là bóng hình tôi mới rời khỏi mới đây. Cô gái lí nhí những gì bên tai tôi. Tôi hiểu tuy không nghe rõ. Dầu nơi cô đứng quay lưng với ngôi nhà nơi mà ánh điện tò mò nhưng nấp quá vụng về để ló ra một vài tia, đôi mắt thiếu nữ lung linh khói. Hơi trà nóng nhả sương ấp lấy khuôn mặt Ngâu khi cô đưa chiếc tách lên môi hồi nãy? Bren lịch sự định lùi vào đứng khuất trong tối. Tôi giữ tay anh, cùng tiến tới chỗ hai mẹ con. Tôi để anh đứng ngoài cùng, tay anh đặt lên tay Ngâu; còn tôi thì đứng giữa hai mẹ con, một tay nắm lấy bàn tay kia của Ngâu, cánh tay còn lại tôi choàng qua vai cô gái, kéo cô đến gần, nói nhỏ bên tai cô hãy dùng bàn tay trống vòng sang gặp bàn tay Bren. Như thế, 4 người chúng tôi làm nên đường tròn. Tiểu-Ngâu tựa vào vai tôi tin cẩn. Tôi nghe rõ từng con thể chấn từ cô truyền sang. Bờ vai tôi đang nóng bởi hơi cô thở đến lúc nào đó bỗng trở nên lạnh, ướt. Ôi, tôi muốn biết bao chia xẻ điều mà cô bé kia đang âm thầm thực hiện cạnh bên tôi. Thu hết can đảm, tôi rời khỏi cô, nhìn sang Bren. Đôi mắt anh nhắm nghiền. Sóng mũi tựa một bàn tay thả xuống miệng vực kéo bờ môi trên lên. Anh hiểu thế đứng tĩnh của những con người bên cạnh đang đẩy lùi không gian nơi đây sang suốt bên kia bờ đại dương, nơi mà trong đó anh chưa dự phần vào được chút gì; rằng cuộn chỉ thời gian đang được tở lại ngày tháng cũ, lúc mà anh còn đang theo học tại tiểu bang quê nhà, và có thể là anh chưa xuyến xao gì vì âm vang của hai chữ Việt Nam. Người đàn ông ngoại quốc mang con tim và tấm tình rất gần gũi với những cảm thụ Á đông bỗng dưng trong suy nghĩ của tôi chập chùng tựa bóng đêm mà tôi như đang nhìn xuyên qua được. Đó là bóng đêm ân cần khoan thứ mà tôi biết, Ngâu biết, bé Tiểu- Ngâu biết là khi đã nằm cuộn ngủ ngoan trong đó rồi, đầy đủ vì nó rồi, bao vật vã lắng đọng, nhịp reo vui của ngày đã không cần phải xôn xao nữa. Tôi gửi lời tạm biệt vào mái tóc Tiểu-Ngâu thơm mùi và rì rào thông Đà Lạt:

“Trước khi cháu trở về Texas, chú hứa sẽ đến thăm cháu thêm một lần, sẽ kể nhiều cho cháu nghe về bố cháu. Dầu bận thế nào, chú cũng đến.”

 

cuối 98 

Nguyễn-hòa-Trước

 

 

 

 

bài đã đăng của Nguyễn-hòa-Trước

Phần Góp Ý/Bình Luận


Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.

*

@2006-2019 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up
Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)